Bản khế ước Cư M'Rao
Sân rẫy nhà họ Đoàn sáng sớm rộn rã khác thường khi tiếng chân người bì bõm lội bùn và tiếng những chiếc xe máy cũ kỹ nối đuôi nhau quẹo vào con đường đất đỏ bazan dẫn từ trục lộ liên thôn lên đồi.
Màn sương sớm bảng lảng còn vắt ngang triền dốc, quấn quanh những hàng muồng đen chắn gió cao vút đang rụng lác đác vài nhành hoa vàng li ti xuống mặt đất còn sũng nước sau chuỗi ngày mưa bão dai dẳng. Đất đỏ bazan mùa này nhão ra như bột nặn, dính chặt vào từng vành bánh xe máy cày, bết cứng vào gác-đờ-bu của những chiếc Honda Cup 50, Cup 78 nát tươm, phát ra những âm thanh rộc rạch, lộc cộc quen thuộc của miệt vườn Tây Nguyên mỗi cữ vào mùa thu hoạch. Không khí lạnh buốt của rạng sáng vùng cao vẫn còn đọng trên từng phiến lá cà phê bóng nhẫy, nhưng dưới mái hiên lợp tôn xi măng của căn nhà ngang ba gian, hơi nóng từ bếp than và hơi thở của hàng chục con người đã bắt đầu nung đặc bầu không gian.
Chiếc bàn dài ghép từ bốn tấm ván gỗ tạp xẻ dày đã được lau chùi sạch bóng, lộ rõ những đường vân gỗ xước xát qua bao mùa vụ. Ông Đoàn Văn Hậu ngồi ở đầu bàn, hai bàn tay thô nhám với những khớp xương gồ ghề, móng tay hằn sâu những vệt nhựa cây đen nhánh không bao giờ cọ sạch được, đang cẩn thận vê một điếu thuốc lá cuộn sâu kèn từ mớ thuốc rê Cẩm Lệ vàng óng. Bật que diêm quẹt kêu cái *xòe*, khói thuốc xanh mờ tỏa ra phảng phất, hòa cùng mùi ấm nước chè xanh om lá dứa vừa mới sôi sùng sục trên chiếc bếp than tổ ong nhóm ở góc chái. Bà Hạnh lăng xăng bưng ra mấy đĩa sành lớn đựng khoai lang luộc bốc khói nghi ngút, lớp vỏ khoai nứt bung để lộ ruột vàng ươm tươm mật, nhưng mắt bà chốc chốc lại liếc nhìn con trai với vẻ lo lắng kín đáo hiện rõ nơi khóe mắt đầy vết chân chim.
Hơn mười người đàn ông và phụ nữ, đại diện cho những nông hộ có diện tích rẫy liền kề thuộc buôn Cư M’Rao, lục tục kéo vào hiên. Họ ngồi san sát trên những chiếc ghế đẩu bằng gỗ mít đẽo thô, vài người trẻ hơn thì chọn ngồi xổm tựa lưng vào hàng cột gỗ cà chít của hiên nhà, cởi bỏ chiếc mũ tai bèo sờn rách kẹp chặt vào nách. Trên gương mặt sạm nắng phong trần của họ, vẻ e dè, thận trọng hiện rõ qua từng ánh mắt dò xét, nhìn quanh quất từ ấm nước chè, tập hồ sơ trắng tinh đặt ngay ngắn trước mặt Khôi, rồi lại liếc ra khoảng sân gạch rêu phong.
Tin tức ở cái vùng cao nguyên bốn bề lộng gió này lan nhanh như ngọn gió chướng quét qua thung lũng rẫy. Người ta đã râm ran bàn tán từ ngã ba chợ Buôn Đôn cho tới tận các quán cà phê cóc ven lộ về chuyện Bản Đỏ suýt nữa quỵ ngã sau cơn bão số bốn vừa rồi: bảy mẻ cà phê ủ men theo phương pháp chế biến mật ong bị ngập úng hỏng hoàn toàn dưới trạm sơ chế xóm Trong, công ty non trẻ phải móc cạn từng đồng vốn dự phòng để hoàn tiền cọc cho khách sỉ dưới phố Sài Gòn, số dư tài khoản ngân hàng nghe đâu chỉ còn vỏn vẹn vài chục triệu bạc—chưa bằng tiền một bữa nhậu sang của cánh đầu nậu ngoài thị xã.
Chưa hết, chiếc xe tải bốn chân sơn màu xanh bóng lộn của tập đoàn nông sản Đại Nguyên suốt cả tuần trước vẫn đậu chình ình ở sân nhà văn hóa buôn. Tay giám đốc chi nhánh bảnh bao tên Vũ Thành Đạt đã tổ chức hẳn một buổi hội thảo rình rang, bắc loa phóng thanh công suất lớn phát nhạc tưng bừng, rồi rải từng cọc tiền polymer mới cáu trị giá hàng chục triệu đồng tiền tươi ngay trên mặt bàn phủ khăn đỏ để mời gọi người dân ký vào bản hợp đồng độc quyền ba năm. Đại Nguyên hứa bao tiêu toàn bộ, ứng trước phân bón NPK nhập khẩu cao cấp với lãi suất ưu đãi, lại còn cam kết tặng kèm máy cắt cỏ cho mỗi hộ có diện tích từ hai héc-ta trở lên.
Dù không ai nói thẳng ra trước mặt ông Hậu vì tình làng nghĩa xóm tối lửa tắt đèn có nhau, nhưng nỗi hoang mang thì bám rễ sâu như cỏ tranh trong bụng những người nông dân quanh năm chỉ biết cúi mặt nhìn đất, ngửa mặt trông trời. Họ sợ nghèo, sợ nợ, và trên hết, họ sợ đặt cược sinh mệnh cả gia đình vào một lời hứa viển vông.
Ông Ma BLao, một nông dân trạc ngoài năm mươi tuổi, có thâm niên làm rẫy lâu năm nhất nhì ở khoảnh đất sát suối Ea M’Rao, nhấp một ngụm nước chè tươi còn nóng rẫy, khà ra một hơi khói rồi cất giọng khàn đặc phá tan bầu không khí ngột ngạt:
"Nói thật một câu cho vuông vức với bác Hậu với cháu Khôi ở đây, bữa nay bà con dầm mưa lội bùn tới cái hiên nhà này là vì cái nghĩa xóm giềng mười mấy hai chục năm qua. Tối lửa tắt đèn có nhau, chén cơm củ khoai từng chia nửa. Nhưng bước chân vô mùa vụ, làm nông thì cái bụng phải lo cái ăn bỏ vào miệng trước mắt đã. Bão số bốn quét qua rẫy tuần trước, phân bón đợt ba nuôi trái chưa bón xong mà hôm kia đại lý Năm Sang đã đánh tiếng đòi xiết nợ mấy hộ trong buôn chưa có cà xô nộp trừ gốc. Rồi ngoài ngã ba người ta đồn rần rần Bản Đỏ mấy bữa rày cạn kiệt vốn liếng, khách sỉ dưới Sài Gòn hủy hợp đồng trả hàng hàng loạt. Bọn tôi rẫy nhỏ, mỗi nhà gom góp dăm bảy sào tới một đôi héc-ta là cùng, lỡ mà nghe theo lời cháu Khôi, bắt vợ con còng lưng đi hái lựa từng trái chín mọng theo tiêu chuẩn khắt khe, rồi đùng một cái bên cháu đứt gánh giữa đường, không có tiền mặt lấy hàng thì sao? Lúc đó cà phê chín nẫu ra trên cành, rụng thối đất thối cát, thương lái người ta chê người ta không thèm đem xe vào chở, thì cả nhà cả buôn chỉ có nước bốc đất đỏ mà ăn trừ bữa!"
Một vài tiếng xì xào đồng tình rộ lên như ong vỡ tổ. Những cái gật đầu kín đáo, những ánh mắt nhìn nhau đầy bất an. Bà H’Ngách, người phụ nữ Ê-đê luống tuổi có bốn sào rẫy cà phê sẻ đối diện rẫy ông Tư, cũng ngập ngừng lên tiếng, hai bàn tay chai sần vân vê vạt áo hoa đã phai màu:
"Đúng đó Khôi à, bác Ma BLao nói không sai đâu con. Làm cà phê chất lượng cao, cà phê đặc sản nghe nó sang cái tai, tự hào cái bụng thật đó. Nhưng mà cực cái thân nông dân tụi tôi quá chừng! Bắt người ta hái lựa từng trái đỏ au, chín mọng không tì vết, tính ra tốn công gấp ba, gấp bốn lần ngày thường. Tiền công thuê thợ hái rẫy dưới buôn bữa nay người ta đòi hai trăm tám, có bữa lên gần ba trăm ngàn một ngày rồi. Nếu cho hái xô, tôi kêu một đội thợ năm bảy người lùa một bận năm ngày là sạch trơn từ đầu rẫy tới cuối vườn, gom bao chất lên xe công nông chở thẳng ra đại lý Năm Sang lấy tiền tươi liền tay đặng trả nợ gối đầu tiền phân, tiền dầu chạy máy bơm tưới đợt khô. Chứ neo trái chín trên cây đợi các cháu mang máy đo độ đường với lại cân điện tử tới chấm điểm, rủi trời đất ẩm ương đổ một trận mưa trái mùa hay bão muộn như tuần rồi thì kể như trắng tay, công cốc cả năm trời nuôi cây!"
Khôi ngồi ở giữa bàn, hai bàn tay đan vào nhau đặt trên mặt hồ sơ. Anh không hề tỏ ra bực bội hay sốt ruột. Đôi mắt chàng kỹ sư trẻ vẫn giữ nguyên vẻ điềm tĩnh, ấm áp và thấu hiểu. Những tháng ngày cọ xát khốc liệt giữa những phòng thí nghiệm hiện đại ở Sài Gòn và những triền đồi ngập gió ở Cư M’Rao đã dạy cho anh một bài học xương máu mà không một giáo trình đại học nào có thể truyền tải: người nông dân không sống bằng lý thuyết kinh tế vĩ mô, họ không ăn những viễn cảnh tươi đẹp về thị trường cà phê làn sóng thứ ba hay những chứng nhận phát triển bền vững in trên giấy bóng loáng. Họ sống bằng miếng cơm manh áo thực tế, bằng những con số đã được chứng minh qua mồ hôi, nước mắt và đồng tiền bát gạo của chính những người hàng xóm cùng cảnh ngộ.
Khôi khẽ quay sang, đưa mắt nhìn người thanh niên Ê-đê đang ngồi lặng lẽ ở một góc hiên nhà, nép mình bên cạnh đống bao bố đựng nông cụ. Anh gật đầu nhẹ một cái đầy tin cậy:
"Y Bih, em đem cuốn sổ của em ra đây cho bà con buôn mình cùng coi."
Y Bih Niê hít một hơi sâu, khẽ chỉnh lại chiếc áo sơ mi bạc màu đã sờn rách ở mép cổ áo—dấu tích của những buổi luồn lách qua những hàng cà phê rậm rạp ban sáng. Anh bước ra giữa khoảng sân gạch, nơi bóng nắng ban mai vừa kịp xé toạc màn sương mù, rọi những vệt sáng vàng nhạt đầu tiên lên những viên gạch nung đỏ au. Trong tay Y Bih là một cuốn sổ tay học sinh bìa bọc bằng giấy báo cũ đã ngả màu ố vàng, bốn góc sổ quăn queo, sờn rách và lem luốc những vệt mồ hôi tay cùng bụi đất đỏ bazan khô khốc.
Không khí dưới hiên nhà bỗng chốc chùng hẳn xuống. Mọi cặp mắt đều đổ dồn vào chàng trai trẻ. Người dân buôn Cư M’Rao này chẳng ai lạ gì hoàn cảnh của Y Bih. Vụ mùa năm ngoái, chính Y Bih là người đầu tiên trong buôn dám cãi lời già làng, liều lĩnh mang toàn bộ năm sào cà phê sẻ của cha mẹ để lại ra liên kết thí điểm với Bản Đỏ. Cũng chính Y Bih vào giữa vụ trước đã suýt bị đội ngũ đòi nợ của thương lái Năm Sang kéo người vào tận chân rẫy lập biên bản đòi niêm phong chiếc máy nổ Đông Phong vì món nợ vật tư phân bón tồn đọng hơn ba mươi triệu đồng.
"Bà con buôn mình ngồi đây nghe tôi nói một chút bụng dạ của tôi," Y Bih mở cuốn sổ ra, giơ trang giấy lên trước mặt mọi người. Ngón tay cái to bản, thô ráp với vết sẹo dài do dao phát rẫy để lại rê chầm chậm trên từng dòng chữ nắn nót viết bằng mực tím xen lẫn những phép tính cộng trừ nhân chia chi chít. "Tôi không học cao, không biết nói chữ nghĩa kinh doanh lắt léo như mấy ông giám đốc trên phố huyện đâu. Nhưng cuốn sổ học trò này là mồ hôi của vợ chồng tôi ghi từ ngày đầu mùa năm ngoái tới tận cái ngày quét rẫy vét vườn cách đây hai tuần. Từng bao phân bón lá, từng lít dầu máy nổ tưới gốc, từng ngày công thợ hái mướn, từng chuyến xe chở qua trạm cân nhà bác Hậu, hai vợ chồng tôi thắp đèn dầu ngồi cộng trừ không sót một cắc bạc nào."
Y Bih hắng giọng, ngước nhìn thẳng vào mắt ông già Ma BLao và người cô ruột H’Ngách, giọng nói trầm hùng mang âm hưởng của núi rừng rành rọt vang lên:
"Vụ mùa vừa rồi, năm sào rẫy nhà tôi thu được tổng cộng gần tám tấn quả tươi. Nếu cứ theo thói quen cũ mấy chục năm nay của buôn làng mình, tôi thuê một tốp thợ hái tuốt cành một lượt sạch bách. Cứ dùng bao tay bóp chặt cành rồi giật ngược, quả xanh non, quả chín nẫu, quả lép bị sâu đục gom hết chung vô một bao bố tải, chở ra bán xô cho đại lý Năm Sang với giá trung bình ngoài chợ là sáu ngàn tám trăm đồng một ký. Tám tấn quả xô đó, lái Sang bấm máy tính cái rẹt, đưa cho tôi năm mươi tư triệu bốn trăm ngàn đồng. Nhìn cọc tiền thấy dầy đó, nhưng vừa cầm chưa ấm tay thì bị trừ sạch ba mươi hai triệu tiền nợ phân bón NPK và thuốc trừ sâu gối đầu từ đầu năm, rồi trừ tiếp mười lăm triệu tiền thuê công thợ hái khoán với tiền dầu chạy máy bơm. Vợ chồng tôi còng lưng dầm mưa dãi nắng suốt ba trăm sáu mươi ngày, trừ đầu trừ đuôi chỉ còn dư ra được đúng bảy triệu bốn trăm ngàn đồng dằn túi phòng khi ốm đau. Cầm bảy triệu bạc cho công sức cả năm trời của hai con người, có đêm tôi nằm vắt tay lên trán mà ứa nước mắt, không biết năm sau lấy gì cho con bé đi học trường huyện."
Y Bih dừng lại một nhịp, lật giở sang trang sau của cuốn sổ. Trang giấy này được kẻ bảng cẩn thận bằng mực đỏ, ghi chép từng đợt hái lựa với các con số được gạch chân đậm nét:
"Còn đây, đây là con số thực tế tôi làm liên kết với Bản Đỏ vụ này. Tôi đổi cách làm, chia rẫy ra hái lựa làm ba đợt quả chín. Đợt hái đầu tiên, thợ nhà tôi quen tay hái ẩu, tuốt lẫn cả đống quả xanh vào sọt, chở qua trạm cân bị cô Ngọc kiểm định chất lượng gạt ra, bắt đổ ra bạt lựa lại từng trái. Lúc đó tôi bực cái bụng lắm, tôi nghĩ bụng chắc tụi nó kiếm cớ ép giá nông dân mình thôi. Nhưng rồi chú Tư với anh Khôi bỏ cả buổi trưa không ăn cơm, chạy xe máy vô tận rẫy chỉ cho tôi với mấy người thợ cách hái xoay cổ tay để cuống quả tự rụng. Rồi anh Lâm bày cho tôi đổi cách trả công thợ: không trả khoán theo bao nữa mà chuyển qua trả công nhật có thưởng thêm tiền cho mỗi tạ quả chín hái đạt tiêu chuẩn. Kết quả là tới đợt hai và đợt ba, tỷ lệ quả chín của rẫy tôi đạt trên chín mươi lăm phần trăm!"
Y Bih đập nhẹ bàn tay lên trang sổ, ánh mắt ánh lên ngọn lửa tự hào:
"Bản Đỏ thu mua toàn bộ số quả chín đó của tôi theo giá sàn cam kết cộng thêm tiền thưởng chất lượng theo độ ngọt của trái, tính bình quân đạt chín ngàn năm trăm đồng cho một ký quả tươi—cao hơn giá ngoài thị trường gần ba ngàn đồng một ký! Trừ hết chi phí thuê công thợ hái lựa theo ngày công nhật cao hơn—tôi trả thợ hái hai trăm tám mươi ngàn một ngày cộng thêm năm mươi ngàn tiền thưởng chuyên cần nếu sọt cà phê không lẫn quả xanh—thì tổng số tiền tươi tôi thực nhận về tay từ Bản Đỏ sau khi kết thúc vụ là hơn bảy mươi sáu triệu đồng. Sau khi thanh toán sạch sẽ tiền vật tư phân bón và tiền công thợ, trong túi vợ chồng tôi còn ròng rã hai mươi mốt triệu rưỡi tiền mặt!"
Cả khoảng hiên nhà bỗng chốc im phăng phắc. Tiếng gió chướng thổi xào xạc qua rặng muồng đen dường như cũng ngừng bặt. Mấy người nông dân ngồi cạnh nhau bắt đầu liếc nhìn cuốn sổ tay trong tay Y Bih với ánh mắt hoàn toàn khác.
"Hai mươi mốt triệu rưỡi tiền lãi ròng," Y Bih gõ mạnh ngón tay lên mặt trang giấy, giọng anh nghẹn lại nhưng đanh thép như đá tảng bờ suối. "Số tiền đó giúp tôi mua được chiếc xe đạp điện cho con bé lớn đi học trường huyện không phải đi bộ sáu cây số đường bùn, mua được ba bao phân vi sinh ủ hoai về bón lót phục hồi rễ sau thu hoạch, và cái quan trọng nhất là bữa nay tôi ngẩng cao đầu đi ngang ngã ba, không còn phải nơm nớp lo người của đại lý tới đòi xiết cái máy nổ là cái cần câu cơm của cả nhà! Mà chưa hết đâu bà con. Đợt bão số bốn vừa rồi quét qua, một tạ rưỡi cà phê chín ở rẫy dốc sườn Tây của tôi bị trượt đất ngập úng hỏng toàn bộ. Theo luật mua bán sòng phẳng, hàng hỏng thì người mua không lấy, Bản Đỏ từ chối nhập hạt thối để giữ chữ tín chất lượng, nhưng anh Khôi với anh Lâm đã trích Quỹ dự phòng rủi ro thiên tai hỗ trợ một trăm phần trăm tiền công thợ hái cho nhà tôi, trao tận tay bốn triệu chín trăm ngàn tiền mặt cứu trợ! Tôi hỏi thật lòng bà con buôn mình một câu: Ở cái xứ Tây Nguyên này, có thương lái nào ngoài chợ hay có tập đoàn nào trên phố làm được cái điều nhân nghĩa đó cho người trồng cà phê như chúng ta hay không?"
Những cái đầu bắt đầu ghé sát lại gần nhau. Tiếng xì xào to nhỏ vang lên mỗi lúc một nhiều. Ông Ma BLao rướn người qua mặt bàn, chìa bàn tay gân guốc giật lấy cuốn sổ từ tay Y Bih. Ông nheo cặp mắt đã kèm nhèm vì tuổi tác, soi từng nét chữ mực tím, ngón tay run run miết mạnh trên từng phép tính cộng trừ chi phí dầu mỡ, công cán. Những con số lạnh lùng nhưng chân thực đến từng đồng xu bát gạo đã giáng một đòn chí mạng vào nỗi nghi ngờ cố hữu của người nông dân già.
Thế nhưng, nỗi băn khoăn của người gắn bó cả đời với đất đai không dễ gì bị dập tắt chỉ bằng một bài toán kinh tế ngắn hạn. Từ phía góc cột hiên, một bô lão khác của buôn làng, ông Y Khen—người đàn ông đã ngoài bảy mươi tuổi, râu tóc bạc phơ, da dẻ nhăn nheo như vỏ cây muồng nhưng đôi mắt vẫn còn tinh anh kỳ lạ—chậm rãi gõ chiếc tẩu thuốc bằng rễ le vào chân ghế, cất giọng trầm đục:
"Chuyện tiền nong thằng Y Bih nó tính rành rọt như vậy, cái mắt tao nhìn thấy, cái tai tao nghe rõ rồi, không chối cãi được. Nhưng tao hỏi thiệt thằng Khôi với anh Tư một câu từ đáy bụng người làm rẫy: Cây cà phê nó cũng như con người vậy thôi, nó có mùa sinh nở, có lúc nghỉ ngơi. Cà phê sẻ thuần chủng buôn mình nhạy cảm lắm. Bắt thợ đi ra đi vào vườn rẫy ba bốn bận để hái lựa trái chín, người dẫm đạp dưới gốc nén chặt đất rễ, thợ vịn cành bẻ trái tỉa tót liên miên, lỡ tay làm gãy hết mấy cái mắt mầm ngủ nằm ở nách lá thì vụ sau lấy cái gì mà trổ bông? Mấy ông già như tao sợ nhất cái cảnh 'năm nay ăn đậm, sang năm trơ củi khô'. Cây kiệt sức rụng lá trơ xương rồi mất mùa liền hai ba vụ sau đó, lúc ấy ai đền cây, ai nuôi cái miệng cho con cháu buôn làng?"
Câu hỏi của ông Y Khen chạm đúng vào nỗi lo cốt tử nhất của nghề nông: sự suy kiệt của vườn cây. Đó là kinh nghiệm truyền đời đầy cay đắng của vùng đất này, nơi biết bao gia đình từng phá sản vì ép cây cho trái quá tải bằng thuốc kích thích để rồi vườn rẫy chết rụi chỉ sau một đêm sương muối.
Nghe câu hỏi ấy, anh Tư—người kỹ thuật viên nông học kỳ cựu của Bản Đỏ, cũng là người nông dân thực chiến có bàn tay vàng của vùng Cư M’Rao—đang đứng tựa bên khung cửa gỗ bèn buông cái điếu cày xuống đất. Anh không nói một lời thanh minh suông. Anh bước thẳng ra giữa khoảng sân gạch, chiếc quần vải ka-ki bạc phếch xắn ngang bắp chân để lộ đôi chân đen đúa, gân guốc chằng chịt vết trầy xước của một đời lội rẫy.
Trên tay anh Tư không có một mảnh giấy tờ sổ sách nào. Thay vào đó, anh giơ cao hai cành cà phê còn tươi nguyên cuống lá mà anh đã cẩn thận cắt từ hai khoảnh rẫy đối chứng ngay mé đồi ban sáng mang vào.
"Bác Y Khen với bà con cô bác dòm cho thiệt kỹ hai cành cà phê này giùm tui," anh Tư đưa hai cành cây ra sát trước mặt từng người, giọng nói sang sảng, chắc nịch như tiếng búa nện trên đe. "Cành bên tay trái này là cành tui cắt từ rẫy của một hộ bên xóm Ngoài, nơi thợ hái xô vừa quét qua hôm qua. Bà con nhìn kỹ đi: thợ hái xô dùng bao tay bóp chặt cành từ nách rồi giật miết một phát ra tận ngọn. Trái xanh, trái chín, cuống lá gì văng sạch sành sanh vào bạt. Nhìn thì sướng mắt, gọn gàng, đỡ tốn công trả thợ. Nhưng bà con dòm sát vô nách lá coi! Bàn tay thợ cào xước mất lớp vỏ biểu bì lụa bảo vệ cành, tước tróc từng mảng da cây, và nguy hiểm nhất là bẻ gãy gập toàn bộ những mắt mầm ngủ li ti nằm nép ở kẽ nách lá!"
Anh Tư dừng lại, đưa cành cây lại gần tầm mắt của già Y Khen:
"Những mắt mầm ngủ đó là cái gì? Nó chính là chồi hoa, là nhánh non của vụ mùa năm sau đó! Một khi mắt mầm bị dập nát, vết thương toác ra gặp trúng mấy trận mưa bão dầm dề như tuần rồi, vi khuẩn và nấm thán thư sẽ lập tức xâm nhập qua vết rách, làm cành bị thối đen từ ngoài ngọn thối ngược vào thân chính. Đó chính là lý do vì sao bao nhiêu năm qua buôn mình cứ mắc kẹt trong cái vòng luẩn quẩn: một năm được mùa thì y như rằng hai năm sau mất trắng, cây cà phê kiệt quệ rụng trụi lá, trơ trọi như đống củi khô mục giữa trời!"
Nói rồi, anh Tư giơ cao cành cà phê bên tay phải lên, chỉ ngón tay thô ráp vào từng kẽ lá xanh mướt:
"Còn đây là cành cà phê hái lựa kỹ thuật mà tui với thằng Khôi bày cho thằng Y Bih với mấy đứa nhỏ làm vụ này. Cà phê khi đạt độ chín từ chín mươi phần trăm trở lên, lượng đường tích tụ trong cùi đạt đỉnh, thì ở cuống quả tự nhiên sẽ hình thành một lớp tế bào đặc biệt gọi là 'tầng rời'. Lúc này, trái bám vào cành rất lỏng lẻo. Người thợ chỉ cần dùng hai ngón tay cái và ngón trỏ cầm nhẹ lấy trái, xoay nhẹ một góc ba mươi độ theo chiều kim đồng hồ là trái tự khắc rời cành ngọt xớt, êm ru như quả chín rụng cuống. Tuyệt đối không giật, không bứt, không làm rách một li vỏ cây, giữ nguyên vẹn một trăm phần trăm các mắt mầm ngủ nằm nguyên vị trí."
Anh Tư quét ánh mắt đầy tự tin qua khắp một lượt các bô lão trong buôn:
"Tui theo dõi liên tục suốt mười hai tháng qua trên diện tích một sào thử nghiệm ở triền phía Đông rẫy nhà bác Hậu: những cây cà phê được hái lựa bằng phương pháp xoay cổ tay này giữ lại được toàn bộ bộ khung lá già để tiếp tục quang hợp nuôi rễ qua mùa khô. Sau trận bão số bốn vừa rồi, những cây này bung mầm hoa khỏe gấp rưỡi so với những cây bị tuốt xô ngoài mé rẫy. Sản lượng của vụ sau không những không tụt giảm, mà ngược lại còn tăng trưởng đều đặn và ổn định qua từng năm vì cây không bao giờ bị sốc sinh lý hay mất sức kiệt quệ."
Anh Tư vỗ mạnh vào bắp đùi mình một cái *bét*, giọng đầy khẳng khái:
"Tui cũng là dân làm rẫy như bà con, hạt cơm tui ăn cũng từ đất đỏ bazan này mà ra. Tui mà nói sai nửa lời thì vụ mùa tới tui đem cả ba héc-ta rẫy nhà tui ra đền trắng cho buôn làng! Cây cà phê nó thảo thơm lắm bà con ơi, nó không biết nói dối đâu. Mình đối xử tử tế, nâng niu từng cành nhánh, mắt mầm của nó thì nó nuôi lại con cháu mình đời đời kiếp kiếp. Chứ cứ cào bằng tuốt trụi, vắt kiệt sức nó để lấy vài đồng bạc cắc ngắn hạn của mấy tay buôn xô, thì đất nào mà gánh nổi, cây nào mà sống cho thấu!"
Lời phân tích mộc mạc, kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiến thức nông học thực nghiệm và sự thấu cảm sâu sắc của một người cả đời dầm mưa dãi nắng như một gáo nước mát dội thẳng vào mối âu lo dai dẳng nhất của những người làm rẫy già dặn. Già Y Khen trầm ngâm đón lấy cành cà phê từ tay anh Tư, đưa lên mũi ngửi mùi nhựa cây tươi rói, dùng ngón tay già nua miết nhẹ lên vết cuống rụng tròn xoe, nhẵn thín không một vết trầy xước. Lồng ngực ông phập phồng sau làn áo thổ cẩm, rồi ông khẽ gật đầu một cái thật chậm.
Lúc này, nhận thấy thời cơ đã chín muồi, Đoàn Minh Khôi mới chậm rãi đứng dậy. Anh bước tới đầu bàn, lật mở tập hồ sơ in trên giấy trắng phẳng phiu, trên trang bìa nổi bật hàng chữ in hoa trang trọng: *HỢP ĐỒNG LIÊN KẾT SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CÀ PHÊ NIÊN VỤ MỚI — CÔNG TY CỔ PHẦN CÀ PHÊ BẢN ĐỎ.*
"Thưa các già làng, các bác, các cô chú và toàn thể anh chị em Cư M’Rao," Khôi mở đầu, giọng anh ấm áp, truyền cảm nhưng rành rọt từng âm sắc, lôi cuốn toàn bộ sự chú ý của mọi người dưới mái hiên. "Bản Đỏ sinh ra từ chính mảnh đất này. Tôi là con của buôn làng, đi học cái chữ nông nghiệp ở thành phố lớn về cũng chỉ với một tâm nguyện duy nhất là tìm ra con đường sống bền vững cho hạt cà phê quê mình. Chúng tôi thấu hiểu từng nỗi cơ cực, từng sự bấp bênh của bà con. Bản Đỏ không phải là một tập đoàn ngàn tỷ mang tiền về đây để mua đứt sự tự do của mọi người, rồi trói buộc bà con vào những bản hợp đồng độc quyền ngặt nghèo, ép người ta phải thế chấp sổ đỏ hay gán nợ vườn rẫy như cách mà người ta đang làm ngoài kia. Hôm nay, Bản Đỏ đưa ra một mô hình liên kết hoàn toàn mới: Hợp đồng liên kết không độc quyền."
Khôi giơ cao tập tài liệu lên ngang ngực, nhấn mạnh từng từ ngữ then chốt:
"Không độc quyền nghĩa là sao? Nghĩa là Bản Đỏ không bao giờ bắt buộc bà con phải ký bán một trăm phần trăm sản lượng toàn bộ vườn rẫy cho chúng tôi. Chúng tôi chỉ cam kết bảo lãnh thu mua toàn bộ phần quả chín đạt tiêu chuẩn—tức là tỷ lệ chín từ chín mươi phần trăm trở lên—với một mức giá sàn cố định đã được tính toán kỹ lưỡng để bà con luôn luôn có lãi vượt trội, cộng thêm tiền thưởng lũy tiến theo từng khung độ đường Brix đo trực tiếp tại trạm cân. Còn lại, phần quả xô tỉa cành, quả xanh cuối vụ hay quả rụng gốc, bà con hoàn toàn có toàn quyền tự do bán cho đại lý của ông Năm Sang, bán cho bạn hàng ngoài chợ nổi, hay bán cho bất kỳ thương lái nào trả giá cao nhất trên thị trường tự do mà tuyệt đối không phải chịu bất kỳ một đồng tiền phạt vi phạm hợp đồng nào từ phía Bản Đỏ!"
Một tiếng ồ kinh ngạc đồng loạt bật ra từ miệng những người nông dân có mặt.
Từ xưa đến nay, ở cái thung lũng heo hút này, cứ hễ nhắc tới chữ "hợp đồng bao tiêu" là người ta rùng mình nghĩ ngay tới một chiếc thòng lọng vô hình siết quanh cổ: ký rồi là mất quyền tự chủ, thiếu một bao cà phê cũng bị dọa phạt cọc, thừa một tạ cũng không được bán ra ngoài kiếm đồng tiêu vặt, giá cả thì phụ thuộc hoàn toàn vào cái cân điêu và cái máy đo độ ẩm vặn kim của thương lái. Mô hình của Khôi như một nhát kéo sắc lẹm cắt đứt sợi dây trói vô hình đó, trả lại trọn vẹn quyền làm chủ mảnh đất và thành quả lao động cho chính những người đổ mồ hôi trên luống cày.
Tuy nhiên, nét mặt của bà H’Ngách vẫn chưa hoàn toàn giãn ra. Người phụ nữ thực tế này chép miệng, ngập ngừng cất tiếng hỏi câu hỏi gai góc nhất:
"Cháu Khôi nói nghe mở dạ mở lòng lắm. Nhưng mà ngặt nỗi cái này: nếu tụi tôi lựa hết phần quả chín ngon nhất, đẹp nhất bán cho Bản Đỏ lấy giá cao rồi, thì phần quả xanh tỉa cành, quả xô còn lại dưới vườn, liệu đại lý Năm Sang người ta có chịu thu mua cho không? Hay là lúc đó lão Năm Sang lão giở quẻ, lão ghét vì mình đem đồ ngon bán cho chỗ khác, rồi lão từ chối cho xe tải vào rẫy chở, lão ép giá quả xô xuống tận đáy bùn, rồi lão siết nợ máy móc của bà con mình thì tính mần sao?"
"Câu hỏi của cô H’Ngách chính là nút thắt lớn nhất của toàn bộ chuỗi liên kết này," một giọng nói điềm tĩnh, khúc chiết và đĩnh đạc cất lên từ góc bàn bên phải.
Trần Quốc Lâm đứng dậy, khẽ đưa tay đẩy nhẹ gọng kính cận lên sống mũi. Anh lật mở chiếc máy tính xách tay đặt cạnh tập tài liệu tài chính dày cộp, xoay màn hình hiển thị một sơ đồ dòng tiền ba bên được thiết kế rõ ràng, trực quan về phía mọi người.
"Thưa bà con buôn mình, tôi là Lâm, phụ trách tài chính của Bản Đỏ," Lâm mỉm cười thân thiện, giọng nói mang phong thái tự tin của một chuyên gia tài chính nắm chắc từng kẽ hở của luật chơi thị trường. "Rào cản lớn nhất bấy lâu nay giữa buôn Cư M’Rao và đại lý Năm Sang thực chất không nằm ở chuyện quả chín hay quả xô, mà nằm ở những khoản nợ vật tư phân bón khó đòi cứ treo lơ lửng từ mùa này qua mùa khác. Đại lý sợ nông dân quỵt nợ nên phải ép giá ép hàng để thu hồi vốn; còn nông dân thì sợ đại lý xiết nợ nên phải giấu giếm bán lén ra ngoài. Để giải quyết dứt điểm cái bế tắc luẩn quẩn này, trưa hôm qua, tôi và anh Khôi đã có một buổi làm việc chính thức kéo dài bốn tiếng đồng hồ với ông Phạm Đức Sang."
Lâm cầm cây bút lông màu xanh, bước tới tấm bảng foocmica nhỏ treo cạnh vách gỗ hiên nhà, vừa vẽ sơ đồ vừa giải thích rành rọt:
"Chúng tôi đã chính thức ký kết Thỏa thuận hợp tác dịch vụ hậu cần và tiếp vận độc quyền với đại lý Năm Sang. Kể từ niên vụ này, bốn chiếc xe tải năm tấn chuyên dụng và toàn bộ hệ thống kho bãi rộng tám trăm mét vuông của ông Sang ngay tại ngã ba Cư M’Rao đã được Bản Đỏ ký hợp đồng thuê trọn gói làm trạm tiếp vận trung chuyển kỹ thuật. Thay vì đối đầu nhau triệt hạ như trước, Bản Đỏ biến đại lý Năm Sang thành một đối tác hậu cần chiến lược, trả phí thuê kho và phí vận chuyển sòng phẳng cho ông ấy."
Lâm gõ đầu bút lên ba nhánh rẽ của sơ đồ dòng tiền:
"Quan trọng hơn hết, Bản Đỏ, đại lý Năm Sang và các hộ liên kết sẽ cùng nhau vận hành một 'Cơ chế tài khoản ba bên' minh bạch tuyệt đối thông qua ngân hàng Nông nghiệp huyện. Quy trình thanh toán diễn ra như sau: Mỗi khi bà con chở một đợt quả chín đạt chuẩn về trạm cân của Bản Đỏ, hệ thống cân điện tử có camera giám sát và máy đo độ đường sẽ in phiếu xác nhận ba liên ngay tại chỗ. Tổng số tiền thanh toán của đợt hàng đó sẽ được tự động phân bổ rành rọt theo ba phần cố định: - Phần thứ nhất, ba mươi lăm phần trăm sẽ được trích chuyển thẳng để cấn trừ trực tiếp vào sổ nợ tiền phân bón giống mà gia đình bà con đang nợ đại lý Năm Sang, có biên lai cấn trừ nợ gốc đóng dấu mộc đỏ trao tay ngay trong ngày. - Phần thứ hai, bốn mươi phần trăm sẽ được Bản Đỏ chi trả bằng tiền mặt tươi rói ngay tại bàn cân để bà con thanh toán tiền công nhật hàng ngày cho thợ hái và trang trải chi phí chợ búa sinh hoạt gia đình. - Phần thứ ba, hai mươi lăm phần trăm còn lại sẽ được lưu giữ trong tài khoản phong tỏa tại ngân hàng làm quỹ đối soát chất lượng và tích lũy an toàn mùa vụ, được tất toán dứt điểm kèm theo lãi suất tiết kiệm không kỳ hạn vào ngày cuối cùng của đợt thu hoạch."
Lâm quay lại nhìn thẳng vào từng gương mặt đang chăm chú lắng nghe, giọng anh đanh lại đầy thuyết phục:
"Với cơ chế tài chính minh bạch này, ông Năm Sang đã đồng ý rút toàn bộ năm trăm triệu đồng tiền ký quỹ tại tập đoàn Đại Nguyên về. Ông ấy chấp nhận gia hạn toàn bộ các khoản nợ vật tư cũ của bà con buôn mình đến hết vụ thu hoạch mà không tính thêm một đồng lãi phạt nào. Ông Năm Sang không cần phải thuê người xách sổ đi từng nhà đòi nợ hay dọa nạt siết máy nổ nữa, vì nợ gốc được thu hồi chắc chắn, êm đẹp qua từng chuyến xe chở quả chín của Bản Đỏ. Còn về phần bà con mình, nợ nần phân bón được trút bỏ dần dần một cách nhẹ nhàng như cởi một chiếc áo chật, tiền tươi thóc thật cầm về nuôi con ăn học đầy đủ, mà đất đai rẫy vườn thì mãi mãi là của mình, không một ai có quyền thâu tóm hay cướp đoạt!"
Khoảng hiên nhà họ Đoàn chìm vào một khoảng lặng đặc quánh kéo dài. Nhưng lần này, bầu không khí không còn vương chút hoài nghi hay sợ hãi nào nữa. Đó là sự tĩnh lặng của sự xúc động, của sự vỡ òa nhận thức khi một bức màn u tối bấy lâu nay bỗng chốc được xé toạc ra để ánh mặt trời rọi thẳng vào.
Mọi mắt xích tăm tối từng giam hãm người nông dân nghèo khó vùng cao nguyên này trong vòng xoáy bần cùng—từ việc đại lý phân bón chèn ép, thương lái dìm giá, nguy cơ mất đất vào tay các tập đoàn tư bản săn lùng vùng nguyên liệu giá rẻ, cho đến nỗi sợ truyền kiếp về sự suy kiệt của cây trồng—tất cả đều đã được nhóm bạn trẻ của Bản Đỏ bóc tách và giải quyết từng bước một cách khoa học, nhân văn và vô cùng thực tế.
Khôi, Lâm, anh Tư và Y Bih không chỉ mang đến cho họ một mức giá thu mua cao hơn vài giá chợ, mà họ đã dựng nên một bệ đỡ an toàn bằng xương bằng thịt, một chiếc cầu nối kiên cố để người nông dân có thể tự tin ngẩng cao đầu đứng vững trên chính mảnh đất bazan ngập tràn nắng gió của cha ông để lại.
Bà Hạnh ngồi bên cạnh chồng ở góc bàn, đôi bàn tay gầy gò khẽ đưa góc chiếc khăn rằn sờn chỉ lên chấm nhẹ hai giọt nước mắt vừa ứa ra nơi khóe mi. Ông Đoàn Văn Hậu khẽ thở dài một tiếng thật sâu, một tiếng thở dài trút bỏ gánh nặng ngàn cân sau bao năm tháng đè nặng trên đôi vai gầy của người cựu chiến binh gìn giữ đất rẫy. Ông dụi tắt mẩu thuốc rê vào chiếc gạt tàn bằng đất nung thô, ánh mắt nhìn đứa con trai độc nhất ngập tràn niềm kiêu hãnh kín đáo—thứ tình cảm sâu nặng mà cả đời một người cha ít khi bộc lộ thành lời.
"Bốp!"
Một tiếng đập bàn vang dội như sấm nổ phá tan bầu không khí tĩnh lặng. Bàn tay to bản, sần sùi như vỏ cây rừng của ông Ma BLao giáng thẳng xuống mặt bàn gỗ mít:
"Mẹ kiếp! Sống ở cái đất Cư M’Rao này ngót nghét sáu chục mùa rẫy, chưa bao giờ tao thấy có người làm ăn sòng phẳng, phân minh tới từng cọng phân, giọt dầu, hạt cà phê như tụi mày! Thằng Khôi, thằng Lâm, đưa ngay bản hợp đồng đây cho tao!"
Lâm nhanh nhẹn lấy ra tập hợp đồng đã được đánh máy và in ấn sẵn sàng, với đầy đủ các điều khoản bảo vệ quyền lợi người nông dân bằng cả tiếng Việt và phần tóm tắt bằng tiếng Ê-đê. Khôi cung kính trao chiếc bút bi Thiên Long bằng cả hai tay cho người nông dân lão thành của buôn làng.
Ông Ma BLao cầm chiếc bút bi một cách vụng về—bàn tay vốn chỉ quen cầm cán cuốc, cán xà gạc nay run run gập ghềnh ký tên mình vào trang cuối của bản hợp đồng liên kết sản xuất trọn vẹn năm héc-ta cà phê của gia đình. Ký xong, ông mở nắp hộp mực đỏ đặt sẵn trên bàn, ấn mạnh ngón tay cái thô ráp vào lòng hộp mực, rồi dằn một dấu vân tay đỏ chót, đậm nét xuống bên cạnh chữ ký. Vệt mực đỏ tươi nổi bật trên nền giấy trắng tinh như một lời thề nguyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm giữa con người với đất đai màu mỡ.
"Tới lượt tôi! Tôi ký nữa!" Bà H’Ngách chen lấn bước lên phía trước, giọng nói rổn rảng, vang vọng khắp hiên nhà. "Rẫy nhà tôi bốn sào rưỡi, vụ này tôi cam kết dành toàn bộ quả chín sườn đồi cho Bản Đỏ. Để tôi coi con bé út nhà tôi vụ này có sắm được chiếc xe đạp điện mới le lói với bạn bè như con gái thằng Y Bih không!"
"Cho tôi ký với chú Khôi ơi!"
"Nhà tôi ba héc-ta khoảnh suối Đen, ký cho tôi một bản!"
"Tôi hai héc-ta rẫy dốc sau nhà, tui theo Bản Đỏ tới cùng!"
Một khung cảnh náo nhiệt, xúc động và bừng bừng sinh khí chưa từng thấy diễn ra ngay dưới mái hiên nhà họ Đoàn. Mười hai đại diện của mười hai hộ gia đình nòng cốt thuộc buôn Cư M’Rao lần lượt chen chân bước lên bàn. Những bàn tay chai sạn, nứt nẻ vì sương gió mùa đông, những ngón tay đen sạm vì nhựa cây và bùn đất đỏ lần lượt đặt bút ký tên và lăn tay điểm chỉ vào biên bản liên kết mùa vụ mới.
Từng chữ ký nguệch ngoạc, từng dấu vân tay đỏ thắm nối tiếp nhau in kín các trang phụ lục danh sách nông hộ. Không ai còn đoái hoài gì đến những cọc tiền mặt lòe loẹt hay những lời hứa hão huyền của tập đoàn Đại Nguyên đang phát ra từ chiếc loa phóng thanh ngoài ngã ba buôn nữa. Người nông dân có thể chất phác, có thể chậm chạp, nhưng một khi niềm tin của họ đã được neo đậu vào sự liêm chính và tình nghĩa thực lòng, thì không có thứ bả kim tiền nào có thể lay chuyển nổi.
Khi người nông dân cuối cùng—ông Y Lem—hoàn tất thủ tục lăn tay và hân hoan nhận lại bản sao hợp đồng có đóng dấu mộc đỏ tròn của Công ty Cổ phần Cà phê Bản Đỏ, Lâm nhanh chóng gõ những con số tổng hợp cuối cùng vào bảng tính Excel trên chiếc máy tính xách tay.
"Tổng diện tích vùng nguyên liệu liên kết chính thức: bốn mươi mốt phẩy hai héc-ta," Lâm ngẩng đầu lên, hai mắt sáng ngời sau cặp kính cận dày cộp, giọng anh run run vì một niềm xúc động nghẹn ngào khó tả. "Số lượng nông hộ tham gia ký kết: mười hai hộ gia đình. Sản lượng quả tươi chín loại một dự kiến thu hoạch trong niên vụ này ước đạt từ ba trăm sáu mươi đến bốn trăm tấn, tương đương với khoảng bảy mươi đến tám mươi tấn cà phê nhân xanh đặc sản chuẩn Fine Robusta!"
Bốn mươi mốt phẩy hai héc-ta!
Đó là một con số khổng lồ, vượt xa ngoài mọi dự tính ban đầu khi Khôi bắt đầu dấn thân vào con đường này với một sào rẫy thử nghiệm đơn độc của gia đình, vượt xa cả mười lăm tấn hàng khiêm tốn đầy chật vật của mùa vụ đầu tiên. Toàn bộ vùng lõi cà phê Robusta sẻ thuần chủng cổ thụ có chất lượng thổ nhưỡng tốt nhất và tầng đất bazan màu mỡ nhất của thung lũng Cư M’Rao nay đã chính thức về chung một mối dưới sự bảo trợ và kiểm soát kỹ thuật nghiêm ngặt của Bản Đỏ. Vòng vây độc quyền ngột ngạt mà tập đoàn Đại Nguyên và tay giám đốc Vũ Thành Đạt cố công giăng ra suốt mấy tháng qua đã hoàn toàn bị đập tan từ tận gốc rễ—không phải bằng những đòn bẩy tài chính khổng lồ, mà bằng chính niềm tin sắt đá và sự minh bạch được gây dựng từ mồ hôi, nước mắt của cả một cộng đồng gắn kết.
Ông Đoàn Văn Hậu lẳng lặng đứng dậy, bước vào gian nhà trong rồi khệ nệ bê ra một ché rượu cần lớn bọc mây đan tinh xảo, đặt ngay ngắn giữa khoảng sân gạch rẫy. Ông rút chiếc nút lá chuối khô ra, mùi men nồng nàn ủ từ men lá rừng ngào ngạt xông lên, quyện chặt vào hương ngai ngái nồng ấm của đất đỏ bazan sau cơn mưa bão. Mọi người ùa ra, quây quần thành một vòng tròn lớn quanh ché rượu dưới hiên nhà. Những cần trúc dài cong vút được cắm sâu vào đáy ché, người già vít cần trước, người trẻ nối tiếp theo sau, chia nhau từng củ khoai lang nóng hổi bốc khói và chuyền tay nhau những ngụm rượu cần ngọt lịm cay nồng. Tiếng cười nói, tiếng chúc tụng bằng cả tiếng Kinh lẫn tiếng Ê-đê vang dội khắp khoảng trời Cư M’Rao, xua tan đi tất cả những ảm đạm, lo âu và bóng ma nợ nần của những ngày giông bão vừa qua.
Khôi bước lùi lại vài bước, tách mình ra khỏi đám đông đang hân hoan, chậm rãi đi về phía mép sân rẫy rồi tựa lưng vào thân cây muồng đen cổ thụ xù xì. Anh đưa mắt nhìn xa xăm về phía thung lũng Cư M’Rao đang trải dài ngút ngàn trước mặt, nơi những đồi cà phê bạt ngàn nhấp nhô như những con sóng xanh thẫm, đang bắt đầu chuyển mình điểm xuyết những đốm đỏ lác đác của mùa quả chín đầu mùa. Một cảm giác tự hào và thanh thản trào dâng trong lồng ngực anh. Anh đã giữ trọn vẹn được mảnh đất hương hỏa của cha mẹ, giữ được danh dự của gia đình họ Đoàn, và trên hết, anh đã cùng đồng đội mở ra một con đường sống tử tế, bền vững cho những người nông dân chân lấm tay bùn nơi mảnh đất chôn nhau cắt rốn này.
Thế nhưng, niềm vui chiến thắng ngắn ngủi ấy nhanh chóng nhường chỗ cho một bài toán thực tế mới đầy gai góc và áp lực đang hiển hiện ngay trước mắt người kỹ sư nông nghiệp.
Bốn mươi mốt héc-ta. Gần bốn trăm tấn quả tươi chín mọng sẽ đổ về dồn dập chỉ trong vòng bốn mươi lăm ngày tới khi mùa thu hoạch bước vào giai đoạn rộ nhất.
Khôi nhẩm tính trong đầu: Với công suất của xưởng sơ chế thủ công tại kho nông cụ cũ của gia đình anh, dù đã có thêm kho bãi và sân phơi của ông Năm Sang hỗ trợ, thì công suất giàn phơi nhà kính và hệ thống bể rửa phân loại quả nổi cũng sẽ bị quá tải nghiêm trọng chỉ sau hai tuần đầu. Nhưng điều khiến anh thực sự thắt ruột thắt gan lại nằm ở đầu ra thành phẩm: Bảy mươi đến tám mươi tấn nhân xanh đặc sản! Làm sao Bản Đỏ có thể rang xay, đóng gói và tiêu thụ hết một khối lượng hạt khổng lồ như thế nếu cả công ty chỉ trông chờ vào chiếc máy rang mẫu năm trăm gram đặt trong phòng thí nghiệm của Bảo Ngọc và một quán cà phê trải nghiệm nhỏ nằm nép mình trong con hẻm Tú Xương ở Sài Gòn?
Nếu không có một nhà máy rang xay đạt tiêu chuẩn quốc tế và một hệ sinh thái phân phối bán lẻ đủ mạnh để giải phóng lượng hàng này, thì bốn mươi héc-ta nguyên liệu thắng lợi ngày hôm nay sẽ trở thành một bọc than lửa khổng lồ thiêu rụi toàn bộ dòng vốn lưu động của Bản Đỏ ngay trong quý tới.
Đúng lúc dòng suy nghĩ miên man đang siết chặt tâm trí Khôi, chiếc điện thoại thông minh để trong túi quần bò của anh bỗng rung lên bần bật từng hồi dồn dập.
Khôi rút máy ra khỏi túi. Trên màn hình cảm ứng đang nhấp nháy dòng tên hiển thị quen thuộc: *Mai Thanh Vy*.
Anh hít một hơi sâu luồng không khí trong lành của cao nguyên, trượt ngón tay bấm nút nhận cuộc gọi rồi áp máy vào tai:
"A lô, tôi nghe đây chị Vy."
Giọng nói điềm tĩnh, khúc chiết nhưng sắc lạnh và dứt khoát mang phong thái quen thuộc của nữ nhà đầu tư mạo hiểm lập tức vang lên từ đầu dây bên kia, át cả tiếng gió núi đang rít qua tán muồng đen:
"Khôi, nghe tôi nói đây. Tôi vừa nhận được báo cáo dữ liệu cập nhật vùng nguyên liệu mà cậu và Lâm vừa tải lên hệ thống nội bộ cách đây năm phút. Chúc mừng cậu, bốn mươi mốt héc-ta Cư M’Rao là một nước cờ lật ngược thế cờ vô cùng xuất sắc! Cậu đã thành công trong việc bẻ gãy đòn khóa chân vùng nguyên liệu của Đại Nguyên ngay tại sào huyệt của họ."
Vy ngưng lại nửa giây, giọng cô đanh lại, chuyển sang tông lệnh thương trường đầy khẩn cấp:
"Nhưng nghe cho rõ này Khôi: thắng lợi ở thượng nguồn đang biến thành tử huyệt ở hạ nguồn của các cậu đấy! Bốn trăm tấn quả tươi và gần tám mươi tấn nhân xanh đặc sản sắp biến cái xưởng sơ chế thủ công cùng quy trình rang xay chắp vá của Bản Đỏ thành một nút thắt cổ chai bóp chết toàn bộ công ty trong vòng hai tháng tới. Tin tình báo thương mại tối qua tôi nhận được từ nội bộ tập đoàn cho thấy: Đại Nguyên đã biết tin thất thủ ở Cư M’Rao. Vũ Thành Đạt và ban giám đốc của họ đang chuẩn bị tung một đòn đánh hủy diệt mới thẳng vào toàn bộ hệ thống kênh phân phối bán lẻ và các chuỗi F&B cao cấp ở Sài Gòn và Hà Nội để chặn đứng đường ra của hạt cà phê Bản Đỏ."
Tiếng gõ bàn phím lách cách của Vy vang lên qua ống nghe, kèm theo một chỉ thị dứt khoát không có chỗ cho sự do dự:
"Chúng ta không còn thời gian để ăn mừng đâu. Cậu và Lâm phải đón chuyến bay sớm nhất rời Buôn Ma Thuột, có mặt tại văn phòng Sài Gòn trước tám giờ sáng mai. Tôi đã gửi giấy triệu tập khẩn cấp cho toàn bộ Hội đồng quản trị và các cổ đông thiên thần. Chúng ta bắt buộc phải họp bàn và bấm nút thông qua ngay phương án gọi vốn vòng mở rộng Series A, giải ngân khẩn cấp để xây dựng và đưa vào vận hành ngay một trung tâm chế biến, rang xay và đóng gói đạt chuẩn xuất khẩu quốc tế trong vòng sáu mươi ngày tới! Nếu chậm chân một bước, toàn bộ bốn mươi héc-ta Cư M'Rao sẽ trở thành mồ chôn Bản Đỏ. Hiểu rõ chưa?"