Mùa Gieo HạtC.4 / 30
Chương 4

Bài Kiểm Tra Của Khoa Học

Mùi cồn sát khuẩn isopropanol bay hơi lẫn trong luồng không khí khô khốc và tiếng vo ve trầm đục, đều đặn như nhịp thở của hệ thống máy quang phổ phát xạ tại Phòng thí nghiệm Trọng điểm Đại học Nam Thành kéo Nhiên trở lại với sự tĩnh lặng lạnh lùng quen thuộc của giới học thuật.

Nơi này hoàn toàn tách biệt với mùi dầu thủy lực nồng nặc đến nghẹt thở và sự hỗn loạn của gian xưởng ngập bụi bã mía ở Tân Kiên. Ở đây không có tiếng máy dập rung chuyển sàn bê tông khiến lồng ngực đập dồn dập, không có hơi nóng phả ra hầm hập từ các mâm nhiệt rỉ sét, và cũng không có những tiếng kim loại va đập khô khốc chực chờ sự cố cơ khí khiến tim người ta thót lại từng chặp. Chỉ có những mặt bàn thí nghiệm bằng đá granite màu xám tro không một hạt bụi, các dãy ống nghiệm thạch anh xếp đều tăm tắp dưới ánh đèn huỳnh quang trắng lóa không góc chết, và nhiệt độ phòng luôn duy trì nghiêm ngặt ở mức hai mươi ba độ C cùng độ ẩm tương đối năm mươi phần trăm.

Nhiên siết chặt chiếc hộp nhựa kỹ thuật chứa ba mươi thanh mẫu vật liệu hình quả tạ và mười chiếc đĩa tròn được gia công cắt gọt cẩn thận bằng dao cắt mẫu áp lực cao. Từng góc cạnh của các thanh mẫu phẳng lỳ, bề mặt màu nâu nhạt mịn màng phảng phất hương thơm ngai ngái của xơ thực vật đã qua xử lý nhiệt. Đó là kết tinh của hàng chục giờ vật lộn bên máy nghiền, máy trộn và khuôn ép thủy lực, là mẻ vật liệu duy nhất đạt độ đồng nhất tương đối sau chuỗi ngày thất bại liên miên.

Bên cạnh cô, Lê Hoài Phương đang kéo phẳng lại vạt áo vest công sở màu xanh thẫm may đo kỹ lưỡng. Đôi mắt sắc sảo của Phương không ngừng đảo quanh các tủ kính đựng hóa chất phân tích cao cấp, quét qua những chiếc máy ly tâm lạnh, máy sắc ký khí ghép khối phổ trị giá hàng tỷ đồng. Ngón tay sơn màu đỏ mận của cô thoăn thoắt gõ nhẹ lên chiếc cặp da chứa tập tài liệu giới thiệu dự án được in màu bóng bẩy trên giấy mỹ thuật dày dặn. Dù đứng giữa một không gian thuần túy nghiên cứu cơ bản, Phương vẫn toát ra phong thái của một người đàm phán thương mại thiện nghệ, luôn sẵn sàng biến mọi thông số kỹ thuật thành những luận điểm thuyết phục nhà đầu tư.

“Cô Hà nổi tiếng khó tính đấy,” Nhiên hạ giọng nhắc, bước chân cô chậm lại khi ánh mắt dừng trước cánh cửa gỗ sồi có gắn tấm biển đồng khắc chìm: *Phòng Nghiên cứu Vật liệu Polyme & Composite Sinh học*. “Cậu chuẩn bị tinh thần đi. Ở đây không có chỗ cho những thuật ngữ tiếp thị hoa mỹ kiểu 'cách mạng xanh', 'vật liệu tương lai' hay 'giải pháp cứu lấy hành tinh' đâu.”

Phương mỉm cười, một nụ cười chuyên nghiệp, điềm tĩnh nhưng ẩn chứa sự sắc sảo của người đã quá quen với các phòng họp căng thẳng tại các quỹ khởi nghiệp: “Mình biết rồi. Nhưng khoa học hàn lâm cũng cần dòng tiền để nuôi máy móc và duy trì hoạt động chứ. Chúng ta đến đây trả phí dịch vụ đo kiểm sòng phẳng theo đúng barem của trường, mang lại doanh thu hợp pháp cho phòng nghiên cứu, chứ có đến xin xỏ không công đâu mà cậu phải căng thẳng đến mức trắng bệch cả mặt thế kia?”

Nhiên không đáp. Cô hít sâu một hơi để ổn định lại nhịp tim rồi đưa tay gõ nhẹ lên cánh cửa gỗ ba tiếng rõ ràng.

“Vào đi.” Tiếng vọng từ bên trong khô và gọn.

Căn phòng bên trong rộng rãi nhưng ngột ngạt bởi hàng ngàn cuốn tài liệu, kỷ yếu hội thảo quốc tế xếp chồng lên nhau từ sàn lên đến tận trần nhà. Phó giáo sư Lâm Thu Hà đang cúi đầu bên chiếc kính hiển vi quang học phân cực. Mái tóc hoa râm cắt ngắn gọn gàng để lộ vầng trán cao và đôi chân mày hơi nhíu lại vì tập trung. Cặp kính lão gọng kim loại trễ xuống tận sống mũi. Bà không ngước lên ngay khi nghe tiếng mở cửa mà vẫn tỉ mỉ dùng đầu ngón tay xoay nhẹ ốc vi cấp, mắt dán chặt vào thị kính, tay kia thoăn thoắt ghi chú một dãy số thập phân vào cuốn sổ bìa cứng màu xanh đậm đặt bên cạnh.

Phải mất gần một phút trôi qua trong tiếng tích tắc khô khốc của chiếc đồng hồ treo tường kim trôi, bà Hà mới buông tay khỏi núm xoay, tháo đôi găng tay cao su nitrile vứt vào thùng rác y tế, rồi ngẩng đầu lên nhìn hai người.

“Vào đi, Nhiên,” giọng bà Hà phẳng lặng, không chút vồn vã nhưng mang theo sự uy nghiêm đanh thép của một nhà khoa học đã dành hơn ba mươi năm cuộc đời giữa bốn bức tường phòng thí nghiệm. Ánh mắt bà dừng lại trên gương mặt có phần hốc hác của Nhiên, lướt qua những vết chai mỏng trên ngón tay cô. “Nghe nói em vừa nộp đơn nghỉ việc ở bộ phận R&D của tập đoàn dầu khí để ra ngoài lập xưởng riêng à? Mới mấy tháng mà trông gầy rộc đi thế kia?”

“Dạ vâng, thưa cô,” Nhiên bước tới, kính cẩn đặt chiếc hộp mẫu lên chiếc bàn tiếp khách nhỏ bằng kính nằm cạnh giá sách. “Em cùng bạn lập dự án Mộc Nhiên. Đây là Phương, đồng sáng lập phụ trách phát triển đối tác của tụi em. Hôm nay tụi em mang mẫu sang xin ký hợp đồng dịch vụ đo kiểm cơ lý và đánh giá tốc độ phân hủy sinh học trong đất cho hệ vật liệu composite bã mía phối trộn mới.”

Phương lập tức tiến lên nửa bước, giữ thẳng lưng, hai tay chìa tấm danh thiếp ép kim sang trọng cùng tập hồ sơ tóm tắt dự án được đóng gáy lò xo cẩn thận: “Kính chào Phó giáo sư. Rất vinh hạnh cho em được gặp cô ngày hôm nay. Dự án Mộc Nhiên chúng em đang hướng tới việc thương mại hóa dòng bao bì sinh học tự phân hủy hoàn toàn, nhằm thay thế nhựa dùng một lần cho các chuỗi đồ uống và thực phẩm lớn. Chúng em rất mong có được chứng nhận kết quả kiểm định độc lập từ phòng lab uy tín của cô để hoàn thiện hồ sơ trình các quỹ đầu tư tác động và chuỗi đối tác F&B.”

Bà Hà liếc qua tấm danh thiếp, không đưa tay nhận lấy ngay mà chỉ khẽ chỉ ngón tay xuống mặt bàn kính để Phương đặt xuống. Ánh mắt sắc sảo của vị giáo sư già quét nhanh qua cụm từ in nổi dập nổi màu xanh lá cây trên bìa hồ sơ: *“Giải pháp tuần hoàn xanh 100% – Phân hủy sinh học tối ưu trong 90 ngày”*. Khẽ nhướng đôi lông mày bạc, bà kéo tập hồ sơ lại gần mình, ngón tay gõ nhịp đều đặn lên dòng chữ in đậm ấy.

“Chưa có số liệu thực nghiệm chuẩn hóa trên hệ thiết bị đo chuẩn mà các em đã dám in sẵn 'phân hủy trong 90 ngày' lên tài liệu tiếp thị rồi à?” Giọng bà Hà lạnh băng, không có lấy một gợn sóng cảm xúc.

Phương hơi khựng lại trong tích tắc, nhưng phản xạ của một người làm thị trường giúp cô nhanh chóng lấy lại vẻ tự tin: “Dạ, đây là con số định hướng kỹ thuật dựa trên các công bố quốc tế về xơ sợi cellulose phối trộn tinh bột biến tính trong điều kiện ủ công nghiệp, thưa cô. Chúng em cần dữ liệu chính thức từ thiết bị đo của trường để bảo chứng cho thông điệp này trước hội đồng vườn ươm khởi nghiệp và đối tác khách hàng.”

“Khoa học không có khái niệm 'bảo chứng' cho một thông điệp tiếp thị định sẵn,” bà Hà đẩy tập tài liệu sang một bên một cách dứt khoát, không buồn lật xem các trang bên trong. Ánh mắt bà dời khỏi Phương, chuyển sang nhìn thẳng vào đáy mắt Nhiên. “Nhiên, em từng làm khóa luận tốt nghiệp ở đây, từng ngồi hàng trăm giờ trước máy phân tích nhiệt, em hiểu rõ quy tắc của tôi hơn ai hết. Tôi đồng ý cho Mộc Nhiên ký hợp đồng thuê thiết bị đo kéo nén vạn năng, máy phân tích nhiệt trọng lượng TGA và hệ thống buồng ủ đất mô phỏng phân hủy sinh học hiếu khí. Nhưng phải có hợp đồng dịch vụ kiểm nghiệm rõ ràng với ba điều kiện tiên quyết, không có ngoại lệ.”

Bà rút từ ngăn kéo bàn làm việc ra một bản thỏa thuận mẫu đã được in sẵn trên giấy tiêu đề của trường, đặt chiếc bút máy xuống bên cạnh.

“Thứ nhất: Mọi dữ liệu thu nhận từ máy móc phải được trích xuất nguyên bản từ phần mềm điều khiển, không qua chỉnh sửa, không được gọt giẽo, không được phép lược bỏ các điểm dị biệt hay số liệu bất lợi để làm đẹp đường cong đồ thị. Tính liêm chính khoa học là nguyên tắc sống còn. Thứ hai: Kết quả đo kiểm chỉ phản ánh đúng đặc tính của mẻ mẫu vật liệu các em mang đến hôm nay, phòng thí nghiệm tuyệt đối không cấp chứng nhận hợp quy đại trà cho sản phẩm thương mại khi quy trình sản xuất quy mô công nghiệp chưa được thẩm định độc lập. Và thứ ba: Tuyệt đối không được sử dụng bất kỳ kết quả sơ bộ nào để quảng bá thương mại hoặc công bố với truyền thông, nhà đầu tư trước khi toàn bộ chu trình ủ phân hủy kết thúc và có báo cáo tổng kết chính thức có chữ ký xác nhận của tôi.”

Bà dừng lại một nhịp dài, ánh mắt trĩu nặng nhìn xoáy vào Nhiên, như muốn xuyên thấu qua những lớp phòng thủ tinh thần của cô học trò cũ:

“Nhiên, em là người hiểu bản chất vật liệu. Đừng để áp lực sinh tồn của doanh nghiệp biến em thành những kẻ bán lời hứa rỗng tuếch. Mấy năm trước, một cậu học trò khóa trên của em, từng làm khóa luận rất xuất sắc về nhựa phân hủy sinh học, vừa nhận bằng xong đã nhảy sang làm giám đốc kỹ thuật cho tập đoàn GreenMax. Cậu ta dùng vài kết quả đo màng mỏng trong buồng thí nghiệm kín, nơi điều kiện vi sinh và độ ẩm được kiểm soát lý tưởng, để thổi phồng thành công nghệ xanh mang tính đột phá toàn cầu. Cậu ta giúp công ty họ ẵm hàng chục tỷ tiền vốn tài trợ, lấy hàng loạt giải thưởng đổi mới sáng tạo, rồi bán ra thị trường những chiếc túi, chiếc khay thực chất chỉ là nhựa PE thông thường độn thêm bột mì và phụ gia xúc tác quang hóa. Những thứ đó không hề phân hủy thành mùn hữu cơ, chúng chỉ vỡ vụn ra thành hàng tỷ hạt vi nhựa vô hình đầu độc nguồn nước và đất đai. Bây giờ cậu ta giàu có, lái xe sang, nhưng trong giới học thuật chân chính, tên cậu ta vĩnh viễn không bao giờ được phép xuất hiện trên bất kỳ hội đồng thẩm định nào nữa. Tôi không muốn nhìn thấy em bước chân vào con đường dối trá đó.”

Từng lời nói của bà Hà như những nhát dao sắc lẹm khía thẳng vào tâm trí Nhiên. Cái tên GreenMax vang lên giữa căn phòng tĩnh lặng khiến sống lưng cô lạnh toát. Cô nhớ đến tin nhắn thăm dò đầy toan tính mà Huy – tay giám đốc thu mua của GreenMax – vừa gửi cho Hoài Phương cách đây vài ngày, nhớ đến bóng đen của một tập đoàn khổng lồ đang rình rập thu gom những xưởng sản xuất nhỏ lẻ để bành trướng mạng lưới "tẩy xanh".

“Em hiểu, thưa cô,” Nhiên đáp, giọng cô vang lên dứt khoát, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào người thầy cũ. “Mộc Nhiên đến đây để tìm kiếm sự thật trần trụi của vật liệu, không phải để mua một tờ giấy chứng nhận làm đẹp hồ sơ gọi vốn.”

Phương đứng bên cạnh mấp máy môi, bàn tay cầm chiếc cặp da hơi siết lại, dường như muốn nói thêm điều gì đó mang tính ngoại giao để xoa dịu bầu không khí đang quá mức căng thẳng. Nhưng trước cái nhìn nghiêm nghị, sắc như dao cạo của bà Hà, cô đành nuốt những lời lẽ tiếp thị trở lại vào trong.

Bà Hà cầm chiếc bút máy, ký soạt một nét dứt khoát vào bản thỏa thuận dịch vụ đo kiểm, đóng dấu mộc đỏ của phòng thí nghiệm rồi đẩy một bản sang cho Nhiên:

“Mang mẫu sang phòng 204. Kỹ sư Tùng sẽ trực tiếp hướng dẫn và giám sát các em chạy máy. Cậu ấy là người vận hành thiết bị phân tích chính xác nhất ở đây, và cũng là người khó tính nhất. Cứ để máy móc trả lời.”

***

Phòng 204 nằm ở cuối dãy hành lang tầng hai, nồng đượm mùi hóa chất chuẩn, mùi đất ẩm bốc ra từ các buồng điều hòa nhiệt ẩm và tiếng máy nén khí chạy ngắt quãng. Ở trung tâm căn phòng rộng chừng sáu mươi mét vuông, chiếc máy đo cơ lý vạn năng Instron 5967 màu xanh lam thẫm sừng sững như một chiếc cổng sắt thu nhỏ, các cột dẫn hướng bằng thép mạ crom sáng bóng phản chiếu ánh đèn huỳnh quang lạnh lẽo. Bên cạnh nó là cụm máy tính điều khiển hiển thị giao diện phần mềm phân tích Bluehill với những trục tọa độ ứng suất – biến dạng đang ở trạng thái chờ.

Võ Thanh Tùng, một kỹ sư tầm ba mươi tuổi với dáng người gầy gò, mặc chiếc áo blouse trắng đã sờn mép cổ tay và mang cặp kính cận dày cộp, đang cẩn thận dùng một chiếc panme điện tử Mitutoyo đo lại bề dày của một thanh mẫu nhựa nào đó. Khi nghe tiếng bước chân của Nhiên và Phương bước vào, anh chỉ khẽ liếc mắt nhìn qua khóe kính, không hề dừng tay hay có lấy một cái gật đầu chào hỏi xã giao.

“Mang mẫu đến rồi à?” Giọng Tùng khàn khàn, cụt lủn và đều đều như một cái máy. “Hệ bã mía gia cường phụ gia chịu nhiệt chống thấm đúng không?”

“Chào anh Tùng,” Nhiên chủ động lên tiếng, cẩn thận mở nắp chiếc hộp nhựa, đặt nhẹ nhàng lên bàn thao tác bằng đá granite. “Em đã chuẩn bị sẵn ba mươi mẫu dập theo chuẩn ASTM D638 loại IV để đo ứng suất kéo uốn, và mười đĩa tròn đường kính năm mươi milimet để đo góc tiếp xúc bề mặt và độ ngậm nước sau hai mươi tư giờ ngâm trong nước nóng. Công thức này chúng em dùng bã mía xay mịn kích thước mắt lưới 80 mesh, phối trộn chất kết dính sinh học và phụ gia chống thấm chịu nhiệt gốc sáp khoáng biến tính.”

Tùng với tay lấy một thanh mẫu hình quả tạ, đưa lên ngang tầm mắt ngắm nghía kỹ lưỡng đường cắt ở phần eo thắt lại của mẫu. Anh dùng móng tay cái bấm mạnh vào bề mặt thanh vật liệu, rồi đưa lên mũi ngửi nhẹ. Một cái nhếch mép hoài nghi thoáng hiện trên gương mặt góc cạnh, gầy gò của anh.

“Lại thêm một đội startup xanh,” Tùng lẩm bẩm, giọng nói không giấu nổi sự mỉa mai cay nghiệt đã tích tụ qua nhiều năm tháng làm việc với các dự án thương mại hóa. “Dạo này tuần nào tôi cũng phải tiếp hai ba nhóm như các cô. Nhóm nào bước chân vào cái phòng này cũng mở miệng ra là bảo vệ môi trường, giải cứu đại dương, kiến tạo tương lai xanh. Nhưng đến khi kẹp mẫu lên ngàm kéo thì đứt gãy tanh bành ở mức ba Megapascal, mẫu mủn ra như bánh quy ngâm nước. Đến lúc số liệu xấu quá, không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật tối thiểu thì lại xun xoe nài nỉ tôi 'chỉnh' lại đường cong đồ thị một chút, 'lược bỏ' bớt mấy điểm gãy sớm để kịp nộp hồ sơ xin tài trợ của mấy quỹ ngoại. Tôi nói thẳng trước cho vuông, ở cái phòng 204 này, tôi chỉ tin vào cảm biến lực load-cell và định luật Hooke, không tin vào mấy bài thuyết trình trình chiếu bóng bẩy đâu.”

Phương nghe những lời móc mỉa ấy thì sắc mặt lập tức đổi khác. Đôi mày cô chau lại, toan bước tới một bước để tranh biện về tính chuyên nghiệp và danh dự của dự án, nhưng Nhiên đã nhanh chóng đưa cánh tay ra chặn ngang trước người bạn mình. Cô nhìn thẳng vào Tùng, mỉm cười với sự điềm tĩnh tuyệt đối của một người hiểu rõ giá trị của công việc mình làm:

“Nếu vật liệu gãy ở ba Megapascal thì anh cứ xuất phiếu ghi đúng ba Megapascal. Chúng em mang mẫu đến đây để tìm giới hạn phá hủy thực tế của vật liệu, tìm lỗi sai của công thức để sửa, không phải đến để xin điểm làm đẹp học bạ.”

Tùng ngước lên nhìn Nhiên qua tròng kính cận dày cộp, dường như có một thoáng ngạc nhiên trước thái độ không hề phòng thủ hay biện minh của cô gái trẻ. Anh không nói thêm lời nào, với tay lấy một cuốn sổ tay bìa da màu đen đã cũ kỹ, sờn rách ở các góc gáy đặt bên cạnh bàn phím máy tính. Đó là cuốn sổ ghi chép cá nhân với những dòng kẻ ô li thẳng tắp, nơi anh tự tay ghi chép lại mọi thông số thô bằng bút mực kim – một thói quen lưu trữ cơ học độc lập hoàn toàn với các tệp dữ liệu số hóa trên máy tính.

“Được, kẹp mẫu số một lên ngàm.” Tùng ra lệnh ngắn gọn, giọng bớt đi vài phần gay gắt.

Nhiên bước tới chiếc máy Instron, đôi bàn tay thoăn thoắt và thuần thục xoay van khí nén để mở ngàm kẹp bọc thép carbon, đặt thanh mẫu quả tạ vào đúng rãnh dẫn hướng, căn chỉnh mẫu thẳng tắp theo phương thẳng đứng tuyệt đối để tránh lực cắt ngang, rồi nhấn bàn đạp chân để ngàm kẹp đóng chặt lại.

Tùng click chuột trên màn hình máy tính, thiết lập tốc độ dịch chuyển của ngàm kéo ở mức năm milimet một phút.

“Bắt đầu.”

Một tiếng rít cơ khí rất nhỏ vang lên khi trục vít me bi của máy đo bắt đầu chuyển động kéo cụm đầu đo tải trọng dịch chuyển lên trên.

Trên màn hình máy tính, đường cong màu đỏ biểu diễn mối quan hệ giữa lực kéo và độ giãn dài bắt đầu dâng lên từ gốc tọa độ. Căn phòng lab bỗng chốc rơi vào sự im lặng căng thẳng, chỉ còn tiếng quạt tản nhiệt của cây máy tính và tiếng thở khẽ của ba con người.

Nhiên nín thở, hai bàn tay cô vô thức siết chặt lấy mép bàn thao tác bằng đá lạnh ngắt. Cô biết rõ mẻ mẫu này mang theo bao nhiêu kỳ vọng, bao nhiêu mồ hôi và cả những đêm mất ngủ bên cỗ máy ép cà tàng ở Tân Kiên. Đường cong ứng suất leo dốc rất nhanh, vượt qua ngưỡng 5 MPa, 10 MPa, 15 MPa... Độ nghiêng của đường thẳng cho thấy mô-đun đàn hồi của hệ vật liệu đang duy trì rất tốt, các liên kết giữa xơ sợi cellulose và chất kết dính sinh học đang gồng mình chịu tải.

Đường cong vượt qua mốc 18 MPa, bắt đầu uốn cong nhẹ ở đỉnh dẻo rồi đạt mức 18,4 Megapascal.

*Tách!*

Một tiếng gãy giòn giã, dứt khoát vang lên giữa hai ngàm kẹp thép. Thanh mẫu đứt đôi ở chính giữa phần thắt eo, mặt cắt phẳng phiu, không hề có hiện tượng tách lớp hay tưa sợi lởm chởm.

Tùng nhìn chằm chằm vào màn hình, hàng chân mày rậm khẽ giật giật. Ngón tay anh thoăn thoắt gõ phím lưu lại đường cong biến dạng, sau đó anh cúi đầu, dùng cây bút mực kim nắn nót ghi từng chữ số vào cuốn sổ bìa đen của mình:

“Độ bền kéo đứt 18,4 MPa. Mô-đun đàn hồi 1,2 GPa. Độ giãn dài khi đứt 2,1%,” Tùng lẩm bẩm, giọng nói không còn vẻ mỉa mai mà mang một chút ngỡ ngàng của dân làm nghề. “Khá hơn nhiều so với đám mẫu bã mía ép thông thường trên thị trường. Cơ tính này chịu va đập và tải trọng tĩnh tốt hơn hẳn các dòng cốc giấy tráng màng PE thông dụng hiện nay.”

Phương đứng bên cạnh thở hắt ra một hơi dài nhẹ nhõm, đôi vai cô thả lỏng, ánh mắt ánh lên vẻ đắc thắng không giấu giếm: “Tôi đã nói rồi mà, công thức này Nhiên đã thức trắng mấy đêm liền ở xưởng để tối ưu tỷ lệ phối trộn xơ mịn đấy.”

“Đừng có vội mừng sớm,” Tùng lạnh lùng cắt ngang sự hưng phấn của Phương, xoay chiếc ghế xoay sang khu vực đặt thiết bị đo góc tiếp xúc bề mặt và tủ sấy kiểm tra độ ngậm nước. “Độ bền cơ học kéo uốn chỉ là một nửa bài toán vật liệu thôi. Các cô làm bao bì định hình để đựng thức ăn nhanh, chứa nước nóng, canh súp nhiều dầu mỡ, thì khả năng kháng nước và ổn định nhiệt mới là bài toán sinh tử quyết định sản phẩm có dùng được hay không.”

Ba tiếng đồng hồ tiếp theo diễn ra trong một chuỗi các thao tác lặp đi lặp lại chuẩn xác đến mức tàn nhẫn. Tùng tiến hành đo góc tiếp xúc của giọt nước cất trên bề mặt đĩa mẫu bằng thiết bị phân tích hình dạng giọt goniometer. Góc tiếp xúc đạt gần chín mươi lăm độ – chứng tỏ bề mặt vật liệu có tính kỵ nước rất rõ rệt. Tiếp đó, anh đặt các đĩa mẫu vào cốc thủy tinh chứa nước cất duy trì liên tục ở nhiệt độ tám mươi độ C trong bể ổn nhiệt, ngâm suốt hai mươi tư giờ mô phỏng điều kiện tiếp xúc nhiệt ngặt nghèo.

Khi các đĩa mẫu được vớt ra, thấm khô bề mặt bằng giấy lọc tiêu chuẩn và đưa lên cân phân tích điện tử bốn số lẻ Mettler Toledo, kết quả khiến Phương không kìm được một tiếng reo khẽ: Độ trương nở thể tích dưới 4%, độ tăng khối lượng do ngậm nước chỉ ở mức 3,2%. Bề mặt mẫu đĩa vẫn giữ nguyên độ đanh cứng, mép đĩa sắc nét, hoàn toàn không hề có hiện tượng bị bở rã, nhớt dính hay nhũn nát như mẻ khay ép hỏng mà Nhiên và Minh từng phải cắn răng vứt bỏ ở xưởng Tân Kiên đêm hôm trước.

Phương nhanh chóng rút chiếc điện thoại thông minh ra, bấm chụp lại toàn bộ bảng số liệu cơ lý hiển thị trên màn hình: “Tuyệt vời ngoài mong đợi! Độ bền cơ học vượt trội, chịu nhiệt đến chín mươi độ C, chống thấm hoàn hảo trong nước nóng. Bảng kết quả này đủ sức đập tan mọi nghi ngờ của ban thẩm định Quỹ Tầm Việt và chuỗi cà phê Nắng Sớm rồi Nhiên ơi! Chúng ta thắng mẻ này rồi!”

Trái ngược với sự phấn khích tột cùng của Phương, Nhiên vẫn đứng lặng im bên cạnh bàn làm việc. Ánh mắt cô không nhìn vào bảng số liệu cơ tính đang sáng rực trên màn hình máy tính, mà dán chặt vào góc phòng lab – nơi đặt hệ thống buồng ủ đất mô phỏng phân hủy sinh học hiếu khí với hàng chục bình thủy tinh nối với các ống dẫn khí Teflon phức tạp.

“Anh Tùng,” Nhiên lên tiếng, giọng cô chùng xuống, mang một vẻ âu lo khó tả. “Hệ thống buồng ủ gia tốc ba mươi ngày đo lượng khí CO2 thoát ra từ hô hấp của vi sinh vật đất... đối với mẻ mẫu đối chứng sử dụng cùng hệ phụ gia chịu nhiệt kỵ nước mà chúng em gửi sang tuần trước... đã có kết quả ngoại suy đường cong phân hủy chưa anh?”

Tùng đang cầm chiếc kẹp gắp mẫu bỗng dừng khựng lại. Anh đặt chiếc kẹp kim loại xuống khay inox phát ra một tiếng *leng keng* khô khốc. Từ từ xoay người lại, anh ngước mắt nhìn Nhiên qua tròng kính cận. Nét mỉa mai ban đầu đã biến mất hoàn toàn, thay vào đó là một ánh nhìn phức tạp – vừa có sự tiếc nuối của một người nhìn thấy một mẫu vật liệu đẹp, vừa có sự lạnh lùng, tàn nhẫn của một nhà thực nghiệm chỉ biết tôn trọng sự thật khách quan.

“Cô là dân được đào tạo bài bản về polyme sinh học, cô thừa hiểu quy luật bù trừ của cấu trúc phân tử mà, đúng không?” Tùng kéo hộc tủ kim loại dưới bàn làm việc, lấy ra một tập hồ sơ in biểu đồ dạng cột và đường cong tích lũy khí, rồi đặt mạnh xuống mặt bàn trước mặt Nhiên. “Tự xem đi.”

Nhiên bước tới, run run cầm tập tài liệu lên. Phương cũng tò mò ghé đầu nhìn vào trang giấy in chằng chịt các đồ thị tọa độ.

Trên trang giấy trắng, đường cong biểu diễn tỷ lệ khoáng hóa carbon – chỉ số phản ánh tốc độ các vi sinh vật đất tấn công, phân cắt chuỗi phân tử và chuyển hóa carbon hữu cơ trong bã mía thành khí carbon dioxide – sau mười ngày đầu tiên tăng vọt rất nhanh theo phương thẳng đứng. Nhưng ngay sau cột mốc mười lăm ngày, đường cong bất ngờ bẻ gãy, chững lại một cách đột ngột và bắt đầu đi ngang ở mức chưa đầy hai mươi phần trăm. Một đường tiệm cận phẳng lì, kéo dài một cách vô vọng suốt những ngày ủ tiếp theo.

“Chuyện này... đồ thị này nghĩa là sao hả anh?” Phương chớp mắt liên tục, ngón tay chỉ vào đường biểu diễn đang nằm bẹp dí sát trục hoành. “Không phải bã mía là xenluloza nguyên chất, là chất hữu cơ tự nhiên một trăm phần trăm sao? Đáng lẽ theo lý thuyết, nó phải phân hủy thành mùn đất đen trong vòng hai đến ba tháng chứ?”

“Bã mía nguyên bản, không qua xử lý hóa tính, thì phân hủy cực kỳ nhanh. Thậm chí các cô vứt ra vườn ẩm, chỉ sau sáu mươi ngày là nấm mốc và vi khuẩn đã ăn rã mục thành đất vụn,” Tùng khoanh hai tay trước ngực, tựa lưng vào mép bàn thí nghiệm, giọng nói đều đều nhưng từng từ thốt ra nặng như chì. “Nhưng để giải quyết bài toán chống thấm nước nóng, chống dầu mỡ và chịu được nhiệt độ chín mươi độ C mà không bị mềm nhũn hay biến dạng khi bưng bê đồ ăn, các cô đã làm gì trong công thức ép? Các cô đã đưa vào đó một tỷ lệ phụ gia chịu nhiệt biến tính gốc sáp kỵ nước cao quyển. Chính loại phụ gia này, dưới tác động của nhiệt độ một trăm sáu mươi độ và áp lực ép thủy lực hai trăm bar, đã nóng chảy, len lỏi vào từng kẽ hở giữa các bó sợi, tạo ra một mạng lưới liên kết ngang bao bọc kín mít từng sợi cellulose đơn lẻ. Nó biến bề mặt từng xơ sợi thành một lớp màng giáp bảo vệ siêu bền.”

Tùng cầm cây bút bi, gõ mạnh ngòi bút vào công thức toán học ngoại suy chu trình bán rã ở chân trang giấy:

“Lớp màng sáp kỵ nước này ngăn nước thấm vào bên trong cấu trúc xơ sợi. Nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với việc nó ngăn chặn hoàn toàn độ ẩm và các enzyme cellulase của nấm, vi khuẩn đất tiếp cận để thủy phân các liên kết beta-glucan tự nhiên. Vi sinh vật đất không thể 'chạm' vào nguồn thức ăn bị bọc kín đó. Chúng hoàn toàn bất lực. Hãy nhìn vào tốc độ thoát khí CO2 thực tế từ buồng ủ này đi: để màng sáp đó bị oxy hóa chậm chạp và vi sinh vật có thể ăn hết chín mươi phần trăm lượng carbon trong mẫu vật liệu này ở điều kiện chôn lấp đất tự nhiên ngoài môi trường, nó sẽ không bao giờ mất 90 ngày như con số các cô đang mơ mộng trên giấy tờ đâu.”

Tùng ngừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào khuôn mặt đang dần mất đi huyết sắc của Phương, rồi gằn từng chữ:

“Nó cần ít nhất hai trăm bảy mươi ngày. Thậm chí nếu gặp mùa khô, độ ẩm đất thấp hoặc chôn lấp ở tầng đất sâu thiếu khí, thời gian phân hủy có thể kéo dài tới hơn ba trăm ngày. Tức là gấp đúng ba lần con số chín mươi ngày mà các cô in đỏ chót trên hồ sơ gọi vốn.”

Căn phòng 204 bỗng chốc rơi vào một khoảng không im lặng đến rợn người. Tiếng vo ve của quạt tản nhiệt buồng ủ vi sinh bỗng trở nên chói tai một cách kỳ lạ.

Hai trăm bảy mươi ngày.

Gần chín tháng trời nằm trơ trơ dưới lòng đất.

Tai Nhiên như có tiếng ve kêu râm ran. Từng con số, từng đường cong trên trang giấy A4 nhảy múa trước mắt cô như những lời phán xét cay đắng. Đó là bản án nghiệt ngã của quy luật bảo toàn trong khoa học vật liệu: vũ trụ không bao giờ cho không ai bất cứ thứ gì. Muốn sản phẩm bền chắc hơn, chịu được nước sôi và dầu mỡ nóng, không bị bục đáy khi khách hàng bưng một tô súp nóng hổi, thì cái giá phải trả chính là thời gian phân hủy sinh học bị kéo dài lê thê. Một sản phẩm mang danh là "thân thiện môi trường", tuyên bố "tự phân hủy hoàn toàn trong 90 ngày" trên bao bì, nhưng thực tế lại cần tới chín tháng mới có thể rã mục dưới lòng đất... nếu mang ra thị trường, điều đó có khác gì một trò lừa dối tinh vi núp bóng đạo đức xanh?

“Có... có sự nhầm lẫn hay sai sót nào trong quá trình hiệu chuẩn cảm biến không anh Tùng?” Phương lắp bắp, giọng cô lạc đi, khuôn mặt trang điểm kỹ càng bỗng chốc tái nhợt dưới ánh đèn huỳnh quang. “Có thể là do chủng vi sinh trong buồng ủ lần này chưa được kích hoạt tối đa hoạt tính enzyme? Hay là do loại đất lấy vào thí nghiệm có độ pH chưa phù hợp? Chúng ta có thể thay mẻ đất khác, chạy lặp lại một lần nữa được không?”

“Mẫu đất này được lấy trực tiếp từ tầng mặt của vườn hữu cơ thực nghiệm theo đúng quy chuẩn nghiêm ngặt của tiêu chuẩn ISO 17556, độ ẩm luôn được kiểm soát tự động ở mức năm mươi lăm phần trăm, nhiệt độ buồng ủ duy trì ổn định ở ba mươi độ C – điều kiện này lý tưởng hơn ngoài các bãi rác chôn lấp thực tế ngoài đời thực gấp mười lần,” Tùng lạnh lùng đáp trả, không để lại cho Phương một kẽ hở nào để bấu víu. Anh rút cây bút mực kim gõ cồm cộp lên cuốn sổ tay bìa da đen của mình. “Tôi đã chạy lặp lại ba lần trên ba buồng ủ độc lập song song. Độ lệch chuẩn giữa ba buồng chưa tới hai phần trăm. Số liệu thực nghiệm trong cuốn sổ này không biết nói dối và không biết nghe lời ai cả. Vật liệu của các cô chịu lực rất tốt, kháng nước rất cừ, nhưng tuyên bố 'phân hủy sinh học tối ưu trong 90 ngày' là một tuyên bố hoàn toàn sai sự thật.”

Phương cắn chặt môi dưới đến mức bật máu, hai mắt dán chặt vào tập hồ sơ dự án ép kim sang trọng trên tay, các khớp ngón tay cô trắng bệch vì siết quá mạnh.

***

Không khí ngột ngạt và căng thẳng như dây đàn theo chân hai người ra tận hành lang lát gạch bông cũ kỹ của tòa nhà thí nghiệm. Cái nắng gay gắt của buổi trưa Sài Gòn chiếu xiên qua những ô cửa sổ kính không rèm, hắt những vệt sáng chói chang, oi bức lên bức tường quét vôi vàng đã ố màu rêu mốc.

Vừa bước qua khỏi tầm mắt của phòng 204, Phương bất ngờ đưa tay kéo giật mạnh cánh tay Nhiên lại, kéo cô vào khoảng tối dưới chân cầu thang dẫn lên sân thượng – nơi vắng vẻ nhất của dãy nhà.

“Nhiên, cậu bình tĩnh nghe mình nói này,” Phương hạ thấp giọng xuống mức tối thiểu, nhưng từng từ ngữ tuôn ra đều mang theo sự cuống cuồng, gấp gáp và áp lực nghẹt thở đến cùng cực. “Tập tài liệu kết quả đo kiểm này... cái phần biểu đồ buồng ủ phân hủy hai trăm bảy mươi ngày chết tiệt đó... chúng ta tuyệt đối không được đưa vào bộ hồ sơ gửi cho Quỹ Tầm Việt và chuỗi cà phê Nắng Sớm!”

Nhiên đứng sững lại giữa khoảng tối chân cầu thang, trố mắt nhìn người bạn đồng hành của mình như thể vừa nghe thấy một điều quái gở nhất trần đời: “Cậu đang nói cái gì vậy Phương? Số liệu thực nghiệm rành rành ra đó, cô Hà đã yêu cầu ký biên bản thỏa thuận minh bạch, anh Tùng đã nhập dữ liệu thô vào hệ thống rồi!”

“Nhưng họ chưa xuất báo cáo chính thức có đóng dấu đỏ của trường lên cổng thông tin!” Phương nắm chặt lấy hai bả vai Nhiên, lắc mạnh, đôi mắt mở to vằn lên những tia máu lo âu. “Cậu có biết là hồ sơ thẩm định giai đoạn một của Vườn Ươm Hạt Mầm để nhận khoản tài trợ không hoàn lại hai trăm triệu đồng chỉ còn đúng ba ngày nữa là đóng cổng tiếp nhận không? Cậu có biết chuỗi cà phê Nắng Sớm đang ráo riết đòi bảng thông số kỹ thuật TDS chính thức để phê duyệt đơn hàng dùng thử mẻ đầu tiên năm mươi ngàn chiếc khay không? Tiêu chí tiên quyết mà bên tiếp thị của Nắng Sớm đưa ra là bao bì phải phân hủy nhanh trong chín mươi ngày để đồng bộ với chiến dịch truyền thông 'Mùa hè không rác thải' mà họ đã chi hàng trăm triệu chạy quảng cáo khắp các biển bảng ngoài trời! Nếu bây giờ cậu chìa ra con số hai trăm bảy mươi ngày, họ sẽ gạch tên Mộc Nhiên ngay từ vòng gửi xe!”

“Nhưng đó là sự thật kỹ thuật của hệ vật liệu hiện tại, Phương à!” Nhiên giật mạnh tay mình ra khỏi cái nắm chặt của Phương, lồng ngực cô phập phồng dữ dội, giọng cô run lên vì xúc động và bức bối. “Chúng ta dùng phụ gia chịu nhiệt đó thì lớp màng kỵ nước phải mất chừng đó thời gian mới bị oxy hóa để vi sinh vật xâm nhập được! Chúng ta không thể mở miệng tuyên bố chín mươi ngày khi thực tế nó cần tới chín tháng trời ròng rã!”

“Ai thèm quan tâm đến chín tháng hay chín mươi ngày chứ?” Phương mất bình tĩnh gắt lên thành tiếng, ánh mắt cô lấp loáng vẻ hoảng loạn tột cùng của một người đang nhìn thấy bờ vực phá sản cận kề. “Người tiêu dùng uống xong một ly trà sữa, ăn xong một phần cơm, họ vứt chiếc khay vào thùng rác công cộng. Cậu nghĩ có ai rảnh rỗi đến mức sau ba tháng mò ra bãi rác Đa Phước, đào bới từng đống rác lên để xem chiếc khay bã mía của Mộc Nhiên đã tan thành mùn đất hay chưa không? Hai trăm bảy mươi ngày thì đã làm sao? Hết chín tháng nó vẫn phân hủy hoàn toàn thành chất hữu cơ tự nhiên, vẫn tốt hơn gấp ngàn lần những chiếc hộp xốp, chiếc khay nhựa dầu mỏ nằm trơ trơ suốt bốn trăm năm ngoài tự nhiên! Cứ lấy số liệu độ bền kéo 18,4 MPa và khả năng chịu nhiệt chín mươi độ C đưa lên trang đầu của bảng thông số. Còn phần thời gian phân hủy, chúng ta chỉ cần dùng thuật ngữ khéo léo một chút: ghi là 'phân hủy sinh học trong điều kiện tối ưu', hoặc tạm thời giữ kín số liệu buồng ủ cho đến khi chúng ta nhận được khoản giải ngân hai trăm triệu và ký xong hợp đồng cung ứng nguyên tắc!”

“Không được! Tuyệt đối không bao giờ!” Nhiên quát khẽ, hai bàn tay cô siết chặt thành nắm đấm. “Nếu làm như thế, chúng ta khác gì GreenMax? Khác gì cái gã học trò cũ mà cô Hà vừa khinh bỉ nhắc tới lúc nãy? Cậu muốn biến Mộc Nhiên thành một công ty lừa dối, tẩy xanh để đổi lấy hai trăm triệu tiền tài trợ sao?”

“Tôi đang tìm cách cứu cái công ty này đấy, đồ ngốc ạ!” Phương gằn từng tiếng qua kẽ răng, bước dồn Nhiên lùi sát vào bức tường gạch bám bụi, ngón tay run rẩy chỉ thẳng ra hướng cổng trường Đại học Nam Thành. “Cậu mở mắt ra mà nhìn vào thực tế đi! Cậu có biết số dư trong tài khoản thanh toán của Mộc Nhiên sáng nay chỉ còn đúng bao nhiêu không? Còn đúng tám mươi hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng! Trong khi đó, bảng dự toán đại tu cụm xilanh thủy lực bị rò dầu và tiền đặt cọc mua lô phụ gia hữu cơ mới từ Thái Lan mà Minh gửi tối qua ngốn hết bốn mươi lăm triệu sáu trăm nghìn đồng! Nếu không có hai trăm triệu tài trợ từ Vườn Ươm Hạt Mầm rót về vào cuối tháng này, nếu không có khoản tiền tạm ứng ba mươi phần trăm từ hợp đồng của Nắng Sớm, tháng sau cậu lấy tiền đâu ra để trả tiền thuê xưởng mười lăm triệu cho ông Bảy? Lấy tiền đâu đóng tiền điện ba pha phục vụ máy ép? Hay là cậu định để cỗ máy ba tấn nằm rỉ sét ở xưởng Tân Kiên, rồi cả ba đứa dắt tay nhau ra tòa tuyên bố phá sản?”

Từng câu, từng chữ, từng con số tài chính trần trụi mà Phương ném ra như những tảng đá ngàn cân đè sập xuống vai Nhiên.

Những con số ấy không hề biết nói đùa: tám mươi hai triệu số dư khả dụng trong tài khoản, khoản thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng mảnh đất ba trăm bốn mươi mét vuông ở Long An do cha mẹ cho mà cô đã âm thầm đem vay ngân hàng bốn trăm triệu đồng với lãi suất thả nổi mười ba phần trăm mỗi năm. Áp lực tiền lãi và gốc mười lăm triệu đồng đều đặn phải trả vào ngày mùng mười hàng tháng – khoản nợ mà cô vẫn đang giấu kín, không dám hé răng nửa lời với ông Hòa và bé Uyên.

Nếu Mộc Nhiên sụp đổ vào lúc này, nếu xưởng phải đóng cửa, mọi thứ sẽ tan thành tro bụi. Cô sẽ biến thành một đứa con bất hiếu, một kẻ thất bại mang gánh nặng nợ nần về đày đọa tuổi già của cha mẹ.

Sự cám dỗ buông xuôi, cám dỗ gật đầu đồng ý với Phương, chỉ cần một cái gật đầu để lấp liếm dữ liệu, chỉ cần một dòng chữ mập mờ trên bản thông số kỹ thuật là cánh cửa vườn ươm sẽ mở toang, nguồn tiền tài trợ hai trăm triệu sẽ chảy vào tài khoản, hợp đồng lớn sẽ được ký kết, và cỗ máy dập ở Tân Kiên sẽ tiếp tục đỏ lửa... Cám dỗ ấy lớn đến mức khiến hai đầu gối Nhiên run lên bần bật.

Nhưng rồi, giữa cơn quay cuồng của nỗi sợ hãi, lời cảnh báo trầm đục của anh Long trong buổi gặp ở quán cà phê hôm trước lại dội về trong tâm trí cô: *“Quy trình xấu sẽ nuốt chửng mẫu đẹp. Đừng bao giờ bán cho khách hàng một ảo ảnh.”* Và cả ánh mắt khinh miệt đến tận cùng của Tùng lúc nãy: *“Nhóm nào vào đây cũng mở miệng ra là bảo vệ môi trường, nhưng đến lúc số liệu xấu quá thì lại nài nỉ tôi chỉnh sửa...”*

Nếu cô lùi bước ngày hôm nay, nếu cô thỏa hiệp với sự dối trá ngay từ những bước đi chập chững đầu tiên, thì cái tên "Mộc Nhiên" mà cô hằng ấp ủ còn có ý nghĩa gì nữa? Chữ "Nhiên" – tự nhiên, an nhiên và chân thật – sẽ biến thành một trò hề trơ trẽn. Đạo đức nghề nghiệp của một người kỹ sư vật liệu, niềm kiêu hãnh khoa học mà cô gìn giữ suốt bao năm đại học, và cả lý do cô dũng cảm từ bỏ mức lương nghìn đô ở tập đoàn dầu khí để dấn thân vào bụi bặm sẽ hoàn toàn bị vấy bẩn.

Nhiên hít một hơi thật sâu. Không khí oi nồng, khen khét mùi bụi trưa hè tràn vào lồng ngực, nóng rát nhưng khiến đầu óc cô bừng tỉnh một cách kỳ lạ. Cô đứng thẳng lưng dậy, chậm rãi đẩy nhẹ hai tay Phương ra khỏi người mình. Ánh mắt cô nhìn thẳng vào đôi mắt đang ngập tràn sự hoảng loạn của Phương, giọng nói trầm xuống, rành rọt từng chữ:

“Mình là giám đốc điều hành của Mộc Nhiên, và mình chịu trách nhiệm cao nhất trước pháp luật và khách hàng về mặt kỹ thuật của sản phẩm. Mình sẽ không bao giờ đồng ý che giấu số liệu này. Toàn bộ bảng dữ liệu kỹ thuật TDS chính thức gửi cho chuỗi Nắng Sớm và Hội đồng thẩm định Vườn Ươm Hạt Mầm sẽ được ghi rõ ràng, minh bạch: Thời gian phân hủy sinh học trong đất tự nhiên của công thức kháng nước, chịu nhiệt hiện tại là hai trăm bảy mươi ngày. Độ bền kéo đứt 18,4 MPa. Khả năng kháng nước nóng chín mươi độ C.”

“Nhiên! Cậu bị điên thật rồi!” Phương gần như thét lên trong tuyệt vọng, hai bàn tay ôm lấy trán. “Họ sẽ đánh trượt chúng ta ngay từ vòng hồ sơ! Cậu đang tự tay giết chết công sức của cả ba đứa đấy!”

“Nếu họ đánh trượt vì chúng ta nói sự thật, mình chấp nhận,” Nhiên kiên định đáp, ánh mắt không hề chớp. “Nhưng chúng ta sẽ không gửi một bảng số liệu chết. Chúng ta sẽ gửi kèm một giải pháp kỹ thuật khả thi: phân tách dải sản phẩm. Đối với dòng bao bì đựng đồ uống lạnh, đồ khô không cần khả năng chịu nhiệt cao, chúng ta sử dụng công thức phối trộn mộc, không dùng phụ gia sáp kỵ nước, đảm bảo phân hủy hoàn toàn trong chín mươi ngày theo đúng cam kết ban đầu. Còn đối với dòng sản phẩm chịu nhiệt, đựng thức ăn nóng nhiều dầu mỡ, thời gian phân hủy là hai trăm bảy mươi ngày. Khách hàng và đối tác có quyền được biết sự thật để đưa ra lựa chọn phù hợp với mục đích sử dụng của họ. Mình thà mất đi cơ hội nhận hai trăm triệu tài trợ, thà phải chạy vạy vay mượn thêm khắp nơi để gồng gánh tiền xưởng, chứ dứt khoát không bao giờ đem một sự dối trá đi bán cho người tiêu dùng.”

Phương sững sờ nhìn Nhiên. Ánh mắt cô chuyển từ bàng hoàng, kinh ngạc sang bất lực và cay đắng tột cùng. Cô lùi lại hai bước, lắc đầu quầy quậy như nhìn một kẻ không thể cứu vãn:

“Cậu quá ngây thơ, Nhiên à. Cậu nghĩ cuộc đời ngoài kia là một cái phòng thí nghiệm màu hồng chắc? Thương trường là chiến trường, không có chỗ cho những kẻ đạo đức giả tử tế nửa vời. Sự cố chấp mù quáng của cậu sẽ bóp chết Mộc Nhiên trước khi cậu kịp tối ưu xong cái công thức chết tiệt của cậu đấy!”

Nói dứt lời, Phương quay ngoắt người bước đi. Tiếng gót giày cao gót của cô nện côm cốp, dồn dập và giận dữ trên nền gạch bông cũ kỹ, vang vọng khắp hành lang vắng lặng rồi khuất dần sau khúc quanh cầu thang.

Nhiên đứng chôn chân tại chỗ trong khoảng tối mờ của chân cầu thang. Bàn tay cô siết chặt lấy tập hồ sơ kỹ thuật đến mức mép giấy nhăn nhúm lại. Tim cô thắt lại từng cơn buốt nhức. Áp lực cơm áo gạo tiền, áp lực của món nợ ngân hàng đang đè nặng lên từng hơi thở. Một nỗi cô đơn khủng khiếp trào dâng trong lòng. Nhưng sâu thẳm dưới lớp tro tàn của sự lo âu, một cảm giác thanh thản, nhẹ nhõm kỳ lạ bắt đầu lan tỏa. Cô đã không gục ngã trước sự cám dỗ. Cô đã bảo vệ được ranh giới cuối cùng của một người làm khoa học chân chính.

Sau vài phút trấn tĩnh lại nhịp thở, Nhiên quay trở lại phòng 204 để ký biên bản bàn giao mẫu và hoàn tất thủ tục thanh toán chi phí đo kiểm cho phòng thí nghiệm. Năm triệu hai trăm nghìn đồng tiền mặt – lại một khoản tiền nữa rời khỏi chiếc ví đang cạn kiệt từng ngày của cô.

Căn phòng lab lúc này đã vắng tanh. Giờ nghỉ trưa đã đến, các kỹ thuật viên khác đều đã đi ăn cơm. Chỉ còn lại một mình Võ Thanh Tùng đang ngồi bên chiếc bàn thao tác dài bằng đá. Anh đang tỉ mỉ dùng một chiếc cọ lông mềm quét sạch từng mẩu vụn bã mía màu nâu nhạt còn sót lại trên khe ngàm kẹp thép của chiếc máy Instron, sau đó dùng khăn tẩm cồn lau cẩn thận từng chi tiết máy.

Nhiên bước lại gần chiếc bàn, cầm cây bút bi đặt cạnh cuốn sổ giao nhận, ký tên mình vào biên bản xác nhận kết quả đo thô. Ngay trên dòng ghi chú ở cuối trang, con số *“Thời gian phân hủy sinh học dự kiến trong đất (ISO 17556): 270 ngày”* được khoanh tròn bằng mực đỏ.

Khi cô vừa đặt chiếc bút xuống mặt bàn, Tùng bỗng dừng tay lau máy. Anh ngẩng đầu lên nhìn cô qua cặp kính cận dày cộp.

“Cô vừa cãi nhau một trận long trời lở đất với cô phụ trách kinh doanh ngoài hành lang đúng không?” Giọng Tùng vẫn khô khốc, nhưng cái vẻ châm chọc, cay nghiệt ban sáng đã hoàn toàn biến mất.

Nhiên hơi giật mình, gò má cô khẽ ửng đỏ, nở một nụ cười gượng gạo: “Dạ... anh nghe thấy hết rồi ạ?”

“Hành lang của cái tòa nhà xây từ thời Pháp này cách âm cực kỳ tệ,” Tùng nói, đôi mắt sau tròng kính dán chặt vào chữ ký nắn nót của Nhiên trên tờ biên bản bàn giao số liệu. “Tôi đã nghĩ là cô sẽ đồng ý với cô ta. Tôi nghĩ cô sẽ quay lại đây, dùng dằng năn nỉ tôi xóa cái đồ thị buồng ủ CO2 ra khỏi báo cáo chính thức, hoặc xuất cho cô một cái phiếu chỉ ghi số liệu cơ lý mười tám Megapascal để cô đem đi lừa mấy quỹ đầu tư. Chín mươi chín phần trăm những đứa làm startup xanh từng bước chân vào cái phòng này đều chọn cách đó.”

Nhiên khẽ lắc đầu, ánh mắt cô dừng lại trên cuốn sổ tay bìa da đen đã sờn mép của Tùng:

“Nếu em làm như thế, thì những số liệu đo đạc tỉ mỉ, công tâm mà anh đã cặm cụi ghi chép từng con số vào cuốn sổ kia sẽ trở thành một trò đùa vô nghĩa sao anh? Vật liệu nó như thế nào thì bản chất nó là như thế ấy. Máy móc và cảm biến lực không biết nói dối, và em cũng không muốn bắt đầu sự nghiệp của mình bằng một sự dối trá.”

Tùng im lặng. Anh nhìn Nhiên hồi lâu bằng một ánh mắt hoàn toàn khác biệt. Không còn là cái nhìn soi mói, dè chừng của một kỹ sư phòng lab nhìn một kẻ đi buôn ý tưởng xanh, mà là ánh mắt của một người làm nghề nhìn thấy một đồng nghiệp thực thụ – một người có cùng một thứ đức tin sắt đá vào sự thật của khoa học.

Không nói một lời, Tùng cúi người xuống, kéo ngăn kéo bàn làm việc bằng gỗ kêu lên một tiếng *cọt kẹt* quen thuộc.

Anh cẩn thận rút từ trong ngăn kéo sâu ra một tập hồ sơ cá nhân được kẹp phẳng phiu trong bìa sơ mi nhựa trong suốt, cùng một cuốn sổ tay khổ A4 dày cộp, bìa bọc vải dù màu xanh rêu quân đội đã sờn rách bốn góc, mép giấy ngả màu ố vàng vì thời gian.

Anh đẩy cả hai thứ đó qua mặt bàn đá granite xám, dừng lại ngay trước tầm tay của Nhiên.

Nhiên ngơ ngác nhìn tập hồ sơ rồi ngước lên nhìn Tùng: “Anh Tùng... cái này là sao ạ?”

“Hợp đồng làm việc vị trí kỹ sư phân tích của tôi ở phòng lab trường này sẽ chính thức hết hạn vào cuối tháng này,” Tùng nói chậm rãi, ngón tay gầy gò của anh gõ nhẹ lên góc tập hồ sơ cá nhân.

Nhiên cúi xuống nhìn. Phía trên tập hồ sơ có dán một tấm ảnh thẻ bốn-sáu nghiêm nghị, bên dưới là dòng chữ in hoa nắn nót bằng mực đen: *ĐƠN XIN VIỆC – VỊ TRÍ: KỸ SƯ TRƯỞNG QUY TRÌNH VÀ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG*.

Trước sự ngỡ ngàng tột độ của Nhiên, Tùng đưa tay lật mở trang đầu tiên của cuốn sổ tay bìa vải dù màu xanh rêu.

Đập vào mắt Nhiên là hàng trăm trang viết tay chật kín những nét chữ nhỏ li ti nhưng vô cùng ngăn nắp, những sơ đồ phản ứng hóa học phối trộn phức tạp, các bảng tra cứu phản ứng liên kết ngang giữa xơ thực vật với các enzyme tự nhiên, và nhật ký theo dõi chi tiết chu trình phân hủy sinh học trong đất của hơn năm mươi loại phụ gia hữu cơ khác nhau – từ sáp carnauba, sáp đậu nành, đến các dẫn xuất của acid béo thực vật – do chính tay Tùng tự mày mò, pha chế và đo kiểm âm thầm suốt hơn ba năm qua.

“Tôi đã theo dõi và tối ưu các hệ enzyme xúc tác tự nhiên có thể bẻ gãy lớp màng kỵ nước này trong đúng chu trình tám mươi lăm đến chín mươi ngày mà không làm suy giảm độ bền cơ lý của xơ sợi,” Tùng ngước lên, đôi mắt sâu hoắm sau cặp kính cận lóe lên một tia sáng kiên định và rực lửa. “Cái xưởng cơ khí ba tấn của cô ở Tân Kiên... liệu có còn chỗ cho một thằng kỹ sư chỉ biết tin vào số liệu thực nghiệm và cả đời không biết nói lời nịnh nọt khách hàng không?”

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn