Nút Thắt Của Mẹ
Màn sương lạnh buốt từ thung lũng sâu tạt qua chái hiên không làm nguôi đi những giọt nước mắt muộn màng của bà Châu, người đàn bà cả một đời lấy việc che chắn, bảo bọc gia đình làm tôn chỉ duy nhất, nhưng rốt cuộc lại vô tình khắc sâu vào tâm can đứa con gái duy nhất của mình một vết thương mưng mủ suốt mười năm ròng rã.
Gió từ phía lòng chảo Trại Mát thổi thốc ngược lên triền đồi, cuốn theo hơi ẩm ngai ngái nồng nặc của vạt đất đỏ bazan vừa bị cày xới nham nhở và mùi cỏ vetiver dập nát sau chuỗi ngày oằn mình chống chọi với cơn bão số bốn. Bên dưới bậc tam cấp bằng đá chẻ, vệt trượt dài mười lăm mét của bờ taluy phía sau xưởng mộc vẫn còn lởm chởm những khối đá hộc sắc cạnh, nằm xen kẽ giữa các rọ thép mạ kẽm bọc nhựa PVC mà đội thợ của xưởng Gió Thông cùng anh em thợ hồ vừa cấp tập neo giằng tạm bợ. Những tấm bạt sọc xanh cam ướt sũng dán chặt vào mặt trượt sình lầy, phập phồng theo từng cơn gió quẩn như một vết thương hở của sườn dốc đang được băng bó vội vàng. Nhưng mọi xáo động ngổn ngang của bùn đất, đá sỏi ngoài kia dường như vẫn quá đỗi nhỏ nhoi, không thấm tháp gì so với sự sụp đổ thầm lặng đang diễn ra nơi lồng ngực người mẹ.
Bà Châu đứng nép sát vào góc cột gỗ thông tròn đã lên nước nâu sẫm, hai bàn tay xương xẩu bấu chặt lấy thành lan can mộc mạc mòn vẹt dấu thời gian. Lớp áo khoác len màu xám tro dày cộm dường như không đủ sức ngăn lại những cơn run rẩy đang truyền dọc sống lưng bà. Từng nhịp nấc nghẹn ngào rung lên nơi lồng ngực gầy guộc khiến vóc dáng vốn dĩ luôn mực thước, sắc sảo và uy quyền của một kế toán viên trưởng kỳ cựu bỗng chốc trở nên co quắp, nhỏ bé và tiều tụy đến nao lòng. Những đường nẹp chỉ thẳng thớm trên nếp áo của bà, thứ biểu trưng cho trật tự và kỷ cương mà bà luôn duy trì trong gia đình suốt mấy mươi năm, giờ đây nhàu nhĩ theo từng nhịp thở dốc khó nhọc.
Nguyên bước chậm rãi qua ngưỡng cửa gỗ chái hiên. Tiếng ván sàn pơ mu cọt kẹt dưới đế giày bata bám đầy bùn đỏ khẽ vang lên giữa không gian tịch mịch. Theo sát sau cô là ông Nam. Tiếng đầu gậy gỗ mun bịt cao su gõ từng nhịp lục cục, nặng nhọc nhưng vững chãi trên nền gỗ ẩm. Ông Nam không lên tiếng, chỉ lẳng lặng dừng lại cách lưng vợ chừng ba bước chân, ánh mắt thâm trầm, đượm vẻ bao dung của người đàn ông đã đi qua nửa đời giông bão lặng nhìn vào bóng lưng còng rạp của người bạn đời. Không gian chái hiên như bị đóng băng trong khoảnh khắc giao thời giữa chiều tà và chạng vạng, chỉ có tiếng gió rít qua những khe rui mè và tiếng nước mưa từ máng xối rỏ xuống chum sành từng giọt trầm đục.
Nghe thấy tiếng bước chân quen thuộc của con gái, bà Châu vội vàng đưa hai mu bàn tay chằng chịt những đường gân xanh ngoằn ngoèo lên quệt ngang gò má, cố gom góp chút tàn dư uy nghiêm sót lại của một người mẹ. Nhưng những ngón tay khô gầy của bà run rẩy dữ dội đến mức chẳng thể nào ngăn nổi dòng nước mắt đang thi nhau tuôn trào qua những rãnh nhăn sâu hoắm nơi khóe mắt. Bà từ từ quay người lại. Nhìn thấy Nguyên đứng sừng sững ở đó, vóc dáng con gái thanh mảnh trong chiếc áo khoác gió sờn vai, gương mặt tái nhợt vì nhiều đêm thức trắng canh sạt lở bờ taluy, đôi mắt sáng thăm thẳm nhìn xoáy vào bà mà không hề có sự trách móc gay gắt hay ngọn lửa thịnh nộ lôi đình. Chính sự trầm tĩnh rạch ròi, sự điềm đạm đến đau lòng ấy lại tựa như một mũi kim sắc nhọn đâm thẳng vào đáy sâu tâm can bà, tước đi chút phòng vệ cuối cùng.
"Nguyên... mẹ..." Giọng bà Châu lạc hẳn đi, vỡ vụn ra giữa màn sương chiều bảng lảng. "Mẹ không... mẹ thực sự không ngờ mọi chuyện lại trớ trêu và nghiệt ngã đến nông nỗi này."
Ông Nam bước lên thêm một nhịp gậy, bàn tay thô ráp của người thợ rừng già đặt nhẹ lên bờ vai đang run bần bật của vợ. Cái chạm tay trầm lặng, dứt khoát nhưng chan chứa sự chở che ấy như rút phắt đi sợi dây cót cuối cùng đang cố gồng gánh lớp vỏ bọc cứng rắn của bà Châu. Người phụ nữ cả đời tôn thờ những con số cân bằng trên bảng hạch toán, tôn thờ sự an toàn tuyệt đối và trật tự thực dụng bỗng chốc khuỵu gối xuống chiếc ghế mây dài kê sát vách gỗ, hai bàn tay ôm chặt lấy gương mặt giàn giụa nước mắt, bật khóc nức nở như một đứa trẻ phạm lỗi lầm tày đình trước tòa án lương tâm.
"Mười năm trước... đúng là mẹ đã đến tìm nó," bà Châu nghẹn ngào, từng câu từng chữ nặng trĩu tựa như những khối đá tảng trút xuống khoảng không gian ẩm mốc. "Buổi chiều hôm ấy ở trạm xá Trại Mát, khi ba con vẫn còn nằm mê man bất tỉnh trên băng ca cấp cứu của bệnh viện tỉnh với đôi chân dập nát xương khớp, bác sĩ lắc đầu bảo tiên lượng xấu, có nguy cơ phải tháo khớp cưa bỏ toàn bộ... mẹ gần như phát điên. Xưởng gỗ người ta vỡ nợ dây chuyền, người trực tiếp gây tai nạn thì ngất lên xỉu xuống vì cơn tai biến và áp lực đền bù. Mẹ nhìn thấy thằng Phong đứng thập thò ngoài dãy hành lang hun hút, áo quần lấm lem mạt cưa, mặt mày cắt không còn hột máu... Mẹ đã lôi xềnh xệch nó ra góc vườn chuối sau trạm xá."
Nguyên đứng chết trân tại chỗ, lồng ngực thắt lại như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt. Dù từng câu chữ trong bức thư mười năm chưa gửi của Phong tại căn nhà lá của dì Hạnh cô đã đọc đến thuộc lòng, dù những lời thú nhận đứt quãng của ông Thành ban chiều cô đã nghe không sót một từ, nhưng khi chính miệng mẹ ruột mình run rẩy thốt ra sự thật trần trụi này, từng sợi dây thần kinh nơi thái dương cô vẫn co giật buốt nhói.
"Mẹ đã dùng những lời lẽ tàn nhẫn nhất trên đời để trút lên đầu nó," bà Châu run rẩy thú nhận, những giọt nước mắt mặn chát rỉ qua kẽ tay rớt xuống vạt quần nhung đen. "Mẹ bảo nó là con trai của kẻ gây tội ác, cả gia đình nó đang ngập ngụa trong nợ nần, phá sản và tai ương. Mẹ bảo con vừa đỗ thủ khoa Đại học Kiến trúc, tương lai của con thênh thang, rực rỡ ở đất Sài Gòn hoa lệ, con tuyệt đối không thể và không bao giờ được phép dính dáng đến một gia đình mạt vận, gánh lấy một món nợ máu và nước mắt vốn không thuộc về phần đời của con. Mẹ ép nó... mẹ bảo nếu nó còn sót lại một chút liêm sỉ, một chút tự trọng và lương tâm của một con người, thì hãy biến mất vĩnh viễn khỏi cuộc đời con ngay trong buổi chiều hôm đó, đừng bao giờ vác mặt xuất hiện để kéo ghì con xuống vũng bùn lầy tăm tối."
Bà Châu ngửa mặt lên trời, đôi mắt đỏ hoe ngập tràn sự hoảng loạn, thống thiết nhìn chăm chăm vào con gái: "Mẹ sợ, Nguyên ơi! Mẹ sợ con phải nếm trải lại đúng cái kiếp nạn cơ cực, túng quẫn mà cả đời mẹ đã phải nếm trải! Nhìn ba con nằm bất động trên giường bệnh, mẹ thấy cả bầu trời sụp đổ ngay trước mắt. Mẹ làm nghề kế toán, mẹ nhìn đâu cũng chỉ thấy những khoản chi phí khổng lồ, thấy viện phí, thuốc men, thấy nguy cơ khánh kiệt, thấy những chuỗi ngày tăm tối mịt mù mà một đứa con gái mười tám tuổi non nớt như con không tài nào gánh nổi trên đôi vai gầy. Mẹ nghĩ tống khứ nó đi, cắt đứt dứt khoát mầm mống tai họa là cách duy nhất để cứu lấy con, để dọn sạch chông gai cho con bước vào đời..."
Gió luồn qua những thanh rui mè trên mái ngói âm dương, phát ra tiếng rít u u ghê rợn như tiếng thở dài của rừng thông. Màn sương chiều đã tràn hẳn vào mép hiên, phủ một lớp bụi nước li ti lên mái tóc ngắn của Nguyên, làm lạnh buốt đôi gò má hao gầy. Sự im lặng đặc quánh bao trùm lấy chái nhà, chỉ còn lại tiếng nấc nghẹn ngào, đứt quãng của người mẹ đang tự xé toạc lớp áo giáp tự tôn của chính mình.
Bà Châu đấm thùm thụp vào ngực mình, nỗi dằn vặt tích tụ suốt một thập kỷ qua giờ đây vỡ òa thành những lời tự phán xét nghiệt ngã đến cay đắng: "Nhưng mẹ sai rồi... Mẹ đã sai lầm một cách mù quáng và khủng khiếp suốt mười năm qua! Mẹ cứ đinh ninh rằng thời gian là liều thuốc mầu nhiệm sẽ xóa nhòa tất cả, rằng xa mặt thì cách lòng, rời khỏi cái thị trấn cao nguyên ẩm ướt này con sẽ nhanh chóng quên đi mối tình đầu bồng bột thời áo trắng để sống một đời rực rỡ, thành đạt nơi đô hội. Nhưng rồi... mẹ nhìn thấy con ở Sài Gòn. Suốt những năm tháng đại học cho đến tận khi con đi làm ở các văn phòng kiến trúc lớn, con lao vào học, lao vào vẽ, lao vào các cuộc thi đồ án như một kẻ điên tìm cách trốn chạy thực tại. Con không mở lòng với bất kỳ ai, con không kết bạn bè thân thiết, không hẹn hò yêu đương, lúc nào cũng lầm lũi đi về như một chiếc bóng cô độc giữa phố xá đông đúc."
Người mẹ già gục đầu xuống hai đầu gối, bờ vai run rẩy bần bật: "Mỗi lần dành dụm được ít tiền đón xe đò từ Bảo Lộc lên thành phố thăm con, bước chân vào căn phòng trọ ẩm thấp ở hẻm Bình Thạnh, mẹ ngửi thấy mùi thuốc lá nồng nặc của người ta và nhìn thấy những tập bản vẽ kỹ thuật ngổn ngang chiếm hết nửa căn phòng. Nhìn thấy con gái mẹ ngồi thu lu bên khung cửa sổ sắt rỉ sét hàng giờ liền nhìn ra khoảng không xám xịt mà không thốt ra nổi một lời, tim mẹ như bị dao cứa từng nhát một. Mẹ biết sâu thẳm bên trong con đang đau đớn, mẹ biết con đang giãy giụa trong sự tự ti và hoài nghi bản thân. Nhưng mẹ lại hèn nhát... Mẹ quá hèn nhát nên đã chọn cách giả câm giả điếc, chọn sự im lặng đáng nguyền rủa! Mẹ sợ nếu mẹ nói ra sự thật tày trời ấy, con sẽ căm thù mẹ, con sẽ đoạn tuyệt với mẹ, gia đình nhỏ bé này sẽ vỡ vụn thành trăm mảnh vụn... Nhìn con sống dật dờ như một chiếc bóng không hồn suốt mười năm qua, đó là bản án lớn nhất, là hình phạt tàn khốc nhất giày vò mẹ từng đêm, từng ngày của cuộc đời này!"
Nguyên vẫn đứng sững bên lan can gỗ. Gió lạnh quất vào mặt, nhưng bên trong lồng ngực cô, một ngọn lửa uất nghẹn âm ỉ bấy lâu bỗng bùng cháy dữ dội, thiêu đốt đến khô cằn những giọt nước mắt yếu mềm.
"Mẹ có biết suốt mười năm qua con đã sống như thế nào không?" Giọng Nguyên cất lên, không hề the thé gắt gỏng, không hề gào thét đay nghiến, nhưng từng âm tiết buông ra đều mang sức nặng nghìn cân của một nỗi đau bị nén chặt đến tận cùng đáy sâu tâm thức. "Con chưa từng sợ khổ cực, mẹ à. Con cũng chưa bao giờ sợ nghèo đói, hay sợ phải cùng người mình yêu thương chia sớt một kiếp nạn gian nan. Điều tàn nhẫn nhất, độc ác nhất mà người lớn các người đã nhân danh tình thương để giáng xuống đầu con... là tước đoạt hoàn toàn quyền được biết sự thật, tước đoạt quyền được lựa chọn và tự quyết định lấy cuộc đời mình."
Cô đưa bàn tay thô ráp, nứt nẻ vì sình đất lên bóp chặt lấy lồng ngực, nơi trái tim từng quặn thắt hàng trăm lần trong những đêm mưa rả rích nơi đất khách quê người: "Mười năm trước, con đứng ở trạm xe buýt Cầu Đất từ sáng sớm tinh mơ cho đến khi mặt trời lặn hẳn, trời đổ cơn mưa dầm lạnh buốt thấu xương. Con ướt sũng, run rẩy bám lấy cột đèn chỉ để chờ đợi một người đến nói với con một câu tạm biệt đàng hoàng. Nhưng không có một ai đến cả. Người đó biến mất tăm mất tích như thể bốc hơi khỏi thế giới này, biến con thành một trò hề ngây ngô. Suốt mười năm đằng đẵng, con sống trong nỗi ám ảnh kinh hoàng rằng mình là một kẻ tồi tệ, một kẻ vô giá trị, rằng bản thân không đủ tốt đẹp nên mới bị người ta ruồng bỏ một cách dễ dàng và rẻ rúng đến thế! Con không dám tin tưởng bất kỳ ai bước vào đời mình, con ghê sợ sự chân thành của người khác, bởi vì vết thương của một đứa con gái mười tám tuổi bị người ta vứt bỏ không một lời giải thích cứ mưng mủ, rỉ máu mãi bên trong tâm can!"
Nguyên hít một hơi thật sâu, luồng không khí ẩm lạnh tràn qua cuống họng giúp cô ghìm lại sự run rẩy nơi đáy mắt: "Giá như ngày đó mẹ nói thẳng cho con biết. Giá như Phong có đủ dũng khí của một người đàn ông để đứng trước mặt con mà nói một lời: rằng gia đình anh ấy vừa gây ra một tai họa nghiệt ngã cho ba con, rằng biến cố kinh hoàng đã ập đến... Dù kết quả sau đó có nghiệt ngã đến mức nào, dù chúng con có phải chia lìa hay cùng nhau chịu đựng, con cũng sẽ đón nhận nó trong tư thế ngẩng cao đầu của một con người trưởng thành có quyền lựa chọn số phận! Đằng này, mẹ nhân danh sự bảo bọc để xua đuổi, đe dọa người ta; còn Phong thì nhân danh sự hy sinh cao thượng để tự tiện biến mất như một kẻ hèn nhát... Cả hai người đều tự cho mình cái quyền nghĩ thay cho con, quyết định thay cho con, nhưng tuyệt nhiên chưa từng có một ai bước đến và hỏi xem: Nguyên ơi, con thực sự cần điều gì trong cuộc đời này?!"
Bà Châu gục hẳn đầu vào hai đầu gối Nguyên, hai bàn tay run rẩy bấu chặt lấy gấu quần bám đầy bùn non của con gái. Tiếng khóc nức nở, vỡ òa của người đàn bà cả đời cứng rắn vang lên thảm thiết giữa chái hiên vắng: "Mẹ xin lỗi... Nguyên ơi, mẹ xin lỗi con! Mẹ ngàn lần, vạn lần xin lỗi con... Mẹ đã quá sai rồi con ơi..."
Nhìn mái đầu hoa râm đã điểm nhiều sợi bạc của mẹ đang gục xuống bên chân mình, nhìn bờ vai gầy gò rung lên bần bật trong gió lạnh và đôi bàn tay nhăn nheo từng chắt chiu, bấm từng con số trên máy tính để dành dụm từng đồng bạc lẻ gửi xuống Sài Gòn nuôi cô ăn học những năm tháng cơ hàn, cơn thịnh nộ và nỗi oán hận trong lòng Nguyên dần dần chùng xuống, hóa thành một niềm xót xa thăm thẳm.
Đây là mẹ cô. Một người phụ nữ thực dụng, cay nghiệt, kiểm soát đến mức ngột ngạt và bảo thủ đến mức tàn nhẫn, nhưng cội nguồn sâu xa của tất cả những điều méo mó, lệch lạc ấy lại bắt nguồn từ một nỗi sợ hãi tột cùng: sợ mất mát, sợ đói nghèo, sợ đứa con gái duy nhất phải giẫm lại vết xe đổ cơ cực mà chính bà đã từng phải nếm trải trong những năm tháng cơ hàn của đời mình. Một thứ tình mẫu tử vụng về, ích kỷ, đầy rẫy khuyết tật và sai lầm, nhưng dẫu sao, đó vẫn là tình yêu thương máu thịt duy nhất mà một người đàn bà mang nhiều sang chấn như bà có thể dành trọn cho con.
Nguyên từ từ quỳ một bên gối xuống nền sàn hiên ướt lạnh. Cô đưa đôi bàn tay chai sần vì cào đất, dọn rác và ghìm rọ đá trong suốt những ngày mưa bão vừa qua, nhẹ nhàng ôm lấy bờ vai đang rung lên từng chặp của mẹ. Đôi bàn tay cô phủ lên mái tóc xơ xác của bà, vỗ về nhè nhẹ như cách người mẹ từng dỗ dành cô thuở còn thơ ấu.
"Con không hận mẹ nữa," Nguyên thì thầm, giọng nói khẽ khàng nhưng rành rọt, từng giọt nước mắt kìm nén suốt một thập kỷ cuối cùng cũng trào ra, nóng hổi lăn dài trên đôi gò má xước xát. "Con đã đau đớn, đã giày vò bản thân và đã oán trách mẹ rất nhiều năm... Nhưng lúc này, con hiểu vì sao ngày đó mẹ lại làm như vậy. Con tha thứ cho mẹ, mẹ ơi."
Nghe tiếng thì thầm run rẩy nhưng bao dung ấy, bà Châu ngẩng phắt dậy, vươn hai tay ôm chầm lấy con gái vào lòng. Hai mẹ con ghì chặt lấy nhau giữa chái hiên lộng gió của căn nhà Mộc Miên, mặc cho màn sương trắng xóa của cao nguyên đang phủ kín không gian. Những giọt nước mắt của sự ân hận muộn màng, của nỗi đau đớn bị kìm nén và của sự giải thoát sau mười năm đè nặng hòa lẫn vào nhau, thấm ướt bờ vai áo len của cả hai.
Ông Nam đứng bên cạnh, chầm chậm đưa bàn tay thô nhám đặt lên đầu hai mẹ con. Khóe mắt người cựu binh già cũng ầng ậc nước trong ánh chiều chạng vạng. Món nợ ân oán giữa hai người đàn ông tật nguyền đã được giãi bày và gỡ bỏ bên trong phòng khách, và giờ đây, chiếc nút thắt tàn nhẫn nhất trong lòng những người phụ nữ của gia đình họ Vũ cũng đã thực sự được tháo cởi bằng sự đối diện dũng cảm và lòng bao dung chân thành.
***
Một lúc lâu sau, khi những cơn nấc nghẹn đã dần lắng xuống và gió ngoài đồi bắt đầu chuyển hướng, Nguyên khẽ lau nước mắt cho mẹ rồi đỡ bà ngồi lại lên chiếc ghế mây dài kê sát vách gỗ pơ mu khô ráo. Không khí sau cơn bão đã ngót hẳn gió giật, chỉ còn lại những dải sương mù dày đặc đang chậm rãi trườn qua những ngọn thông, nuốt trọn lấy thung lũng Trại Mát vào lòng đêm tĩnh mịch.
Bà Châu rút chiếc khăn mùi xoa bằng vải lanh viền ren cũ kỹ trong túi áo, cẩn thận chấm những giọt lệ còn đọng lại trên khóe mắt và vệt bùn khô trên gò má con gái. Những ngón tay xương xẩu của bà chạm vào những vết trầy xước rướm máu trên mu bàn tay Nguyên – dấu tích của những đêm thức trắng cùng thợ đội mưa căng bạt, giằng néo từng khối rọ đá để giữ lấy móng nhà. Đôi mắt người mẹ ánh lên sự xót xa vô hạn, nhưng lần này, trong ánh nhìn ấy tuyệt nhiên không còn sự cáu bẳn, áp đặt hay nét giận dữ của một người muốn bẻ cong mọi thứ theo ý chí chủ quan của mình.
"Nguyên này," bà Châu cất giọng, âm sắc đã lấy lại sự điềm đạm, mực thước của một kế toán viên lâu năm, nhưng đượm một vẻ mềm mại, chân thành mà rất nhiều năm rồi Nguyên mới lại được nghe thấy. "Hôm qua... mẹ đã chủ động gọi điện cho cậu Khải Minh bên Công ty Cổ phần Phát triển Cao Nguyên."
Nguyên khẽ giật mình, bờ mi khẽ chớp, ánh mắt thoáng hiện nét cảnh giác quen thuộc nhìn mẹ.
Bà Châu nhận ra ngay nét phòng thủ ấy trên gương mặt con gái. Bà không giận, chỉ khẽ mỉm cười cay đắng, lắc đầu tự giễu: "Mẹ gọi điện để thông báo chính thức với cậu ta rằng, mẹ rút lại toàn bộ những thỏa thuận thăm dò và những lời hứa hẹn miệng trước đây. Mẹ sẽ không ký vào bất kỳ biên bản ủy quyền, giấy tờ mua bán hay văn bản chuyển nhượng nào liên quan đến căn nhà Mộc Miên này nữa. Mảnh đất này là di sản của bà ngoại để lại cho con, sổ đỏ mang tên con. Tương lai của nó, giữ lại để làm homestay, cải tạo xưởng mộc, đào hồ sinh thái, làm vườn mưa trữ nước, hay kể cả sau này con có muốn chuyển nhượng vì bất kỳ lý do cá nhân nào của con... toàn bộ quyền định đoạt tối cao thuộc về con. Mẹ và ba con tuyệt đối sẽ không bao giờ can thiệp, không thúc ép hay ra điều kiện với con thêm một lần nào nữa."
Nguyên mở to mắt nhìn mẹ, lồng ngực khẽ phập phồng vì bất ngờ: "Mẹ... mẹ thật sự nghĩ như vậy sao?"
"Mẹ đã tận mắt nhìn thấy hệ thống rãnh thu nước xương cá và những khối rọ đá tầng bậc ngoài kia rồi," bà Châu thở dài một hơi nhẹ nhõm, ánh mắt hướng về phía sườn dốc phía sau lán mộc, nơi tầng đất bazan đỏ au đang được neo giữ kiên cố bởi những khối đá hộc sắc cạnh. "Ba con nói đúng. Con làm nghề này bằng cái tâm trong sạch và bằng sự hiểu biết kỹ thuật thực sự của một kiến trúc sư có thực lực, chứ không phải sự bốc đồng, viển vông của một đứa trẻ như mẹ từng định kiến. Căn nhà gỗ này đã đứng vững vàng qua tâm bão số bốn, không phải nhờ vào sự may mắn tình cờ, mà nhờ vào chính sự kiên cường và bản lĩnh chuyên môn của con."
Nói đoạn, bà Châu thò tay vào chiếc túi xách da màu nâu sẫm đã sờn mép góc đặt ngay ngắn bên hông ghế. Bà cẩn thận lấy ra một cuốn sổ nhỏ bọc bìa nilon màu xanh lục sẫm – cuốn sổ tiết kiệm có kỳ hạn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Bảo Lộc. Bà cầm lấy bàn tay phải lấm lem mạt cưa và bùn đất của Nguyên, trân trọng đặt cuốn sổ vào lòng bàn tay con gái rồi khép từng ngón tay gầy của cô lại.
"Trong cuốn sổ này có tám mươi triệu đồng," bà Châu nói khẽ, giọng rành rọt từng tiếng. "Đây là toàn bộ số tiền dưỡng già mà ba mẹ chắt chiu, tích cóp được từ tiền lương hưu và mấy sào trà ở Bảo Lộc trong mấy năm qua. Ban chiều, mẹ ngồi trong nhà đã nghe cậu kỹ sư Bảo và ba con bàn bạc rất kỹ về phương án thi công bờ kè rọ đá giật tam cấp dài mười tám mét dọc theo chân taluy. Chi phí phát sinh mua bổ sung đá hộc từ mỏ đá Trại Mát, lưới thép bọc nhựa PVC mắt cáo và cọc cừ gỗ thông luộc dầu chống mối mọt ước tính hết khoảng từ bảy mươi đến tám mươi triệu đồng, đúng không? Mẹ biết số dư tài khoản ngân hàng của con hiện tại chỉ còn vỏn vẹn gần mười lăm triệu, trong khi khoản nợ vật tư hơn ba trăm triệu đồng từ công trình dưới Sài Gòn vẫn đang treo lơ lửng trên đầu..."
Bà Châu vỗ nhẹ lên mu bàn tay Nguyên: "Con cầm lấy cuốn sổ này làm nguồn vốn lưu động dự phòng khẩn cấp để thanh toán dứt điểm cho bên mỏ đá và hợp tác xã vận tải Xuân Thọ. Phải gia cố chân kè rọ đá cho tuyệt đối an toàn, đầm chặt các tầng đá hộc trước khi đợt áp thấp nhiệt đới mới tràn về cao nguyên vào cuối tuần."
Nguyên sững sờ. Cuốn sổ tiết kiệm mỏng manh nằm gọn trong lòng bàn tay cô lúc này bỗng nặng tựa ngàn cân. Cô vội vã lắc đầu, hai bàn tay run lên, toan đẩy cuốn sổ trả lại cho mẹ: "Không được đâu mẹ ơi! Đây là tiền dưỡng già cả đời của ba mẹ. Ba còn phải mua thuốc điều trị khớp và tái khám định kỳ hằng tháng ở bệnh viện tỉnh. Con đã đàm phán xin bên mỏ đá cho thanh toán gối đầu bốn mươi phần trăm. Tiền cọc phòng đợt tới và khoản ứng trước bốn mươi triệu từ hợp đồng cung cấp nội thất Hương Sáng Mộc Miên ký với bên Mai Anh vẫn đủ để con xoay xở từng bước..."
"Cầm lấy đi con gái," ông Nam từ tốn lên tiếng, bàn tay rắn rỏi của ông đặt lên bờ vai Nguyên, ánh mắt người cha ấm áp và ngập tràn niềm tin cậy vững chãi. "Ba mẹ cho con mượn khoản tiền này làm quỹ dự phòng rủi ro kỹ thuật, chứ không phải cho không để con ỷ lại hay nhụt chí. Ba mẹ hiểu tính tự trọng và khí khái của con từ bé. Khi nào căn nhà Mộc Miên vận hành ổn định, ba phòng lưu trú tầng trệt có dòng tiền dương đều đặn và con thanh toán dứt điểm các khoản công nợ cũ ở Sài Gòn, con hoàn trả lại cho ba mẹ từng đồng cũng chưa muộn. Nhưng ngay lúc này, cái bờ kè rọ đá kia là mạng sống của căn nhà, là sự an toàn của tất cả những người đang sống ở đây. Con làm nghề kiến trúc, con hiểu rõ nhất: không bao giờ được phép để xảy ra bất kỳ sự cố kỹ thuật nào chỉ vì sự thiếu hụt cục bộ của dòng tiền lưu động."
Bà Châu siết chặt bàn tay Nguyên, khóe môi khẽ nở một nụ cười bao dung trong ngấn nước mắt: "Nghe lời ba con đi, Nguyên. Mẹ cả một đời làm nghề kế toán, mẹ va vấp bao nhiêu doanh nghiệp rồi, mẹ biết rõ nhất cái bẫy chết người của việc đứt gãy dòng tiền khẩn cấp nó có thể bóp chết một dự án tâm huyết nhanh đến mức nào. Đừng để lòng kiêu hãnh hay sự tự ái biến thành gánh nặng làm con kiệt sức giữa chừng."
Nguyên cúi đầu nhìn cuốn sổ tiết kiệm mang sắc xanh giản dị trong tay, rồi ngước nhìn hai gương mặt thân thương của ba mẹ. Lần đầu tiên sau mười năm ròng rã, cô cảm nhận được trọn vẹn một sự chở che đích thực – một sự nâng đỡ thuần khiết không kèm theo bất kỳ xiềng xích kiểm soát, không áp đặt toan tính và không đòi hỏi sự quy phục. Đó là sự hỗ trợ văn minh, tôn trọng và đầy tin cẩn của những bậc sinh thành dành cho một đứa con gái đã thực sự trưởng thành và tự đứng vững trên đôi chân của mình.
Cổ họng nghẹn đắng vì xúc động, Nguyên khẽ gật đầu, cẩn thận cất cuốn sổ tiết kiệm vào chiếc túi trong của vạt áo khoác len: "Con cảm ơn ba mẹ... Con xin phép nhận khoản tiền này làm vốn vay dự phòng. Con hứa sẽ lập bảng hạch toán dòng tiền minh bạch, ghi chép từng khoản chi vật tư và hoàn trả lại đầy đủ cả gốc lẫn lãi cho ba mẹ ngay khi homestay đi vào vận hành ổn định."
Bà Châu gật đầu hài lòng, đưa tay chỉnh lại nếp cổ áo khoác bị lệch cho con gái. Rồi rất tự nhiên, vẻ mặt và giọng điệu của bà chuyển hẳn sang sắc thái chuyên nghiệp, sắc bén và mực thước của một kế toán trưởng dạn dày kinh nghiệm:
"Còn một việc quan trọng nữa mẹ muốn bàn với con. Chiều qua mẹ có thấy con và con bé Thu Yến đang ngồi rà soát lộ trình chuẩn bị mở cửa đón đợt khách thử nghiệm đầu tiên vào ngày mười lăm tháng Chín tới. Lúc dọn dẹp bàn ăn, mẹ có lướt qua mấy bản thảo hợp đồng dịch vụ lưu trú và điều khoản nhà cung cấp thực phẩm mà hai đứa để trên bàn. Mấy đứa trẻ các con làm chuyên môn kiến trúc và thiết kế trải nghiệm du lịch thì rất giỏi, rất sáng tạo, nhưng các điều khoản ràng buộc pháp lý tài chính, phân kỳ công nợ vật tư và hạch toán dòng tiền gối đầu còn lỏng lẻo và sơ hở lắm. Rất dễ bị đối tác người ta nắm đằng chuôi hoặc dính rủi ro nợ xấu khi thị trường biến động."
Bà Châu khẽ dừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào mắt Nguyên với sự cẩn trọng và mực thước tuyệt đối: "Nếu con đồng ý, từ ngày mai, mẹ sẽ nhận trách nhiệm hỗ trợ con rà soát lại toàn bộ hệ thống dự toán chi phí, hợp đồng kinh tế, chứng từ thuế và bảng cân đối dòng tiền từ xa qua email. Mẹ làm việc với con hoàn toàn trên tư cách một kế toán độc lập hỗ trợ kỹ thuật cho một dự án gia đình. Mẹ cam đoan sẽ giữ đúng ranh giới chuyên môn: mẹ chỉ có nhiệm vụ cảnh báo các lỗ hổng tài chính và rủi ro pháp lý, tuyệt đối không can thiệp, không phán xét và không bao giờ áp đặt bất kỳ định hướng kinh doanh hay phong cách thẩm mỹ nào của con. Quyền quyết định cuối cùng vẫn thuộc về người điều hành cao nhất của Mộc Miên – là con."
Nguyên ngạc nhiên nhìn mẹ, đôi mắt mở to ngỡ ngàng, rồi một nụ cười rạng rỡ, nhẹ nhõm hiếm hoi sau chuỗi ngày dài u uất bỗng bừng nở trên gương mặt thanh tú của cô: "Nếu được một kế toán trưởng lão làng như mẹ đứng sau lưng rà soát sổ sách và chứng từ thuế thì Mộc Miên của con còn gì may mắn bằng nữa ạ! Con đồng ý ngay, nhưng mẹ phải giữ đúng lời hứa đấy nhé: chúng ta chỉ làm việc thuần túy qua email và những cuộc điện thoại trao đổi chuyên môn thôi đấy."
"Mẹ hứa với con," bà Châu bật cười thành tiếng, khóe mắt già nua rưng rưng nhưng ánh mắt đã ngập tràn sự thanh thản và nhẹ nhõm vô bờ. "Mẹ già rồi, cũng đã đến lúc phải học cách buông bỏ sự kiểm soát, học cách lùi lại phía sau để ngắm nhìn con gái mình tự tin bước đi trên con đường mà nó đã chọn."
***
Hoàng hôn cao nguyên buông xuống sườn đồi Trại Mát trong sự tĩnh lặng êm đềm đến lạ kỳ. Những đám mây đen vần vũ, xám xịt suốt ba ngày bão gió gầm thét đã tan biến gần hết về phía đèo D'Ran, nhường chỗ cho một khoảng trời tím thẫm mênh mông, rực rỡ ánh ráng chiều le lói ở phương tây. Khói bếp lam chiều từ chiếc ống khói xây bằng gạch nung cổ của Mộc Miên bắt đầu uốn lượn bay lên trời cao, hòa quyện vào làn sương mỏng manh đang lãng đãng vờn quanh những rặng thông ba lá đại ngàn.
Trong gian bếp nhỏ ấm cúng của Mộc Miên, ánh lửa bập bùng từ bếp củi rọi sáng những phiến vách bằng gỗ thông mộc đã lên nước nâu bóng loáng. Tiếng củi thông khô nổ lách tách vui tai, mùi nhựa thông ngai ngái cháy đượm lan tỏa khắp không gian, hòa quyện với mùi cơm gạo lúa mới thơm ngào ngạt đang sôi ùng ục trên bếp.
Trên chiếc kiềng sắt bên cạnh, nồi cá bống kho tiêu rừng trong niêu đất nung đang sôi liu riu, tỏa ra mùi thơm cay nồng, đậm đà đặc trưng của vùng đất bazan. Mùi đọt su su vừa hái ngoài bờ giàn xào tỏi thơm nức mũi quyện cùng vị ngọt thanh khiết của bát canh bắp cải thảo nấu thịt băm khiến không gian vốn lạnh lẽo sau cơn bão bỗng chốc trở nên ấm sực, tràn trề sinh khí.
Một bữa cơm đạm bạc, mộc mạc đậm chất sơn cước được bày biện tươm tất trên chiếc bàn tròn bằng gỗ mun kê ngay gian giữa phòng ăn.
Hai gia đình – năm con người – cùng ngồi lại bên nhau quanh mâm cơm nghi ngút khói sương.
Ông Nam ngồi ở vị trí đầu bàn, ngay bên cạnh là ông Lê Đức Thành. Hai người đàn ông luống tuổi, tóc đều đã ngả màu mây trắng, mỗi người đều dựng một chiếc gậy gỗ mun bên cạnh chân ghế của mình. Đôi chân tật nguyền của họ – một người mất đi khả năng đi lại bình thường vì xương khớp dập nát, một người mang di chứng liệt nửa người sau cơn tai biến – đều là những chứng tích nghiệt ngã của vụ tai nạn định mệnh trên đèo Prenn đúng mười năm về trước. Nhưng vào lúc này, giữa hai con người từng bị trói buộc bởi thù hằn và mặc cảm ấy, không còn tồn tại khoảng cách của kẻ gây tội và người bị hại. Không còn bóng ma ám ảnh của những tờ biên lai bồi thường viện phí, không còn sự dằn vặt hay những ánh nhìn lảng tránh nặng trĩu.
Ông Nam từ tốn nâng đôi đũa tre, gắp một con cá bống kho tiêu đượm màu cánh gián đặt nhẹ nhàng vào bát cơm của ông Thành: "Anh Thành ăn thử miếng cá này đi. Bà Châu nhà tôi kho theo đúng lối miền Trung quê cũ đấy, tiêu rừng này là tiêu sẻ hái trên rẫy Bảo Lộc, cay nồng mà thơm ấm bụng lắm."
Ông Thành run rẩy nâng bát cơm bằng bàn tay phải còn đôi chút co quắp vì di chứng mạch máu, khóe mắt già nua chằng chịt vết chân chim bỗng lấp lánh những tia sáng ấm áp, rưng rưng: "Cảm ơn anh Nam... Cảm ơn chị Châu nhiều lắm."
Bà Châu ngồi bên cạnh Nguyên, khẽ mỉm cười đón nhận ánh nhìn hàm ơn của ông Thành rồi lặng lẽ múc một bát canh bắp cải nóng hổi đưa sang cho ông lão. Không một ai trong số năm người bọn họ giả vờ rằng mười năm biến cố vừa qua chưa từng tồn tại. Vết sẹo lồi dài trên cẳng chân ông Nam vẫn còn đó mỗi khi trái gió trở trời, di chứng méo miệng và bàn tay run rẩy của ông Thành vẫn hiện hữu, vết mổ đứt gân nối lại nơi cổ tay phải của Phong vẫn hằn sâu thành một vệt trắng dài vĩnh viễn, và mười năm thanh xuân cô độc, lầm lũi của Nguyên nơi đất khách cũng chẳng thể nào quay ngược thời gian để bù đắp.
Nhưng tất cả sự oán hận cay nghiệt, sự áp đặt mù quáng, sự trốn chạy hèn nhát và mặc cảm chuộc tội đầy độc đoán đã hoàn toàn được rũ bỏ khỏi tâm hồn họ. Quá khứ đau thương ấy đã được trả về đúng vị trí của một bài học sinh mệnh nghiệt ngã – một bài học đắt giá nhắc nhở những người còn sống biết trân quý từng phút giây hiện tại và sống có trách nhiệm, đàng hoàng hơn với tương lai của chính mình.
Nguyên ngồi ở phía đối diện với Phong. Cả hai người trẻ đều ăn uống rất chậm rãi, điềm tĩnh. Thỉnh thoảng, ánh mắt họ lại vô tình chạm nhau qua làn hơi nóng nghi ngút bốc lên từ mâm cơm chiều.
Trong ánh mắt Phong lúc này, Nguyên không còn nhìn thấy bóng dáng của sự tự ti mặc cảm, không còn nét u uất của một kẻ mang trọng tội đang còng lưng chuộc nợ trong bóng tối. Đôi vai vạm vỡ của người thợ mộc đã hoàn toàn buông lỏng, ánh mắt anh trong trẻo, điềm tĩnh và bình thản lạ thường. Khi nhìn thấy Nguyên mỉm cười dịu dàng gắp từng đọt su su xanh mướt cho mẹ, một thoáng xúc động sâu xa lướt qua gương mặt phong trần, rám nắng của anh.
Phong nhận thức sâu sắc hơn ai hết rằng, những khúc mắc lớn nhất, những uẩn ức đè nặng cả một thập kỷ trong lòng gia đình cô đã được tháo gỡ tận gốc rễ. Và bản thân anh, sau buổi chiều đối thoại sòng phẳng bên bờ vực taluy, cũng đã hoàn toàn rũ bỏ được chiếc áo giáp của một nạn nhân lẫn vị thế của kẻ tự đày đọa. Giờ đây, anh hiểu rõ một chân lý giản dị nhưng cốt tử: để có thể xứng đáng bước đi bên cạnh người con gái tài năng, kiên cường và kiêu hãnh này trong những năm tháng phía trước, anh cần phải xây dựng lại toàn bộ cuộc đời của chính mình bằng sự độc lập, tự chủ và đàng hoàng nhất, chứ tuyệt đối không phải bằng bất kỳ sự thương hại hay ràng buộc đạo đức nào của quá khứ.
Bữa cơm kết thúc trong bầu không khí ấm áp, tĩnh tại và nhẹ nhõm đến kỳ lạ. Tiếng chuông gió làm bằng những thanh gỗ thông treo bên chái hiên khẽ ngân lên lách cách, trong trẻo theo từng đợt gió nhẹ đầu đêm từ thung lũng đưa lại.
Sau khi cùng Nguyên và bà Châu thu dọn bát đĩa xuống gian bếp dưới, Phong bước chậm rãi ra ngoài khoảng sân trước hiên, nơi ông Thành đang chống gậy đứng lặng lẽ ngắm nhìn về phía thung lũng Trại Mát. Dưới màn đêm cao nguyên, hàng vạn chiếc bóng đèn vàng ấm áp từ các khu nhà lồng trồng hoa cúc, hoa hồng đồng loạt bừng sáng, biến cả lòng chảo thung lũng thành một biển ánh sáng lung linh, huyền ảo như một dòng sông sao rơi xuống nhân gian.
Phong bước đến bên cạnh, khẽ vòng tay đỡ lấy khuỷu tay áo khoác của cha mình: "Ba, sương đêm xuống lạnh buốt rồi, gió núi bắt đầu độc đấy. Hai cha con mình về thôi ba."
Ông Thành chầm chậm quay đầu lại nhìn con trai. Ánh mắt người cha già nua, mệt mỏi sau một ngày dài biến động giờ đây tràn ngập một sự thanh thản chưa từng có suốt mười năm qua. Ông khẽ gật đầu, nở một nụ cười hiền hậu: "Ừ, về thôi con. Về xưởng thôi."
Phong quay người lại, cúi đầu chào ông Nam và bà Châu đang đứng tựa vào ngưỡng cửa gỗ ấm áp của Mộc Miên: "Cháu xin phép hai bác, cháu đưa ba cháu về xưởng nghỉ ngơi ạ."
Ánh mắt anh dừng lại trên gương mặt thanh tú của Nguyên. Cô đang đứng tựa vào khung cửa kính, ánh đèn vàng ấm áp trong nhà hắt lên mái tóc ngắn mềm mại của cô. Phong khẽ nghiêng đầu chào cô với sự chừng mực, đàng hoàng và đầy tôn trọng của một người cộng sự thực thụ: "Chào kiến trúc sư Nguyên. Đúng bảy giờ sáng mai, đội thợ mộc và thợ cơ khí của xưởng Gió Thông sẽ có mặt đầy đủ ở chân công trình để tiếp tục nghiệm thu đợt cọc cừ thứ hai và cùng đội thợ hồ chèn đá hộc cho các rọ thép tầng ba."
Nguyên nhìn thẳng vào mắt anh, mỉm cười nhẹ nhõm. Nụ cười không còn nét xa cách hay gợn chút hoài nghi nào của những ngày đầu gặp lại, mà là nụ cười sáng rõ, dứt khoát và tràn đầy sự tin cậy: "Hẹn gặp lại anh vào sáng mai, anh Phong. Chúc hai bác cháu về đường đèo an toàn."
Phong dìu cha mình từng bước chậm rãi, vững chãi bước xuống những bậc tam cấp bằng đá bazan dẫn ra phía cổng gỗ của Mộc Miên. Con dốc thoai thoải chạy men theo triền đồi ngập tràn hương thơm dìu dịu của cỏ dại ướt sương và mùi hoa dã quỳ ngai ngái sau cơn mưa.
Dưới ánh đèn đường vàng vọt ở đầu ngõ, chiếc xe máy Honda 67 cũ kỹ của Phong nổ máy giòn giã, tiếng động cơ quen thuộc xé toạc màn đêm tĩnh mịch của phố núi cao nguyên. Phong gạt chân chống, chờ cha ngồi vững vàng phía sau và bám chặt vào hông mình, rồi anh khẽ nghiêng đầu qua làn gió lạnh, cất giọng trầm ấm nói với ông:
"Ba này, tối nay con mời ba ra xưởng Gió Thông ở lại một đêm với con nhé. Con muốn cùng ba ngồi lại rà soát toàn bộ sổ sách tài chính còn lại của gia đình mình, tính toán dứt điểm các khoản sinh hoạt phí và hoàn tất hồ sơ chỗ ở riêng biệt cho ba tại viện dưỡng lão Hy Vọng."