Bước Chân Của Cha
Tiếng bước chân tập tễnh nặng nề của ông Lê Đức Thành dừng lại trước bậc thềm gỗ, nơi hai người đàn ông từng chịu chung di chứng của một biến cố mười năm trước lần đầu nhìn thẳng vào mắt nhau.
Gió từ thung lũng Trại Mát cuộn ngược lên sườn đồi, thổi thốc qua khoảng sân rộng vừa kịp ráo nước sau chuỗi ngày bão dập dềnh mù mịt. Bầu không khí ẩm lạnh đặc trưng của cao nguyên vẫn còn đậm đặc mùi đất đỏ bazan ngậm no nước mưa, ngai ngái mùi cỏ dại giập nát, hòa lẫn vào cái mùi ngai ngái, hăng hắc bốc lên từ lớp dầu lanh quét bảo quản hàng cọc cừ thông già vừa được ép sâu gia cố dưới chân bờ kè rọ đá. Gian phòng khách của căn nhà Mộc Miên giữa buổi trưa đứng bóng chìm vào một thứ im lặng đặc quánh, căng tức như thể toàn bộ khối không khí bên dưới hệ vì kèo mái gỗ đã bị nén lại đến cực hạn, tưởng chừng chỉ cần một hơi thở quá mạnh, một cái cựa mình sơ ý cũng đủ làm rạn vỡ bầu không gian đang kéo căng như dây đàn căng trên mặt thùng cộng hưởng.
Nguyên đứng tựa lưng vào bên hông chiếc tủ kính cũ khảm ốc xà cừ, các đầu ngón tay cô bấu chặt vào gờ gỗ sơn nâu đã tróc từng mảng vảy lấm tấm bụi. Mười đầu ngón tay trắng bệch vì dồn lực, nhưng đôi mắt cô không rời khỏi bóng dáng người đàn ông già nua đang đứng sững nơi bậu cửa. Dưới dải ánh sáng vàng nhạt, hanh hao của một ngày hiếm hoi hửng nắng sau bão, ông Thành hiện ra gầy guộc, còng rạp xuống trong chiếc áo khoác gió bốn túi sờn bạc màu đất đường trường. Nửa người bên trái của ông dường như trĩu nặng hơn hẳn bên phải, rũ xuống một cách bất lực; bàn chân trái xỏ trong chiếc giày vải bọc mũi khẽ xoay nghiêng một góc ngượng nghịu, tì gần như toàn bộ trọng lượng cơ thể vào cây gậy gỗ mun đen bóng tiện gồ ghề. Mười năm dằng dặc, mười năm trốn chạy và tự giam mình trong bóng tối của mặc cảm tội lỗi hằn sâu trong khóe mắt trũng hoắm, nơi những vết chân chim khắc nghiệt xẻ dọc gò má xám ngoét của người cựu tài xế đường dài.
Ở phía đối diện, trên chiếc ghế bành bằng gỗ gõ đỏ chạm trổ giản dị kê sát khung cửa sổ lớn nhìn thẳng ra đồi thông thoai thoải, ông Vũ Quốc Nam vẫn ngồi thẳng lưng. Đôi bàn tay gân guốc, từng chai sạn và thô ráp vì hàng chục năm cầm compa, thước dây đo đạc từng khoảnh đất rừng cao nguyên của ông đặt hờ hững trên đầu chiếc gậy mun mộc mạc – một bản sao gần như đối xứng đến trớ trêu, tàn nhẫn với cây gậy của người đàn ông đứng ngoài ngưỡng cửa. Đôi chân tàn tật giấu sau lớp vải quần âu màu xám tro được ủi phẳng phiu hơi co lại một nhịp rất khẽ, một phản xạ co rút cơ vô thức khi ánh nhìn trầm mặc của ông chạm thẳng vào gương mặt khắc khổ của đối phương.
Ngồi ngay bên cạnh ông Nam, bà Vũ Minh Châu thu mình trên chiếc ghế đẩu bọc đệm cỏ tế, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt cứng đờ trên đùi. Những ngón tay thon gầy, khớp xương gồ ghề của người phụ nữ cả đời làm kế toán, cả đời quen với từng con số rạch ròi, sòng phẳng đến mức hà khắc và lạnh lùng, giờ đây đang siết chặt lấy chiếc khăn tay thêu cành hoa mộc miên đến mức các khớp ngón trắng bệch, không còn một giọt máu. Gương mặt bà không còn nét sắc lạnh, không còn vẻ áp đặt trịch thượng hay cái nhìn soi xét thường ngày; nơi khóe mắt và vầng trán đã chằng chịt nếp nhăn chỉ còn lại sự căng thẳng tột cùng, một nỗi bất an bàng hoàng chưa kịp tan biến sau những lớp lang thật giả của quá khứ vừa bị bóc tách đến tận cùng cuống rễ.
Phong đứng nép bên cạnh hàng cột chịu lực C-03 ở chái giữa, nơi vết nứt dọc thân gỗ thông ba lá vừa được xử lý gia cố bằng ngàm thép âm. Cánh tay trái của anh vẫn được nẹp cố định bởi hai thanh nẹp gỗ thông mỏng và lớp băng thun màu cháo lòng quấn chặt quanh bả vai bầm dập tím tái – dấu tích của đêm mưa bão kinh hoàng khi anh liều mình lao vào ôm giữ thanh xà gồ pơ mu đang rung lắc dữ dội. Dưới nách phải, Phong kẹp chặt chiếc ba lô vải dù sờn rách, bạc phếch vì sương gió và bụi bặm của những xưởng xẻ miền Đông. Anh không nhìn sang phía Nguyên, cũng không dám ngước lên nhìn thẳng vào gương mặt già nua của cha mình hay đôi mắt thâm trầm của vợ chồng ông Nam. Đôi mắt sâu thẳm của người thợ mộc trẻ dán chặt xuống từng thớ gỗ thông ba lá dưới sàn nhà, nơi những tia nắng ban trưa rọi xiên qua khung cửa chớp lá sách, tạo thành những vệt sáng sắc nhọn, đều đặn như những nhát cưa rạch ngang mặt sàn.
Không một ai trong gian phòng lên tiếng chào hỏi. Không hề có sự khách sáo giả tạo của những người xa lạ lâu ngày gặp lại, cũng chẳng có tiếng gầm gừ thù hằn, oán hận hay những cử chỉ bộc phát dữ dội như người đời vẫn thường mường tượng về một cuộc chạm trán định mệnh sau một thập kỷ phân ly vì tai nạn, máu và nợ nần. Căn phòng chỉ tràn ngập tiếng kim chiếc đồng hồ quả lắc bằng đồng treo trên vách gỗ gõ nhịp đơn điệu, khô khốc: *tắc, tắc, tắc*. Từng nhịp kim rơi xuống như gõ vào màng nhĩ, đếm từng giây của một sự phán xét vô hình.
Ông Thành hít một hơi thật sâu. Lồng ngực gầy guộc lép kẹp phập phồng sau lớp vải áo gió thô ráp. Ông khó nhọc nhấc cây gậy mun lên, đặt một bước chân khập khiễng qua ngưỡng cửa gỗ cao khoảng mười phân của căn nhà cổ. Tiếng mũi gậy bọc cao su nện xuống mặt sàn gỗ pơ mu phát ra một âm thanh khô khốc, vang vọng: *Cộc.*
"Anh Nam..."
Giọng ông Thành cất lên khàn đặc, vỡ vụn ra thành từng mảnh âm thanh méo mó nơi cuống họng bị co thắt – di chứng không thể che giấu của một cơn đột quỵ xuất huyết não mười năm về trước. "Tôi... tôi đến đây."
Ông Nam không vội đứng dậy ngay. Ánh mắt ông dừng lại rất lâu, soi xét từng chút một nơi khớp gối bên trái run rẩy không ngừng của ông Thành, rồi từ từ dời lên bàn tay trái đang co quắp, gập cong vào sát mép bụng của người cựu tài xế. Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi trôi qua như một cái chớp mắt, một tia nhói buốt vô hình thoáng lướt qua đôi con ngươi trầm tĩnh của cựu cán bộ lâm nghiệp, tựa hồ như một vết sẹo sâu hoắm đã đóng vảy từ lâu trong đáy sâu ký ức vừa bị một ngọn gió độc cào xước. Nhưng nét mặt ông vẫn phẳng lặng, trơ lỳ như mặt nước hồ Dankia vào một sớm mùa đông trước khi dông bão nổi lên.
"Mời anh vào nhà," ông Nam khẽ cất lời. Âm lượng vừa đủ nghe, trầm đục và điềm đạm, tuyệt nhiên không mang theo một chút gợn sóng oán hờn nào, nhưng cũng không hề có lấy một tia xởi lởi, nồng ấm hay dễ dãi. "Đường dốc từ ngoài cổng vào chắc làm chân anh đau."
Ông Thành khẽ lắc đầu, khóe môi bên trái khẽ giật giật từng cơn co rút. Ông không tiến sâu thêm vào giữa gian phòng khách, cũng không hề đưa mắt tìm kiếm một chiếc ghế để đặt lưng ngồi xuống cho đỡ mỏi, dù từng thớ cơ trên cơ thể tàn tạ, lệch lạc của ông đang gồng cứng lên để chống chọi lại sức nặng và trọng lực đè lên khớp háng. Ông quay nửa thân người sang phía con trai, run rẩy đưa bàn tay phải còn lành lặn ra phía trước:
"Phong... đưa tập tài liệu cho ba."
Phong khựng lại một nhịp thở. Bả vai anh cứng đờ. Theo một phản xạ tự nhiên của nỗi sợ hãi và mặc cảm giằng xé suốt mười năm, ánh mắt anh bất giác liếc nhanh sang phía Nguyên. Anh sợ hãi. Anh sợ rằng những bằng chứng trần trụi, những con số vô hồn và những tờ giấy chứng nhận thương tật lạnh lùng sắp sửa được phơi bày ra đây sẽ một lần nữa cào rách toang lòng tự trọng của tất cả những người đang hiện diện dưới mái nhà này, biến cuộc gặp gỡ thành một phiên tòa sỉ nhục lẫn nhau. Nhưng khi chạm phải ánh mắt của người con gái ấy – một ánh mắt lạnh lùng, tĩnh tại, kiên định và rành mạch đến mức tàn nhẫn của một nữ kiến trúc sư cảnh quan quen đối diện với các thông số hiện trạng – Phong hiểu rằng không còn chỗ cho bất kỳ sự lẩn tránh, che chắn hay thỏa hiệp nửa vời nào nữa. Vết thương mười năm nếu không rạch toang ra để nạo sạch mủ thì sẽ vĩnh viễn mưng mủ dưới lớp da thịt giả tạo.
Phong bước lên hai bước. Từng bước chân của anh gõ chắc nịch trên sàn gỗ. Bằng một tay phải còn lành lặn, anh cẩn thận đặt chiếc ba lô dù sờn rách lên mặt bàn trà bằng gỗ mun mộc mạc, rồi từ từ kéo khóa. Khóa kéo rít lên một vệt dài kin kít giữa bầu không khí câm lặng. Anh thò tay vào đáy ba lô, lấy ra ba tập hồ sơ dày cộp được bọc kỹ lưỡng trong những lớp túi nilon chống ẩm đã ngả sang màu vàng ố của thời gian, đặt ngay ngắn, thẳng hàng trước mặt ông Nam và bà Châu.
Bằng những ngón tay run rẩy dữ dội, bàn tay phải gân guốc của ông Thành lần giở mép nilon. Từng tờ giấy khô giòn cọ vào nhau phát ra những tiếng sột soạt rợn ngợp, khuấy đảo sự tĩnh lặng ngột ngạt đang đè nặng lên từng lồng ngực.
"Anh Nam, chị Châu... và cháu Nguyên," ông Thành cất lời, từng âm tiết phát ra đều đòi hỏi một sự gắng gượng phi thường từ cơ hoành và vòm họng méo mó. Ông phải dừng lại nuốt khan một ngụm nước bọt đặc quánh trước khi có thể nói trọn vẹn một câu. "Mười năm trước, vào đúng ngày 14 tháng 8 năm 2014, tại khúc cua Km 217+400 trên đèo Prenn, chiếc xe tải chở gỗ biển số 49C-318.xx do tôi điều khiển đã lấn làn, đâm trực diện vào xe máy của anh Nam đang đi đúng phần đường chiều ngược lại. Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông của Công an thành phố Đà Lạt và Phòng Cảnh sát giao thông... nằm ở đây."
Bằng mu bàn tay run rẩy, ông Thành đẩy tập tài liệu đầu tiên về phía trước. Tờ biên bản giám định hiện trường màu giấy ngà ngả ố, bốn góc quăn queo, nổi bật con dấu tròn đỏ chót của Công an tỉnh Lâm Đồng năm ấy hiện rõ mồn một từng dòng chữ đánh máy cơ xộc xệch: xe mất phanh cục bộ khi đang đổ dốc dài quanh co, lốp trước mòn vẹt quá tiêu chuẩn an toàn, tài xế có dấu hiệu ngủ gật mất kiểm soát do làm việc quá sức liên tục ba ca đêm, kết quả xét nghiệm không phát hiện nồng độ cồn và chất kích thích.
"Trước khi chuyến xe định mệnh đó lăn bánh xuống đèo," giọng ông Thành chùng xuống, nghẹn lại như có ai bóp chặt nơi khí quản, "xưởng mộc của tôi ở Trại Hầm đã vỡ nợ hoàn toàn. Tôi tin người, bảo lãnh cho bạn hàng rút ruột công trình, để rồi chủ nợ kéo đến siết sạch nhà cửa, niêm phong máy xẻ, máy bào... Người ta mang dao rựa đến tận cổng xưởng, chửi bới, dọa sẽ chặt tay thằng Phong nếu không nôn ra tiền lãi. Tôi cùng đường, túng quẫn... Tôi nhận chuyến xe đêm chở gỗ vượt tải trọng ba mươi phần trăm chạy từ Đơn Dương ngược về trong lúc hai hốc mắt đã cay xè, đầu óc quay cuồng vì ba đêm trắng thức canh xưởng. Tôi biết rõ mình kiệt sức, tôi biết bàn đạp phanh đã có dấu hiệu hẫng hơi từ chiều hôm đó... nhưng tôi vẫn cố nhấn ga, cố đánh cược mạng sống của mình và người đi đường chỉ vì ba triệu đồng tiền cước vận chuyển nóng để về trả lãi ngày... Đó là tội lỗi tày trời của tôi. Sự tham lam, liều lĩnh, ngu xuẩn và hèn mạt của tôi đã cướp đi đôi chân lành lặn của anh Nam, phá nát toàn bộ sự nghiệp lâm nghiệp mà anh đã gây dựng nửa đời người, đẩy cả gia đình anh vào chuỗi ngày tai ương và đau đớn cùng cực suốt mười năm ròng rã."
Căn phòng chìm sâu hơn vào một trạng thái tê liệt cảm xúc. Nguyên đưa mắt nhìn sang mẹ mình. Cô nhìn thấy rất rõ bờ vai gầy guộc của bà Châu khẽ run lên bần bật dưới lớp áo len mỏng. Những ký ức kinh hoàng của mười năm trước – cái đêm mưa dầm tầm tã nhận được cuộc điện thoại xé lòng từ Bệnh viện Chợ Rẫy báo tin chồng mình bị đa chấn thương, dập nát toàn bộ xương đùi và khớp gối, nguy cơ hoại tử phải cưa chân – đang ùa về, dội ngược vào tâm trí người phụ nữ như một cơn lũ dữ.
"Tập giấy tờ này," ông Thành tiếp tục, bàn tay ông đập nhẹ xuống xấp tài liệu thứ hai dày cộp nằm ở chính giữa bàn, nơi những tờ hóa đơn bưu điện màu hồng nhạt và biên lai chuyển tiền màu vàng chanh xếp ken đặc thành từng thếp, "là toàn bộ hồ sơ điều trị, phẫu thuật chỉnh hình thương tật của anh Nam tại Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình và Chợ Rẫy mà thằng Phong đã cẩn thận thu thập, lưu giữ lại từng trang một. Kèm theo đó... là đúng một trăm hai mươi tờ biên lai chuyển tiền bồi thường dân sự qua đường bưu điện, bắt đầu từ ngày 15 tháng 9 năm 2014 cho đến ngày 15 tháng 5 năm nay. Tổng số tiền thỏa thuận đền bù dân sự ban đầu ghi trong biên bản hòa giải là ba trăm hai mươi triệu đồng... suốt một trăm hai mươi tháng qua, cha con tôi đã chắt bóp, làm thuê làm mướn để trả đủ, không thiếu một đồng lẻ, không trễ hẹn một kỳ nào."
Những ngón tay co quắp, sần sùi của ông Thành lật giở sang tập hồ sơ thứ ba – tập bệnh án dày cộp mang tên chính ông.
"Sau tai nạn đúng ba tháng, trong lúc trốn chui trốn lủi làm thuê ở một bãi phế liệu tại Dĩ An, Bình Dương, tôi bị đột quỵ xuất huyết não, liệt nửa người. Giấy chứng nhận thương tật mất sức lao động vĩnh viễn trên sáu mươi lăm phần trăm của Hội đồng Giám định Y khoa cấp tỉnh... nằm ở đây. Suốt mười năm qua, tôi biến thành một phế nhân, một gánh nặng nhục nhã, chỉ biết nằm bẹp một chỗ trong căn phòng trọ ẩm thấp nhìn thằng con trai mười chín tuổi của mình cắn răng bẻ gãy sim điện thoại, bỏ dở cánh cửa trường đại học bách khoa, vùi mình vào những ca làm việc mười bốn tiếng mỗi ngày ở các xưởng xẻ gỗ Bình Dương, chắt bóp từng đồng bạc lẻ gửi về trả nợ thay cho cha nó. Vết sẹo dài mười lăm phân đứt gân duỗi trên cẳng tay phải của nó... cũng là hậu quả của một lần nó kiệt sức gục xuống bàn máy cưa đĩa trong ca tăng ca đêm kiếm tiền đóng viện phí cho tôi."
Nói đến đây, hai hốc mắt ông Thành đỏ hoe, những tia máu li ti vỡ ra, giăng mắc nơi tròng mắt đục ngầu của tuổi già và bệnh tật. Người đàn ông từng một thời nắm chặt vô-lăng tung hoành khắp những cung đèo hiểm trở nhất của đại ngàn Nam Tây Nguyên bỗng nhiên buông lỏng các ngón tay. Chiếc gậy mun đen bóng rơi tuột khỏi lòng bàn tay ông, nện thẳng xuống sàn gỗ.
*Choảng!*
Âm thanh chát chúa của gỗ va vào gỗ rạch toang không gian tĩnh mịch, đập thẳng vào màng nhĩ của tất cả mọi người.
Và rồi, trước sự sững sờ của Nguyên và bà Châu, ông Thành từ từ khụy hai đầu gối xuống. Nửa thân người bại liệt run rẩy kéo theo toàn bộ trọng lượng cơ thể đổ ập xuống mặt sàn thông. Hai đầu gối khẳng khiu đập mạnh xuống sàn gỗ pơ mu, hai bàn tay ông chống xuống đất, rồi ông từ từ cúi rạp đầu mình xuống, trán gần như chạm sát vào những thớ gỗ mát lạnh dưới chân ông Vũ Quốc Nam:
"Tôi không đến đây để mặt dày cầu xin anh tha thứ. Tội lỗi của tôi gây ra, dù có bồi thường ba trăm hai mươi triệu hay ba tỷ hai trăm triệu, cũng vĩnh viễn không thể trả lại cho anh Nam một đôi chân lành lặn để anh có thể tự do bước vào những cánh rừng già như trước đây. Tôi quỳ ở đây, dập đầu ở đây, chỉ để chính miệng nói với anh một lời xin lỗi... một lời tạ tội mà mười năm trước, vì hèn nhát, vì mặc cảm nghèo đói, nợ nần và bệnh tật, tôi đã câm lặng trốn chạy, không dám trực tiếp đối diện với anh. Tôi nói lời xin lỗi này, hoàn toàn không dám mưu cầu bất kỳ sự bao dung hay xá tội nào, cũng không mong xóa bỏ bản án lương tâm mà tôi biết chắc mình sẽ phải mang theo xuống tận đáy mồ."
"Kìa, bác Thành! Bác làm gì thế này!" Nguyên thốt lên, giọng cô lạc đi vì kinh ngạc. Cô vội vã bước lên phía trước một bước định đỡ ông dậy, nhưng một cánh tay vững chãi đã giơ ngang ra, ngăn cô lại.
Đó là tay của cha cô.
Cả căn phòng như ngừng thở. Tiếng thở dốc nghẹn ngào, khò khè của ông Thành phập phồng sát mặt sàn, hòa lẫn với tiếng gió rít nhè nhẹ qua những khe hở của khuôn cửa chớp. Phong đứng chết lặng bên cạnh thân cột C-03, hai hàm răng anh nghiến chặt vào nhau đến mức hai khối cơ hàm gồ lên cứng đờ như đá tảng. Đôi bờ mi dầy của anh run rẩy, và từ khóe mắt sâu thẳm, những giọt nước mắt nóng hổi lặng lẽ tràn ra, lăn dài trên gò má sạm đen, phong trần của người thợ mộc trẻ tuổi. Phong siết chặt nắm tay phải, bước vội tới hai bước định cúi xuống nâng cha mình dậy, nhưng ông Thành dứt khoát gạt mạnh cùi chỏ ra, lắc đầu trong sự quật cường tột cùng, kiên quyết giữ chặt tư thế phủ phục chạm trán xuống mặt gỗ.
Trong khoảnh khắc ngột ngạt đến nghẹt thở ấy, ông Vũ Quốc Nam khẽ cử động. Ông hít một hơi thật sâu, hai bàn tay gân guốc nắm chặt lấy đầu chiếc gậy mun mộc mạc của mình. Bằng một cử chỉ chậm rãi, nhẫn nại nhưng dồn tụ toàn bộ sức mạnh cơ bắp của nửa thân trên, ông chống mũi gậy xuống sàn, gồng hai cánh tay và bờ vai rộng lớn để nâng cơ thể khuyết tật của mình đứng thẳng dậy khỏi chiếc ghế bành. Khớp gối thoái hóa và những mảnh xương đùi từng bị vỡ vụn khẽ phát ra những tiếng lục cục rất nhỏ bên dưới lớp vải âu xám. Từng chuyển động của ông đều thấm đẫm sự nhọc nhằn, đau đớn thể xác, nhưng toát lên một vẻ tôn nghiêm, đĩnh đạc lạ thường của một con người chưa bao giờ để số phận quật ngã.
Ông Nam bước hai bước khập khiễng, mũi gậy mun nện xuống sàn tạo thành điểm tựa vững chãi, đưa ông đến sát bên người tài xế đang quỳ phủ phục. Ông không thốt ra một lời gay gắt, không buông một tiếng thở dài than vãn, nhưng cũng không vội vã đưa ra những lời an ủi sáo rỗng hay thương hại rẻ tiền. Bằng đôi bàn tay thô ráp, ấm nóng và rắn rỏi của một người từng dành trọn tuổi trẻ để vạch lối mở đường giữa rừng sâu, ông Nam từ từ khom lưng xuống. Ông luồn hai bàn tay qua hai bên nách của ông Thành, dùng toàn bộ sức lực của cơ lưng và bả vai từ tốn nhưng dứt khoát nâng người bạn cùng cảnh ngộ đứng dậy.
"Anh Thành, đứng lên đi," giọng ông Nam cất lên, trầm ấm và vang vọng, mang theo sự điềm đạm cố hữu của một người từng trải qua ranh giới giữa sự sống và cái chết giữa ngút ngàn thông reo. "Nhà tôi không có thói quen để người khác phải quỳ trên sàn gỗ Mộc Miên."
Ông Thành run rẩy nương theo lực nâng vững chãi của ông Nam, hai chân run bần bật, chật vật đứng thẳng người dậy. Ông Nam cúi xuống nhặt chiếc gậy mun đen bóng rơi dưới sàn, cẩn thận đặt lại vào lòng bàn tay phải của ông Thành, rồi tự tay kéo chiếc ghế gỗ bành đối diện ra một khoảng vừa tầm, đặt bàn tay to bản ấn nhẹ lên bờ vai áo gió của người cựu tài xế:
"Ngồi xuống đi. Chúng ta đều là những kẻ phải mang gậy gỗ để bước đi, đứng lâu trên sàn cứng này đầu gối sẽ sưng tấy lên đấy."
Chờ cho ông Thành đã ngồi vững vàng trên mặt ghế, hơi thở dần hồi phục, ông Nam mới khập khiễng quay trở lại vị trí của mình. Ông với tay nâng chén trà gừng còn bốc làn khói mỏng thơm nồng trên khay, nhấp một ngụm nhỏ để làm dịu đi vị đắng chát nơi cuống họng. Đôi mắt thâm trầm của ông lướt chầm chậm qua xấp biên lai dày cộp một trăm hai mươi tháng – một trăm hai mươi tờ giấy chứng thực cho đúng mười năm trời lao dịch khổ sai, kiệt cùng mồ hôi và máu của hai cha con ngồi đối diện.
"Anh Thành," ông Nam bắt đầu cất lời, thanh âm rõ ràng, khúc chiết, rành mạch từng tiếng một găm vào không gian tĩnh lặng, "mười năm trước, khi tôi mở mắt tỉnh lại trên giường bệnh trắng toát của Bệnh viện Chợ Rẫy, toàn thân bó bột bất động, nghe bác sĩ trưởng khoa trực tiếp thông báo rằng hai chân tôi vĩnh viễn không thể đi lại bình thường được nữa, tôi đã từng hận anh. Tôi đã hận người lái chiếc xe tải chở gỗ đó đến thấu xương tủy, đến cồn cào gan ruột. Bởi vì đối với một cán bộ kỹ thuật lâm nghiệp thực địa, đối với một kẻ coi rừng già là máu thịt, coi những chuyến đi băng rừng lội suối là lẽ sống như tôi, việc mất đi đôi chân lành lặn chẳng khác nào bị người ta tước đoạt đi quyền được sống một cuộc đời trọn vẹn."
Bên góc bàn, bà Châu khẽ nấc lên một tiếng nghẹn ngào, bờ vai bà co rúm lại, chiếc khăn tay thêu mộc miên trên tay bà đã ướt đẫm mồ hôi lạnh.
"Nhưng," ông Nam tiếp tục, ánh nhìn của ông chiếu thẳng vào đôi mắt già nua đục ngầu vì nước mắt của ông Thành, không hề né tránh, "sự căm hận mù quáng đó chỉ có thể gặm nhấm tôi trong vài năm đầu tiên, khi những vết mổ còn rỉ dịch, khi những cơn đau nhức buốt đến tận tủy xương mỗi bận cao nguyên chuyển gió mùa còn hành hạ thể xác tôi. Đến năm thứ năm... khi tôi nhìn thấy những tờ phiếu chuyển tiền ba triệu, bốn triệu đồng đều đặn gửi về qua đường bưu điện mỗi tháng, không bao giờ ghi tên thật của người gửi, chỉ ghi vỏn vẹn địa chỉ một xưởng cưa nằm ven quốc lộ ở Dĩ An, tôi đã lờ mờ đoán ra tất cả. Tôi đã giấu vợ, giấu con, chống gậy đón xe đò lặn lội xuống tận Bình Dương để tìm kiếm. Tôi đứng nép mình sau hàng rào tôn rỉ sét ngoài cổng xưởng mộc, đứng giữa cái nắng như thiêu như đốt của buổi trưa miền Đông, nhìn thấy thằng Phong trần lưng, mồ hôi nhễ nhại, hai vai trầy tróc rướm máu vì vác những thanh xà gồ nặng gấp đôi cơ thể nó... Khi ấy, tôi đã gọi nó ra bờ kênh, và tôi đã bảo nó dừng lại ngay lập tức. Tôi đã nói thẳng với nó rằng, ở mức độ ân oán cá nhân giữa tôi và gia đình anh, tôi đã tha thứ cho các anh từ rất lâu rồi."
Ông Nam thở dài một hơi thật dài. Tiếng thở của ông như trút bỏ một khối nặng vô hình đã đè nén trong lồng ngực suốt bao năm tháng. Ông từ tốn đặt chén trà xuống đĩa sứ, tạo nên một tiếng *cạch* dứt khoát, thanh mảnh:
"Hôm nay anh đích thân đến đây, chống gậy bước qua cánh cửa này, mang theo toàn bộ hồ sơ giám định, bệnh án tàn tật và một trăm hai mươi tờ biên lai chuyển tiền bồi thường, tôi ghi nhận danh dự và sự sòng phẳng của anh. Nhưng anh Thành này, chúng ta đều là những người đàn ông đã đi qua nửa đời người, chúng ta phải nói thật với nhau một điều trần trụi: vụ tai nạn đẫm máu năm ấy đã xảy ra. Hai chân tôi đã dập nát, nửa thân người anh đã tàn phế, sức khỏe và sự nghiệp của cả hai chúng ta đều đã tan tành mây khói. Đó là một sự thật vật lý tàn nhẫn, một biến cố khách quan không có cách nào đảo ngược được nữa. Và những gì đã mất đi vĩnh viễn trong quá khứ thì không một khoản tiền bồi thường nào, không một lời van xin hay sự tự trừng phạt nào có thể bù đắp hay lấy lại được!"
Ông Nam đột ngột dừng lại. Ánh mắt ông rời khỏi gương mặt già nua của người tài xế, quét thẳng sang phía Phong và Nguyên – hai con người trẻ tuổi đang đứng bất động như hai pho tượng đồng giữa gian phòng khách. Giọng ông trầm hẳn xuống, nhưng lại đanh sắc và mang theo một uy quyền sắt đá không thể lay chuyển của một người cha:
"Nhưng điều tôi kiên quyết phản đối, điều khiến tôi cảm thấy đau đớn, xót xa và phẫn nộ nhất suốt mười năm qua, không phải là việc bản thân mình phải ngồi xe lăn hay chống gậy bước đi tập tễnh! Điều làm tôi căm giận nhất chính là việc thế hệ người lớn chúng ta – vì những sai lầm, vì những nỗi sợ hãi, cay nghiệt và lòng kiêu hãnh ích kỷ của mình – đã nhẫn tâm để cho hai đứa trẻ này phải tiếp tục sống như những kẻ nô lệ mang gông cùm, gánh món nợ truyền kiếp thay cho cha mẹ chúng!"
Từng lời nói của ông Nam giáng xuống như những nhát búa nện thẳng vào bầu không khí tĩnh mịch của căn phòng.
"Lỗi lầm là của người lớn chúng ta! Trách nhiệm của việc cầm lái liều lĩnh trong lúc kiệt sức, bất chấp an toàn là của anh Thành! Sự kiểm soát cực đoan, cay nghiệt, tàn nhẫn dùng tiền bạc và sự sỉ nhục để xua đuổi, ép uổng người khác bỏ xứ mà đi là của vợ tôi! Thằng Phong năm đó mới mười chín tuổi, nó hoàn toàn không hề ngồi sau vô-lăng chiếc xe tải chở gỗ đó! Con Nguyên năm đó cũng chỉ là một con bé vừa thi đại học, nó hoàn toàn ngây thơ, không hề hay biết một chút gì về món nợ máu hay những toan tính đằng sau của người lớn! Vậy mà suốt mười năm qua, chúng ta đã biến cuộc đời chúng thành cái gì? Một đứa thì tự đày đọa bản thân mình trong mặc cảm chuộc tội mù quáng, lao đầu vào làm việc như một con thiêu thân, bẻ gãy sim điện thoại, chôn vùi toàn bộ tương lai học vấn, sống trốn chui trốn lủi như một kẻ tội đồ; còn một đứa thì bị tước đoạt mất sự thật, sống trong nỗi hoài nghi, dằn vặt, mang cảm giác bị người mình tin yêu nhất ruồng bỏ không một lời giải thích, để rồi gánh trên lưng một vết thương lòng mưng mủ, cô độc suốt cả tuổi thanh xuân đẹp đẽ nhất!"
Ông Nam vung bàn tay đập mạnh xuống mặt bàn trà bằng gỗ mun. Tiếng đập dứt khoát làm những tờ biên lai bưu điện trên mặt bàn khẽ nảy lên:
"Tôi không chấp nhận điều đó! Dứt khoát không bao giờ chấp nhận! Sự tha thứ của tôi đối với anh Thành không phải là một món quà ban ơn rẻ rúng để các anh đem ra đổi chác lấy sự giải thoát tâm lý cho thanh thản lương tâm. Nhưng tôi dứt khoát không cho phép bất kỳ ai – dù đó là anh, là vợ tôi, hay chính bản thân thằng Phong – được quyền biến cuộc đời, tương lai và hạnh phúc của thế hệ con cái thành một thứ tài sản thế chấp để trả giá cho những lỗi lầm của quá khứ! Món nợ dân sự ba trăm hai mươi triệu đã được thanh toán sòng phẳng theo đúng quy định của pháp luật. Món nợ ân oán giữa hai người đàn ông mang gậy chúng ta ngày hôm nay coi như đã chấm dứt hoàn toàn tại chiếc bàn này! Kể từ giây phút này trở đi, không một ai trong căn nhà này, không một ai trong thành phố này được phép nhân danh vụ tai nạn năm 2014 để trói buộc, phán xét hay áp đặt bất kỳ điều gì lên thằng Phong và con Nguyên nữa!"
Nguyên đứng chết lặng nơi góc tủ kính, hai bàn tay buông lỏng khỏi gờ gỗ từ lúc nào không hay. Từng lời nói của cha cô vang lên như một dòng nước nguồn trong trẻo xối thẳng vào tâm can, gột rửa đi từng lớp bùn lầy của sự uất ức, ấm ức, giằng xé và những câu hỏi không có lời đáp mà cô đã phải cắn răng gánh chịu suốt một thập kỷ qua. Cô nhìn sâu vào vầng trán khắc khổ của cha mình, và bất giác nhận ra rằng sự vĩ đại của người đàn ông tàn tật ấy chưa bao giờ nằm ở sự chịu đựng câm lặng hay những lời giáo điều đạo mạo; sự vĩ đại của ông nằm ở sự phân định rạch ròi, công minh, thấu đáo và lòng bảo bọc kiên quyết, không nhân nhượng dành cho phẩm giá và quyền tự do của con cái.
Nhìn thấy tấm lòng bao dung khoáng đạt, sự công bằng và thẳng thắn đến tận cùng của người đàn ông mà gia đình mình đã gây ra thương tật vĩnh viễn, Phong bỗng run lên từng chặp. Một chấn động dữ dội chạy dọc sống lưng anh. Anh hít một hơi sâu, bước dứt khoát ra khỏi bóng râm u tối của thân cột chịu lực C-03, tiến thẳng tới khoảng không gian tràn ngập ánh sáng ngay trước mặt hai người cha đang ngồi bên bàn trà.
Cánh tay trái của Phong vẫn còn nẹp chặt bằng những thanh gỗ thông và lớp băng thun thô ráp, nhưng lồng ngực anh ưỡn thẳng. Đôi vai anh không còn so lại như kẻ mang tội, ánh mắt anh không còn lẩn tránh hay cụp xuống sàn nhà. Toàn bộ vẻ u uất, cam chịu và cái bóng đen của mặc cảm tội đồ đè nặng mười năm qua dường như đã bị gạt bỏ hoàn toàn. Anh nhìn thẳng vào mắt ông Vũ Quốc Nam, rồi quay sang nhìn người cha già đang ngồi thở dốc bên cạnh.
"Bác Nam... Ba," Phong cất tiếng. Giọng anh có một thoáng run rẩy, khàn đặc ở những âm tiết đầu tiên, nhưng càng nói, âm vực của anh càng trở nên trầm chắc, đĩnh đạc và rành mạch một cách kỳ lạ. "Mười năm trước, khi con mới mười chín tuổi, đứng trước biến cố khủng khiếp làm sụp đổ cả hai gia đình, con đã chọn cách hèn nhát và ngu xuẩn nhất để đối diện với nó. Khi ấy, con đã lầm tưởng rằng việc mình tự tay bẻ gãy chiếc sim điện thoại, cắt đứt toàn bộ liên lạc, trốn chạy khỏi mảnh đất này, từ bỏ giảng đường đại học và vùi mình vào những xưởng cưa để kiếm tiền trả nợ thay cho ba là một sự hy sinh cao cả, một hành động trượng phu. Nhưng con đã hoàn toàn sai lầm. Con đã tự biến mình thành một kẻ tử vì đạo ấu trĩ, để rồi nhân danh sự hy sinh mù quáng đó, con đã tước đoạt đi quyền được biết sự thật của Nguyên, tước đoạt đi một lời giải thích đàng hoàng mà cô ấy hoàn toàn xứng đáng được nhận. Con đã giẫm đạp lên lòng tự trọng của Nguyên, và biến bản thân mình thành một gánh nặng tâm lý đè nghẹt lên cuộc đời của tất cả mọi người."
Phong dừng lại một nhịp, quay hẳn người sang nhìn thẳng vào mắt Nguyên. Dưới ánh nắng ban trưa rọi qua ô cửa kính, đôi mắt người thợ mộc trong trẻo, chân thành và rạch ròi hơn bất kỳ khoảnh khắc nào trong suốt mười năm tao ngộ:
"Mấy ngày vừa qua, khi đứng trước nguy cơ căn nhà Mộc Miên bị can thiệp thô bạo, con đã suýt nữa lặp lại đúng vết xe đổ mười năm trước bằng việc tự tiện đi gặp riêng ông Nguyễn Khải Minh để thương lượng, mặc cả sau lưng Nguyên... Chính cú sốc đó đã tát một gáo nước lạnh làm con hoàn toàn bừng tỉnh. Con nhận ra rằng cái tâm lý chuộc tội mà con ôm giữ suốt một thập kỷ qua thực chất chỉ là một vỏ bọc ích kỷ, đớn hèn cho sự tự ti và thói gia trưởng áp đặt của chính bản thân con. Con muốn tự tay gánh vác, muốn đóng vai kẻ cứu rỗi người khác thực chất chỉ là để xoa dịu cảm giác cắn rứt lương tâm và nỗi mặc cảm tội lỗi của riêng mình."
Phong hít một hơi lồng ngực căng tràn không khí mát lành của đồi thông Trại Mát. Anh quay người về phía hai người lớn tuổi, chậm rãi và trang nghiêm gập người cúi đầu một góc chín mươi độ. Đó là một cái cúi đầu đầy kính cẩn, tôn trọng tuyệt đối, nhưng hoàn toàn không còn một chút dấu vết nào của sự quỵ lụy hay mặc cảm tội đồ:
"Hôm nay, trước mặt bác Nam, trước mặt ba và bác Châu, con xin chính thức tuyên bố: Con sẽ dừng vĩnh viễn việc tự đày đọa mình trong mặc cảm chuộc tội. Con sẽ không bao giờ dùng quá khứ tai nạn của ba để làm cái cớ cho sự bi lụy, trốn chạy hay tự trừng phạt bản thân mình thêm một ngày nào nữa. Món nợ tài chính của gia đình con đối với gia đình bác Nam đã được hoàn tất trọn vẹn theo cả pháp luật lẫn đạo lý. Về trách nhiệm chăm sóc y tế, phục hồi chức năng và an dưỡng cho ba trong những năm tháng tuổi già sắp tới, con và ba đã bàn bạc và thống nhất phương án hoàn toàn độc lập tại viện dưỡng lão Hy Vọng, bằng nguồn lực lao động tự chủ và danh dự của chính hai cha con con."
Phong ngẩng cao đầu. Trên gương mặt góc cạnh phong trần của người thợ mộc trẻ bừng lên một ngọn lửa kiên định, rắn rỏi – ngọn lửa của một người thợ đã tìm lại được trục tim chuẩn xác cho chính cuộc đời mình:
"Kể từ nay trở đi, con sẽ sống cuộc đời của một người đàn ông trưởng thành, độc lập và tự do. Con nhận công việc phục chế căn nhà Mộc Miên này thuần túy với tư cách là chủ xưởng mộc Gió Thông, thực hiện theo đúng các điều khoản hợp đồng khoán việc mà bà ngoại Mai đã ký thác, bằng toàn bộ lương tâm nghề nghiệp, kỹ thuật mộc truyền thống và đôi bàn tay lao động của con. Con cam kết sẽ sống có trách nhiệm với hiện tại và tương lai của chính mình; con không đòi hỏi bất kỳ sự thương hại hay bù đắp tình cảm nào, và con cam đoan sẽ tuyệt đối tôn trọng mọi ranh giới chuyên môn, mọi quyền tự quyết và không gian cá nhân của kiến trúc sư Nguyên."
Một sự im lặng sâu thẳm lại bao trùm lấy gian phòng khách rộng lớn. Nhưng lần này, đó không còn là thứ im lặng ngột ngạt, đè nén đến tức ngực của một nấm mồ quá khứ hay sự thù hận âm ỉ. Đó là sự tĩnh mịch thanh thản, nhẹ nhõm đến lạ kỳ của một buổi sớm mai trong lành sau khi cơn giông bão kinh hoàng nhất đã tan biến vào hư không.
Toàn bộ sự thật đã được phơi bày ra ánh sáng ban trưa một cách trần trụi, rành mạch và không còn để lại bất kỳ một góc khuất tăm tối nào cho bóng ma của sự ngờ vực trú ngụ. Tập hồ sơ khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn, xấp bệnh án giám định thương tật, một trăm hai mươi tờ biên lai chuyển tiền bưu điện bền bỉ suốt mười năm và lời tuyên bố đĩnh đạc, dứt khoát của Phong đã vĩnh viễn đóng lại cánh cửa của món nợ đạo đức kéo dài suốt một thập kỷ. Những lỗi lầm của quá khứ – sự bất cẩn liều lĩnh của ông Thành, sự cay nghiệt kiểm soát của bà Châu – đã được khoanh vùng rạch ròi và đặt trả lại đúng vị trí thuộc về thế hệ trước. Còn quyền được sống, quyền được tự do lựa chọn tương lai, quyền được bước đi trên đôi chân của chính mình và quyền được yêu thương hay khước từ đã được trả lại một cách trọn vẹn, tinh khôi nhất cho thế hệ trẻ.
Nguyên từ từ thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực cô khẽ rung lên. Cô có cảm giác như một tảng đá ngàn cân vô hình từng đè nặng lên tim mình suốt mười năm đằng đẵng vừa được một bàn tay vô hình nhấc bổng đi. Mười năm dằn vặt trong cô đơn, mười năm tự hỏi bản thân rốt cuộc đã làm sai điều gì để bị bỏ rơi tàn nhẫn tại trạm xe buýt Cầu Đất vào một buổi chiều mưa lạnh, mười năm ôm giữ nỗi mặc cảm cay đắng rằng tình yêu đầu đời trong sáng của mình chỉ là một trò đùa rẻ mạt, một sự phản bội tráo trở... tất cả những gánh nặng đen tối ấy giờ đây đã tan biến như làn sương mỏng manh trên sườn đồi Trại Mát khi ánh mặt trời đứng bóng chiếu rọi. Trước mắt cô lúc này không còn là một cậu thiếu niên bồng bột trốn chạy trong hèn nhát, cũng không phải là một kẻ trượng phu độc đoán muốn che chở cho cô bằng sự thương hại đầy mặc cảm. Đang đứng sừng sững trước mắt cô là Lê Hoàng Phong – một người đàn ông thực thụ, một người thợ mộc dám nhìn thẳng vào vết thương quá khứ, dám buông bỏ gánh nặng chuộc tội để tự đứng vững trên chính đôi chân và khối óc của mình.
Gió bên ngoài mái hiên khẽ lay động những chùm chuông gió bằng gỗ thông treo dưới rui mè, phát ra những chuỗi âm thanh lách cách thanh tao, giòn giã. Ánh nắng rực rỡ buổi trưa tràn qua khung cửa sổ lá sách, chiếu thẳng vào mặt chiếc bàn trà bằng gỗ mun, dát một màu vàng óng ả, ấm áp lên những tờ biên lai bưu điện đã ngả màu nâu ố.
Nơi góc bàn trà, bà Vũ Minh Châu vẫn ngồi chết lặng như một bức tượng đá.
Người phụ nữ cả đời sống trong sự lo toan chi li, phòng bị cảnh giác và tính toán thực tế đến mức lạnh lùng ấy giờ đây dường như đã bị tước đoạt toàn bộ lớp giáp bảo vệ. Đôi mắt bà đăm đăm nhìn vào gương mặt của chồng mình. Lần đầu tiên sau mười năm ròng rã kể từ cái đêm định mệnh trên đèo Prenn ập xuống xé nát gia đình bà, bà mới nhìn thấy lại nét thanh thản, an nhiên và khoáng đạt đến nhường ấy trên vầng trán của ông Nam – nét mặt của một người đàn ông đã thực sự buông bỏ được toàn bộ gánh nặng oán hờn để tìm lại sự bình yên tuyệt đối trong tâm can.
Rồi ánh mắt run rẩy của bà từ từ chuyển sang người đàn ông tàn tật đang ngồi phía đối diện. Ông Thành ngồi đó, đôi bàn tay co quắp, tật nguyền đang vụng về, chậm rãi xếp lại từng tờ biên lai màu hồng nhạt; nơi khóe mắt già nua vẫn còn ướt đẫm những giọt nước mắt muộn màng, nhưng đôi bờ vai gầy guộc đã không còn trĩu nặng sự nhục nhã hay trốn tránh. Mười năm qua, bà Châu đã ôm trọn trong lòng nỗi căm hận người đàn ông này. Bà căm hận chiếc xe tải mất phanh của ông ta, căm hận cái nghèo hèn và tai ương mà gia đình ông ta trút xuống đầu chồng con bà. Bà đã dùng sự cay nghiệt, dùng địa vị của một chủ nợ, dùng những lời mạt sát độc địa và nhẫn tâm nhất để xua đuổi con trai ông ta ra khỏi cuộc đời Nguyên, đinh ninh tin rằng sự tàn nhẫn ấy là bức tường thành duy nhất có thể bảo vệ tương lai con gái mình khỏi bùn lầy nợ nần.
Thế nhưng, nhìn những xấp biên lai đền bù ròng rã suốt một trăm hai mươi tháng không sót một kỳ, nhìn vết sẹo rách nát dài mười lăm phân đứt gân trên cánh tay của Phong, nhìn cách hai người đàn ông mang gậy tàn tật đối đãi với nhau bằng sự tôn trọng và sòng phẳng tuyệt đối về mặt nhân cách, bức tường thành định kiến, nghiệt ngã và sự kiểm soát ích kỷ mà bà dày công dựng lên bỗng chốc rạn vỡ, sụp đổ tan tành thành từng mảnh vụn.
Bà Châu bàng hoàng nhận ra một sự thật cay đắng: chính nỗi sợ hãi nghèo khó đến mức mù quáng của bà, chính sự bảo bọc độc đoán nhân danh tình thương của một người mẹ đã gián tiếp tạo nên tấn bi kịch ly tán kéo dài cả một thập kỷ. Chính sự can thiệp tàn nhẫn của bà mười năm trước đã biến con gái bà thành một kẻ cô độc, khép kín tâm hồn và mang một vết thương lòng rỉ máu suốt cả thanh xuân.
Đôi bàn tay gầy guộc của bà Châu run lên bần bật, không còn chút sức lực nào. Chiếc khăn tay thêu cành hoa mộc miên rơi tuột khỏi những ngón tay trơ xương, rơi nhẹ xuống mặt sàn gỗ bóng loáng. Một giọt nước mắt nóng hổi lăn dài qua gò má nhăn nheo, rơi xuống mu bàn tay nổi gân xanh của bà, rồi giọt thứ hai, giọt thứ ba thi nhau rơi xuống trong sự nghẹn ngào câm lặng.
Không thể chịu nổi sức nặng của sự hối hận và nỗi xúc động đang trào dâng nghẹt thở nơi lồng ngực, bà Châu đứng dậy bước vội ra góc hiên nhà, bờ vai gầy run lên sau những giọt nước mắt nghẹn ngào.