Ly Cà Phê Đầu TiênC.7 / 45
Chương 7

Ranh giới của sự trung thực

Chiếc xe máy cày chở đầy những bao phân bón NPK và lân nung chảy của thương lái Phạm Đức Sang đột ngột phanh kít ngay trước bậu cửa kho sơ chế. Bánh lốp cao su khổng lồ bấu chặt lấy mặt sân, cày xới một vệt dài trên nền đất bazan khô khốc, làm bùng lên một lớp bụi đỏ đặc quánh hòa cùng khói dầu diesel mù mịt bao trùm lấy toàn bộ khoảng sân phơi đang lộng gió đồi.

Tiếng xích sắt chằng hàng va đập loảng xoảng vào thành rơ-moóc rỉ sét chưa kịp dứt thì ống xả dựng đứng bên sườn máy lại phụt thêm một hơi khói đen ngòm, khét lẹt tàn tro rồi mới chịu ặc ặc lịm dần. Cả mặt đất dưới chân dường như vẫn còn rung lên bần bật theo từng nhịp pít-tông cuối cùng. Mùi dầu khét lẹt, ngai ngái và cay xè nhanh chóng luồn qua ngạch cửa kho vừa được đục thông, xộc thẳng vào không gian bên trong, quyện chặt một cách thô bạo vào mùi thơm thanh thoát của mật mía, vỏ cam sấy và hương hoa cà phê khô đang dịu dàng bốc lên từ những nong hạt vừa ráo mật.

Khôi đứng sững lại ngay sát mép cửa kho. Bàn tay anh theo phản xạ giật bắn, vội vã giấu chiếc túi zip đựng mẫu nhân xanh vừa phân loại ra phía sau lưng. Bắp tay anh siết chặt, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì ghì mạnh vào lớp màng nhựa.

Đứng bên cạnh, Lâm không hề biến sắc. Cậu khẽ đặt một bàn tay rắn rỏi lên bả vai Khôi, năm ngón tay miết nhẹ xuống như một mệnh lệnh ngầm buộc người bạn đồng hành phải ghìm lại cơn xung động. Rồi thật thong thả, Lâm bước chếch lên nửa bước, đôi mắt sau cặp kính cận khẽ nheo lại, lạnh lùng và cảnh giác dõi theo từng chuyển động của bóng người đang nặng nề trèo xuống khỏi chiếc càng xe máy cày.

Phạm Đức Sang nhảy huỵch xuống nền đất nện. Cú tiếp đất của gã khiến lớp bụi dưới chân xới tung lên một lần nữa. Gã trạc ngoài năm mươi, thân hình bè bè như một súc gỗ nghiến ngâm nước lâu năm, khoác trên mình chiếc áo sơ mi bạc phếch thủng lổ đỗ vài vết tàn thuốc, phanh trọn ba chiếc cúc ngực trên để lộ mảng ngực đầy lông lá và sợi dây chuyền bạc to bản đã bám một lớp bụi đỏ dày cộp nơi kẽ xích. Đôi ủng cao su màu xanh rêu dính bết bùn sình khô nện chan chát xuống đất khi gã xăm xăm rảo bước, chẳng buồn gõ cửa hay cất lời chào, hùng hổ sấn thẳng vào gian kho nông cụ vừa được hai người trẻ cải tạo lại trong mười ngày qua.

Không kiêng dè, không chút ngập ngừng, đôi mắt ti hí kèm nhèm tơ máu của Sang đảo một vòng sắc lẹm khắp gian phòng. Gã quét mắt từ những mảng tường gạch ba banh mới được đục thêm ba ô thoáng hình chữ nhật hướng về phía Đông Bắc để đón trọn luồng gió đối lưu khô ráo, lướt qua ba khung giàn phơi làm bằng thân tre lồ ô chẻ đôi, lót lưới cước xanh nâng cao tám mươi phân so với mặt nền, rồi dừng lại trừng trừng trước chiếc bàn gỗ keo ọp ẹp nơi đặt chiếc cối xát mẫu thủ công bằng gang đúc màu xám xịt.

"À, hay nhỉ!" Sang nhổ toẹt một bãi nước bọt đặc quánh màu nước chè và thuốc lào xuống ngay bậu cửa sổ thông gió, cất giọng the thé nhưng the thé ấy lại chứa đầy sự cay độc của một kẻ quen thói đè đầu cưỡi cổ dân cày. "Mấy hôm nay tao ngồi dưới quán nước ngã ba Cư M’Rao, nghe thiên hạ đồn ầm lên là rẫy nhà thằng Khôi có kỹ sư Sài Gòn về làm phép, làm thuật gì ghê gớm lắm. Tao tưởng chúng mày bận bịu lai ghép, nghiên cứu giống má năng suất cao thế nào để cứu mấy gốc cây già cỗi của ông Hậu. Hóa ra là âm thầm dựng giàn phơi cất nhà mát, lén lút tuốt trộm phần hạt mẩy nhất, những chùm quả chín cây mọng nhất của cả ba hécta mang cất riêng vào đây hả?"

Vừa dứt câu, Sang đã sấn sổ bước tới mép giàn phơi đầu tiên. Những ngón tay mập mạp, thô ráp đầy cáu ghét và móng tay đen sì của gã sục thẳng vào lớp cà phê thóc đang ửng lên màu mật ong hổ phách óng ả. Gã thọc sâu cả bàn tay xuống tận đáy lưới cước, bốc lên một nắm lớn, xoa mạnh hai lòng bàn tay vào nhau thật tàn nhẫn để lớp vỏ trấu mỏng tanh vừa khô ráo tách rời ra, rồi dí sát cả nắm hạt lên tận mũi, hít một hơi dài đầy thèm thuồng và xoi mói.

Đôi lông mày rậm rịt của Sang giật nảy lên một cái thật mạnh. Dù là một con buôn thô bỉ chuyên ép giá nông dân vùng sâu, nhưng thâm niên hơn hai mươi năm lặn ngụp khắp các nương rẫy đất Tây Nguyên không phải là thứ vứt đi. Chỉ cần liếc mắt nhìn sắc hạt và ngửi thoáng qua làn hơi ấm bốc lên từ lòng bàn tay, Sang thừa biết đây là thứ gì. Từng hạt Robusta sẻ cổ thụ hạt tròn lẳn, bóng bẩy, ngậm căng lớp mật đường của chất nhầy tự nhiên đã được gió hong khô hoàn hảo. Không có lấy một tia khét lẹt của việc phơi ép nhiệt, không có mùi thối ủng của hạt ngâm nước lã, và tuyệt nhiên không hề có mùi men giấm chua gắt của mẻ cà phê ủ hỏng từng làm rộ lên trò cười khắp xóm mười ngày trước.

Khuôn mặt đầy thịt nhiều ngấn của gã lập tức đanh lại, những đường gân xanh nơi thái dương giật giật từng chập. Gã ném mạnh nắm hạt trở lại mặt giàn, khiến hàng trăm hạt cà phê va đập vào nhau văng rào rào xuống mặt lưới cước.

"Thằng Khôi! Mày tưởng thằng già này ngu chắc?" Sang chống nạnh, cánh tay to bè với ngón trỏ ngắn tũn chỉ thẳng vào giữa mặt Khôi, tiếng quát rít qua kẽ răng. "Cái phụ lục hợp đồng tao với bố mày ký rành rành bằng mực đen giấy trắng ra đấy: chín mươi phần trăm sản lượng cà xô của cả cái rẫy ba hécta này là vật cược để cấn trừ hai trăm bốn mươi triệu tiền nợ vật tư, phân bón và tiền cọc cái giếng khoan sâu tám mươi mét ngoài chân đồi! Chúng mày hứa giao cà xô nguyên rẫy, thế mà bây giờ lại xua người đi hái tỉa hết những chùm chín mọng nhất, những cành sai hạt nhất dồn về đây để làm hàng mẫu đem bán riêng ra ngoài ăn tiền tươi à? Còn cái đống cành cằn cỗi, hạt lép, hạt non ngoài kia định tuốt đại trà rồi dồn cho tao gánh nợ xô đáy sàn chứ gì?"

Khôi bước lên một bước, lồng ngực anh thắt nghẹn lại vì uất ức. Cơn giận bốc lên từ lồng ngực làm hai tai anh nóng ran. Anh vừa hé môi định lớn tiếng phân bua về đặc tính của khoảnh rẫy một sào phía Đông thì Lâm đã dứt khoát bước lên phía trước, dùng cả bờ vai chắn ngang tầm mắt hằn học của gã thương lái.

"Chú Sang, chú bớt nóng một phút đã," Lâm mở lời. Giọng nói của cậu trầm ổn, nhịp điệu đều đặn và điềm tĩnh đến mức kỳ lạ giữa một bầu không khí đang nồng nặc mùi dầu máy và thuốc súng. Cậu không hề tỏ ra nao núng trước dáng vẻ to con hung hãn của người đàn ông đối diện. Thay vì đôi co bằng những tính từ vô thưởng vô phạt, Lâm bình thản kéo chiếc ba lô vải thô trên vai xuống, rút ra một tập hồ sơ kẹp bìa cứng phẳng phiu và mở chiếc máy tính xách tay đặt ngay ngắn lên mặt chiếc bàn gỗ keo thô mộc.

"Bớt nóng cái đầu mày ấy!" Sang quát to hơn, bọt mép sùi ra nơi khóe miệng. "Tao là người bỏ tiền tươi thóc thật ra cho rẫy nhà này mượn phân bón, mượn dầu bơm nước suốt ba năm trời hạn hán. Đợt này tao mà thấy thiếu một tạ hàng xô đạt chuẩn theo cam kết, tao không cần đợi đến ba mươi tháng Chạp đâu! Ngay sáng ngày mai, tao gửi đơn thẳng ra tòa án huyện, xin lệnh phong tỏa và kê biên phát mãi toàn bộ ba hécta đất rẫy lẫn cái căn nhà cấp bốn này của ông Hậu lập tức! Để xem lúc đấy cái danh xưng 'kỹ sư Sài Gòn' của thằng Khôi có cứu nổi mảnh đất hương hỏa của dòng họ nó không!"

"Chú Sang, chú hoàn toàn có quyền làm điều đó theo thỏa thuận nếu như chúng cháu vi phạm hợp đồng," Lâm vẫn giữ nguyên vẻ điềm đạm, hai ngón tay miết phẳng một tờ biểu đồ đối chiếu sản lượng vừa được cậu in sẵn từ tối qua, đặt ngay ngắn ngay dưới tầm mắt của Sang. "Nhưng xin chú nhìn vào bản kê thực địa này trước khi quyết định có nên tốn thêm án phí và mất sáu tháng ròng hầu tòa hay không."

Sang trừng mắt nhìn tờ giấy trắng tinh chi chít những con số, bảng biểu và đồ thị hình cột. Khóe môi gã giật giật đầy vẻ hoài nghi lẫn khó chịu: "Mày đưa cái mớ giấy lộn vẽ hươu vẽ vượn này ra dọa tao à?"

"Không phải giấy lộn, đây là biên bản kiểm kê diện tích và năng suất thực tế có chữ ký xác nhận của anh Tư thợ rẫy và chính bác Hậu," Lâm chỉ đầu ngón tay vào từng cột số liệu, giọng nói rành rẽ, khúc chiết từng âm tiết như đang thuyết trình trước hội đồng quản trị. "Toàn bộ rẫy nhà Khôi có diện tích chính xác trên trích lục bản đồ địa chính là hai mươi chín ngàn mét vuông, tức gần ba hécta, với tổng cộng hai ngàn tám trăm gốc cà phê đang cho thu hoạch vụ này. Mẻ sơ chế mà chú đang nhìn thấy trên ba khung giàn phơi này được thu hái duy nhất từ khoảnh một sào phía Đông — chính xác là một ngàn mét vuông với đúng một trăm gốc Robusta sẻ cổ thụ trồng từ đời trước."

Lâm khẽ xoay màn hình laptop về phía Sang, hiển thị một bảng tính Excel với các công thức phân bổ sản lượng rõ ràng, mạch lạc: "Tổng sản lượng quả tươi thu hái của đợt này là ba trăm năm mươi ký. Sau khi xát vỏ theo phương pháp Yellow Honey và phơi khô đạt độ ẩm tiêu chuẩn mười một phần trăm, mẻ này chỉ cho ra vỏn vẹn bảy mươi ký nhân xanh. Bảy mươi ký nhân này so với ước tính sản lượng toàn bộ ba hécta — vào khoảng mười lăm đến mười sáu tấn quả tươi, tương đương hơn ba tấn nhân xô — chiếm tỷ lệ chưa đầy hai phẩy ba phần trăm tổng sản lượng mùa vụ. Tính riêng trên một sào thử nghiệm mà chú đã đồng ý cho gia đình giữ lại mười phần trăm trong phụ lục hợp đồng ngày mười lăm tháng trước, mẻ này cũng chỉ chiếm đúng năm phần trăm diện tích canh tác."

Sang nheo mắt nhìn những con số nhảy múa trên màn hình, rồi gã lại ngước lên, đảo mắt nhìn ba khung giàn phơi vỏn vẹn ba mươi mét vuông đặt lọt thỏm trong góc kho. Dưới trần kho lợp tôn thấp tè, lượng hạt rải mỏng tang chỉ vừa đủ phủ kín một lớp trên mặt lưới cước xanh, hoàn toàn không thể là sản lượng thu hái ồ ạt từ vài hécta rẫy như mối nghi ngờ ban đầu của gã.

"Hai phẩy ba phần trăm thì cũng là cà phê ngon!" Sang vẫn chưa chịu hạ giọng, gân cổ gằn từng tiếng cố vớt vát lại thế thượng phong. "Cà xô muốn được giá sàn thì cũng phải có một tỷ lệ quả chín nhất định để kéo độ nặng của hạt lên chứ! Chúng mày hái hết hạt chín mẩy thế này, chín mươi lăm phần trăm còn lại ngoài kia toàn quả xanh với quả non, xát ra toàn hạt lép đen sì thì các kho trung chuyển ở thị xã nó trừ tạp chất, nó trừ độ ẩm của tao thì ai chịu trách nhiệm?"

Lúc này, Khôi hít một hơi thật sâu rồi tiến lên một bước. Anh nhìn thẳng vào đôi mắt vằn tia máu của Sang, không còn sự luống cuống, sợ sệt của một kỹ sư trẻ vừa bị dồn vào chân tường như hồi đầu mùa, mà bằng sự tự tin vững chãi của một người nắm rõ từng gốc cây, từng thớ đất trên mảnh đồi này:

"Chú Sang, chú làm thương lái ở vùng Cư M’Rao này bao nhiêu năm, chú hiểu cái đất này hơn ai hết. Chú biết rõ khoảnh rẫy một sào phía Đông là giống sẻ thuần chủng trồng từ thời ông nội cháu để lại. Cái giống sẻ này bao giờ cũng tích đường sớm và chín trước hai tuần so với toàn bộ giống vối cao sản dòng ghép mới ở đồi phía Tây và phía Nam. Hiện tại, hơn hai ngàn bảy trăm gốc cà xô của chú ngoài rẫy quả vẫn còn xanh mướt, vỏ cứng ngắc, chưa hề tích đủ lượng đường hòa tan. Cháu có muốn hái cũng không thể hái được vào lúc này, vì hái quả non đem xát vỏ thì nhân sẽ bị dập nát, vỡ nứt hết phôi, máy xát nào chịu nổi?"

Khôi dừng lại một nhịp, giơ tay chỉ qua ô cửa kho về phía sườn đồi thoai thoải nơi những hàng cà phê xanh thẫm đang trĩu trịt quả dưới cái nắng hanh nồng của cao nguyên:

"Toàn bộ chín mươi lăm phần trăm sản lượng cà xô của chú vẫn còn nguyên vẹn một trăm phần trăm trên cành cây ngoài kia, không suy suyển dù chỉ là một quả. Việc cháu hái tỉa một trăm gốc sẻ chín sớm này hoàn toàn không đụng chạm đến nguồn hàng cấn trừ nợ của chú. Ngược lại, cháu còn có một bản cam kết bằng văn bản gửi chú ngay tại đây."

Khôi đưa tay rút từ trong chiếc cặp tài liệu cũ kỹ của mình ra một tờ giấy cam kết viết tay, trên đó đã có sẵn chữ ký nắn nót, run rẩy của ông Đoàn Văn Hậu và chữ ký dứt khoát của chính Khôi. Anh đẩy tờ giấy sang sát mép bàn phía Sang:

"Khoản nợ hai trăm bốn mươi triệu của gia đình cháu cần ít nhất bảy tấn rưỡi đến tám tấn cà xô để cấn trừ dứt điểm theo giá sàn hiện tại. Để đảm bảo chú thu hồi vốn nhanh nhất có thể, cháu cam kết bằng văn bản: bắt đầu từ ngày mùng năm tháng sau, khi toàn bộ đồi phía Tây bước vào đợt hái rộ đầu tiên, đích thân cháu và anh Tư sẽ tổ chức nhóm thợ hái mười người, giám sát việc tuốt cành đồng loạt đúng kỹ thuật để không làm gãy cành tơ vụ sau, phân loại sơ bộ rác, lá và cành khô ngay tại chân rẫy, sau đó bàn giao toàn bộ cà xô cho xe tải của chú theo từng đợt ba tấn một."

Khôi nhìn sâu vào đôi mắt đang khẽ lay động của người thương lái, hạ giọng nhưng từng từ thốt ra đều nặng tựa đá tảng:

"Chú Sang, mục tiêu tối thượng của chú lúc này là dòng tiền mặt. Chú cần hàng xô đủ khối lượng, giao đúng hạn để chở thẳng về nộp cho các đại lý lớn hoặc các kho trung chuyển của nhà máy xuất khẩu ở khu công nghiệp Tân An để xoay vòng vốn trả lãi ngân hàng. Chứ nếu chú siết ba hécta đất rẫy đang mùa thu hoạch này về tay chú, thì chú lấy đâu ra người đi hái? Đất rẫy bị niêm phong, kiện tụng kéo dài từ sáu tháng đến một năm, quả trên cây rụng thối đen hết dưới gốc, lúc ấy chú vừa mất trắng tiền nợ phân bón, vừa ôm một đống rắc rối pháp lý không có lối thoát. Cháu làm mẻ thử nghiệm này bằng tiền túi cá nhân dành dụm, không đụng một cắc nào vào tiền bán cà xô cấn nợ của gia đình. Cháu giữ cho rẫy không bị vỡ nợ, chú thu đủ hai trăm bốn mươi triệu tiền mặt đúng hạn. Đó là con đường duy nhất để cả hai bên cùng sống sót qua mùa vụ này."

Từng lời nói của Khôi đanh thép, khúc chiết và đánh trúng phóc vào tử huyệt lớn nhất của một thương lái nông sản tư nhân: thanh khoản. Sang im bặt. Gã đứng lặng đi mất vài giây, cơ mặt chùng xuống. Gã thò bàn tay thô kệch vào túi quần bà ba, rút ra bao thuốc lá Thăng Long nát bươm, rút một điếu méo mó châm lửa rít một hơi dài đến mức điếu thuốc đỏ rực lên quá nửa. Đốm lửa lập lòe soi rõ những nếp nhăn chằng chịt, sạm đen vì nắng gió trên gò má gã.

Sang không ngốc. Gã là một con cáo già đã ngửi thấy mùi tiền và rủi ro từ hàng chục năm nay. Gã hiểu thằng nhóc kỹ sư này nói không sai một chữ. Kéo nhau ra tòa giữa lúc mùa vụ đang vào độ chín rộ là hạ sách của những kẻ cạn tàu ráo máng; thương lái lọc lõi là kẻ biết nắm lấy đằng chuôi của dòng tiền và ép con nợ phải làm việc cật lực để nôn tiền ra cho mình một cách an toàn nhất.

"Mày nói thì nghe xuôi tai lắm," Sang nhả một luồng khói xám đục qua kẽ răng vàng ố, giọng đã dịu lại thấy rõ dù vẫn cố gằn từng tiếng để giữ thể diện. "Nhưng đời tao chưa bao giờ tin vào mồm mép của mấy thằng có học. Giấy cam kết này tao cầm. Đúng ngày mùng năm tháng sau, xe tải của tao vào ăn đợt cà xô đầu tiên, nếu không có đủ ba tấn quả tươi dồn bao sẵn ở đầu rẫy thì đừng có trách thằng già này cạn tình cạn nghĩa."

"Chú cứ yên tâm, anh Tư đã chốt xong mười thợ hái quen việc cho đợt rộ," Khôi điềm tĩnh đáp lại, ánh mắt không hề chớp.

Sang kẹp điếu thuốc giữa hai ngón tay trỏ và giữa, đưa mắt nhìn lại giàn phơi lưới cước một lần nữa. Lần này, ánh mắt soi mói hung hãn ban đầu đã biến mất, thay vào đó là một vẻ tò mò kín đáo khó giấu. Gã liếc nhìn chiếc túi zip màu bạc Khôi đang cầm trên tay, rồi bỗng nhếch mép cười khẩy, buông một câu bâng quơ đầy ẩn ý:

"Chúng mày cứ hì hục phơi phơi sấy sấy cho lắm vào. Làm được mấy chục ký cà phê thơm như kẹo kéo này thì giải quyết được cái đếch gì giữa cái xứ này? Mày tưởng ở cái thành phố Buôn Ma Thuột này chỉ có một mình mày biết nghĩ đến chuyện cà phê chất lượng cao à?"

Khôi và Lâm bất giác đưa mắt nhìn nhau. Lâm khẽ nhíu mày, bước tới gần hơn nửa bước: "Ý chú là sao?"

Sang vẩy tàn thuốc xuống nền đất bazan, ghé sát lại, giọng hạ thấp xuống đầy vẻ bí hiểm và thỏa mãn khi thấy đối phương mất bình tĩnh:

"Mấy ngày nay tao đi gom hàng khắp cái dải Cư M’Rao này, đâu đâu cũng thấy bóng dáng mấy thằng mặc áo sơ mi trắng tinh, cổ đeo thẻ nhựa lùng sục từng ngóc ngách thôn bản. Người của Chuỗi Đại Nguyên đấy. Nghe đâu bọn chúng mang cả vali tiền mặt từ Sài Gòn lên, đang đi gõ cửa từng nhà chủ rẫy lớn, khảo sát sản lượng để chuẩn bị tung tiền đặt cọc thu mua độc quyền toàn bộ vùng nguyên liệu Cư M’Rao này trong ba năm tới."

Sang cười nửa miệng, nhìn Khôi bằng ánh mắt đầy sự thương hại của một kẻ từng trải:

"Tập đoàn lớn người ta đi bằng tiền tấn, người ta tính chuyện mua đứt cả ngàn hécta rẫy để bao tiêu cho chuỗi mấy trăm quán cà phê của người ta dưới xuôi. Một thằng nhãi ranh vét sạch túi quần còn được mấy chục triệu bạc, bày đặt đục tường kho làm giàn phơi vài chục ký hạt... Mày nghĩ mày cạnh tranh nổi với Đại Nguyên chắc? Liệu mà lo gom cà xô trả nợ cho tao trước đi con ạ, mơ mộng hão huyền có ngày chết đói rục xương ngoài rẫy!"

Dứt lời, Sang quay ngoắt lưng lại, ném mẩu tàn thuốc còn đỏ lửa xuống đất rồi lấy mũi ủng cao su day nát, sải những bước dài thô tháo ra phía xe máy cày. Tiếng máy nổ lại ầm ầm gầm rú rung chuyển cả khoảng sân, tiếng rơ-moóc va đập loảng xoảng cuốn theo một luồng bụi đỏ mù mịt rời khỏi cổng rẫy, để lại Khôi và Lâm đứng chôn chân giữa luồng gió đồi vừa thốc mạnh qua vách kho.

"Đại Nguyên..." Khôi siết chặt các ngón tay quanh mép túi zip mẫu, lẩm bẩm cái tên vừa nghe với một cảm giác đè nặng nơi lồng ngực. "Họ đã bắt đầu rà soát Cư M’Rao nhanh đến thế sao?"

"Một tập đoàn bán lẻ chuỗi lớn luôn cần bảo đảm nguồn cung hạt thô giá rẻ để duy trì biên lợi nhuận khổng lồ của họ," Lâm nhìn theo làn khói xe đang tan dần ngoài rặng muồng đen, ánh mắt ánh lên vẻ nghiêm nghị và sắc sảo của một chuyên gia tài chính. "Nếu Đại Nguyên ký hợp đồng độc quyền bao tiêu với nông dân vùng này, họ sẽ kiểm soát toàn bộ nguồn hạt từ gốc. Lúc đó, chúng ta sẽ không còn bất kỳ cơ hội nào để mở rộng vùng nguyên liệu liên kết cho mô hình đặc sản nữa. Chúng ta không có thời gian để chần chừ hay sợ hãi, Khôi ạ. Đi thôi. Bảo Ngọc đang đợi ở phòng rang."

Khôi gật đầu dứt khoát. Bao nhiêu mệt mỏi, hoang mang dường như tan biến trước áp lực vô hình nhưng cận kề. Anh cẩn thận đặt túi mẫu nhân xanh vào ngăn chống sốc của chiếc ba lô, kéo khóa lại thật kỹ. Hai người dắt chiếc xe máy cũ kỹ bám đầy bụi đỏ ra đường liên xã, vặn ga phóng thẳng về hướng trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột.

***

Con đường từ Cư M’Rao dẫn về trung tâm Buôn Ma Thuột dài gần ba mươi cây số, trải dài qua những triền đồi đất đỏ uốn lượn nhấp nhô dưới cái nắng hanh hao của mùa gió chướng. Gió Tây Nguyên thổi thốc từng cơn rát bỏng vào mặt, mang theo bụi đất bazan bám chặt vào cổ áo, vào từng kẽ móng tay và lấm tấm trên gương mặt sạm đen của Khôi. Nhưng ngồi sau xe, tâm trí anh hoàn toàn không để ý đến những hạt bụi đường. Những lời cảnh báo của Sang về bước chân của tập đoàn Đại Nguyên như một chiếc đồng hồ đếm ngược đang tích tắc không ngừng trong đầu anh.

Chiếc xe máy cũ tạt vào một con hẻm nhỏ tĩnh lặng, rợp bóng mát của hai hàng cây kơ-nia cổ thụ trên đường Phan Chu Trinh. Nơi đây dường như tách biệt hoàn toàn khỏi sự ồn ào, náo nhiệt của những đại lộ cà phê thương phẩm rực rỡ ngoài kia. Phòng rang thử nghiệm của Hứa Bảo Ngọc nằm khuất sau một cánh cổng sắt sơn màu ghi xám, không biển hiệu phô trương, chỉ có một tấm bảng đồng nhỏ gắn bên tường khắc vỏn vẹn dòng chữ: *Lab & Sensory Room*.

Không gian bên trong căn phòng rộng chừng bốn mươi mét vuông được bài trí với sự ngăn nắp, lạnh lùng và chuẩn mực đến tuyệt đối của một phòng thí nghiệm sinh hóa hơn là một xưởng cà phê thông thường.

Ở gian giữa, chiếc máy rang mẫu hai lồng quay bằng thép không gỉ sáng bóng đặt uy nghiêm cạnh hệ thống ống hút khói dẫn thẳng lên trần nhà. Trên chiếc bàn cupping dài bằng đá hoa cương trắng muốt không một vết ố, hàng chục chiếc bát sứ chuyên dụng màu trắng tinh xếp thẳng hàng tăm tắp bên cạnh những chiếc thìa thử nếm mạ bạc và chiếc cân điện tử có độ chính xác đến 0,01 gram. Trên hệ giá gỗ sồi phía sau là hàng trăm lọ thủy tinh dán nhãn cẩn thận, lưu trữ hồ sơ hạt từ các vùng trồng nổi tiếng khắp thế giới: Ethiopia Yirgacheffe, Colombia Geisha, Panama Boquete, Kenya Nyeri...

Không khí trong phòng mát lạnh nhờ chiếc điều hòa trung tâm chạy liên tục ở mức hai mươi hai độ C, tĩnh lặng tuyệt đối, chỉ có tiếng kim đồng hồ cơ tích tắc đều đặn trên tường và mùi thơm thanh khiết, phức hợp của cà phê rang mẫu còn vương lại từ mẻ làm việc ban sáng.

Khi Khôi và Lâm đẩy cửa bước vào, Bảo Ngọc đang cặm cụi dùng kẹp kim loại gắp từng hạt lỗi trên một chiếc khay nhôm màu đen mờ. Cô mặc chiếc áo thun đen đơn giản, tạp dề bằng vải thô màu xám tro buộc gọn gàng ngang eo thon, mái tóc đen nhánh được cột cao để lộ gương mặt thanh tú nhưng toát lên vẻ nghiêm nghị, sắc sảo đến lạnh lùng. Nghe tiếng chuông gió bằng đồng leng keng khẽ vang lên ở cửa, cô không hề ngẩng đầu lên ngay. Ngón tay đeo găng cao su màu đen của cô vẫn nhẹ nhàng, chuẩn xác gắp nốt một hạt bị sâu đục vỏ bỏ vào chiếc đĩa phế phẩm bên cạnh, sau đó mới từ tốn tháo găng tay, ngước đôi mắt sắc như dao cạo nhìn Khôi.

"Đúng mười ngày," giọng Ngọc cất lên đều đều, phẳng lặng như mặt hồ không một gợn sóng, không chứa đựng bất kỳ sự vồn vã hay chào đón nào. "Anh đến muộn mười lăm phút so với giờ hẹn."

"Tôi xin lỗi," Khôi tháo ba lô xuống, bước từng bước cẩn trọng lại gần chiếc bàn thử nếm. "Dưới rẫy có chút chuyện phát sinh ngoài dự kiến với thương lái. Tôi phải giải quyết xong cam kết sản lượng cà xô của gia đình mới có thể rời đi."

Bảo Ngọc nhìn lướt qua Khôi từ đầu đến chân. Ánh mắt cô dừng lại thật lâu ở vạt áo khoác dính đầy bụi đỏ bazan chưa kịp phủi và những vết xước dài, rướm máu khô trên mu bàn tay anh — những dấu tích không thể nhầm lẫn của chuỗi ngày cưa gỗ, đục tường, phơi hạt thâu đêm dưới rẫy. Cô không buồn mở lời hỏi han về chuyện thương lái hay món nợ nần của gia đình anh, chỉ khẽ kéo chiếc ghế cao bằng kim loại lại gần bàn đá, ngồi xuống và khoanh hai tay trước ngực:

"Tôi nhớ là tôi đã nói rất rõ ràng ở lần gặp trước: tôi không quan tâm đến hoàn cảnh khó khăn của gia đình anh, tôi không quan tâm chuyện anh bị công ty sa thải hay sắp mất đất rẫy hương hỏa. Tôi chỉ quan tâm đến thứ duy nhất mà anh đặt lên chiếc bàn này. Mẻ hạt trước của anh là một thảm họa sơ chế không thể cứu vãn, điểm thử nếm dưới sáu mươi. Nếu hôm nay anh mang đến đây một mẻ hạt tương tự rồi lại dùng câu chuyện nông dân nghèo vượt khó để lay chuyển tôi, thì anh có thể kéo khóa ba lô lại và quay về ngay bây giờ. Tôi không có thời gian cho những ảo tưởng nghiệp dư."

Lâm đứng cạnh toan cất lời giải thích nhưng Khôi đã đưa tay ra hiệu ngăn lại. Khôi bước thẳng tới trước mặt Bảo Ngọc. Anh không hề né tránh ánh nhìn sắc sảo, soi mói của cô gái đối diện. Ngược lại, ánh mắt anh phẳng lặng, giọng nói trầm tĩnh và dứt khoát:

"Tôi đến đây hôm nay không phải để kể khổ, và càng không phải để xin xỏ bất kỳ một điểm số thương hại nào từ cô. Lần trước tôi đã thất bại hoàn toàn. Tôi đã sai lầm nghiêm trọng khi bê nguyên si mớ lý thuyết ủ kỵ khí trong sách vở nước ngoài áp đặt một cách mù quáng lên vi khí hậu khắc nghiệt của Cư M’Rao. Tôi đã để nhiệt độ bên trong thùng composite kín tăng vọt lên bốn mươi ba độ C, giết chết toàn bộ nấm men có ích và tạo điều kiện cho vi khuẩn axetic hoang dại bùng phát dữ dội, biến cả mẻ hạt tâm huyết thành một hũ giấm chua thối. Tôi cũng đã sai lầm khi phơi bạt sát mặt đất ẩm ướt khiến hạt bị co rút, hấp thụ hơi đất ẩm và nhiễm lỗi mùi mốc hôi. Tất cả những lỗi kỹ thuật chết người đó, cô chỉ ra không sai một chữ."

Bảo Ngọc khẽ nhướng một bên mày. Sự thẳng thắn trần trụi, không quanh co đổ lỗi của Khôi dường như nằm ngoài dự tính của cô. Trong suốt những năm làm việc trong ngành cà phê đặc sản, từ các cuộc thi barista ở Sài Gòn cho đến các trang trại lớn ở Đà Lạt, chín mươi chín phần trăm những người thất bại mà cô từng gặp đều tìm cách đổ lỗi: họ đổ lỗi cho thời tiết thất thường, đổ lỗi cho công nhân hái ẩu, hoặc tệ hơn là đổ lỗi cho khẩu vị của giám khảo thử nếm quá khắt khe. Hiếm có một ai dám nhìn thẳng vào những con số nhiệt độ sai lầm và dũng cảm thừa nhận mình đã tự tay bức tử phôi hạt một cách không khoan nhượng như người kỹ sư trẻ này.

Khôi kéo khóa chiếc ba lô, cẩn thận rút chiếc túi zip tráng bạc đặt nhẹ nhàng lên mặt bàn đá hoa cương trắng. Tiếp đó, anh rút ra một cuốn sổ tay bìa da màu nâu sờn rách, quăn góc, đặt ngay ngắn bên cạnh chiếc túi.

"Mười ngày qua, tôi đã đập bỏ toàn bộ các thùng ủ kín. Tôi học lại từ đầu kinh nghiệm quan sát hướng gió, chu kỳ nắng và độ ẩm tự nhiên của anh Tư thợ rẫy. Chúng tôi cải tạo lại kho nông cụ cũ, đóng ba khung giàn phơi lưới cước cách mặt đất nén đúng tám mươi phân để đón trọn luồng gió đối lưu khô nóng hướng Đông Bắc. Ba trăm năm mươi ký quả Robusta sẻ cổ thụ được hái lựa thủ công với tỷ lệ quả chín một trăm phần trăm, độ Brix đo bằng khúc xạ kế quang học đạt hai mươi mốt phẩy năm phần trăm. Tôi cho xát vỏ quả tươi, giữ lại chính xác năm mươi phần trăm lớp chất nhầy tự nhiên, sơ chế theo phương pháp Yellow Honey, cào đảo hạt liên tục ba mươi phút một lần vào ban ngày và che chắn sương đêm tuyệt đối bằng bạt cách ẩm."

Khôi lật mở cuốn sổ tay ra trước mặt Ngọc. Từng trang giấy được kẻ bảng cẩn thận bằng mực bút bi xanh: các mốc thời gian ghi chép ba giờ một lần liên tục suốt chín ngày chín đêm, nhiệt độ môi trường xung quanh, độ ẩm không khí đo bằng ẩm kế treo ở bốn góc giàn, và biểu đồ hạ ẩm của hạt từ năm mươi lăm phần trăm xuống chính xác mười một phẩy không phần trăm.

"Độ ẩm đo bằng máy phóng xạ mini trưa nay tại rẫy đạt đúng mười một phần trăm. Hạt không bị thâm kim, phôi hạt không bị sốc nhiệt," Khôi đẩy nhẹ túi hạt về phía cô. "Tôi đề nghị cô thực hiện một buổi thử nếm mù (blind cupping). Cô có thể lấy bất kỳ mẫu Robusta thương phẩm loại một hay hàng Fine Robusta nào cô đang có ở đây để làm mẫu đối chứng. Nếu mẻ hạt này của tôi vẫn dưới mức tiêu chuẩn cà phê đặc sản, tôi sẽ tự động thu dọn đồ đạc rời đi và không bao giờ bước chân vào căn phòng này làm phiền cô thêm một lần nào nữa."

Bảo Ngọc không trả lời ngay. Cô cúi xuống nhìn cuốn sổ tay ghi chép tỉ mỉ đến từng chi tiết nhỏ nhất — những nét chữ nắn nót nhưng có phần run rẩy vì những đêm thức trắng, những vệt ố màu vàng nhạt của nhựa cà phê khô dính trên mép giấy. Đó không phải là thứ sản phẩm của sự tô vẽ hay một kế hoạch khởi nghiệp viển vông trên giấy tờ để đi gọi vốn. Đó là mồ hôi, là sự kiệt cùng thể xác của những đêm canh gió rét vùng cao nguyên, là kỷ luật thép của một người làm khoa học dám đứng dậy sửa sai từ chính đống tro tàn của mình.

Bảo Ngọc đưa tay kéo chiếc túi zip lại gần. Những ngón tay thon dài của cô miết nhẹ vào đường rãnh khóa khí, rồi dứt khoát tách nó ra.

Một làn hương thơm ngọt lịm lập tức thoát ra từ miệng túi, ùa vào không gian mát lạnh của căn phòng. Đó hoàn toàn không phải là mùi hương nồng gắt, thô ráp của thứ hương liệu nhân tạo hay mùi chua chát của quá trình lên men lỗi, mà là một phức hợp hương thơm tự nhiên, vô cùng ấm áp và tinh khiết: mùi đường mía non quyện chặt với hương mật ong hoa cà phê rừng, phảng phất chút vị bùi béo của hạt mắc-ca tươi và hương thơm thanh thoát của vỏ cam sấy khô dưới nắng.

Ngọc trút một nắm nhân xanh ra chiếc khay nhôm màu đen mờ. Dưới ánh đèn LED trắng chuyên dụng rọi thẳng từ trên cao, những hạt nhân Robusta sẻ hiện ra tròn trịa, đồng đều tăm tắp như những hạt ngọc thạch màu xám xanh ánh bạc. Lớp vỏ lụa mỏng bám sát thân hạt, đường rãnh giữa khép kín, thẳng tắp và hoàn toàn không có một vết thâm kim hay chấm đen nào ở phần tim hạt — dấu hiệu tuyệt đối của việc hạt được phơi khô đều từ trong tâm mà không bị đọng ẩm hay nấm mốc xâm lấn. Cô đưa chiếc khay hạt lên sát chóp mũi, nhắm nghiền đôi mắt lại, hít vào một hơi thật sâu và thật chậm. Khứu giác cực kỳ nhạy bén của một chuyên gia thử nếm từng trải qua hàng ngàn giờ tập luyện giúp cô nhận diện ngay lập tức: không có axit axetic, không có mùi men rượu hoang dã, không có bất kỳ một tia ẩm mốc nào. Hạt nhân xanh thở ra sự tinh sạch tuyệt đối và lượng đường tự nhiên được giữ lại gần như nguyên vẹn.

Ngọc mở mắt, ngước nhìn Khôi. Ánh mắt cô vẫn sắc lạnh, nhưng sự hoài nghi và vẻ khinh miệt ban đầu đã hoàn toàn biến mất, thay vào đó là sự tập trung cao độ và nỗi tò mò của một người làm nghề thực thụ trước một nguyên liệu đầy tiềm năng.

"Hạt nhân xanh được xử lý rất sạch," Ngọc nhận xét ngắn gọn, thanh âm không còn chút mỉa mai nào. "Nhưng hạt nhân xanh mới chỉ là một nửa của câu chuyện. Lửa mới là thứ bóc trần bản chất thực sự của hạt cà phê. Anh có biết giống Robusta sẻ cổ thụ này có cấu trúc tế bào rất đặc, nếu profile rang không chuẩn, nhiệt lượng không xuyên thấu được vào tâm hạt thì bên ngoài sẽ cháy đắng mà bên trong vẫn còn ngái xanh không?"

"Tôi biết rất rõ điều đó," Khôi nhìn thẳng vào mắt cô, trả lời không do dự. "Đó là lý do duy nhất tôi mang nó đến đây, cho cô. Tôi làm nông nghiệp, tôi làm khoa học cây trồng, tôi kiểm soát được toàn bộ quá trình sinh hóa từ cành cây cho đến hạt nhân xanh trong kho. Còn việc đánh thức toàn bộ tiềm năng hương vị của nó trong ngọn lửa, tôi đặt trọn niềm tin vào năng lực chuyên môn của cô."

Một khoảng lặng kéo dài bao trùm khắp căn phòng thí nghiệm. Lâm đứng bên cạnh, lồng ngực như nghẹt thở khi quan sát từng chuyển động nhỏ nhất trên gương mặt của Bảo Ngọc. Cậu hiểu rõ hơn ai hết, đây chính là thời khắc mang tính sống còn đối với dự án Bản Đỏ. Nếu Bảo Ngọc quay lưng từ chối, mẻ hạt này dù có tốt đến đâu cũng sẽ mãi mãi chỉ là một bọc nông sản vô danh trôi nổi, không có bất kỳ một chứng chỉ cảm quan nào để tiếp cận các nhà rang xay đặc sản khó tính ở Sài Gòn hay Đà Nẵng, và toàn bộ công sức cứu lấy mảnh rẫy sẽ sụp đổ hoàn toàn trước ngày mùng năm tháng sau.

Bảo Ngọc đứng thẳng dậy. Cô tháo chiếc kẹp tóc bằng nhựa, búi lại mái tóc đen nhánh một cách gọn gàng, chặt chẽ ra sau gáy, rồi sải bước dứt khoát về phía chiếc máy rang mẫu hai lồng quay bằng thép không gỉ.

"Lâm," Ngọc cất tiếng, đôi mắt không rời khỏi bảng đồng hồ cơ trên máy. "Bật công tắc nguồn của quạt hút khói và máy nén khí góc tường lên giúp tôi."

Lâm thở phào một hơi thật dài, nhanh chóng bước lại góc phòng nhấn công tắc. Tiếng quạt hút khói gầm lên nhè nhẹ, phá tan bầu không khí tĩnh mịch nghẹt thở vừa rồi.

Ngọc đưa tay vặn van gas điều áp, ngón trỏ nhấn mạnh nút đánh lửa tự động của máy rang.

*Tách... phựt!*

Ngọn lửa gas màu xanh biếc bùng lên sắc lẹm bên dưới lồng rang bằng thép dập lỗ, soi rọi gương mặt thanh tú đang đanh lại vì tập trung cao độ của cô gái trẻ. Tiếng mô-tơ điện quay đều đặn bắt đầu đưa lồng rang vào trạng thái gia nhiệt sơ bộ (pre-heat). Màn hình điện tử hiển thị nhiệt độ tức thời bắt đầu nhảy số liên tục: một trăm hai mươi độ... một trăm bốn mươi độ... một trăm sáu mươi độ C.

Ngọc lấy chiếc cân điện tử, múc chính xác một trăm gram hạt nhân xanh từ chiếc túi zip của Khôi đổ vào chiếc phễu nạp liệu bằng inox sáng loáng phía trên nóc máy. Cô đứng thẳng lưng, một tay đặt hờ lên chiếc cần gạt xả hạt, ánh mắt chăm chú dõi theo từng biến động của đường cong nhiệt độ đang tăng dần trên màn hình máy tính kết nối phần mềm Artisan.

"Một trăm tám mươi độ C," Ngọc lẩm bẩm trong miệng, ngón tay giật mạnh chiếc cần xả liệu.

Rào rào!

Những hạt nhân xanh Robusta sẻ trút thẳng qua miệng phễu, lao vào lòng lồng thép đang quay tít giữa luồng nhiệt bỏng rát.

Chỉ sau vài chục giây hấp thụ nhiệt lượng từ lồng kim loại, tiếng máy rang chuyển dần từ tiếng va đập khô khốc, đanh thép của những hạt cà phê cứng như đá sang một âm thanh trầm đục, êm ái và nhịp nhàng hơn. Khi nhiệt kế chỉ qua ngưỡng một trăm chín mươi độ C, phản ứng Maillard bắt đầu diễn ra dữ dội bên trong từng cấu trúc tế bào hạt. Các axit amin và các phân tử đường đơn phản ứng mãnh liệt dưới tác động của nhiệt lượng, bẻ gãy các liên kết hóa học cũ và tái cấu trúc thành hàng trăm hợp chất tạo hương mới.

Khôi nín thở bước từng bước nhẹ lại gần máy rang, hai bàn tay nắm chặt mép tạp dề. Qua khe kính quan sát tròn nhỏ bằng thủy tinh chịu nhiệt trên thân máy, anh tận mắt nhìn thấy những hạt cà phê từ màu xanh xám ánh bạc ban đầu đang ngả dần sang màu vàng rơm của lúa chín, rồi chuyển sang màu nâu quế óng ả.

Và rồi, âm thanh kỳ diệu nhất, âm thanh mang tính quyết định mà bất kỳ một người làm cà phê nào cũng nín thở chờ đợi cuối cùng đã vang lên giòn giã:

*Tách! Lách tách... tách!*

Tiếng nổ đầu tiên (First Crack) bắt đầu điểm nhịp rộn rã bên trong lồng thép. Dưới áp suất cực lớn của hơi nước bị nén chặt và khí carbon dioxide giải phóng từ bên trong, từng thành tế bào hạt cà phê vỡ bung ra, giải phóng toàn bộ những giọt tinh dầu quý giá nhất vốn bị giam cầm bấy lâu nay trong lớp cấu trúc cellulose dày đặc.

Từ ống xả của máy rang mẫu, làn khói mỏng màu lam nhạt bắt đầu cuộn tròn bay lên, bị hút mạnh vào hệ thống ống gió. Toàn bộ không gian phòng thử nếm lập tức bị xâm chiếm bởi một làn hương ngào ngạt, mãnh liệt đến mức choáng ngợp: hương thơm ngọt ngào của quả chín mọng hòa quyện với mùi đường mía caramel cháy sém, điểm xuyết vị béo ngậy của hạt dẻ rang và một chút hương hoa cà phê nồng nàn của đất đỏ Cư M’Rao bắt đầu lan tỏa khắp căn phòng.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn