Mùa Gieo HạtC.5 / 30
Chương 5

Giá Của Rơm Khô

Gió chướng cuối năm thổi thốc qua những bãi bồi ven sông Tiền, cuốn theo mùi ngai ngái nồng đậm của rơm rạ mục ẩm lẫn trong vị ngọt khé, hăng hắc của bã mía đang lên men dưới nắng gắt. Chiếc xe máy Wave cũ kỹ của Minh chở Nhiên sau lưng gầm lên một tiếng mệt nhọc khi vượt qua ổ gà sâu hoắm ngập đầy bụi cát xỉ, rồi trườn chậm lại trước cánh cổng sắt rỉ sét loang lổ của Hợp tác xã Nông nghiệp và Dịch vụ Tân Phú.

Nhiệt độ ngoài trời lúc này đã vượt ngưỡng ba mươi sáu độ C. Nắng tháng Chạp miền Tây không chói gắt như cái nắng miền Trung nhưng lại hầm hập, bức bối đến nghẹt thở bởi hơi ẩm bốc lên từ mạng lưới kinh rạch chằng chịt đục ngầu phù sa. Hai bên con lộ liên xã trải đá dăm, những đống rơm rạ cuộn tròn như những chiếc thùng phuy khổng lồ chất cao quá đầu người, nối dài san sát nhau thành những bức tường thành màu vàng sẫm. Ngay sát mép bờ kênh xáng, những bãi bã mía sau mùa ép của các lò đường thủ công được cào bung ra, trải bạt dứa phơi dài ngút tầm mắt. Từng vệt xơ mía vàng ươm, khô giòn ở lớp mặt nhưng bên dưới lại bốc lên thứ hơi nóng ngòn ngọt gay gắt, quyện cùng bụi đất khô khốc tạt thẳng vào mặt hai người mỗi khi có cơn gió thốc qua.

Nhiên cởi chiếc mũ bảo hiểm bạc màu, đưa mu bàn tay áo quệt ngang trán nơi mồ hôi đang rịn ra từng giọt to tướng, chảy dài xuống hõm cổ. Chiếc áo sơ mi cotton sờn cổ của cô đã ướt đẫm, bết chặt vào lưng sau chặng đường dài gần bảy mươi cây số vượt qua những đoạn đường liên huyện mấp mô ổ voi nối từ xưởng thực nghiệm Tân Kiên về đây. Bụi đường bám một lớp xám xịt lên gò má và khóe mắt, nhưng sâu trong đáy mắt cô gái trẻ vẫn rực lên thứ ánh sáng háo hức khó giấu giếm. Với bất kỳ người đi đường nào, hàng ngàn tấn phụ phẩm nông nghiệp đang phơi mình trơ trọi dưới nắng chỉ là thứ rác thải cồng kềnh, là nỗi lo cháy nổ hay nguồn ô nhiễm môi trường mỗi độ chuyển mùa; nhưng dưới con mắt của một kỹ sư vật liệu sinh học như Nhiên, toàn bộ dải đất bồi này là một mỏ vàng cellulose lộ thiên khổng lồ, một kho trữ polymer tự nhiên dồi dào và thuần khiết nhất để nuôi sống những chiếc máy ép nhiệt đang chờ đợi ở xưởng.

Minh dựng chân chống xe máy bên dưới bóng râm còi cọc của một cây điệp tây, rút khăn rằn vỗ bôm bốp vào hai ống quần bám đầy bụi đỏ. Anh nheo mắt nhìn quanh khu nhà kho lợp tôn phi-brô xi măng xám xịt đang rung lên bần bật dưới luồng gió trưa, rồi chỉ tay về phía những ụ bã mía chất cao như núi:

“Nhiệt kế đo gió trên xe báo ba mươi sáu độ sáu. Nhìn bề mặt bãi phơi thì có vẻ khô ráo, nhưng bã mía giữ ẩm bên trong ghê lắm. Cậu đã rà soát lại các biến số chi phí thu gom trên bảng tính đêm qua chưa đấy?”

Nhiên kéo khóa chiếc ba lô vải dù sờn mép, cẩn thận rút ra tập hồ sơ kẹp bảng dự toán chi phí được đóng ghim ngay ngắn. Cô lật từng trang, những ngón tay gầy guộc miết nhẹ lên các dòng kẻ in bằng mực xanh:

“Tớ dựa trên báo cáo kinh tế phụ phẩm nông nghiệp của Viện nghiên cứu năm ngoái, cộng thêm mười phần trăm biên độ trượt giá nhiên liệu và nhân công thời vụ. Cậu nhìn xem, giá thu mua bã mía tươi tại các ruộng mía hoặc lò đường tư nhân trước giờ gần như bằng không, người ta chỉ dùng một phần nhỏ làm chất đốt cho lò nấu mật, còn lại đem bón gốc cho mục hoặc chất đống ven đê rồi châm lửa đốt bỏ để dọn bãi. Tớ định mức giá bốn trăm đồng một ký cho bã mía khô và năm trăm đồng cho rơm rạ đã cuộn sẵn thành kiện mười tám ký. Nông dân và hợp tác xã có thêm một nguồn thu ròng từ thứ họ vứt đi, còn Mộc Nhiên giữ được giá thành nguyên liệu thô đầu vào dưới một nghìn đồng cho mỗi đơn vị khay thành phẩm. Cả hai bên đều có lợi, biên độ an toàn tài chính của mình nằm trọn vẹn trong khoảng đó.”

Minh không vội gật đầu. Anh là dân cơ khí chế tạo, quen nhìn sự vật qua độ rơ của trục bi, sự hao mòn của bánh răng và những dung sai nghiệt ngã giữa bản vẽ với thực địa. Ánh mắt anh dừng lại ở một chiếc ghe gỗ đáy bằng chở đầy rơm rạ đang chầm chậm cập bến kênh trước cổng hợp tác xã. Chiếc ghe trĩu nặng, mớn nước ép sát mạn thuyền, người lái ghe phải dùng một cây sào tre dài ghì cật lực vào lòng bùn để chống lại dòng nước đang cuộn chảy xiết.

“Lý thuyết kinh tế tuần hoàn trên giấy luôn đẹp đẽ,” Minh nói khẽ, giọng trầm đục sau lớp khẩu trang. “Nhưng phụ phẩm nông nghiệp không phải là hạt nhựa nguyên sinh nằm sẵn trong bao tải xếp trên pallet. Cứ nhìn cách họ đưa rơm từ dưới ghe lên bờ thì biết, tốn sức người khủng khiếp.”

Văn phòng Hợp tác xã Tân Phú nằm lọt thỏm giữa hai dãy nhà kho chứa lúa giống. Đó là một gian nhà cấp bốn xây từ thập niên chín mươi, tường vôi vàng ố tróc lở từng mảng lớn để lộ những hàng gạch thẻ đỏ quạch. Chiếc quạt trần ba cánh bằng sắt quay lờ đờ phát ra những tiếng kêu *két... két... cạch...* đều đặn và khô khốc, chỉ đủ sức khuấy đảo luồng không khí hầm hập như lò sấy trong phòng chứ không xua nổi cái nóng bức.

Ngồi sau chiếc bàn làm việc bằng gỗ xà cừ thô ráp, nứt nẻ mặt bàn là ông Bùi Sáu Thành, Chủ nhiệm Hợp tác xã. Người đàn ông ngoài năm mươi tuổi có dáng người quắt queo nhưng săn chắc như một khúc gỗ lũa ngâm nước mặn lâu năm. Nước da ông ngăm đen vì dãi dầu mưa nắng, đôi mắt một mí hơi híp lại dưới hàng lông mày rậm rạp điểm hoa râm. Đôi bàn tay ông đặt trên mặt bàn chằng chịt những vết sẹo ngang dọc – dấu tích của hàng chục năm cầm liềm cắt lúa, bóc mía và khiêng vác nông sản. Ông cầm chiếc bình trà bằng sành sứt quai, rót hai chén nước chè xanh màu nâu sẫm, đặc quánh và bốc khói nghi ngút đẩy về phía hai người khách trẻ.

Bên cạnh chồng sổ sách kế toán đóng ghim rỉ sét và chiếc gạt tàn đầy đóm thuốc rê, bản đề xuất cung ứng nguyên liệu dày mười trang của Mộc Nhiên nằm ngay ngắn, phẳng phiu.

Ông Sáu Thành không buồn lật xem những trang đầu giới thiệu về công nghệ ép xung nhiệt, tính năng phân hủy sinh học trong đất hay những biểu đồ tròn thể hiện xu hướng tiêu dùng xanh toàn cầu mà Nhiên đã kỳ công biên soạn suốt nhiều đêm. Ánh mắt đục nhưng sắc lẹm của ông lướt qua các điều khoản pháp lý in bằng phông chữ hành chính chuẩn mực, rồi dừng lại trừng trừng đúng ba giây ở bảng phụ lục báo giá thu mua nguyên liệu thô.

Khóe miệng ông khẽ giật giật. Một nụ cười nửa miệng đầy vẻ mỉa mai hằn sâu trên những nếp nhăn khóe môi. Ông buông tập hồ sơ xuống mặt bàn đánh *cạch* một tiếng khô khốc, rồi với tay lấy bao thuốc rê, chậm rãi vê một điếu sâu kèn:

“Cô kỹ sư trẻ tính toán dữ hôn?”

Giọng ông Thành khàn đặc, đục ngầu như nước sông Tiền mùa lũ. Ngón tay trỏ thô ráp, móng tay đóng phèn vàng khè của ông gõ mạnh từng nhịp dứt khoát lên con số bốn trăm đồng được in đậm:

“Bốn trăm đồng một ký bã mía ép khô? Năm trăm đồng một ký rơm cuộn bốc lên xe tải? Mấy đứa ngồi phòng máy lạnh trên Sài Gòn, mở máy vi tính bấm bấm mấy cái nút số liệu, lướt ngón tay trên bàn phím rồi tưởng cục rơm ngoài đồng, cọng mía ngoài bãi tự nó mọc cánh bay vô kho xưởng của tụi bây chắc?”

Nhiên thoáng sững người. Cô đã chuẩn bị tâm lý cho một cuộc đàm phán thương mại nhiều vòng, đã dự trù các phương án chiết khấu khối lượng, nhưng thái độ phủ đầu gay gắt và trực diện của người đàn ông dạn dày sương gió này vẫn khiến lồng ngực cô thắt lại một nhịp. Cô vội vã hít một hơi thật sâu, giữ cho giọng mình bình thản và lễ phép nhất có thể:

“Dạ thưa chú Sáu, cháu lập dự toán dựa trên đơn giá thị trường của bã mía làm chất đốt lò hơi công nghiệp và rơm khô ủ gốc thanh long ở các tỉnh lân cận năm vừa qua. Theo cháu tìm hiểu, bà con trong xã mình sau mùa thu hoạch mía lấy nước phần lớn đều bỏ lại bã ngoài bãi cho tự hoại mục, rất dễ sinh mùi hôi và thu hút côn trùng. Còn rơm rạ sau mùa gặt lúa đông xuân thì đốt khói mù mịt dọc triền đê gây cản trở giao thông và ô nhiễm. Mộc Nhiên muốn đứng ra bao tiêu số lượng lớn, cam kết thu mua đều đặn hàng tháng để tạo thêm nguồn thu nhập phụ trợ ổn định cho bà con xã viên…”

“Đốt là đốt cái phần mục rữa, úng thúi, chứ rơm ngon mía sạch ai cho không mấy đứa!”

Ông Sáu Thành cắt ngang, giọng đanh lại như thép nguội. Ông rít một hơi thuốc rê thật sâu, phả luồng khói xanh lè, cay xè về phía góc phòng rồi chồm người về phía trước, hai khuỷu tay tì mạnh lên mặt bàn:

“Cô có biết một mẫu ruộng muốn gom được hai tấn rơm thì tiền thuê máy cuộn là bao nhiêu không? Một cuộn rơm mười tám ký, tiền công tài xế máy cuộn ăn bốn nghìn đồng một cuộn. Tiền công mướn thanh niên bốc vác từ bờ ruộng qua mấy cây cầu khỉ lắt léo đưa xuống vỏ lãi trung chuyển tốn thêm hai nghìn đồng nữa. Đem được về tới cái sân phơi hai mẫu của hợp tác xã này, đâu phải quăng đó là xong! Phải có người cào bung ra cho tơi xốp, trời nắng gắt thì một ngày đảo ba lần, mỗi công thợ đảo rơm bét nhất cũng hai trăm rưỡi nghìn một buổi. Đó là tui nói trời thương cho nắng tốt ròng rã suốt tuần lễ nghen! Còn rủi gặp một cơn mưa giông bất tử của đất miền Tây này coi? Mưa táp xuống một cái, rơm ẩm mốc đen thui từ trong ruột, phải cào đổ bỏ làm phân bón, tỷ lệ hao hụt một vụ ít nhất mười lăm đến hai mươi phần trăm. Cái hao hụt đó ai gánh? Mấy đứa ngồi gõ máy tính gánh hay nông dân tui cắn răng chịu?”

Từng câu, từng chữ của người đứng đầu hợp tác xã giáng xuống mặt bàn như những nhát búa nện vào tấm đe. Nhiên mở to mắt, hai bàn tay giấu dưới gầm bàn khẽ siết chặt lấy mép quần jeans. Bảng tính Excel hoàn hảo với những công thức toán học mượt mà cô làm ra hoàn toàn không có dòng nào dành cho "mưa giông bất tử". Cô không tính đến chi phí "vỏ lãi trung chuyển", không tính đến tiền bồi dưỡng nước nôi, găng tay bảo hộ cho thợ bốc vác, và càng mù tịt về nguy cơ rơm bốc cháy ngầm do ủ nhiệt trong các ụ chất cao.

Chưa dừng lại ở đó, ông Thành xoay người, chỉ ngón tay gầy guộc ra ngoài cửa sổ, hướng thẳng về những bãi bã mía trải dài bên bờ kênh:

“Còn bã mía nữa! Mía ép xong nước đường bám đầy nhóc, ruồi bu kiến đậu nghẹt trời, độ ẩm tự nhiên của nó lúc mới ra khỏi trục ép là hơn năm mươi phần trăm. Muốn đạt cái chuẩn độ ẩm dưới mười lăm phần trăm cho cái thứ máy ép gì đó của cô hoạt động, tụi tui phải phơi ròng rã bốn cái nắng giòn trên bạt nhựa. Công đảo bã mía nó nặng gấp đôi đảo rơm vì xơ mía dính bết lại thành từng tảng. Cô trả bốn trăm đồng một ký? Trừ hết tiền công bốc vác, tiền thuê sân bãi, dầu chạy máy bơm, xã viên của tui cầm về chưa đầy năm chục đồng bạc lẻ cho một ký bã mía! Làm ăn kiểu đó khác nào bóc lột mồ hôi nước mắt của người cày cấy để làm giàu cho cái mác bảo vệ môi trường của mấy người trên phố?”

Căn phòng chìm vào một khoảng lặng ngột ngạt đến nghẹt thở. Tiếng cánh quạt trần quay *két... két...* nghe như tiếng kim loại cọ xát vào dây thần kinh căng thẳng. Minh ngồi bên cạnh khẽ cử động, cánh tay anh chạm nhẹ vào vai Nhiên, ánh mắt lộ vẻ âu lo. Minh nhìn cô như muốn ra hiệu: hay là tạm lùi lại, thu dọn hồ sơ rồi về xưởng tính toán lại từ đầu, tránh đối đầu trực diện khi đối tác đang nổi cơn thịnh nộ.

Thế nhưng, Nhiên không hề tỏ ra tự ái hay biến sắc mặt vì xấu hổ. Trái tim cô đang đập dồn dập sau lồng ngực, nhưng đó là phản ứng của một kỹ sư vừa phát hiện ra một sai số kỹ thuật trọng yếu trong hệ số an toàn thực tế, chứ không phải sự hờn dỗi của một cái tôi bị va quẹt.

Thay vì tìm lời phân bua hay bám víu vào những con số trong báo cáo của Viện nghiên cứu, Nhiên hít một hơi thật sâu, đón nhận trọn vẹn mùi thuốc rê cay nồng và cái nóng hầm hập của căn phòng. Cô chậm rãi gập tập tài liệu dự toán lại, ngẩng cao đầu và nhìn thẳng vào đôi mắt đục ngầu, nghiêm khắc của ông Sáu Thành bằng ánh mắt trong trẻo nhưng kiên định đến lạ lùng.

“Cháu xin lỗi chú Sáu. Chú mắng rất đúng.”

Giọng Nhiên vang lên rõ ràng, không run rẩy, không né tránh:

“Là do cháu non nớt, chỉ ngồi trong phòng thí nghiệm đọc tài liệu chuyển giao mà chưa một lần lội ruộng cùng bà con. Những chi phí vận hành từ bờ ruộng xuống vỏ lãi, công đảo bã mía và tỷ lệ hao hụt do thời tiết mà chú vừa chỉ ra là những thực tế sống còn. Cháu thừa nhận dự toán ban đầu của cháu bị sai lệch nghiêm trọng vì thiếu trải nghiệm thực tế.”

Ông Sáu Thành hơi nhướn hàng mày rậm rạp. Đôi mắt sắc lẻm của ông chớp nhẹ một cái, thoáng vẻ ngỡ ngàng. Suốt mấy chục năm làm chủ nhiệm, ông đã tiếp không biết bao nhiêu đoàn cán bộ thu mua, bao nhiêu giám đốc trẻ măng từ các công ty dưới Sài Gòn dập dìu về đây. Kẻ thì vênh váo mang mác học rộng tài cao ra để dạy đời nông dân, kẻ thì bị ông bẻ gãy vài lý lẽ là lập tức tự ái đùng đùng, gom giấy tờ bỏ về hoặc lôi hợp đồng nguyên tắc ra dọa dẫm kiện tụng. Chưa từng có một đứa trẻ nào, lại là một cô gái trông mảnh khảnh như cọng cỏ non, dám nhận sai một cách điềm tĩnh và dứt khoát đến thế ngay giữa bàn thương lượng.

Nhiên không dừng lại ở lời xin lỗi. Cô cúi người mở chiếc túi chống sốc màu đen đặt cạnh chân, cẩn thận lấy ra một thiết bị đo đạc hình hộp chữ nhật màu xám tro. Từ đầu thiết bị chìa ra hai thanh kim loại mạ crom sáng bóng, dài nhọn hoắt như hai chiếc đũa thép – đó là chiếc máy đo độ ẩm vật liệu xơ sợi điện tử chuyên dụng mà cô phải ký giấy mượn đích danh từ phòng lab trọng điểm của trường đại học.

“Nhưng thưa chú Sáu, Mộc Nhiên của chúng cháu về đây không phải để đi buôn chuyến ăn xổi, kiếm một vài chuyến xe rồi phủi tay,” Nhiên đặt chiếc máy đo lên mặt bàn gỗ, giọng cô trầm xuống nhưng đầy sức nặng. “Chúng cháu muốn xây dựng một chuỗi cung ứng nguyên liệu bền vững, gắn bó lâu dài nhiều năm với bà con Tân Phú. Cháu muốn tận mắt nhìn thấy từng công đoạn, muốn đo đạc độ ẩm thực tế của các lớp rơm, lớp bã mía trên bãi phơi của hợp tác xã mình ngay lúc này. Chú có thể dẫn tụi cháu ra bãi được không ạ?”

Ông Sáu Thành im lặng nhìn chằm chằm vào cô gái trẻ. Ông nhìn chiếc máy đo lạ mắt, rồi lại nhìn sang Minh – người cũng đã đứng thẳng dậy, ánh mắt nghiêm cẩn và sẵn sàng lăn xả vào bùn đất. Chiếc tẩu thuốc rê trên tay ông khẽ run lên một làn khói mỏng. Ông dập tắt đóm thuốc vào chiếc gạt tàn sứt mẻ, khẽ tặc lưỡi một tiếng:

“Trưa trầy trưa trật, nắng muốn bể cái đầu, mấy đứa chịu nổi không? Ra thì ra, để coi tụi bây cầm mấy cái que sắt đó đo được cái giống gì ngoài đồng!”

Nói rồi, ông với tay lấy chiếc nón lá cũ treo sau cánh cửa, sải những bước chân dài ngoằng, cứng cáp dẫn đường ra bãi.

Khu bãi phơi phụ phẩm của Hợp tác xã Tân Phú nằm trải dài trên một dải đất bồi rộng hơn hai héc-ta, kẹp giữa con lộ đá dăm và một nhánh sông Tiền cuồn cuộn nước đỏ. Dưới ánh nắng chói chang lúc mười hai giờ trưa, mặt đất tỏa ra hơi nóng hầm hập chẳng khác nào miệng một chiếc lò nung khổng lồ. Mặt đất phủ một lớp bụi rơm mịn màng, vàng ửng, mỗi bước chân giẫm xuống lại làm bốc lên một làn bụi li ti bay lơ lửng trong không khí.

Từng luống bã mía được cào phẳng phiu trên những tấm bạt dứa xanh dài hàng chục mét, bên cạnh là hàng trăm ụ rơm cuộn tròn xếp thành từng dãy dài tăm tắp như những khối điêu khắc mộc mạc giữa trời.

Không một chút ngần ngại, Nhiên bước phăm phăm, đôi giày vải bảo hộ của cô lội thẳng qua rãnh thoát nước ẩm ướt đầy bùn sình ven đường để tiến sâu vào trung tâm bãi rơm. Nắng gắt táp rát bỏng lên gáy, mồ hôi từ trán chảy ròng ròng xuống cằm, rớt từng giọt làm nhòe cả mắt kính, nhưng cô dường như không bận tâm. Nhiên quỳ một chân xuống nền đất bỏng rát, hai tay cầm chắc tay cầm của chiếc máy đo, cắm ngập hai que kim loại dài ba mươi phân sâu vào thân một cuộn rơm vàng ươm nằm trên đỉnh một dãy ụ.

Màn hình kỹ thuật số chớp nháy ba lần, phát ra một tiếng *bíp* nhỏ rồi hiện lên con số: *14.2%*.

Nhiên quay đầu lại, nói lớn trong tiếng gió ù ù:

“Mẫu bề mặt đạt chuẩn ép! Dưới mười lăm phần trăm, thưa chú!”

Minh đứng bên cạnh, nhanh chóng rút cuốn sổ tay bọc bìa da ra ghi chép tọa độ và số liệu đo đạc.

Ông Sáu Thành đứng khoanh tay trên con đê đất cao, nheo mắt nhìn hai người trẻ tuổi đang lúi húi giữa bãi rơm bỏng rát. Khóe môi ông khẽ nhúc nhích, rồi ông cất giọng sang sảng át cả tiếng sóng vỗ bờ kênh:

“Đừng có vội mừng cô kỹ sư! Cái đó là rơm phơi từ sáng hôm qua tới giờ ngay trên ngọn gió đực, nắng táp thẳng vô mặt thì nó khô queo là phải rồi. Mấy đứa ngon thì bước xuống mé mương đằng kia, đo mấy cái cuộn nằm sát chân bạt coi!”

Ông chỉ tay về phía một dãy rơm cuộn nằm cách mép nước kênh xáng chưa đầy mười mét, nơi có những khóm lục bình đang trôi dạt vào bờ:

“Dân thành thị mấy đứa chỉ biết coi dự báo thời tiết trên điện thoại coi bữa nay nắng hay mưa, chứ dân xứ này sống chết là nhờ con nước lớn ròng. Đêm hôm qua con nước rong dâng cao ngập sát mép bãi, sương muối từ mặt kênh theo gió táp vô chân đống rơm suốt từ nửa đêm tới sáng rõ. Cọng rơm nó hút ẩm từ dưới đáy hút ngược lên, ngoài mặt khô rang giòn rụm như bánh tráng nướng, nhưng cái ruột bên trong ngậm đầy một bụng nước. Đem cái thứ đó bỏ vô máy ép nhiệt coi, hơi nước không kịp thoát ra là nó nổ bung tét bét hết cho coi!”

Nhiên lập tức đứng dậy, bước thoăn thoắt theo hướng tay ông chỉ. Bùn nhão dưới chân mép kênh ngập qua đế giày, kéo trĩu từng bước đi nhưng cô không hề giảm tốc độ. Tiến đến cuộn rơm nằm sát mép nước, cô cúi rạp người, cắm ngập hai que dò kim loại vào vị trí cách mặt đất chừng ba tấc.

Màn hình LCD nhảy số liên tục rồi dừng lại ở một con số đỏ rực: *26.8%*.

Nhiên cắn môi, ấn que đo sâu thêm mười phân nữa vào sát tâm cuộn rơm. Con số lập tức vọt lên mốc *31.5%*.

Đúng như lời cảnh báo đanh thép của ông già nông dân. Khối rơm này nếu nhìn bằng mắt thường thì vẫn giữ nguyên màu vàng óng ả, nhưng bên trong nó đang ngậm một lượng nước khổng lồ. Nếu đem đóng kiện chuyển về xưởng Tân Kiên trong thùng xe tải bịt kín bạt, chỉ sau bốn mươi tám giờ ủ nhiệt, toàn bộ khối sợi này sẽ bị nấm mốc biến thành một mớ bùi nhùi nhớp nháp, bốc mùi thối rữa và hoàn toàn mất đi giá trị liên kết cơ học.

Nhiên cẩn thận rút que đo ra, lau sạch bề mặt kim loại vào vạt áo rồi tỉ mỉ ghi chép. Cô ngẩng lên, liên tục đặt câu hỏi với ông Thành: về chu kỳ con nước rong nước kém trong tháng, về thời điểm sương muối bắt đầu buông xuống mặt sông, và khoảng thời gian vàng từ chín giờ sáng đến hai giờ chiều để tổ chức đảo rơm đạt hiệu suất thoát ẩm cao nhất. Sự tập trung cao độ, thái độ cầu thị không một chút phòng thủ hay ngần ngại dơ bẩn của cô gái trẻ khiến vẻ mặt nghiêm nghị, khó đăm đăm của ông Sáu Thành dần dần giãn ra tự lúc nào.

“Muốn đo cho trúng thì phải đo chỗ này nè, chứ chọc mấy cái que kim loại đó ăn thua gì với cái xứ này!”

Một giọng nữ lanh lảnh, giòn tan vang lên từ phía sau đống bã mía cao ngất như một gò đất nhỏ.

Một người phụ nữ tầm ba mươi tuổi sải bước đi ra. Dáng người cô đậm đà, chắc nịch như một cây tràm gió. Cô mặc chiếc áo bà ba màu xanh dương đã bạc thếch hai bên vai, hai ống tay áo xắn cao để lộ đôi bắp tay rám nắng cuồn cuộn gân guốc. Đầu đội chiếc nón lá chóp nhọn đã sờn vành, cổ quàng chiếc khăn rằn ướt sũng mồ hôi, người phụ nữ thoăn thoắt bước tới, trên tay lăm lăm một cây ba chĩa bằng thép sáng loáng, mũi chĩa đã mòn vẹt vì cào đảo hàng ngàn tấn phụ phẩm.

“Lan! Mày bốc xong mấy chuyến ghe mía cho lò đường Tân Hưng chưa mà chạy tót qua đây nhiều chuyện?” Ông Sáu Thành gắt nhẹ, nhưng trong giọng nói lại lộ rõ vẻ bao dung và tin cậy tuyệt đối.

“Dạ xong xuôi từ nửa tiếng trước rồi chú Sáu! Em cho tụi nhỏ nghỉ tay uống nước ăn cơm trưa rồi mới dám qua đây,” người phụ nữ tên Lan đáp, rồi quay sang nhìn Nhiên và Minh bằng ánh mắt sắc sảo, tinh nghịch nhưng không kém phần dò xét. “Nghe chú Sáu nói có mấy kỹ sư bên thành phố xuống đây tìm mua rơm, mua bã mía về làm chén dĩa giấy gì đó phải hông? Tui là Đặng Mai Lan, tổ trưởng tổ bốc vác và xử lý phụ phẩm ở cái bãi Tân Phú này nè.”

Nhiên mỉm cười, chìa bàn tay nhỏ nhắn ra định chào hỏi thì Lan đã bật cười xòa, giơ bàn tay chai sần dính đầy bụi xơ mía lên xua xua:

“Thôi khỏi bắt tay, tay tui dơ hầy à! Máy móc của cô nhìn xịn sò thiệt đó, bóng loáng như đồ chơi điện tử, nhưng cái thứ nguyên liệu nhà quê này nó sống động dữ lắm, ba cái que sắt của cô chọc không thấu đâu.”

Dứt lời, Lan dùng mũi cây ba chĩa khéo léo móc vào góc một đống bã mía lớn được phủ bạt nhựa cẩn thận ở góc tường rào hướng gió khuất. Bằng một động tác dứt khoát, cô bẩy tung một mảng bã mía sát mặt đất lên.

Không cần bất kỳ thiết bị đo đạc nào, Lan ngồi thụp xuống, thọc trần cả cánh tay trần vào sâu tận ruột của đống xơ mía. Đôi mắt cô hơi nheo lại, các ngón tay bóp nhẹ, rồi cô rút ra một nắm xơ mía màu nâu sẫm, đưa thẳng lên mũi hít một hơi thật sâu.

“Nè, cô kỹ sư cầm thử coi!” Lan chìa nắm xơ mía ra trước mặt Nhiên.

Nhiên đón lấy nắm xơ từ tay Lan. Cảm giác đầu tiên ập vào lòng bàn tay cô là một luồng nhiệt âm ỉ, ẩm ướt bất thường. Nắm bã mía không hề khô ráo như vẻ bề ngoài mà dính dấp, nằng nặng. Khi đưa lên mũi, một thứ mùi men chua thoang thoảng, ngai ngái như mùi bỗng rượu mới nấu xộc thẳng vào khứu giác.

“Thấy chưa?” Lan vỗ mạnh hai bàn tay vào nhau nghe bôm bốp. “Phía trên bạt che láng cóng, nắng rọi suốt ngày, máy của cô chọc que hai tấc ngoài rìa bảo đảm nó báo mười ba phần trăm khô rang. Nhưng ở cái góc khuất gió này, nước mưa của đám mây dông tuần trước còn đọng trong kẹt đất ngấm ngược lên, bã mía bị 'đổ mồ hôi' ngầm bên dưới. Lượng đường sót lại trong xơ gặp ẩm là bắt đầu lên men. Cái thứ men này nó đang ăn dần ăn mòn cellulose đó! Đem cái mớ này bỏ vô lò ép nhiệt độ cao hai trăm độ C của mấy người, tui bảo đảm sản phẩm ép ra thúi rùm, giòn bở như bánh tráng nhúng nước. Chưa kể vi sinh nó ủ kín trong từng thớ sợi, đóng thùng xuất xưởng chừng ba bữa là mốc xanh mốc đỏ mọc lên như nấm sau mưa!”

Minh bước vội lại gần, nhận lấy nắm xơ mía từ tay Nhiên. Anh dùng ngón tay cái và ngón trỏ miết mạnh một sợi bã mía ra rồi kéo căng hai đầu. Sợi xơ đứt lìa một cách dễ dàng mà không hề có độ đàn hồi tự nhiên. Minh ngẩng lên nhìn Nhiên, sắc mặt nghiêm trọng:

“Chị Lan nói chính xác. Liên kết ngang của sợi đã bị thủy phân một phần do hoạt tính enzyme của nấm men. Nếu trộn mớ này vào phôi ép, độ bền kéo đứt mười tám Megapascal của chúng ta sẽ tụt xuống dưới năm Megapascal ngay lập tức. Khay sẽ bị nứt toác ngay khi vừa nhả khuôn.”

Một cảm giác rùng mình chạy dọc sống lưng Nhiên. Cô nhìn nắm xơ mía mục trên tay, rồi nhìn sang người phụ nữ nông dân đang đứng cười xòa trước mặt. Trong lòng Nhiên dâng lên một sự thán phục chân thành và sâu sắc.

Những người lao động chân lấm tay bùn ở mảnh đất này không hề biết đến các thuật ngữ học thuật như "độ bền kéo đứt", "liên kết ngang polymer", "sự phân hủy sinh học theo chuẩn ISO 17556" hay "động học enzyme". Nhưng bằng đôi bàn tay chai sần tích lũy kinh nghiệm qua hàng chục mùa vụ, bằng khứu giác nhạy bén phân biệt được từng giai đoạn lên men của đường mía, họ hiểu bản chất vật lý và sinh hóa của cọng rơm, bã mía sâu sắc hơn bất kỳ mô hình toán học nào trong phòng thí nghiệm. Nếu không có thứ tri thức bản địa sống động này soi đường, những bản vẽ kỹ thuật bóng bẩy của cô sẽ chỉ là một mớ lý thuyết mù quáng dẫn thẳng đến thất bại thảm hại nơi xưởng máy.

“Chị Lan nói không sai một chữ nào,” Nhiên ngẩng lên, nhìn thẳng vào mắt người nữ tổ trưởng bốc vác bằng tất cả sự chân thành. “Nếu không có chị chỉ ra chỗ ủ men ngầm này, tụi em nhập nguyên lô bã mía này về xưởng thì coi như đổ nợ ngay từ mẻ sản xuất đầu tiên. Trăm cuốn giáo trình không bằng một cái thọc tay của người lăn lộn ngoài bãi.”

Lan chớp mắt nhìn Nhiên. Nhìn cô gái thành phố da dẻ vốn trắng trẻo mịn màng nhưng nãy giờ không ngại ngần quỳ gối trên bùn đất, hai bàn tay dính đầy bụi xơ mía và mồ hôi nhễ nhại chảy thành vệt trên mặt mà tuyệt nhiên không hề cất một lời than vãn hay lộ vẻ ghê tởm dơ bẩn, ánh mắt Lan dịu hẳn đi. Cô bật cười, giọng hào sảng:

“Cô chịu khó thiệt đó chớ! Hồi nãy thấy hai đứa chạy xe máy tà tà vô, tui nói với mấy đứa trong tổ chắc lại mấy cô cậu sinh viên đi thực tế cưỡi ngựa xem hoa, đứng chỉ tay năm ngón rồi chê bùn đất hôi hám. Tui nói thiệt bụng cho cô nghe, nông dân tụi tui hổng có bụng dạ hẹp hòi mà ép giá ép công mấy người đâu. Nhưng mà cái nghề bốc rơm bốc mía này nó bạc và cực dữ lắm cô ơi!”

Lan đưa tay chỉ vào những vết sẹo thâm đen chi chít trên cẳng tay mình:

“Bụi xơ mía nó có gai li ti, bay vô người là ngứa thấu xương thấu thịt, chui vô cuống họng rát buốt ho cả tuần không dứt. Vác một ngày hai chục tấn rơm từ dưới ghe lên bờ thì tối về cái lưng còng xuống, hai bả vai sưng vù, bưng chén cơm nuốt không trôi. Nếu công ty của cô trả giá bèo bọt quá, người ta làm không đủ tiền mua thuốc dán lưng thì người ta phải làm ẩu thôi. Người ta cứ xúc đại mấy cái lớp bã ẩm mốc ngầm dưới đáy, quăng đại mấy cuộn rơm ngậm sương muối lên xe cho đủ ký đặng lấy tiền cho lẹ. Chừng đó xe chở về trúng hàng dột nát, cô thiệt hại cả trăm triệu bạc, còn tụi tui thì mang tiếng gian lận lừa đảo. Thà tính đúng, tính đủ công sức cho người đổ mồ hôi, tụi tui đứng ra cam đoan lựa cho cô từng cọng rơm vàng, từng tảng bã mía khô ráo, thơm phức từ ngoài vỏ vô tới ruột!”

“Chị Lan nói rất chí lý,” Nhiên gật đầu dứt khoát.

Cô quay sang ông Sáu Thành, người nãy giờ vẫn đứng lặng lẽ quan sát từng cử chỉ của cô:

“Chú Sáu, cháu đã hiểu bản chất vấn đề rồi ạ. Mộc Nhiên tuyệt đối không bao giờ muốn xây dựng một sản phẩm vì môi trường dựa trên sự bòn rút công sức của người lao động. Chúng cháu cần nguyên liệu đạt chuẩn tuyệt đối để sống sót, và bà con xã viên cần một mức thu nhập xứng đáng, công bằng để làm ra nguồn nguyên liệu chuẩn đó. Cháu xin phép được điều chỉnh lại toàn bộ bảng giá ngay tại đây.”

Nhiên hít sâu một hơi, giọng cô đanh thép và quả quyết:

“Cháu đề xuất nâng giá thu mua bã mía phơi khô đạt chuẩn lên sáu trăm năm mươi đồng một ký. Rơm rạ cuộn khô, được kiểm tra và phân loại kỹ từ ruộng nâng lên bảy trăm năm mươi đồng một ký. Bù lại, Hợp tác xã Tân Phú và trực tiếp là tổ bốc xếp của chị Lan sẽ chịu trách nhiệm giám sát, phân loại và đo độ ẩm hai chiều ngay tại bãi trước khi hàng được bốc lên xe tải của chúng cháu. Chú Sáu thấy mức giá này đã đủ để bù đắp chi phí nhân công và bảo đảm quyền lợi cho bà con chưa ạ?”

Ông Sáu Thành nhìn Nhiên trân trân. Nắng trưa rọi thẳng xuống đỉnh đầu, in bóng ba người đổ tròn dưới chân. Đôi mắt già nua từng trải của ông lướt qua đôi bàn tay lấm lem bùn đất của Nhiên, nhìn sang chiếc máy đo ẩm đang được cô ôm chặt trước ngực như một báu vật, rồi dừng lại ở gương mặt kiên định không chút nao núng của cô kỹ sư trẻ.

Một tiếng thở dài nhẹ nhõm khẽ thoát ra từ lồng ngực người chủ nhiệm già. Nếp nhăn nơi khóe mắt ông giãn ra, thay thế vẻ nghiệt ngã ban đầu bằng một nét cười đôn hậu đặc trưng của người miệt vườn:

“Cô dám nhìn nhận cái sai của mình ngay giữa bàn dân thiên hạ, lại chịu lội sình quỳ gối giữa cái trưa nắng bể đầu thế này... tui chịu cái nết đó của cô rồi đó! Thôi, dẹp máy móc đi, kéo nhau vô nhà uống miếng nước dừa xiêm cho mát ruột rồi ngồi xuống mần lại cái giấy tờ. Đứng ngoài này thêm một lát nữa là say nắng lăn đùng ra hết cả đám bây giờ!”

Trở lại gian phòng làm việc của hợp tác xã, không khí bức bối, ngột ngạt ban nãy dường như đã tan biến, nhường chỗ cho sự tập trung nghiêm túc của một cuộc đàm phán hợp tác thực chất.

Ông Sáu Thành tự tay bưng ra một buồng dừa xiêm vừa chặt từ sau vườn, dùng con dao rựa sắc bén vạt phăng chóp quả rồi cắm ống hút đưa cho Nhiên và Minh. Dòng nước dừa ngọt mát, thanh khiết như tưới mát lồng ngực đang khô khát của hai người.

Trên chiếc bàn gỗ thô ráp, Nhiên mở máy tính xách tay, những ngón tay cô lướt thoăn thoắt trên bàn phím để tái cấu trúc lại toàn bộ mô hình tài chính. Giá nguyên liệu đầu vào tăng hơn ba mươi phần trăm đồng nghĩa với việc biên lợi nhuận ròng dự kiến của Mộc Nhiên trong giai đoạn thử nghiệm đầu tiên sẽ bị bóp nghẹt xuống mức tối thiểu, dòng tiền mặt vốn đã cạn kiệt sẽ bị kéo căng như một sợi dây đàn sắp đứt. Nhưng đổi lại, cô loại bỏ được biến số chí mạng về tỷ lệ hư hao và lỗi sản phẩm do nguyên liệu ẩm mốc – thứ hoàn toàn có thể đánh sập một xưởng ép quy mô nhỏ chỉ sau vài mẻ hàng hỏng.

Ông Sáu Thành kéo chiếc ghế đẩu ngồi sát lại, nhấp một ngụm trà đậm rồi chậm rãi hạ giọng:

“Nói thiệt bụng cho hai đứa nghe, cách đây nửa tháng cũng có một nhóm người của một tập đoàn lớn trên Sài Gòn – hình như tên là GreenMax gì đó – đi hai chiếc xe hơi bóng lộn, tài xế mở cửa rước về tận cái văn phòng này.”

Ngón tay Nhiên trên bàn phím bỗng khựng lại. Minh ngồi bên cạnh giật thót mình, đưa mắt nhìn cô. Một làn sóng căng thẳng mơ hồ lập tức lan tỏa trong không khí. Đỗ Quang Vinh và bàn tay của GreenMax quả nhiên đã vươn những xúc tu dài ngoằng về tận các vựa phụ phẩm hẻo lánh này.

“Họ về đây làm gì vậy chú Sáu?” Nhiên cố giữ giọng mình thật phẳng lặng, nhưng các đầu ngón tay cô đã hơi run lên.

“Họ gặp ban chủ nhiệm, đưa ra một bản hợp đồng in bìa da mạ vàng láng cón, đòi ký bao tiêu độc quyền toàn bộ bã mía và rơm rạ của vùng Tân Phú này ròng rã trong ba năm trời,” ông Thành cười khà khà, lắc đầu quầy quậy. “Giá họ đưa ra ban đầu nghe bùi tai lắm nghen, cao hơn giá tụi bây đề xuất nữa đó.”

“Vậy... sao chú không ký với họ?” Minh buột miệng hỏi.

“Dân quê tui ngó bộ khờ khạo, cục mịch chứ hổng có ngu đâu chú em!” Ông Sáu Thành gõ ngón tay cồm cộm lên mặt bàn. “Tụi nó hứa trả giá trên trời, nhưng cài cắm vô mớ điều khoản công nợ gối đầu tới bốn mươi lăm ngày sau khi nhận hàng. Đã vậy còn bắt tụi tui ký cam kết độc quyền tuyệt đối, không được bán cho bất kỳ ai khác dù chỉ một cọng rơm, nếu mùa mưa dầm không gom đủ sản lượng cam kết thì hợp tác xã bị phạt bồi thường tiền tỷ. Tui hỏi tới quy trình nghiệm thu chất lượng tại chỗ thì mấy thằng cha mặc đồ vest bóng bẩy đó cứ ậm ừ né tránh, bảo cứ chở hàng lên kho tổng của tụi nó trên khu công nghiệp Đức Hòa rồi chuyên viên kỹ thuật trên đó mới cân đo, giám định ẩm độ để tính tiền. Mẹ kiếp, làm ăn kiểu đó, lỡ chở mấy chục xe tải lên tới nơi, tụi nó đóng cửa kho chê hàng ẩm, ép giá xuống một nửa rồi bắt tui nuốt nghẹn thì tui biết kêu ai? Đi thưa kiện tụi tập đoàn lắm tiền nhiều của đó thì nông dân tui lấy tiền đâu mà đóng án phí hầu tòa?”

Ông Thành vỗ đùi đánh *đét* một cái, giọng sang sảng:

“Tui thích cái cách làm việc của con nhỏ này hơn! Sai đâu nhận đó, kỹ thuật đàng hoàng, chịu lội sình cắm que đo tận bãi, lại sòng phẳng tiền nong. Thà ăn chắc mặc bền, tui đồng ý cho Mộc Nhiên của mấy đứa làm thử nghiệm!”

Không khí trong phòng như vỡ òa. Biên bản ghi nhớ cung ứng nguyên liệu thử nghiệm được Nhiên nhanh chóng hiệu chỉnh, bổ sung các điều khoản ràng buộc thực tế rồi kết nối máy tính với chiếc máy in mini mang theo để in thành văn bản ngay trên mặt bàn.

Các điều khoản cốt lõi được định hình rõ ràng: Thời hạn thử nghiệm được xác lập là 3 tháng liên tục với khối lượng nhỏ để thăm dò: ba mươi tấn bã mía ép khô và hai mươi tấn rơm rạ cuộn đạt chuẩn mỗi tháng. Hai điều kiện tiên quyết không thể thương lượng được hai bên thống nhất đưa vào khung pháp lý: Thứ nhất, quy trình kiểm soát độ ẩm phải được thực hiện công khai hai chiều tại trạm cân của Hợp tác xã Tân Phú ngay trước thời điểm bốc hàng lên xe vận tải. Ngưỡng độ ẩm tối đa không được vượt quá 15%, và mỗi biên bản bàn giao phải có chữ ký xác nhận song song của Đặng Mai Lan (đại diện tổ bốc xếp kiểm tra cảm quan) cùng kỹ thuật viên của Mộc Nhiên (đo bằng máy chuyên dụng). Thứ hai, Mộc Nhiên phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán 100% bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản tức thời ngay khi bánh xe tải lăn bánh rời khỏi cổng hợp tác xã, tuyệt đối không áp dụng bất kỳ hình thức công nợ gối đầu nào.

“Hợp tác xã Tân Phú tui là chỗ làm ăn của bà con nghèo, hổng phải ngân hàng thương mại để mấy đứa chiếm dụng vốn gối đầu,” ông Sáu Thành nghiêm giọng khi cầm cây bút mực ký xoẹt một chữ ký dứt khoát vào cuối biên bản. “Xã viên của tui bỏ mồ hôi nước mắt ra bốc vác từ sáng tới chiều là chiều tối phải có tiền dằn túi đặng đong gạo, mua sữa cho con. Mấy đứa muốn làm ăn tử tế thì phải giữ chữ tín tiền bạc cho sòng phẳng. Trễ hẹn một ngày là tui bấm chuông cho xe tải quay đầu liền đó nghen!”

“Dạ, chú Sáu cứ yên tâm. Mộc Nhiên cam đoan tuân thủ nghiêm ngặt từng chữ trong biên bản này,” Nhiên ký tên mình vào góc văn bản, nét chữ run nhẹ vì cảm xúc dâng trào.

Một cảm giác nhẹ nhõm vô bờ bọc lấy tâm trí cô khi giải quyết được nút thắt nguyên liệu thô sạch, nhưng ngay sau đó là một tảng đá áp lực ngàn cân khác lập tức đè nặng lên vai: thanh toán tiền mặt ngay tại chỗ đồng nghĩa với việc toàn bộ số vốn dự phòng ít ỏi còn lại trong tài khoản Mộc Nhiên sẽ chính thức chạm vào lằn ranh báo động đỏ.

Đặng Mai Lan đứng bên cạnh, nhe hàm răng trắng bóng cười rạng rỡ. Cô đưa bàn tay thô ráp, ấm nóng ra bắt chặt lấy bàn tay Nhiên, lắc mạnh:

“Chiều nay tui sẽ đích thân lựa từng mảng bã mía ngon nhất, khô giòn nhất của cái bãi này cho chuyến xe đầu tiên của cô. Cứ tin ở cái tổ bốc vác của Mai Lan này!”

Nửa buổi chiều, mặt trời ngả dần về phía rặng dừa nước rậm rạp bên kia bờ kênh xáng, nhuộm cả vùng sông nước Tân Phú trong một sắc vàng cam rực rỡ và lộng lẫy. Bụi rơm bốc lên dưới ánh tà dương lấp lánh như những hạt bụi vàng bay lơ lửng. Chiếc xe tải ba chân hạng nặng phủ bạt kín mít do hợp tác xã điều động từ bến xe huyện đã chất đầy mười tấn bã mía khô sạch thơm nức mùi xơ thực vật. Tiếng động cơ diesel nổ rền vang, nhả từng luồng khói xám báo hiệu chuyến hàng đầu tiên chuẩn bị lăn bánh hướng về vùng ven Sài Gòn.

Nhiên và Minh đứng bên cổng rào sắt của hợp tác xã, nhìn lớp bụi đất đỏ tung bay cuồn cuộn theo vòng quay của bánh xe tải. Nhiên vừa mở màn hình điện thoại di động để kiểm tra tin nhắn biến động số dư ngân hàng sau lệnh chuyển khoản tiền mặt thanh toán trọn gói mười tấn nguyên liệu cho ông Sáu Thành, lòng thầm tính toán từng đồng bạc còn lại cho chi phí điện nước và phụ gia kết dính.

Bỗng nhiên, cánh cửa cabin xe tải bật mở. Bác tài xế trạc năm mươi tuổi, vẻ mặt mệt mỏi với chiếc khăn vắt ngang vai nhảy phịch xuống mặt đường đầy sỏi đá. Ông ta cầm theo một tập kẹp giấy màu nâu, rút ra một tờ phiếu thu liên đỏ chót có đóng dấu mộc vuông của công ty vận tải tư nhân địa phương rồi bước thẳng về phía Nhiên, chìa tờ giấy ra:

“Cô kỹ sư ký nhận phiếu điều xe và thanh toán luôn cước chuyến giùm tui nghen. Chạy về mạn Bình Chánh – Tân Kiên đường cấm tải giờ cao điểm, lại phải đi vòng tránh mấy cây cầu yếu dưới bến phà, phụ phí xăng dầu với tiền qua trạm thu phí tăng vọt.”

Nhiên nhận lấy tờ phiếu thu mỏng manh. Ánh mắt cô lướt nhanh qua các dòng kê khai chi phí vận chuyển đường bộ liên tỉnh, rồi dừng lại trừng trừng ở con số tổng cộng cuối cùng được viết bằng mực đỏ đậm nét.

Bàn tay đang cầm chiếc bút bi của cô bỗng khựng lại giữa không trung, nụ cười vừa hé nở trên môi lập tức đông cứng lại.

Xe tải chở mẻ bã mía đầu tiên về xưởng ngoại ô kèm theo hóa đơn vận chuyển vượt dự toán 20%.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn