Cuốn sổ nợ trong bóng tối
Dưới ánh đèn vàng vọt nơi gian bếp sau, bà Hạnh run rẩy mở từng trang giấy ố vàng của cuốn sổ chi tiêu mà bà đã giấu chồng suốt ba năm qua.
Mùi giấy mốc ẩm xộc thẳng vào mũi Khôi, quyện cùng mùi tro trấu ỉu xìu trong góc lò và lớp bồ hóng dính chặt lâu năm trên xà nứa. Cuốn sổ tay bìa bọc da giả màu hạt dẻ đã sờn rách hết bốn góc, mép bìa trơ cả lớp phôi cactông xám xịt gãy vụn. Từng trang giấy kẻ ngang mỏng tang bên trong đã quăn queo vì hơi ẩm mùa mưa cao nguyên, lem luốc những vệt mực tím phai màu học trò xen lẫn các nét gạch xóa chì than hằn sâu tới mức làm rách cả thớ giấy. Khôi nín thở. Ngón tay anh cứng đờ khi lật giở từng tờ, cảm giác ráp rúa của mặt giấy cũ như cứa vào da thịt.
Những con số đập vào mắt anh không phải là những cột mục được định dạng thẳng tắp trên bảng tính Excel mà anh từng lập cho các trang trại thực nghiệm công nghệ cao ở công ty cũ. Đây là một mớ bòng bong của sự bế tắc cùng cực, được ghi chép bằng nét chữ nghiêng lệch, run rẩy, sai lỗi chính tả nhưng rành rọt đến tàn nhẫn về từng đồng tiền còm cõi chắp vá để nuôi sống ba hécta rẫy qua từng mùa giáp hạt.
Vụ mùa ba năm trước: giá cà phê nhân xô trên thị trường chạm đáy ba mươi hai ngàn đồng một ký. Tiền bán cả chục tấn hạt không đủ trang trải tiền dầu chạy máy bơm nổ tưới vét ba đợt hạn khốc liệt tháng Ba và tiền công trả cho thợ hái rong ruổi từ miền Trung lên. Lỗ lũy kế vụ đó là năm mươi tư triệu đồng. Để cầm cự dưỡng cành, kích lộc cho mùa sau, cả nhà phải cắn răng mua chịu của đại lý vật tư nông nghiệp Năm Cường ngoài tỉnh lộ ba tấn phân NPK Đầu Trâu với mức lãi suất một phẩy tám phần trăm mỗi tháng, tính theo phương thức gối đầu vào vụ thu hoạch kế tiếp.
Vụ mùa hai năm trước: sương muối xuất hiện bất thường vào cữ rạng sáng đầu năm làm hoa cháy đen, rụng tơi bời, sản lượng tụt mất bốn mươi phần trăm so với dự kiến. Giá thu mua có nhích lên được chút ít nhưng sản lượng không còn bao nhiêu, toàn bộ số tiền bán nhân xô vừa đổ vào tài khoản đã bị trừ sạch bách cho nợ phân bón của vụ cũ mà vẫn còn thiếu lại bốn mươi triệu tiền nợ gốc. Để có tiền mua dầu nổ tưới gốc đón mưa và mua vài bao phân bón lá dặm lại tược non, bà Hạnh phải giấu chồng ra tiệm vàng Kim Phát ngoài ngã ba thị trấn vay nóng năm mươi triệu đồng bằng giấy viết tay. Lãi suất tính theo ngày, chu kỳ mười ngày phải đạp xe ra trả lãi một lần để người ta không kéo người vào rẫy làm ầm ĩ.
Vụ mùa năm ngoái: một trận mưa dầm dề kéo dài cả tuần lễ trúng ngay đợt quả chín rộ nhất. Quả nứt toác vỏ mủ, rụng đỏ lòm quanh gốc rồi thối rữa dưới lớp lá mục. Thương lái tới tận sân phơi cào bằng, chê cà phê ẩm độ cao, ngậm nước, trừ tạp chất nặng tay rồi ép giá cà xô xuống sát đáy bùn. Tiền bán hạt chưa kịp cầm ấm tay đã bị các chủ nợ đứng chực sẵn ngay đầu sân chia nhau cấn trừ từng phần.
Từng dòng nợ nần cứ thế phình to ra như một khối u ác tính gặm nhấm gia đình:
*Nợ phân bón đại lý Năm Cường: 72 triệu đồng.*
*Vay tư nhân thím Bảy ngã ba: 45 triệu đồng (lãi 3 phân, chưa trả được một đồng vốn nào suốt 14 tháng).*
*Nợ tiền dầu đại lý xăng dầu Cư M’Rao: 28 triệu đồng.*
*Nợ tiệm sửa chữa máy nông cơ: 16 triệu đồng tiền thay nòng piston và ống dẫn cao áp.*
*Khoản nợ vật tư và cọc sửa giếng khoan của Phạm Đức Sang: 240 triệu đồng.*
Cộng dồn tất cả các khoản nợ lớn nhỏ, nợ ngân hàng đang chuẩn bị đến hạn đáo hạn sổ đỏ của căn nhà và đất rẫy, cùng với phần lãi mẹ đẻ lãi con từ tín dụng đen bên ngoài, con số thực tế nằm chình ình trước mắt Khôi: năm trăm tám mươi lăm triệu đồng.
Một con số khủng khiếp. Nó không chỉ vượt xa con số hai trăm bốn mươi triệu đồng mà trưa nay Phạm Đức Sang mang bản hợp đồng gán đất tới để ép ba anh ký tên. Nó còn nghiền nát hoàn toàn khoản tiền trợ cấp thôi việc sáu mươi tám triệu bốn trăm ngàn đồng đang nằm im lìm trong tài khoản ngân hàng của Khôi – số vốn liếng duy nhất mà chỉ mới vài giờ đồng hồ trước, anh còn ngây thơ nghĩ rằng mình có thể dùng làm đòn bẩy kỹ thuật để vực dậy cả nông trại gia đình.
Cổ họng Khôi khô khốc như có ai rải một vốc cát vụn vào bên trong. Khí quản anh nghẽn đặc bởi lớp tro bụi cay nồng và mùi mốc meo của gian bếp. Khôi từ từ ngẩng đầu lên nhìn mẹ. Dưới ánh sáng vàng vọt, tù mù hắt ra từ bóng đèn dây tóc bốn mươi oát treo lơ lửng bằng sợi dây điện bọc vải giữa trần nứa, gương mặt bà Hạnh co rúm lại. Những rãnh nhăn quanh khóe mắt, khóe miệng sâu hoắm, nám đen vì nắng gió cao nguyên, giống như những vết nứt nẻ của nền đất bazan vào đỉnh điểm mùa khô hạn.
— Má… sao nợ nần nhiều dữ dội vậy má? — Giọng Khôi khàn đặc, rung lên từng chập. Mười đầu ngón tay anh bấu chặt vào mép cuốn sổ chi tiêu đến mức móng tay trắng bệch, khớp xương nhô cả lên. — Sao trước giờ ba má lên Sài Gòn thăm con, chưa bao giờ nói một lời nào về mấy khoản này? Lúc nào ba cũng nói với con là rẫy nhà mình vẫn ổn, năm nào thu cũng đủ bù chi, dư dả chút đỉnh phòng thân mà?
Bà Hạnh vội vàng đưa vạt áo bà ba chắp vá bên vai lên bịt miệng, cố chặn lại một tiếng nấc nghẹn ngào sắp bật ra khỏi cuống họng. Đôi vai gầy guộc của bà run bần bật dưới lớp vải mỏng đã bạc phếch. Ánh mắt bà hoảng hốt, sợ sệt liếc ngược ra phía cánh cửa liếp nứa ngăn cách với gian nhà trên.
Tiếng ho húng hắng, khô khốc của ông Hậu vẫn thi thoảng vang lên đều đặn trong gian phòng khách tối om, kèm theo tiếng nước réo ùng ục và tiếng rít thuốc lào sòng sọc đầy u uất. Mỗi tiếng rít của ba anh như một tiếng thở dài rút ruột xé gan giữa màn đêm quạnh quẽ.
— Ba mày giấu mày đó Khôi ơi… — Bà Hạnh hạ giọng thì thào, hai dòng nước mắt đục mờ lăn dài qua những nếp nhăn chằng chịt trên gò má. — Ổng giữ cái sĩ diện làm cha. Ổng bảo mày là đứa con đầu tiên của cả cái dòng họ này đỗ được đại học chính quy trên thành phố, ra trường làm kỹ sư nông nghiệp cho công ty lớn của nước ngoài, nở mày nở mặt với bà con chòm xóm chung quanh. Ổng nói cái rẫy cà phê này là phần trách nhiệm của đời ổng, ổng nuôi mày ăn học thành người là để mày bay cao bay xa, chứ không thể để cái cảnh nợ nần lam lũ dưới sình lầy bùn đất này níu chân mày thụt lùi lại… Ổng cấm má tuyệt đối không được hé răng nửa lời, hễ má nhắc tới chuyện nợ nần trước mặt mày là ổng nổi trận lôi đình…
Khôi nhắm nghiền hai mắt lại. Lồng ngực anh đau nhói, tựa hồ có một tảng đá tảng ngàn cân đè nghiến lên từng nhịp thở. Toàn bộ sự kiêu hãnh của một người kỹ sư nông nghiệp vừa bị sa thải tan biến thành tro bụi lạnh lẽo.
Anh nhớ lại những lần mình gửi về nhà đôi ba triệu đồng gọi là biếu cha mẹ tiêu vặt sau mỗi đợt nhận lương, nhớ lại những cuộc điện thoại ngắn ngủi vội vã nơi góc hành lang công ty, khi ba anh chỉ dặn dò qua loa: *“Lo ăn uống cho đàng hoàng nghe con, ráng bám trụ lấy đất Sài Gòn mà làm ăn phát triển, rẫy ở quê một tay ba lo liệu được hết, không thiếu thốn thứ gì đâu.”*
Sự thật nghiệt ngã là ba anh đã phải oằn cái lưng còng ra gánh từng món nợ lãi ba phân, từng bao phân bón bị người ta nâng khống giá, cắn răng chịu đựng những lời sỉ vả ngoài ngã ba chỉ để duy trì cái vỏ bọc yên bình giả tạo, cho đứa con trai của ông yên tâm làm một viên chức cổ cồn trắng nơi phố thị phồn hoa.
— Nhưng tại sao lại để nợ nần dây dưa tới mức không còn lối thoát thế này hả má? — Khôi gặng hỏi, giọng anh nghẹn đắng nơi cuống họng. — Rẫy nhà mình ba hécta đất đỏ, năm nào bét nhất cũng thu mười mấy tấn nhân xô, đâu thể nào âm vốn lưu động liên tục qua bốn năm mùa liền như vậy được?
— Con tính toán trên giấy tờ sách vở thì dễ dàng lắm Khôi ơi! — Bà Hạnh nấc nghẹn một tiếng, hai bàn tay thô ráp, chai sần đầy những vết sẹo do dao phạt cành nắm chặt lấy cổ tay con trai. Bàn tay bà lạnh ngắt và run rẩy như muốn truyền hết nỗi thống khổ âm ỉ bấy lâu vào da thịt anh. — Giá phân bón sau đợt dịch bệnh nó tăng vọt lên gấp ba lần, một bao urê thôi đã ngót nghét cả triệu bạc. Rồi xăng dầu leo thang từng ngày, mỗi đợt chạy máy nổ bơm nước từ đáy hồ sâu lên tưới ba hécta triền dốc mất đứt cả chục triệu tiền dầu. Mà ông trời ở đây đâu có thuận cho người nghèo? Năm thì đại hạn giếng cạn trơ đáy sỏi, năm thì mưa thối rễ non. Cà phê hái về, thương lái người ta kéo xe tới tận sân cào bằng. Người ta đo độ ẩm bằng cái máy con con của người ta, người ta bấm trừ tạp chất mười lăm hai mươi phần trăm, người ta bảo cà non nhiều mủ ép giá xuống sát ván sàn. Không bán cho người ta thì lấy tiền đâu mà trả nợ gốc phân bón đầu mùa cho đại lý? Mà bán cho người ta rồi thì cầm tiền chưa kịp ấm tay đã bị trừ sạch bách, thậm chí còn âm lại tiền công mướn thợ hái!
Bà Hạnh run rẩy đưa ngón tay khẳng khiu trỏ vào dòng chữ mực đỏ ghi tên Phạm Đức Sang ở cuối cuốn sổ:
— Vụ năm ngoái, nếu không có sáu mươi triệu tiền cọc của thằng Sang đưa trước để ba mày nạo vét cái giếng khoan tầng sâu với mua cái máy nổ mới thay cho cái máy cũ bị cháy lốc giữa mùa hạn, thì cả nhà này đã không có tiền đong gạo ăn qua đợt giáp hạt con có hiểu không? Lúc đó mà không vay thằng Sang thì chẳng còn ai trong cái xứ Cư M’Rao này dám cho nhà mình vay thêm một cắc nào nữa hết! Đất rẫy thì ba mày đã cắm cuốn sổ đỏ trong ngân hàng nông nghiệp từ bốn năm trước để lấy vốn tái canh khoảnh đất trũng rồi… Ba mày cùng đường thực sự rồi Khôi ơi! Ổng cắn răng chịu bán đất cho thằng Sang giá rẻ mạt là vì ổng sợ người ta kéo tới siết rẫy siết nhà, sợ mày ở trên Sài Gòn hay tin thì nhục nhã với bạn bè đồng nghiệp…
Từng lời trần tình mộc mạc của người mẹ giáng xuống như những nhát búa nện thẳng vào tâm can Khôi. Anh đứng chết lặng giữa gian bếp lạnh buốt.
Bức tranh tài chính của gia đình họ Đoàn không phải là một bài toán thiếu hụt dòng tiền mang tính tạm thời, mà là một vòng xoáy nợ nần mang tính cấu trúc ăn sâu vào mô hình kinh tế nông hộ: chi phí vật tư đầu vào bị đại lý độc quyền thao túng giá cao, kỹ thuật canh tác thô sơ bào mòn đất đai dẫn đến chất lượng hạt thấp, bán rẻ mạt cho tầng lớp thương lái địa phương theo giá cà xô cào bằng, rồi lại tiếp tục vay nợ với lãi suất cắt cổ để bù lỗ cho chu kỳ tiếp theo.
Cứ như thế, mảnh rẫy ba hécta không còn là tài sản sinh kế bền vững nữa. Nó đã biến thành một cái cối xay tiền khổng lồ, nghiền nát sinh lực, sức khỏe và lòng tự trọng của cha mẹ anh suốt bao năm trời ròng rã.
— Con hiểu rồi má… — Khôi hít một hơi thật sâu, cố nén sự run rẩy đang dâng lên trong lồng ngực. Anh cẩn thận gấp mép cuốn sổ nợ lại, bọc kỹ từng lớp nilon đen bên ngoài rồi nhét sâu vào túi trong của chiếc áo khoác kaki. — Cuốn sổ này má để con giữ. Chuyện tiền nong, từ ngày mai trở đi má đừng bận lòng nữa. Cứ để con lo.
— Khôi à, con làm được thiệt không con? — Ánh mắt bà Hạnh nhìn con trai vừa chan chứa niềm hy vọng mong manh, vừa ngập tràn nỗi hoảng sợ tột độ. — Trưa nay con nói cứng với thằng Sang là trong một mùa vụ này con sẽ trả hết nợ cho nó… Gần sáu trăm triệu lận đó con ơi! Bán sạch cả ba hécta rẫy này đi để trừ nợ có khi còn chưa chắc dư ra được đồng nào để cất cái chòi lá che mưa che nắng…
— Con sẽ có cách của con. Con học đại học nông nghiệp bốn năm, con làm việc ở các trang trại thực nghiệm ba năm trời, con không tin là người nông dân xứ mình chỉ có một con đường duy nhất là bán mạng cho thương lái ép giá. Má cứ tin con một lần này thôi.
Bà Hạnh nhìn gương mặt cương nghị của con trai, thở dài một tiếng ảo não rồi lẳng lặng quay về phía góc bếp, cời lại đám than hồng đang lụi dần dưới lớp tro xám.
Đêm đó, Khôi không tài nào chợp mắt nổi.
Anh nằm trên chiếc giường đơn bằng gỗ dầu cũ kỹ ở gian chái phụ, lắng nghe tiếng gió rít từng hồi qua khe liếp nứa và tiếng côn trùng rả rích ngoài rẫy cà phê. Ở gian nhà bên cạnh, tiếng trở mình trằn trọc của ông Hậu vang lên liên tục, kéo theo tiếng dát giường cọt kẹt khô khốc giữa đêm thanh vắng.
Trong đầu Khôi, những con số và dữ liệu kỹ thuật bắt đầu quay cuồng như một cơn lốc. Sáu mươi tám triệu bốn trăm ngàn đồng tiền trợ cấp thôi việc nằm trong tài khoản thẻ ATM. Hạn chót ngày ba mươi tháng Chạp mà Sang đã ấn định để thanh toán dứt điểm khoản nợ hai trăm bốn mươi triệu nếu không muốn bị xiết mảnh đất đầu ranh. Và một khoản nợ tổng thể gần sáu trăm triệu đồng đang lơ lửng như một lưỡi gươm treo trên đầu cả gia đình.
Nếu tiếp tục đi theo con đường mòn cũ kỹ bấy lâu nay – dùng bạt trải dưới gốc, túm cành tuốt sạch bóng từ quả xanh tới quả chín rồi chở ra đại lý của Sang bán thô theo giá nhân xô sàn London – thì chắc chắn cái rẫy ba hécta này sẽ vĩnh viễn đổi chủ trước khi mùa hoa cà phê mới kịp trổ bông.
Con đường duy nhất có thể tạo ra biên lợi nhuận đột biến để lật ngược thế cờ là giá trị gia tăng của chất lượng: cà phê đặc sản, thu hái lựa chọn quả chín đạt tỷ lệ tuyệt đối, kiểm soát quy trình sơ chế và lên men kỵ khí khép kín để tiếp cận trực tiếp với các xưởng rang độc lập tại các thành phố lớn.
Thế nhưng, để bước chân vào con đường đó, cửa ải đầu tiên anh phải vượt qua không phải là máy móc hay vốn liếng, mà chính là quán tính canh tác đã ăn sâu vào máu thịt của những người làm rẫy nơi mảnh đất này.
***
Năm giờ ba mươi phút sáng hôm sau.
Màn sương mù đặc quánh của cao nguyên Cư M’Rao vẫn còn giăng kín, bọc lấy từng hàng muồng đen chắn gió cao vút. Không khí lạnh buốt như kim châm phả vào da thịt từng đợt tái tê.
Khôi đã thức dậy từ lúc trời còn tối đen như mực. Anh mang đôi ủng cao su cổ cao, khoác chiếc áo kaki sờn vai đã thấm đẫm hơi lạnh, cầm theo một cuốn sổ tay bìa cứng cùng cây bút bi bước thẳng ra rẫy.
Vườn cà phê Robusta ba hécta của gia đình anh trải dài theo triền dốc thoai thoải hướng dần về phía lòng suối cạn. Những gốc cà phê cổ thụ này đã ngoài hai mươi năm tuổi, thân cây to bằng bắp chân người lớn, xù xì những mắt đốt gồ ghề, rêu mốc và địa y bám loang lổ từ sát gốc lên đến tận chẽ ba. Đất dưới chân anh chai cứng, trơ trọi và nứt nẻ thành từng mảng nhỏ, thiếu hẳn lớp thảm mục hữu cơ xốp ẩm vốn dĩ phải có để che chở cho hệ vi sinh vật đất.
Khôi cúi người, gạt lớp lá khô mỏng dính trên mặt, bốc một nắm đất bazan lên lòng bàn tay. Đất bạc màu, khô khốc và rời rạc, thoang thoảng mùi hăng hắc khó chịu của hóa chất tồn dư sau những đợt phun thuốc trừ cỏ kéo dài liên miên nhiều năm qua. Anh bóp nhẹ, nắm đất vỡ vụn ra thành từng hạt bụi mịn trôi tuột qua các kẽ ngón tay.
Hậu quả của việc lạm dụng phân bón hóa học vô cơ có hàm lượng muối cao và chất diệt cỏ gốc glyphosate để tiết kiệm công làm cỏ đã hiển hiện quá rõ ràng: đất đã chết về mặt sinh học. Bộ rễ tơ của cây bị nghẹt, không thể hấp thu được các khoáng chất vi lượng tự nhiên trong đất, buộc người làm rẫy phải đổ thêm ngày càng nhiều phân bón hóa học để kích thích cây ra hoa kết trái. Đó chính là cái bẫy chi phí đầu vào mà gia đình anh đã mắc kẹt suốt bao mùa vụ.
Thời điểm này đang bước vào đầu vụ thu hái chín bói. Trên những cành cà phê trĩu chịt, những chùm quả chín đỏ đậm mọng nước xen lẫn với những chùm quả mới chỉ ngả màu da cam ửng vàng, và thậm chí ở đầu cành vẫn còn sót lại những chùm quả non xanh ngắt chỉ to bằng đầu ngón tay út do các đợt thụ phấn không đồng đều sau những trận mưa trái mùa hồi đầu năm.
Phía hàng ranh giáp ranh với đồi thông phía Đông, một bóng người cao gầy, lưng hơi còng nhưng bước chân thoăn thoắt đang lom khom kiểm tra từng gốc cây. Đó là Nguyễn Văn Tư – người mà Khôi vẫn quen gọi là anh Tư.
Anh Tư năm nay đã ngoài năm mươi tuổi, gắn bó với đất rẫy Cư M’Rao từ những năm chín mươi của thế kỷ trước. Anh làm rẫy thuê cho gia đình Khôi đã hơn mười lăm năm trời, thuộc từng mô đất, từng hốc đá ngầm và tính nết của từng gốc cà phê già cỗi trong cái rẫy này còn rõ hơn cả ông Hậu.
Trên vai anh Tư vắt vẻo một tấm bạt dứa sọc xanh đỏ ba màu đã rách tơi tả nhiều chỗ, ngang hông buộc sẵn một chiếc bao tải gai bằng sợi dây dù to bản. Hai bàn tay anh đen đúa, các ngón tay to bè, nứt nẻ vì nhựa cây và đầu móng tay đóng một lớp cáu bẩn màu đen sì không bao giờ có thể cọ rửa sạch.
— Ủa, cậu Khôi? — Anh Tư dừng tay, ngẩng đầu lên nhìn Khôi. Nét mặt anh lộ rõ vẻ ngạc nhiên, nhưng trong đáy mắt lập tức dâng lên sự dè chừng cố hữu. — Nghe ông Hậu tối qua nói bữa nay cậu về chơi ít bữa. Mà sao mới tờ mờ đất đã mò ra rẫy chi vậy? Đất đỏ gặp sương dính ủng nặng trịch khó đi lắm, dân thành phố bàn giấy tụi cậu chịu sao nổi cái sương muối cắt da này.
— Em chào anh Tư, — Khôi mỉm cười thân thiện, bước nhanh lại gần, chìa tay phụ anh Tư nâng một cành cà phê trĩu quả đang sà sát xuống mặt đất lên. — Em về luôn đợt này rồi anh. Về phụ ba má làm rẫy vụ này cho trọn vẹn.
Anh Tư khựng lại một nhịp. Đôi mắt đục mờ vì khói thuốc nheo lại, quét từ đầu đến chân Khôi như đang quan sát một sinh vật kỳ dị từ hành tinh khác rơi xuống. Một nụ cười nửa miệng đầy vẻ mỉa mai thoáng hiện trên khóe môi sạm đen của người làm rẫy dạn dày sương gió:
— Về luôn? Bỏ cái ghế nệm phòng máy lạnh dưới Sài Gòn để về đây dầm mưa dãi nắng, bán mặt cho đất bán lưng cho trời với mấy gốc cà già cỗi này hả? Cậu Khôi giỡn hoài. Cậu có ăn có học đàng hoàng, làm kỹ sư cho công ty lớn lương tháng cả mấy chục triệu bạc, về cái xứ khỉ ho cò gáy này làm gì cho uổng phí cái bằng đại học. Đất này giờ bạc màu hết rồi cậu ơi, nuôi không nổi người ta nữa đâu.
— Đất không nuôi nổi người là do cách mình đối xử với đất chưa đúng thôi anh Tư, — Khôi ôn tồn đáp, ánh mắt anh lướt qua một lượt những cành cà phê đang oằn mình dưới sức nặng của quả. — Em ra đây từ sớm để coi lại tình hình quả chín trên từng triền dốc. Mấy bữa nay nắng ráo, quả bói bắt đầu chín đỏ rực rồi. Anh chuẩn bị nhân công thu hái tới đâu rồi anh?
Anh Tư thở dài một tiếng sườn sượt, đưa tay móc trong túi áo bà ba ra một điếu thuốc lá cuộn sâu kèn bằng giấy báo, bật chiếc hộp quẹt gas cũ kỹ châm lửa. Anh rít một hơi thật dài, nhả ra một làn khói trắng đục hòa tan vào màn sương sớm lạnh ngắt:
— Chuẩn bị gì nổi mà chuẩn bị cậu. Tiền công năm nay ngoài ngã ba họ hét lên tới hai trăm bốn mươi ngàn một ngày công bao một bữa cơm trưa, vậy mà còn đỏ mắt không kiếm ra người hái. Bọn thanh niên trai tráng trong làng Cư M’Rao này nó rủ nhau kéo xuống Bình Dương, Đồng Nai làm công nhân khu công nghiệp hết trơn rồi. Ở rẫy giờ chỉ còn mấy bà già với mấy đứa nhỏ chưa tới tuổi đi làm. Tôi mới đánh tiếng lôi kéo được bên xóm dưới chừng bốn người quen. Tính sáng mai bắt đầu rải bạt tuốt đại trà. Cứ tuốt tràn một lèo từ hàng ranh trên này đổ dốc xuống lòng suối, chừng mười ngày nửa tháng là dọn sạch bách vườn. Tuốt một đợt cho dứt điểm rồi còn mướn máy kéo chở thẳng ra sân phơi nhà ông Sang bán thô lấy tiền mặt trả nợ công thợ, chứ dây dưa kéo dài thì tiền đâu mà nuôi cơm người ta mỗi ngày?
Khôi lập tức lắc đầu. Nét mặt anh đanh lại, mang theo sự cương quyết tuyệt đối của một người nắm vững nguyên lý kỹ thuật:
— Tuyệt đối không được tuốt cành đồng loạt như vậy nữa anh Tư. Năm nay nhà mình phải thay đổi hoàn toàn phương thức thu hoạch.
Anh Tư đang cầm điếu thuốc dở trên tay bỗng khựng lại giữa không trung. Anh ngẩng phắt mặt lên nhìn Khôi, chân mày nhíu chặt lại thành một đường rãnh sâu hoắm giữa trán:
— Thay đổi? Cậu muốn thay đổi cái gì? Xưa giờ ba mươi năm nay cả cái vùng đất Tây Nguyên này, từ người Kinh tới người Êđê, ai mà không trải bạt tuốt cành như vậy? Không tuốt cành thì hái kiểu gì? Cậu định bày trò gì nữa đây?
Khôi bước lại gần một cây cà phê sai quả nhất ở ngay đầu hàng. Anh nhẹ nhàng đưa hai bàn tay nâng một chùm quả trĩu nặng lên trước mặt anh Tư. Trên cùng một đốt cành chỉ dài chưa đầy một gang tay, có ba quả chín đỏ sẫm mọng nước, bốn quả màu cam ửng, hai quả màu xanh vàng và ba quả non xanh ngắt, cứng như đá sỏi:
— Em muốn anh và toàn bộ thợ hái năm nay tuyệt đối không được dùng hai bàn tay nắm chặt tuốt trần cành từ trong ra ngoài như mọi năm. Không được để quả xanh, quả lép, lá cây và cành gãy rụng lẫn lộn vào bạt dứa. Chúng ta phải hái lựa thủ công từng quả chín mọng. Tỷ lệ quả chín đỏ thu gom vào bao tải gai phải đạt tối thiểu từ chín mươi lăm đến một trăm phần trăm. Quả xanh, quả ửng phải để nguyên lại trên cây cho nó tiếp tục nhận dinh dưỡng từ bộ rễ và quang hợp để chín tự nhiên vào đợt hai, đợt ba cách nhau hai tuần.
Không gian giữa rẫy cà phê bỗng chốc im phăng phắc. Tiếng gió rít qua rặng muồng đen chắn gió nghe xào xạc, buốt lạnh.
Anh Tư đứng sững sờ nhìn trừng trừng vào mặt Khôi. Điếu thuốc sâu kèn trên môi anh rụng tàn xuống vạt áo mà anh cũng chẳng buồn gạt đi. Vẻ mặt người làm rẫy già chuyển biến từ kinh ngạc sang khó chịu tột độ, rồi bùng lên sự giận dữ của một người thợ lành nghề lâu năm bị một đứa trẻ ranh lên mặt dạy đời:
— Cậu Khôi! Cậu nói giỡn hay cậu đang nói sảng vậy hả? Hái lựa từng quả chín? Tỷ lệ một trăm phần trăm? Cậu có bao giờ vác cái bao tải gai trèo ngược lên con dốc đất đỏ trơn như mỡ này để hái cà phê suốt mười tiếng đồng hồ dưới trời nắng chang chang chưa mà cậu đứng đây phán như đúng rồi vậy hả?
— Em hoàn toàn nghiêm túc, anh Tư, — Khôi vẫn giữ giọng điệu bình tĩnh, ánh mắt nhìn thẳng không hề né tránh sự giận dữ của người thợ già. — Nếu chúng ta cứ tiện tay tuốt cả cành như cũ, tỷ lệ quả xanh lẫn vào bao sẽ chiếm từ ba mươi tới bốn mươi phần trăm. Hạt cà phê non chứa hàm lượng đường cực kỳ thấp, lượng axit chlorogenic tự do quá cao sẽ làm cho hương vị cà phê sau này bị chát đắng gắt cỏng, phẩm chất nhân xô rất tệ. Chưa kể, mỗi lần anh dùng sức tuốt cành đồng loạt, cuống quả xanh dai ngoằng sẽ xé toạc lớp vỏ cành, làm tổn thương các mắt mầm ngủ dự trữ cho vụ hoa năm sau, cây sẽ bị suy kiệt nghiêm trọng. Chúng ta chỉ có thể bán được giá cao khi hạt cà phê tích lũy đầy đủ lượng đường tự nhiên từ lớp thịt quả chín mọng trên cây thôi!
— Đủ lượng đường cái con khỉ mốc! — Anh Tư gắt lên thành tiếng, vung tay ném phắt tàn thuốc xuống đất, dùng mũi ủng cao su di mạnh xuống nền đất đỏ như để trút sạch cơn bực dọc đang sôi sục trong lồng ngực. — Mấy cái chữ nghĩa sách vở cao siêu đó của cậu đem về Sài Gòn mà giảng giải cho mấy đứa sinh viên văn phòng! Đây là đất rẫy Cư M’Rao, đây là rẫy nhà ông Hậu! Cậu có biết một công thợ hái tuốt cành một ngày người ta kéo bạt được bao nhiêu không? Bốn tạ, năm tạ quả tươi một ngày! Còn cậu bắt người ta đứng vạch từng kẽ lá, dùng hai đầu ngón tay nhón từng quả chín đỏ bỏ vào giỏ thì một ngày một người hái nổi một tạ không? Tôi bảo đảm không nổi tám chục ký nữa là đằng khác!
Anh Tư bước dồn dập về phía Khôi, cánh tay gầy guộc run lên bần bật, ngón tay trỏ thô ráp chỉ thẳng vào những chùm cà phê trĩu quả xung quanh:
— Hái lựa kiểu con nhà giàu đó tốn công gấp ba, gấp bốn lần! Một vụ hái bình thường người ta dọn vườn trong mười lăm ngày là xong xuôi, cậu bắt hái kiểu đó nó kéo dài dây dưa ra tới hai tháng trời! Tiền công đâu mà trả cho người ta hả cậu Khôi? Cậu tính đi: một ngày công hai trăm bốn mươi ngàn, kéo dài hai tháng ròng rã thì tiền công thợ nó đội lên gấp bao nhiêu lần? Rồi quả chín mọng để trên cây chờ hái đợt hai đợt ba, lỡ gặp một trận áp thấp nhiệt đới mưa dầm bất tử trút xuống nó rụng trắng gốc thối hoắc ra đó, ai đền cho cậu? Chim chóc, chuột bọ ngoài rừng nó kéo tới cắn phá tan tành, ai đền cho cậu? Hay tới lúc mất trắng rồi cậu lại bảo là tại thời tiết rủi ro?
Khôi hít một hơi thật sâu, cố gắng giữ cho nhịp tim mình không bị cuốn theo cơn kích động của đối phương. Anh kiên nhẫn phân tích bằng bài toán chi phí:
— Anh Tư, em hiểu rất rõ tiền công nhật sẽ tăng lên và thời gian thu hoạch sẽ kéo dài. Nhưng giá trị thực tế của hạt cà phê chất lượng cao thu về sẽ bù đắp dư sức cho phần chi phí nhân công phát sinh đó. Nếu mình cứ tiếp tục bán cà xô xô bồ lẫn lộn quả non quả chín cho thương lái địa phương, người ta sẽ ép giá mình xuống đáy theo bảng giá sàn London, trừ hết chi phí vật tư phân bón thì rẫy nhà mình lỗ lã triền miên năm này qua năm khác. Nhưng nếu mình có nguồn quả chín mọng đồng đều tuyệt đối, mình có thể tự kiểm soát quy trình sơ chế khép kín, lên men kỵ khí để tạo ra hương vị đặc sản, bán trực tiếp cho các nhà rang xay độc lập với mức giá gấp rưỡi, thậm chí gấp đôi giá thị trường hiện tại!
— Cậu bán cho ai? — Anh Tư cười khẩy một tiếng đầy cay đắng, ánh mắt sắc như dao chém thẳng vào những luận điểm kỹ thuật của Khôi. — Cậu tính bán cho ai ở cái xứ Buôn Ma Thuột này? Cho thằng Sang đại lý vật tư ngoài ngã ba hả? Hay cho mấy vựa thu mua nông sản ở thị trấn? Tôi nói cho cậu mở to mắt ra mà nhìn vào cái thực tế tàn nhẫn này: thương lái ở cái đất Tây Nguyên này người ta chỉ mua cào bằng theo giá cà xô! Cậu có mang một bao cà phê hái lựa chín mọng một trăm phần trăm, đẹp như tranh vẽ ra đại lý của thằng Sang, nó có trả thêm cho cậu được một ngàn đồng một ký nào không? Không hề! Nó vẫn đổ chung bao cà của cậu vào một đống lù lù với đống cà tuốt cành cả lá cả cành của thiên hạ, rồi nó trừ tạp chất, nó tính giá cào bằng theo giá cà xô sàn thế giới!
Anh Tư thở dốc, lồng ngực phập phồng sau một tràng phân bua nảy lửa:
— Cậu bỏ công sức gấp ba, chi phí nhân công đội lên ngập đầu, rốt cuộc hạt cà mang ra chợ vẫn bị bán bằng giá cà xô của người ta thì cái đó là khôn ngoan hay là dại dột? Ba cậu đang nợ ngập đầu ngập cổ ngoài kia, người ta sắp kéo máy cày tới siết rẫy siết nhà tới nơi rồi mà cậu còn đứng đây bày trò vẽ hươu vẽ vượn! Tôi làm rẫy ở cái đất Cư M’Rao này từ hồi cậu còn chưa biết đánh vần con chữ, tôi lạ gì mấy cái dự án viển vông của mấy ông kỹ sư nông nghiệp trên tỉnh xách cặp táp xuống đây! Vẽ dự án cho cố vô rồi cuối cùng chỉ có người làm rẫy như tụi tôi với ba má cậu là lãnh đủ nợ nần! Tôi nói dứt khoát một lời: nếu vụ này cậu ép thợ phải hái lựa từng quả chín, tôi cuốn bạt, tôi nghỉ việc ngay từ sáng nay! Cậu tự đi mà mướn thợ thành phố của cậu về đây mà nhón từng quả!
Cơn thịnh nộ trần trụi và những lý lẽ đanh thép của người nông dân già giáng một đòn choáng váng vào sự tự tin học thuật của Khôi.
Anh Tư không hề nói sai một chữ nào về mặt hiện trạng chuỗi cung ứng tại địa phương. Thương lái không mua chất lượng, họ chỉ mua khối lượng và chiết khấu độ ẩm. Hệ thống thu mua truyền thống được thiết kế ra không phải để tôn vinh sự tỉ mỉ của người trồng, mà là để tối đa hóa biên độ ép giá của tầng lớp trung gian.
Khôi đứng lặng đi giữa hai luống cà phê. Gió cao nguyên thổi ràn rạt qua những tán lá dày, mang theo hơi sương lạnh ngắt quất vào mặt anh rát rạt.
Anh nhìn anh Tư. Người đàn ông này cả đời gắn chặt số phận với mảnh đất bazan, gầy gò, khắc khổ, bảo thủ đến mức cố chấp. Nhưng Khôi hiểu sâu sắc rằng, sự bảo thủ đó không hề xuất phát từ ác ý hay sự lười biếng. Nó xuất phát từ một nỗi sợ hãi tột cùng đã ăn sâu vào tiềm thức: nỗi sợ hãi trước rủi ro tài chính của những kẻ bần cùng.
Những người làm rẫy như anh Tư, như ba má anh, đã chứng kiến quá nhiều vụ mùa mất giá thảm hại, quá nhiều lời hứa hẹn hão huyền của các công ty phân bón, giống cây trồng. Họ không có bất kỳ một tấm đệm an toàn tài chính nào để đánh cược. Một sai lầm nhỏ trong việc tính toán tiền công thợ hái, một cơn mưa bất chợt làm hư hại sản lượng cũng đủ để đẩy cả gia đình họ vào cảnh đứt bữa, nợ nần chồng chất không lối thoát.
Khôi nhìn xuống đôi bàn tay mình – đôi bàn tay của một kỹ sư nông nghiệp từng chỉ quen gõ bàn phím và cầm giác kế đo đạc trong các trang trại mẫu. Rồi anh sờ tay vào túi áo khoác, nơi cuốn sổ nợ bìa da sờn rách của mẹ đang cộm lên như một khối đá đè nặng vào lồng ngực.
Anh nhận ra rằng mình đã phạm phải một sai lầm chết người của những kẻ có học thức: mang những lý thuyết hoàn hảo áp đặt một cách ngạo mạn lên một hiện thực trần trụi mà không chịu chia sẻ gánh nặng rủi ro với những người trực tiếp đổ mồ hôi. Muốn phá vỡ định kiến thâm căn cố đế của người nông dân, anh không thể dùng uy quyền của một người chủ rẫy, càng không thể dùng những thuật ngữ đao to búa lớn về chất lượng.
Anh phải dùng chính bản thân mình và nguồn lực cuối cùng của mình để làm tấm đệm rủi ro cho họ.
Khôi bước lên một bước, hạ thấp giọng xuống. Ánh mắt anh không còn vẻ căng thẳng đối đầu, mà trở nên mềm mại nhưng vững chãi như một tảng đá ngầm dưới lòng suối:
— Anh Tư… em xin lỗi vì hồi nãy em đã nóng vội, chưa đặt mình vào vị trí của anh và bà con thợ hái mà đã đòi hỏi thay đổi ngay lập tức. Anh nói hoàn toàn đúng. Chi phí nhân công tăng cao là có thật, rủi ro thời tiết thất thường là có thật, và cái cảnh thương lái ngoài ngã ba cào bằng giá cà xô để ép người làm rẫy cũng là sự thật cay đắng bấy lâu nay.
Anh Tư hơi khựng lại trước thái độ nhún nhường bất ngờ của Khôi. Người thợ già hừ nhẹ một tiếng qua hai lỗ mũi, khoanh hai cánh tay khẳng khiu trước ngực. Nét mặt anh vẫn còn hầm hầm giận dỗi, nhưng sự gay gắt ban nãy đã lắng xuống vài phần:
— Cậu biết nhận ra như vậy là còn may đó. Đừng có tưởng cứ vác cái bằng kỹ sư trên thành phố về đây là cái gì cũng qua mặt được những người cắm lưng xuống đất này mấy chục năm trời.
— Dạ, em biết chứ anh Tư, — Khôi nhìn thẳng vào đôi mắt đục ngầu vì khói thuốc của anh Tư, giọng nói trầm xuống, tha thiết nhưng chứa đựng một sức nặng nghẹn ngào. — Nhưng anh Tư ơi, nếu vụ mùa năm nay chúng ta cứ tiếp tục trải bạt tuốt cành cào bằng như hai mươi năm qua, anh nghĩ cái rẫy này của nhà em còn trụ nổi qua mùa khô năm tới không anh? Trưa hôm qua, thằng Sang vật tư đã mang cái hợp đồng cấn trừ nợ tới tận nhà, ép ba em phải ký giấy gán toàn bộ ba hécta đất rẫy này với giá rẻ mạt rồi. Ba em giấu anh, nhưng ổng đã ký một cái giấy nhận cọc từ năm ngoái, giờ nợ nần chồng chất không còn đường xoay xở nữa. Nếu vụ này chúng ta không tìm ra một lối thoát khác, không tạo ra được giá trị cao hơn cho từng hạt cà phê để tự cứu lấy mình, thì hết năm nay, cái rẫy này chắc chắn sẽ sang tên đổi chủ. Ba em mất đất tổ tiên để lại, và anh… anh cũng sẽ không còn mảnh rẫy thân thuộc này để gắn bó sớm hôm nữa. Mười lăm năm qua anh đổ mồ hôi xuống từng gốc cây ở đây, anh có đành lòng đứng nhìn mảnh đất này rơi trọn vào tay thằng Sang không anh?
Gương mặt sạm đen vì sương gió của anh Tư khẽ co giật. Bàn tay chai sạn của anh bất giác siết chặt lấy mép chiếc bao tải gai buộc ngang hông.
Mối ân tình thâm sâu giữa anh và ông Hậu suốt mười lăm năm qua đâu chỉ đơn thuần là mối quan hệ giữa chủ rẫy và người làm thuê. Họ đã cùng nhau đào từng hố cà phê trong những ngày khai hoang gian khổ, cùng nhau thức trắng hàng chục đêm lạnh buốt bên bờ suối canh chiếc máy bơm nổ để cứu vớt từng cành cà khô héo qua đại hạn. Nhìn thấy mảnh đất mồ hôi nước mắt này sắp sửa rơi vào tay một tên trùm vật tư lọc lừa như Phạm Đức Sang, cõi lòng người thợ già như có muối xát.
Nhận thấy sự dao động sâu sắc trong ánh mắt của anh Tư, Khôi không bỏ lỡ thời cơ, lập tức đưa ra một đề xuất mang tính chiến lược mà anh đã nung nấu suốt đêm qua:
— Em không bắt anh và mọi người phải mạo hiểm thay đổi trên toàn bộ ba hécta rẫy. Em chỉ xin anh đúng một điều: cho em thử nghiệm phương pháp mới trên duy nhất một sào đất rẫy thôi. Đúng một sào đất ở khoảnh rẫy đầu hồi phía Đông này.
Anh Tư nhíu chặt đôi mày rậm, ánh mắt lộ rõ vẻ hoài nghi:
— Một sào? Chừng một trăm gốc cà phê thôi đó hả?
— Đúng vậy, đúng một sào, khoảng một trăm gốc cà phê giống Robusta sẻ thuần chủng tán thấp mà ba em đã cất công giữ lại từ đợt tái canh trước, — Khôi nhấn mạnh từng từ một cách dứt khoát. — Toàn bộ phần diện tích còn lại của rẫy, anh cứ cho thợ thu hoạch tuốt cành đồng loạt như bình thường theo đúng kinh nghiệm lâu năm của anh, để kịp phơi bán xô lấy tiền mặt trang trải chi phí sinh hoạt trước mắt cho ba má em. Riêng một sào đất này, anh giúp em hái lựa thủ công một trăm phần trăm quả chín mọng. Em sẽ đích thân xỏ ủng, đeo bao ra đây đứng hái cùng với anh và thợ.
Khôi hít sâu một hơi, nói tiếp:
— Toàn bộ phần tiền công phát sinh do thời gian hái lựa kéo dài, toàn bộ tiền công trả thêm cho thợ để họ chịu nhặt từng quả chín, em sẽ tự móc tiền túi cá nhân của em ra thanh toán sòng phẳng từng ngày một! Tuyệt đối không đụng tới một đồng nào trong ngân quỹ chung của gia đình hay rẫy!
Anh Tư trừng mắt nhìn Khôi, như muốn soi rọi tận đáy lòng xem sự quyết tâm của chàng kỹ sư trẻ này lớn đến mức nào:
— Cậu lấy tiền đâu ra mà đòi bao trọn gói tiền công? Tôi nghe ông Hậu nói hồi tối là cậu trên thành phố mới nghỉ việc về quê, làm gì có sẵn một cục tiền lớn mà chi trả mỗi ngày?
— Em có khoản tiền tiết kiệm tích cóp mấy năm đi làm của riêng em. Em cam kết với anh bằng danh dự của một người con họ Đoàn: tiền công hái lựa trên một sào này, cứ mỗi buổi chiều kết thúc ca hái, cân quả xong là em đếm tiền mặt trao tay liền cho anh và thợ hái, không thiếu một cắc, không nợ lại một giờ. Nếu lô cà phê từ một sào này làm ra mà bị hỏng, hoặc không bán được giá cao như em tính toán, một mình em đứng ra gánh chịu toàn bộ thiệt hại tài chính. Không ảnh hưởng gì tới ba má em, cũng không ảnh hưởng tới chén cơm manh áo của anh và mọi người!
Một khoảng im lặng kéo dài trôi qua giữa hai người đàn ông.
Màn sương mù dày đặc bắt đầu tan dần dưới những tia nắng ban mai đầu tiên rọi xiên qua những tầng lá muồng đen. Những tia nắng vàng như rót mật làm bừng sáng những vạt đất đỏ bazan màu mỡ, chiếu lấp lánh lên những giọt sương mai còn đọng trên lớp vỏ căng tròn của những chùm quả chín mọng.
Anh Tư nhìn sâu vào mắt Khôi một hồi lâu. Khói thuốc đã tàn từ lâu trên ngón tay cáu bẩn. Cuối cùng, người thợ già thở dài một hơi thật dài, buông thõng hai cánh tay xuống hai bên sườn. Anh lắc đầu quầy quậy, nhưng giọng điệu gay gắt ban nãy đã hoàn toàn biến mất, thay vào đó là sự bao dung xen lẫn chút bất lực của một người chú trong nhà:
— Cậu… cái tính cậu nó cứng đầu y chang ba cậu hồi còn trẻ! Nói một là một, hai là hai, chẳng ai bẻ gãy được cái ý nghĩ trong đầu! Thôi được rồi… Tôi nể tình ông Hậu đối xử tử tế với tôi mười mấy năm qua, với lại tôi cũng nể cái sự dám làm dám chịu của cậu. Một sào rẫy phía Đông này, tôi sẽ lựa ra hai người thợ quen việc, chịu khó nhất bên xóm dưới, cùng với tôi và cậu bắt đầu hái tỉa thử nghiệm. Nhưng tôi nói trước cho cậu chuẩn bị tinh thần: hái lựa quả chín mọng nó khó và mệt gấp trăm lần cậu tưởng tượng trên giấy tờ! Quả chín thì vỏ nó mềm, sơ sẩy một chút là giập nát mủ dính đầy tay, mà cuống quả chín bói dai ngoét, giật mạnh tay một cái là toạc luôn cả mắt cành non của cây. Cậu phải ra đây đứng hái chung từ sáng sớm tới chiều tối với tụi tôi, để xem cái lưng công tử thành phố của cậu chịu đựng được mấy ngày trên cái triền dốc này!
— Em chịu được hết! Em làm được mà anh Tư! Em cảm ơn anh nhiều lắm! — Khôi mỉm cười rạng rỡ, cảm giác như một khối đá tảng vô hình vừa được dỡ bỏ khỏi lồng ngực mình.
— Đừng có vội mừng thầm trong bụng, cậu Khôi, — Anh Tư quay lưng lại, vác tấm bạt dứa rách lên vai, bước chầm chậm về phía hàng cà phê chín bói ở ranh đất, bỏ lại một câu nói lửng lơ đầy vẻ đe dọa trong làn gió sớm. — Cậu hái được quả chín mọng về rồi thì lấy cái gì mà phơi, lấy cái gì mà xay xát hả cậu? Đất Cư M’Rao này cuối năm nắng mưa thất thường như đứa trẻ con dở chứng. Nhà cậu không có sân ximăng rộng, không có máy sấy công nghiệp, chỉ cần một trận mưa rừng trái mùa ập xuống bất tử là một sào cà chín mọng của cậu sẽ lên men chua lè, biến thành một đống phân thối rữa hết trong vòng ba ngày ngắn ngủi. Cứ liệu cái thần hồn của cậu đó!
Khôi đứng lại một mình giữa khoảnh rẫy một sào phía Đông. Nắng sớm bắt đầu rọi ấm trên lưng áo kaki của anh.
Anh đưa tay chạm nhẹ vào một chùm quả Robusta chín đỏ thẫm như những quả anh đào rừng hoang dã. Vỏ quả căng mọng, bóng bẩy dưới ánh mặt trời. Anh bóp nhẹ, cảm nhận được lớp thịt quả dày dặn bên trong đang ứa ra chất mật ngọt tự nhiên – nguồn năng lượng quý giá mà tự nhiên đã chắt chiu qua một năm ròng rã, thứ mật ngọt chỉ chực chờ một quy trình lên men khoa học để đánh thức những tầng hương vị tiềm ẩn sâu kín nhất.
Một sào rẫy. Một trăm gốc cây cổ thụ. Khoản tiền tiết kiệm sáu mươi tám triệu bốn trăm ngàn đồng nằm trong túi áo.
Khôi phóng tầm mắt nhìn hàng cà phê trải dài trước mặt, nhận thức sâu sắc rằng việc thuyết phục được anh Tư đồng ý hái lựa quả chín mới chỉ là bước đi chập chững đầu tiên của một canh bạc sinh tử không có đường lùi.
Phía trước anh, bài toán thiết kế giàn phơi thông thoáng chống ẩm mốc, kỹ thuật kiểm soát nhiệt độ lên men kỵ khí trong điều kiện thiếu thốn trang thiết bị, sự khắt khe của các nhà rang đặc sản và áp lực nghẹt thở từ món nợ khổng lồ năm trăm tám mươi lăm triệu đồng của gia đình vẫn đang chực chờ như một miệng vực sâu hoắm, sẵn sàng nuốt chửng mọi lý tưởng non nớt của một kẻ vừa quay về với đất mẹ.