Ly Cà Phê Đầu TiênC.9 / 45
Chương 9

Khai sinh Bản Đỏ

Gió chiều Tây Nguyên thổi lồng lộng qua vách kho nông cụ cũ, nơi bốn con người ngồi quây quần quanh chiếc bàn ghép từ những tấm ván giàn phơi thừa.

Những thanh gỗ tạp cưa dở từ đợt đóng giàn phơi tuần trước vẫn còn vương mùi mùn cưa thông và tre lồ ô tươi, được Khôi dùng ba chiếc đinh mười đóng gá tạm vào hai khúc gỗ gốc cà phê mục để làm chân đỡ. Mặt bàn gồ ghề, không có khăn trải, chỉ có cuốn sổ tay bìa da nâu sẫm của Lâm vừa mở phẳng, một chiếc cân tiểu ly bỏ túi mạ crom đã xước dăm quanh viền, chiếc nhiệt kế đo ẩm mạ kẽm của anh Tư dính vài vệt nhựa vỏ khô, và cái túi zip đựng đúng hai trăm gram nhân xanh Robusta sẻ sơ chế Yellow Honey vừa mang về từ phòng thử nếm trên phố Phan Chu Trinh.

Nắng rớt nghiêng qua những khoảng vách nứa đục thông đón gió, rọi thành từng vệt vàng óng ả lên lớp da sạm nắng phong trần của Khôi, gò má sắc sảo của Bảo Ngọc, cặp kính cận viền titan của Lâm và đôi bàn tay cằn cỗi như rễ cây rừng của anh Tư. Bụi bặm li ti lơ lửng trong luồng sáng, khẽ lay động mỗi bận gió lùa qua kẽ liếp.

Lâm rút cây bút máy cài trên túi áo sơ mi, xoay nhẹ nắp kim loại sang một bên, đặt đầu ngòi thép lên dòng kẻ đầu tiên của trang giấy trắng tinh. Nét chữ mực xanh đậm dứt khoát hiện ra, tỏa một mùi cồn mực thoang thoảng:

*Bản Đỏ Coffee.*

Lâm dừng ngòi, ngẩng đầu lên, đưa mắt nhìn quanh bàn qua làn kính mỏng: "Chữ này tôi ghi ở phòng thử nếm của Ngọc lúc trưa. Bây giờ ngồi lại đầy đủ bốn người giữa cái kho này, tôi muốn chúng ta chính thức chốt lại một lần: Cái tên này có thật sự đại diện cho con đường chúng ta sắp đi hay không?"

Khôi nhìn hai chữ viết tay vuông vức trên trang giấy. Trong lồng ngực anh, một cảm giác bồi hồi dâng lên xen lẫn sức nặng vô hình của trách nhiệm. Anh đưa những ngón tay thô ráp, chai sần vì đất sỏi và dao quắm chạm nhẹ vào mép bàn gỗ.

"Tôi chọn Bản Đỏ không phải để nghe cho kêu," Khôi chậm rãi nói, giọng khàn đi vì nhiều ngày thiếu ngủ nhưng từng âm tiết đều chắc nịch như đóng cọc xuống nền bazan. "Đỏ là màu của đất bazan Cư M'Rao này. Ba mươi năm qua, đất này nuôi sống gia đình tôi, nuôi cả cái xứ này, nhưng cũng chính lớp đất đỏ ấy đã vùi dập không biết bao nhiêu mồ hôi của bà con khi giá cà phê rớt đáy. Đỏ còn là màu của quả cà phê chín mọng trên cành—thứ mà bao năm nay người ta lười hái lựa, cứ tuốt cả quả xanh quả lép đem bán xô cho thương lái ép giá. Còn 'Bản' là bản sắc, là bản lĩnh làm ăn sòng phẳng, minh bạch từ gốc rễ đến từng hạt cà phê đưa vào miệng người uống. Chúng ta không bán một thứ khẩu hiệu rẻ tiền để xin lòng thương hại. Chúng ta bán giá trị thật được sinh ra từ chính vùng đất đỏ này."

Anh Tư ngồi bên cạnh, hai bàn tay đan vào nhau đặt trên đầu gối chiếc quần tây cũ bạc phếch nhuốm màu đất đỏ. Người nông dân ngoài năm mươi tuổi ngửi mùi hương ngọt ngào như đường mía cháy còn vương lại trên vạt áo Khôi, khóe miệng giật giật. Ông gật đầu thật chậm, những nếp nhăn nơi khóe mắt giãn ra:

"Thằng Khôi nói trúng cái bụng tao. Người làm rẫy xứ Cư M'Rao này cực như trâu, nhưng bước ra chợ thì ai cũng cúi đầu trước cái cân của mấy ông đại lý. Cứ vào vụ là người ta cầm cân nảy mực, trừ đầu trừ đuôi, ép từng đồng một. Nếu tụi bây dám làm cho hạt cà phê đỏ trên cây có giá trị đúng với công sức người ta đổ mồ hôi hái lựa, tao theo. Cái tên 'Bản Đỏ' nghe nó mộc mạc mà có rễ, có đất, không lai căng chữ Tây chữ Tàu."

Bảo Ngọc khoanh tay trước ngực, ánh mắt cô dừng lại trên túi nhân xanh đặt giữa bàn. Từng hạt Robusta sẻ đều tăm tắp, rãnh thẳng, màu xanh ngọc bích ánh lam óng ánh dưới ánh chiều tà, lớp vỏ lụa màu hổ phách ôm khít lấy phôi hạt như một minh chứng cho kỹ thuật khống chế độ ẩm chuẩn xác.

"Tôi đồng ý với tên gọi này," Bảo Ngọc cất tiếng, giọng cô vẫn lạnh và dứt khoát như thường lệ, không hề vướng chút cảm xúc bộc phát. "Nhưng tôi nhắc lại: Bản Đỏ chỉ có thể tồn tại nếu nó gắn liền với sự minh bạch tuyệt đối về chất lượng. Nếu sau này chúng ta vì áp lực tiền bạc mà thỏa hiệp, đem quả xanh quả thối trộn vào rồi vẫn dán cái nhãn 'Bản Đỏ' lên, thì đó không phải là bản sắc, mà là một sự lừa đảo. Chừng nào cái tên này còn đại diện cho mẻ hạt 84.5 điểm sạch lỗi, chừng đó tôi còn đứng ở đây."

Lâm gõ nhẹ đầu cán bút xuống mặt bàn gỗ: "Nhất trí. Vậy từ giờ phút này, dự án của chúng ta chính thức mang tên Bản Đỏ Coffee. Và để một cái tên không chết yểu trên đống nợ nần, chúng ta phải phân định ranh giới quyền hạn ngay tại chiếc bàn này. Không có sự mập mờ nào ở đây cả. Ai làm sai ở khâu nào, người đó chịu trách nhiệm trước toàn bộ nhóm."

Lâm lật sang trang tiếp theo, vạch bốn cột dọc rõ ràng bằng mực xanh. Mỗi cột đều được kẻ bằng thước thẳng thớm, không một nét xiên lệch.

"Thứ nhất, Khôi," Lâm nhìn thẳng vào bạn mình. "Cậu là người khởi xướng, giữ vai trò Giám đốc điều hành kiêm phụ trách toàn bộ khâu Nông trại và Vùng trồng. Cậu toàn quyền quyết định về kỹ thuật canh tác, lịch thu hoạch, cải tạo đất và làm việc với nhân công ngoài rẫy. Đổi lại, cậu phải chịu trách nhiệm bằng tính mạng của dự án này về chất lượng quả tươi đưa vào trạm sơ chế. Không có quả chín đều trên chín mươi lăm phần trăm, không có chuyện sơ chế."

Khôi gật đầu, ánh mắt không hề chớp: "Tôi nhận."

"Thứ hai, Hứa Bảo Ngọc," Lâm quay sang cô gái đối diện. "Cô giữ vai trò Giám đốc Chất lượng và Phát triển Sản phẩm. Như đã thống nhất tại phòng lab lúc trưa, cô nắm giữ quyền phủ quyết tuyệt đối về mặt chất lượng. Bất kỳ lô hàng nào sau sơ chế không đạt ngưỡng thử nếm cảm quan do cô đặt ra, cô có quyền từ chối dán nhãn Bản Đỏ và giáng cấp nó xuống bán cà xô để thu hồi vốn lưu động. Khôi hay tôi đều không có quyền can thiệp. Bù lại, cô chịu trách nhiệm hoàn toàn về công thức sơ chế, quy chuẩn rang, bảo quản nhân xanh và toàn bộ trải nghiệm sản phẩm khi đối thoại với khách hàng."

Bảo Ngọc khẽ nhếch môi, ánh mắt ánh lên sự hài lòng hiếm thấy: "Rõ ràng, sòng phẳng. Tôi thích cách làm việc này."

"Thứ ba, anh Tư," Lâm hướng mắt về phía người nông dân kỳ cựu. "Anh là Cố vấn Canh tác thực địa và là tiếng nói của người lao động. Khôi có học thức kỹ sư, nhưng anh có mười lăm năm hiểu từng luồng gió, từng thớ đất bazan của Cư M'Rao. Mọi lịch trình hái trút hay hái lựa, mọi thay đổi giàn phơi đón gió hay che mưa rừng, Khôi đều phải tham vấn ý kiến thực tế của anh. Nếu Khôi đưa ra những giải pháp sách vở bất khả thi với sức người ngoài rẫy, anh có quyền tuýt còi cảnh báo."

Anh Tư cười khà một tiếng, vỗ bàn tay chai sần xuống mặt ván nghe một tiếng *bốp*: "Được! Tao không biết tính số trên máy vi tính như chú Lâm, nhưng nhìn lá cà phê úa hay ngửi mùi gió chướng biết chừng nào mưa dầm thì tao dám chắc tao không thua ai ở cái xã này. Thằng Khôi mà bậy bạ, tao gõ đầu nó trước."

"Và cuối cùng là tôi," Lâm đẩy gọng kính cận lên sát sống mũi, giọng anh trầm hẳn xuống, mang theo uy quyền lạnh lùng của những con số kế toán. "Tôi phụ trách Quản trị Tài chính, Dòng tiền và Ngân sách. Tôi có quyền kiểm soát từng đồng xu cắc bạc xuất ra khỏi tài khoản của Bản Đỏ. Bất kỳ khoản chi nào không nằm trong kế hoạch ngân sách được duyệt trước, tôi sẽ thẳng tay từ chối ký lệnh chi. Hai người làm kỹ thuật và sản phẩm đừng ghét tôi, bởi vì nếu không có kẻ canh cửa dòng tiền, cái dự án này sẽ chết sặc trước khi mẻ cà phê thứ hai kịp ráo nước."

Căn phòng kho lặng đi vài giây. Bốn con người, đại diện cho bốn mắt xích sống còn của một chuỗi giá trị: Đất đai thực địa, Kỹ thuật nông nghiệp, Chất lượng hương vị và Kỷ luật tài chính. Không ai nói thêm lời hoa mỹ nào, nhưng ánh mắt họ chạm nhau, tạo nên một sự gắn kết đanh thép hơn bất kỳ bản hợp đồng pháp lý bóng bẩy nào nơi thành thị.

Lâm mở chiếc laptop ThinkPad cũ kỹ đặt bên cạnh. Tiếng quạt tản nhiệt của máy rít lên nhè nhẹ giữa không gian yên tĩnh của chái kho. Màn hình hiện lên một bảng tính Excel dày đặc các cột số màu xanh đỏ, từng ô số đều được anh gán hàm liên kết chặt chẽ.

"Bây giờ, chúng ta nhìn thẳng vào thực tế trần trụi nhất," Lâm xoay màn hình máy tính về phía Khôi và Bảo Ngọc. "Sau khi chi trả đợt công hái thứ hai và vật tư cải tạo ba khung giàn phơi lưới cước hết năm trăm bốn mươi ngàn đồng, số dư tài khoản ngân hàng của Khôi hiện tại còn chính xác là 50.690.000 đồng. Đây là toàn bộ vốn lưu động còn lại của Bản Đỏ. Chúng ta không có nhà đầu tư thiên thần, không có hạn mức tín dụng ngân hàng, và gia đình Khôi thì đang cõng trên lưng khoản nợ 585 triệu đồng."

Bảo Ngọc nhìn vào con số hơn năm mươi triệu trên màn hình, lông mày khẽ nhíu lại. Là người từng làm việc trong các chuỗi cà phê lớn ở Sài Gòn, cô hiểu năm mươi triệu đồng thậm chí không đủ để mua một chiếc máy xay công nghiệp tử tế, chứ đừng nói đến việc vận hành cả một trạm sơ chế bán quy mô.

"Mẻ thử nghiệm số 02 của chúng ta vừa rồi đạt 84.5 điểm," Lâm tiếp tục gõ bàn phím, con trỏ nhảy sang dòng chi phí. "Ba trăm năm mươi ký quả tươi thu được đúng bảy mươi ký nhân xanh Yellow Honey. Giá thành sản xuất trực tiếp ra một ký nhân xanh này là 64.000 đồng. Nếu chúng ta bán sỉ được với giá 140.000 đến 160.000 đồng một ký cho các xưởng rang specialty nhỏ ở Sài Gòn, tổng doanh thu tối đa thu về chỉ dao động từ 9.800.000 đến 11.200.000 đồng. Trừ đi giá thành sản xuất, lợi nhuận gộp mẻ này chỉ vỏn vẹn khoảng năm triệu đồng."

"Năm triệu?" Anh Tư buột miệng, mắt mở to, chiếc tẩu thuốc rê kẹp giữa hai ngón tay run nhẹ. "Hái lựa cực khổ chín ngày chín đêm, phơi canh từng giờ, trở từng li từng tí, mà lời có năm triệu bạc thôi hả chú Lâm?"

"Đúng vậy, anh Tư," Lâm điềm tĩnh giải thích, giọng không hề có chút bối rối. "Vì quy mô của chúng ta quá nhỏ. Bảy mươi ký nhân xanh chỉ là giọt nước giữa sa mạc. Nhưng vấn đề sống còn không phải là năm triệu tiền lời đó. Vấn đề là mùa vụ chính sắp ập xuống vào mùng năm tháng sau. Đây là bảng dự báo dòng tiền trong ba mươi ngày tới."

Lâm chỉ ngón tay vào ô số màu đỏ đang nhấp nháy ở góc dưới bảng tính: "Hạn mức thua lỗ tối đa cho phép của chúng ta trong toàn bộ mùa vụ này là ba mươi lăm triệu đồng. Nếu chạm ngưỡng âm ba mươi lăm triệu tiền mặt mà không có dòng tiền bán hàng gối đầu chảy ngược lại, Bản Đỏ sẽ đứt thanh khoản ngay lập tức."

Khôi ghé sát mắt nhìn vào các đầu mục chi phí dự kiến: - Tiền cọc bao bì màng nhôm ba lớp có van một chiều (đơn hàng tối thiểu 1.000 túi): 8.500.000 đồng. - In ấn tem nhãn truy xuất nguồn gốc: 1.800.000 đồng. - Công thợ hái lựa quả chín đợt một vụ chính (dự kiến 1,5 tấn quả tươi): 6.000.000 đồng. - Thuê thêm lưới cước và khung tre mở rộng giàn phơi: 3.200.000 đồng. - Chi phí vận chuyển mẫu và gửi hàng mẫu xuống Sài Gòn: 2.500.000 đồng. - Quỹ dự phòng rủi ro thời tiết (bạt phủ khẩn cấp khi có áp thấp): 4.000.000 đồng.

"Các bạn thấy đấy," Lâm gõ ngón tay lên bàn phím côm cốp. "Chỉ riêng các khoản chi bắt buộc tối thiểu để đưa được lô hàng thương mại đầu tiên ra khỏi rẫy đã ngốn đứt hai mươi sáu triệu đồng. Đó là chưa tính đến việc lão Sang vật tư đang nắm bản giao kèo cấn trừ sản lượng. Lão chỉ đồng ý cho chúng ta giữ lại mười phần trăm rẫy để thử nghiệm. Chín mươi phần trăm còn lại, từ mùng năm tháng sau chúng ta phải tổ chức hái cào bằng giao đủ ba tấn cà xô mỗi đợt để trừ vào khoản nợ 240 triệu của lão. Nếu chúng ta lơ là khâu hái xô trả nợ, lão sẽ lập tức nộp đơn ra tòa siết đất. Nhưng nếu chúng ta dồn hết người đi hái xô, khoảnh một sào cà chín mọng của Bản Đỏ sẽ rụng thối ngoài gốc."

"Chuyện nhân công hái lựa sẽ là bãi mìn lớn nhất," Bảo Ngọc lên tiếng, ánh mắt nhìn thẳng vào Khôi. "Một thợ hái cào bạt bình thường một ngày có thể tuốt được hai đến ba tạ quả xô. Nhưng bắt họ hái tỉa từng quả chín mọng thì năng suất tụt xuống chỉ còn năm sáu chục ký. Nếu không trả công cao hơn, không ai chịu hái cho anh. Mà trả công cao thì chi phí nhân công sẽ bóp nghẹt biên lợi nhuận của Lâm."

"Tôi biết chuyện đó," Khôi trầm ngâm nói, hai bàn tay siết chặt lại trên mặt ván. "Hôm nay lão Sang còn buột miệng tiết lộ bên Chuỗi Đại Nguyên đang cho người mang tiền mặt rải khắp làng Cư M'Rao để đặt cọc bao tiêu độc quyền nguồn hàng ba năm tới. Họ thu mua ồ ạt, sẵn sàng trả tiền tươi ngay tại rẫy mà không cần trừ lùi độ ẩm khắt khe. Nếu Đại Nguyên hút hết lao động trong vùng bằng việc trả tiền công cào bạt nhanh gọn, chúng ta sẽ rơi vào cảnh có vườn cà chín mà không có người hái."

Lâm gập màn hình laptop lại, phát ra một tiếng *tách* dứt khoát.

"Chính vì vậy, kỷ luật chi tiêu sắt đá là mệnh lệnh sống còn. Từ ngày mai, từng mét dây kẽm, từng chiếc túi zip, từng đồng tiền công thợ của Bản Đỏ đều phải ghi chép vào sổ sách và qua tay tôi duyệt. Chúng ta không có quyền phạm sai lầm như mẻ ủ kỵ khí đầu tiên nữa. Và quan trọng hơn hết, Khôi—tối nay cậu phải giải quyết dứt điểm gánh nặng tâm lý lớn nhất."

Khôi nhìn Lâm, rồi nhìn sang hướng gian nhà chính cách chái kho một khoảng sân đất nén. Ánh điện vàng vọt từ cửa sổ gian nhà hắt ra sân, in bóng những chấn song gỗ dài ngoằng.

"Ý cậu là ba tôi?"

"Không chỉ là ba cậu," Lâm nói khẽ, giọng chùng xuống đầy thấu cảm. "Mà là tờ giấy cam kết bán rẫy đang nằm trong buồng của bác Hậu. Chừng nào tờ giấy đó chưa bị xé, chừng đó rẫy này vẫn chưa thực sự thuộc về cậu. Cậu không thể vừa chiến đấu ngoài thị trường vừa nơm nớp lo sợ ngày mai mảnh đất dưới chân mình bị người nhà đem gán nợ."

***

Bảy giờ tối, gian nhà chính của họ Đoàn chìm trong bầu không khí đặc quánh của sự im lặng.

Ngọn đèn tuýp dài treo trên xà nhà tỏa ra thứ ánh sáng trắng nhờ nhợ, rọi rõ những vết nứt chân chim trên mảng tường vôi cũ và bộ bàn ghế gỗ tràm đã lên nước bóng lộn vì mồ hôi người qua hàng chục năm. Ngoài trời, gió đêm Cư M'Rao bắt đầu rít qua rặng muồng đen chắn gió, mang theo cái lạnh se sắt đặc trưng của vùng cao nguyên cuối tháng Mười. Từng đợt gió thốc vào chái hiên khiến mấy tấm tôn cũ rung bần bật.

Ông Đoàn Văn Hậu ngồi ở đầu bàn, lặng lẽ dùng chiếc dao bài nhỏ vót lại nan tre để đan lại cái nia sảy thóc. Từng nhát dao đưa sột soạt, đều đặn nhưng nặng trĩu. Cạnh chân ông, những sợi cật tre mỏng cong veo rơi rải rác. Trên chiếc bàn gỗ, cuốn sổ ghi nợ bìa bọc nylon sờn gáy của bà Hạnh đã được đặt sẵn từ lúc nào. Bà Hạnh ngồi ở góc bàn bên kia, đôi mắt thâm quầng nhìn chiếc ấm nhôm đang sôi sùng sục trên bếp củi kê tạm ngoài hiên sau, tay không ngừng mân mê góc áo bà ba sờn chỉ.

Khôi bước vào nhà, theo sau là Bảo Ngọc và Lâm.

Bảo Ngọc đã thay chiếc tạp dề barista chuyên nghiệp bằng chiếc áo khoác gió sẫm màu, nhưng trên tay cô là một chiếc hộp gỗ nhỏ chứa đầy đủ dụng cụ pha chế thủ công: một chiếc cối xay tay kim loại Comandante bóng loáng, một phễu sứ Origami màu trắng tinh khôi, tệp giấy lọc nâu chưa tẩy trắng, chiếc cân điện tử mỏng dính và một bình đun nước cổ ngỗng bằng inox không gỉ.

Khôi mang vào chiếc bình thủy tinh chứa mẫu hạt Robusta sẻ sơ chế Yellow Honey vừa xát vỏ lúc chiều. Từng hạt nhân tròn mẩy, đồng đều, nổi bật dưới ánh đèn tuýp.

Nghe tiếng bước chân, ông Hậu dừng tay dao, ngước mắt lên nhìn. Ánh mắt người đàn ông ngoài năm mươi tuổi dừng lại trên mặt cô gái lạ mặt với vẻ dè chừng, rồi chuyển sang nhìn con trai mình, đáy mắt hằn lên những tia mệt mỏi cùng cực.

"Đi cả ngày trên phố về rồi đấy à?" Ông Hậu cất giọng khàn đặc, không giấu được sự chán chường. "Lão Sang vừa ghé qua trước lúc chập tối. Lão nhắc cái hẹn mùng năm tháng sau phải có ba tấn cà xô đầu tiên giao cho xe tải của lão. Lão bảo tao liệu mà chuẩn bị bạt với người tuốt cành, đừng có nghe lời mấy đứa trẻ ranh làm trò vớ vẩn rồi đất không còn mà chôn."

Bà Hạnh khẽ thở dài, đưa tay nắn nhẹ mép cuốn sổ nợ đã quăn góc: "Khôi à, mẹ đếm từng ngày một đấy con. Số tiền hơn năm mươi triệu của con, mẹ ghi không thiếu một đồng tiền xăng tiền lưới. Nhưng nhìn cả ba hécta ngoài kia, mẹ sợ lắm... Lỡ như người ta xiết nợ thật..."

"Ba, mẹ," Khôi bước tới, kéo chiếc ghế gỗ ngồi xuống đối diện cha mình. Giọng anh trầm xuống nhưng vô cùng rành rọt. "Con biết ba mẹ không tin con. Suốt mấy năm con học đại học rồi đi làm ở Sài Gòn, con chưa từng mang về cho ba mẹ được một ngày thảnh thơi. Mấy tuần trước con còn làm hỏng cả một mẻ hạt, chôn xuống đất mấy triệu bạc tiền công thợ. Ba mẹ lo là phải."

Khôi đưa tay đón lấy chiếc cối xay từ tay Bảo Ngọc, mở nắp chiếc lọ thủy tinh. Mùi hương ngọt ngào, ấm áp như đường phèn nấu kỹ lập tức thoát ra, len lỏi vào không khí ngột ngạt của gian phòng khách.

"Nhưng hôm nay con đưa bạn con—cô Hứa Bảo Ngọc, một chuyên gia thử nếm cà phê quốc tế—về đây. Không phải để xin ba mẹ thêm tiền, cũng không phải để khất nợ. Con chỉ muốn ba mẹ uống thử một ngụm cà phê được làm ra từ chính một trăm gốc Robusta sẻ cổ thụ ở khoảnh đất phía Đông rẫy nhà mình."

Ông Hậu nhìn chiếc lọ thủy tinh đầy những hạt cà phê nâu bóng, màu sắc đều tăm tắp như những hạt ngọc, không hề giống thứ cà phê đen sì, khét lẹt tẩm bơ tẩm bắp mà người ta vẫn bán ở quán cóc đầu ngã ba buôn. Ông nhíu mày, không nói gì, nhưng nhát dao vót tre trên tay ông đã dừng hẳn lại. Lưỡi dao áp sát vào thanh nứa dở dang.

Bảo Ngọc bước lên phía trước một bước, cúi đầu chào hai người lớn tuổi bằng một cử chỉ chừng mực, lễ phép nhưng đĩnh đạc:

"Cháu chào hai bác. Cháu xin phép hai bác cho cháu mượn chiếc bàn này mười phút. Cháu là người nếm và chấm điểm cà phê chuyên nghiệp. Cháu từng loại bỏ hàng trăm mẫu cà phê lỗi của các công ty lớn, và cháu cũng chính là người đã chấm mẻ cà phê đầu tiên của anh Khôi điểm liệt vì anh ấy làm sai quy trình sinh học. Nhưng mẻ cà phê này thì khác. Cháu muốn bác trai và bác gái nếm thử thứ hương vị mà mảnh đất của gia đình bác thực sự có thể tạo ra."

Không đợi ông Hậu lên tiếng phản đối hay đồng thuận, Bảo Ngọc mở hộp dụng cụ, thoăn thoắt bắt tay vào việc.

Từng động tác của cô chuẩn xác và mượt mà như một nghi thức. Cô trút hai mươi gram hạt vào cối xay tay. Tiếng nghiền hạt *rắc rắc* giòn giã vang lên đều đặn giữa gian nhà tĩnh mịch, âm thanh khô khốc nhưng đầy nhịp điệu. Từng lớp bột cà phê mịn màu nâu cánh gián rơi xuống khoang đáy, giải phóng một luồng hương thơm nồng nàn lạ lùng: mùi đường mía sém cạnh, mùi hoa quả chín mọng nhiệt đới quyện với mùi mật ong rừng và hạt dẻ nướng.

Bà Hạnh ngơ ngác nhìn theo, chiếc mũi già nua khẽ phập phồng: "Ủa... sao mùi nó thơm như mùi kẹo mạch nha vậy con? Cà phê sao không nghe mùi đắng nghét như mọi khi?"

"Dạ thưa bác," Bảo Ngọc vừa xếp giấy lọc vào phễu Origami vừa giải thích bằng giọng nói dịu dàng nhưng đầy sức nặng chuyên môn. "Cà phê truyền thống của mình bị đắng gắt, khét lẹt là vì hai lý do: người ta tuốt cả quả non xanh chát đem phơi đất bẩn, rồi các xưởng rang phải rang cháy đen thành than để át đi mùi ẩm mốc, mùi đất hôi, sau đó tẩm thêm bơ bắp và hương liệu hóa học để tạo vị đắng giả tạo. Còn hạt cà phê này của anh Khôi và bác, từng quả một đều được hái lựa khi đạt độ chín tối ưu, lượng đường tự nhiên trong quả đo được trên hai mươi mốt phần trăm."

Cô đặt phễu lên chiếc bình thủy tinh, dùng nước sôi tráng qua giấy lọc để khử mùi giấy và làm nóng dụng cụ. Dòng nước sôi 93 độ C bốc hơi nghi ngút, mang theo hơi ấm xua bớt cái giá lạnh của sương đêm.

"Khi xát vỏ, anh Khôi giữ lại đúng năm mươi phần trăm lớp mật ngọt tự nhiên bao quanh hạt, rồi phơi trên giàn tre cao cách mặt đất tám mươi phân để đón gió đối lưu của đồi Cư M'Rao. Gió tự nhiên làm hạt khô chậm trong chín ngày chín đêm, đường mật ngấm ngược vào trong phôi. Thứ hương thơm bác đang ngửi không phải là hương liệu nhân tạo, mà chính là vị ngọt tự nhiên của đất trời Tây Nguyên được giữ trọn vẹn trong hạt nhân."

Bảo Ngọc trút bột cà phê vào phễu, lắc nhẹ cho phẳng mặt bột, rồi đặt tất cả lên chiếc cân điện tử. Cô bấm đồng hồ bấm giờ, nhấc bình cổ ngỗng rót dòng nước sôi mảnh như sợi chỉ vào tâm khối bột.

Bột cà phê lập tức nở bung ra như một đóa hoa nâu sẫm, sủi bọt khí li ti tỏa ra ngào ngạt mùi mận chín và mơ sấy. Khôi đứng bên cạnh, chăm chú nhìn từng giọt cà phê vàng óng như hổ phách nhỏ đều đặn xuống đáy bình thủy tinh. Anh thấy rõ hai bàn tay của mẹ mình đang ghì chặt lấy mép bàn, còn ánh mắt của cha thì dán chặt vào dòng nước đang chảy, bất động như tượng đá. Những đường gân trên mu bàn tay ông Hậu giật nhẹ theo từng nhịp nhỏ giọt.

Năm phút sau, quá trình chiết xuất hoàn tất.

Bảo Ngọc rót chất lỏng màu nâu đỏ trong veo ra hai chiếc tách sứ nhỏ mà cô mang theo. Cô đặt một tách trước mặt bà Hạnh, một tách cung kính đặt trước mặt ông Hậu.

"Cháu mời hai bác uống khi còn ấm. Xin bác đừng cho thêm đường hay sữa, cứ nhấp từng ngụm nhỏ và để nó trôi qua cuống họng."

Ông Hậu nhìn tách nước màu hổ phách bốc khói nghi ngút trước mặt mình. Suốt ba mươi năm cắm lưng trên mảnh đất này, ông chỉ biết đến những bao tải cà phê xô nặng trịch, những mùa thu hoạch vội vã chạy mưa, những lần cãi vã với thương lái vì bị trừ tạp chất, trừ độ ẩm, và những ly cà phê đen đặc quánh như hắc ín ở quán cóc ven đường—thứ nước đắng ngắt mà người ta phải tống cả muỗng đường hay sữa đặc vào mới nuốt nổi để lấy sức ra rẫy.

Chưa bao giờ ông nhìn thấy một tách cà phê có màu sắc trong trẻo và thanh khiết đến thế này.

Bàn tay chai sần, đầy những vết sẹo cào xước của cành cà phê khô của ông run rẩy nâng chiếc tách sứ lên. Ông đưa lên mũi. Mùi thơm dịu dàng, ấm áp, sâu thẳm như mùi của rẫy cà phê vào một buổi chiều tạnh ráo sau cơn mưa đầu mùa xộc vào khứu giác. Một mùi hương thuần khiết không chút gắt gỏng.

Ông nhấp một ngụm nhỏ.

Chất lỏng ấm nóng chạm vào đầu lưỡi. Không có vị đắng ngắt làm tê dại vòm họng. Không có vị khét lẹt của than củi hay dầu bơ cháy. Thay vào đó là một vị chua thanh nhẹ nhàng như trái cây chín, rồi ngay sau đó, một dòng ngọt lịm như mật ong rừng bừng nở khắp khoang miệng, đọng lại nơi cuống họng một hậu vị béo ngậy của sôcôla đen và bơ hạt dẻ kéo dài miên man.

Ông Hậu sững sờ. Đôi môi thâm xì vì khói thuốc rê của ông khẽ mấp máy. Ông nhấp thêm ngụm thứ hai, ngụm thứ ba, nhắm nghiền mắt lại để cảm nhận trọn vẹn thứ dư vị đang ngân vang trong cổ họng. Từng tế bào vị giác của người nông dân già như bị đánh thức sau một giấc ngủ dài cay đắng.

Bên cạnh ông, bà Hạnh vừa uống một ngụm đã thốt lên, hai mắt rưng rưng: "Trời đất ơi... Cà phê sao mà ngọt dữ vậy con? Uống vô nó êm ru, nó ngọt ngay cái cổ họng... Khôi ơi, cái này thiệt là cà phê rẫy mình hả con?"

"Dạ, rẫy nhà mình đó mẹ," Khôi nghẹn ngào nói, hốc mắt anh cay xè. "Chính là một trăm gốc cà sẻ mà ba trồng từ năm con mới bảy tuổi ở khoảnh đồi phía Đông. Ba mươi năm nay đất mình cho ra thứ hạt quý giá này, nhưng vì nghèo, vì nợ, vì cách làm cào bằng của người ta mà hạt cà phê của ba bị coi như rác rưởi, bị ép giá ba mươi mốt ngàn một ký."

Khôi quỳ một chân xuống bên cạnh chiếc ghế của cha, ngẩng đầu nhìn người cha đã còng lưng vì sương gió: "Mẻ hạt này trưa nay Bảo Ngọc chấm 84.5 điểm theo tiêu chuẩn quốc tế. Nó đã chính thức bước vào hàng cà phê đặc sản. Giá của nó không phải là ba mươi mốt ngàn, mà là một trăm bốn mươi ngàn, một trăm sáu mươi ngàn một ký nhân xanh. Con không nói suông với ba. Con không làm liều. Con muốn chứng minh cho ba thấy con đường này có thể cứu được cái rẫy, có thể trả hết nợ cho gia đình mình mà ba không phải cúi đầu đi bán đất cho lão Sang!"

Sự im lặng bao trùm lấy gian nhà chính. Chỉ còn tiếng gió đêm rít từng cơn ngoài vách ván và tiếng thở nghẹn ngào của bà Hạnh.

Ông Hậu vẫn ngồi bất động, chiếc tách sứ trong tay đã cạn đáy. Đôi mắt người nông dân già chùng xuống, những nếp nhăn nơi khóe mắt xô lại thành từng rãnh sâu hoắm. Ông nhìn sâu vào đáy tách cà phê trống rỗng, nơi vẫn còn vương lại một lớp hương thơm ngọt ngào không chịu tan biến. Trong khoảnh khắc ấy, ba mươi năm lam lũ, cay đắng, nhục nhằn của một đời làm nông dân bỗng chốc hiện về, rồi tan biến theo từng giọt cà phê thanh khiết vừa trôi qua lồng ngực.

Ông nhận ra con trai ông không hề hão huyền. Thằng bé không phải là một đứa kỹ sư thành thị học đòi lý thuyết suông. Nó đã làm được cái điều mà cả đời ông chưa từng dám mơ tới: biến mồ hôi của người trồng cà phê thành sự tự tôn.

Một giọt nước mắt đục ngầu, hiếm hoi rơi xuống gò má nhăn nheo của ông Hậu. Ông vội vàng đưa mu bàn tay thô ráp quệt ngang mặt, giấu đi sự yếu mềm trước mặt đám trẻ.

Ông Hậu không nói một lời nào. Ông chậm rãi đứng dậy khỏi ghế gỗ, chiếc lưng hơi còng xuống. Dưới ánh mắt ngỡ ngàng và hồi hộp của cả bốn người trẻ tuổi, ông lẳng lặng bước từng bước nặng nề vào gian buồng trong tăm tối.

Bà Hạnh nín thở nhìn theo bóng lưng chồng. Khôi tim đập thình thịch, hai bàn tay nắm chặt vào nhau đến mức móng tay găm vào da thịt. Lâm và Bảo Ngọc đứng nghiêm trang bên cạnh chiếc bàn, cảm nhận rõ từng giây trôi qua như dài vô tận, chỉ có tiếng mọt nghiến gỗ khe khẽ trên rui mè.

Một phút sau, tiếng cót két của cánh cửa buồng vang lên.

Ông Hậu bước ra. Trên tay ông không phải là con dao rựa hay cái điếu cày quen thuộc, mà là một tập giấy A4 màu xanh nhạt có đóng dấu mộc giáp lai đỏ chót—bản giao kèo chuyển nhượng quyền sử dụng đất rẫy và tài sản gắn liền với đất mà Phạm Đức Sang đã ép ông ký nháy vào trang bìa tuần trước.

Ông bước đến bên bàn thờ tổ tiên, dừng lại một thoáng trước làn khói nhang mờ ảo, rồi quay người lại đối diện với Khôi.

Không một chút do dự, trước sự chứng kiến của vợ, của con trai và của hai người bạn sáng lập Bản Đỏ, ông Hậu đưa hai bàn tay gân guốc nắm chặt lấy mép tập hồ sơ.

*Xoẹt!*

Tiếng giấy xé toạc vang lên khô khốc và dứt khoát giữa gian nhà.

Ông Hậu xé đôi bản giao kèo, rồi chập lại, xé làm tư, làm tám. Những mảnh giấy vụn mang theo điều khoản siết rẫy, mang theo sự sỉ nhục của những kẻ buôn tiền rơi lả tả xuống chiếc bàn gỗ tràm, nằm ngổn ngang cạnh chiếc tách cà phê rỗng.

Bà Hạnh bàng hoàng đưa tay che miệng, nước mắt trào ra thành dòng lăn dài trên những nếp nhăn.

Ông Hậu thọc tay vào túi chiếc áo bà ba cũ, rút ra một chùm chìa khóa sắt đã rỉ sét vì thời gian—chìa khóa của căn kho nông cụ phía sau nhà và chiếc cổng rào dẫn vào khoảnh đất một sào Robusta sẻ cổ thụ.

Ông đặt chùm chìa khóa dằn mạnh lên đống giấy vụn, đẩy về phía trước mặt Khôi.

"Tao xé cái này, không phải vì tao hết nợ lão Sang," giọng ông Hậu run rẩy nhưng âm vang một sức mạnh lạ kỳ, sức mạnh của một người vừa tìm lại được danh dự đã mất. "Khoản nợ hai trăm bốn mươi triệu của lão, với mấy trăm triệu tiền nợ phân bón ngân hàng của mẹ mày, vẫn còn nguyên đó. Mùng năm tháng sau, tao với anh Tư vẫn sẽ còng lưng đi hái cà xô cấn trừ cho lão từng cân không thiếu một hột."

Ông bước tới, đặt bàn tay nặng như đá tảng lên vai con trai mình, siết chặt lấy: "Nhưng khoảnh một sào cà sẻ cổ thụ phía Đông, với cái kho sơ chế kia... từ giờ tao giao đứt cho mày. Mày muốn làm Bản Đỏ, Bản Vàng gì đó, mày tự toàn quyền quyết định. Mày đã chứng minh được hạt cà phê của mảnh đất này có giá trị, thì mày phải có trách nhiệm giữ lấy nó cho đàng hoàng."

"Ba..." Khôi nghẹn ngào, cổ họng anh tắc nghẽn, hai mắt nhòe đi vì nước mắt. Anh ôm lấy cánh tay gầy guộc của cha mình.

Bà Hạnh lúc này mới quệt nước mắt, đứng bật dậy bước tới. Dù xúc động đến run người, nhưng bản năng của một người phụ nữ cả đời giữ tay hòm chìa khóa và lo toan từng bữa ăn lập tức trỗi dậy. Bà cầm cuốn sổ nợ bìa bọc nylon lên, đặt đè lên chùm chìa khóa sắt.

"Ông cho nó quyền làm rẫy, nhưng tôi chưa cho nó quyền tiêu tiền bậy bạ đâu nghen!" Bà Hạnh quắc mắt nhìn Khôi, giọng đanh lại đầy vẻ nghiêm khắc của người mẹ quán xuyến gia đình. "Số tiền năm mươi triệu sáu trăm chín mươi ngàn của con, từ nay mẹ sẽ giám sát từng hào từng cắc. Mỗi tối đi làm về, con với thằng Lâm phải ngồi vào chiếc bàn này, mở sổ kê khai rõ ràng: mua bao nhiêu mét lưới, trả bao nhiêu tiền công thợ, mua cái bao bì hết mấy ngàn. Một đồng tiêu sai, mẹ khóa rương lại, không cho chi một cắc nào nữa! Có nghe rõ chưa?"

Lâm đứng bên cạnh, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười ấm áp. Cậu cúi đầu kính cẩn: "Bác gái yên tâm ạ. Cháu nắm quyền kiểm soát dòng tiền của Bản Đỏ, cháu xin cam kết với bác: mọi chi phí đều phải có chứng từ và được bác phê duyệt thì chúng cháu mới giải ngân."

Bảo Ngọc nhìn gia đình ba người họ, ánh mắt cô gái vốn sắc lạnh bỗng mềm lại. Cô hiểu rằng, một thương hiệu cà phê đặc sản chân chính không thể sinh ra từ những bản kế hoạch bóng bẩy trong phòng máy lạnh ở Sài Gòn. Nó phải được sinh ra từ chính nhát rách của tờ giấy bán đất này, từ đôi bàn tay chai sạn của người cha, và từ cuốn sổ chi tiêu khắc nghiệt đầy tình thương của người mẹ.

Đêm đã về khuya.

Sau khi Lâm và Bảo Ngọc đã về phòng nghỉ ngơi, Khôi một mình bước ra khỏi gian nhà chính, đi dọc theo lối mòn đất đỏ dẫn ra giữa rẫy cà phê.

Gió đêm Tây Nguyên thổi qua những tán lá rậm rạp, tạo nên những âm thanh rì rào như tiếng thì thầm của đất mẹ. Đứng trên mỏm đất cao nhìn về phía thung lũng, ánh mắt Khôi phóng xa qua màn đêm mông lung về phía buôn làng Cư M'Rao lân cận.

Dưới ánh trăng mờ cuối tháng, những triền đồi cà phê bạt ngàn hàng trăm hécta của các hộ nông dân đang chìm trong giấc ngủ, nhưng Khôi biết, bên dưới những tán lá xanh thẫm kia, hàng triệu triệu chùm quả đang bắt đầu chuyển mình từ màu vàng cam sang một sắc đỏ rực rỡ, căng mọng, chuẩn bị đón vụ thu hoạch chính rộ nhất trong năm. Một mùa vụ đầy cơ hội nhưng cũng chực chờ những cạm bẫy khốc liệt từ cuộc chiến thu mua của Chuỗi Đại Nguyên đang cận kề trước mắt.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn