Ly Cà Phê Đầu TiênC.1 / 45
Chương 1

Chuyến xe về rẫy

Chuyến xe đò liên tỉnh mang biển số bốn mươi bảy cọc cạch nhả một hồi còi hơi chói óc, phanh gấp ken két rồi thả Đoàn Minh Khôi xuống ngã ba đường đất đỏ dẫn vào xã Cư M’Rao, ngoại ô thành phố Buôn Ma Thuột.

Cửa xe vừa mở bung, hơi nóng hầm hập tích tụ từ khoang chở khách nêm chặt người cùng mùi mít chín rữa, mùi mồ hôi chua nồng lập tức bị tống khứ ra ngoài. Khôi bước vội xuống bậc cửa sắt đã rỉ sét nham nhở. Đôi giày vải thể thao sờn mép của anh vừa chạm mặt đường, chiếc xe khách cũ kỹ đời chín mươi tám đã vội vã sang số, ống xả bằng sắt hoen gỉ phụt ra một luồng khói dầu đen đặc, khét lẹt tạt thẳng vào mặt anh rồi gầm rú lao đi trong làn bụi mịt mù.

Khôi đứng sững lại bên vệ cỏ khô héo chừng nửa phút. Đôi mắt cay xè vì khói xe và bụi mịn, anh phải nheo chặt mi để làm quen với thứ ánh sáng chói chang như thiêu như đốt của vùng cao nguyên đất đỏ vào những ngày cuối mùa khô tháng Tư. Mặt trời đứng bóng trên đỉnh đầu, không một gợn mây che chắn, rót thẳng thứ nhiệt lượng khủng khiếp xuống vùng bình địa bazan nứt nẻ. Từng cơn gió quẩn thổi từ thung lũng lên mang theo bụi đỏ mịn như bột phấn, quấn lấy ống quần bò bạc phếch, phủ một lớp màng màu gạch non lên hai bắp chân và bám chặt vào từng sợi vải ẩm ướt mồ hôi.

Khôi đưa tay kéo quai chiếc balô du lịch màu rêu lên cao hơn một chút. Khối vải bạt dù thô cứng nặng trĩu ghì chặt xuống bắp vai anh, tạo nên một cơn đau nhức âm ỉ kéo dài từ tận đốt sống cổ. Chiếc balô này chứa đựng toàn bộ gia tài mà anh mang theo sau chuyến đi dài: năm bộ quần áo cũ kỹ đã bạc màu giặt giũ, vài ba đôi tất, đôi dép nhựa, một chiếc máy tính xách tay xước xát góc cạnh và hai cuốn giáo trình dày cộp của Trường Đại học Nông Lâm mang tên *Thổ nhưỡng học đại cương* và *Sinh lý thực vật ứng dụng*.

Nhưng thứ khiến đôi vai anh nặng nề nhất, thứ đè bẹp cả ý chí lẫn sự kiêu hãnh của một chàng trai tuổi hai mươi bảy, lại là một tờ giấy A4 mỏng manh nằm kẹp giữa những trang sách chuyên ngành ở đáy túi.

Đó là văn bản mang dấu mộc tròn đỏ thắm của Công ty Cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Khang Thịnh có trụ sở tại quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Tiêu đề văn bản in đậm bằng phông chữ chuẩn mực: "Thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động". Văn bản liệt kê ngắn gọn các căn cứ theo quy định của Bộ luật Lao động, viện dẫn lý do "tái cơ cấu tổ chức bộ máy sản xuất kinh doanh do suy thoái thị trường xuất khẩu", và kết thúc bằng việc giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc một lần cộng thêm hai tháng lương cơ bản hỗ trợ tìm việc làm.

Tổng cộng số tiền được chuyển khoản vào tài khoản cá nhân của Khôi sau khi trừ đi các khoản thuế thu nhập cá nhân và bảo hiểm là sáu mươi tám triệu bốn trăm nghìn đồng. Chiếc thẻ ATM màu xanh lá của ngân hàng Vietcombank chứa trọn số tiền đó lúc này đang nằm im lìm dưới đáy chiếc ví da bong tróc nhét ở túi sau quần Khôi.

Sáu mươi tám triệu đồng. Đó là cái giá thanh toán trọn gói cho năm năm tuổi trẻ của anh. Năm năm kể từ ngày cầm tấm bằng kỹ sư nông nghiệp loại xuất sắc bước chân ra khỏi giảng đường, lao vào các nông trường cao su ở Bình Phước, những nhà màng trồng dưa lưới công nghệ cao ở Củ Chi, rồi những đêm thức trắng trong phòng thí nghiệm vi sinh phân lập nấm đối kháng *Trichoderma* nhằm cải tạo đất. Năm năm cống hiến với những bản báo cáo thực địa dày hàng trăm trang, những lần phơi mình dưới nắng rát miền duyên hải Nam Trung Bộ để lấy mẫu đất mùn, tất cả bị gói gọn lại trong một buổi sáng thứ Hai lạnh lẽo. Trưởng phòng nhân sự đẩy cốc nước lọc nguội ngắt sang phía anh, nói một tràng những lời an ủi sáo rỗng đã chuẩn bị sẵn, rồi đưa cây bút bi yêu cầu anh ký vào biên bản thanh lý hợp đồng trước mười một giờ trưa.

Khôi hít một hơi thật sâu. Không khí Cư M’Rao lọt vào buồng phổi khô khốc, xộc lên mũi vị ngai ngái nồng nặc của đất đỏ bazan phơi nắng lâu ngày, mùi lá cà phê khô giòn gãy vụn dưới bước chân và thoang thoảng mùi khói đốt rẫy từ phía chân núi xa xăm. Thứ mùi vị của máu thịt, của gốc rễ, của nơi chôn nhau cắt rốn đáng lẽ phải mang lại cho một kẻ tha hương cảm giác bình yên của sự trở về. Nhưng lúc này, nó chỉ khiến cuống họng anh nghẹn ứ một vị đắng ngắt.

Anh nhớ như in cái ngày của bảy năm về trước, khi cầm trên tay tờ giấy báo trúng tuyển đại học với số điểm cao nhất nhì cái xã miền núi này. Buổi chiều hôm ấy, cha anh – ông Đoàn Văn Hậu – người đàn ông cả đời ít nói và chưa bao giờ nở nụ cười trọn vẹn, đã tự tay bắt con gà trống thiến to nhất đàn trong chuồng nhốt, chặt củi cà phê khô đốt lửa làm thịt đãi cả họ. Trong bữa cơm tiễn chân con trai lên phố ngập tràn tiếng chúc tụng bên can rượu cần của mấy người hàng xóm người Êđê, ông Hậu đã tự tay rót cho anh nửa chén rượu gạo nếp tự nấu, bàn tay thô nhám đầy những vết nứt nẻ đóng phèn đen kịt ghì chặt lấy cổ tay anh:

*"Mày đi học cho mở mắt mở mũi với người ta, con ạ. Học cái chữ, học cái khoa học kỹ thuật để xem người thành phố người ta làm giàu bằng tri thức như thế nào. Chứ cái giống nông dân xứ này, cả đời bán lưng cho trời, bán mặt cho đất bazan, làm lụng hộc máu mồm ra rồi đến mùa thu hoạch vẫn bị lũ thương lái nó nắm đằng chuôi, nó bóp chết lúc nào không hay. Mày phải thoát khỏi cái rẫy này, Khôi nghe chưa!"*

Lời dặn dò đầy kỳ vọng và cay đắng của cha như một nhát búa vô hình nện thẳng vào lồng ngực Khôi.

Giờ đây, anh đã trở về. Nhưng không phải với tư cách của một chuyên gia nông nghiệp thành đạt mang dự án triệu đô về cơ giới hóa quê hương, không phải một kỹ sư trưởng phụ trách vùng nguyên liệu mẫu cho tập đoàn đa quốc gia. Anh trở về như một kẻ bại trận trốn chạy khỏi cuộc sàng lọc khốc liệt của đô thị, tay xách nách mang với một tờ giấy sa thải giấu kỹ trong đáy balô và sự mặc cảm cắn xé tâm can.

Khôi bặm chặt môi, bàn tay siết lấy quai đeo đến mức các đốt ngón tay trắng bệch ra. Anh tự dặn lòng bằng bất cứ giá nào cũng phải nuốt ngược sự thật này vào trong. Tuyệt đối không được để lộ chuyện anh bị mất việc. Anh không thể để cha mẹ biết số tiền còm cõi trong tài khoản kia chỉ là khoản trợ cấp thất nghiệp cuối cùng trước khi anh trở thành kẻ vô công rỗi nghề. Anh không thể tước đoạt đi niềm tự hào duy nhất còn sót lại của cha anh – niềm tự hào về một đứa con trai duy nhất thoát ly khỏi ruộng đồng để làm việc trong những tòa nhà văn phòng máy lạnh ngút ngàn.

Khôi bắt đầu bước đi. Con đường đất đỏ rộng chừng ba mét dẫn từ ngã ba quốc lộ vào sâu trong thung lũng rẫy họ Đoàn uốn lượn quanh co qua những triền dốc thoai thoải. Hai bên đường, những lô cà phê Robusta hơn hai mươi năm tuổi đứng im lìm, oằn mình chống chọi với cái nắng gắt gao của mùa khô hạn.

Là một kỹ sư nông học, từng bước chân của Khôi vô thức trở thành một cuộc khảo sát thực địa đầy xót xa. Ánh mắt anh lia qua từng gốc cây, từng hàng luống. Khung cảnh hiện ra trước mắt thảm hại hơn rất nhiều so với những bức ảnh chắp vá mà mẹ anh thỉnh thoảng gửi qua Zalo.

Những cây Robusta này đã già cỗi đến mức báo động. Bộ tán xơ xác, khẳng khiu chĩa lên trời như những bộ xương khô. Trên thân cây chính, vô số những cành tăm, cành vượt mọc chen chúc hỗn loạn, hút cạn kiệt nguồn dinh dưỡng ít ỏi của những cành quả mang trái vụ này. Lá cà phê không còn giữ được màu xanh thẫm bóng bẩy đặc trưng của dòng Robusta khỏe mạnh mà đã ngả sang màu vàng vọt, mép lá cong queo, mặt dưới chi chít những đốm nấm rỉ sắt màu cam cháy và những vệt mạng nhện trắng xóa của rệp sáp đang âm thầm tàn phá mô thực vật.

Nhìn xuống dưới gốc, Khôi khựng lại, ngồi xổm xuống bốc một nắm đất lên tay. Lòng bàn tay anh chạm vào những cục đất khô khốc, nén chặt và trơ lì như gạch nung. Không hề có một lớp thảm phủ thực vật nào để giữ ẩm. Không có cỏ mần trầu, không có xuyến chi, không có cỏ đậu phộng che chắn cho tầng đất mặt. Mọi thứ trơ trụi đến tàn nhẫn.

Khôi bóp nát cục đất bazan trong tay, hạt đất vỡ vụn thành lớp bột mịn khô khốc, không hề có chút kết cấu mùn hữu cơ nào, cũng không thấy bóng dáng của một con giun đất hay sinh vật phân giải. Đây là triệu chứng điển hình của một vùng đất đã bị bức tử qua hàng chục năm canh tác theo lối bóc lột: người ta lạm dụng phân vô cơ hóa học NPK nồng độ cao một cách mù quáng để kích quả ngắn hạn, đồng thời phun thuốc trừ cỏ lưu dẫn gốc Paraquat và Glyphosate liên tục ba, bốn lần mỗi năm để dọn sạch rẫy cho tiện việc đi lại. Lớp vi sinh vật bản địa bị hủy diệt hoàn toàn, đất bị chai cứng, chua hóa nghiêm trọng, và khi mùa khô tới, rễ tơ của cây cà phê hoàn toàn không thể hút được lượng nước ngầm sâu bên dưới, dẫn đến hiện tượng quả non rụng hàng loạt.

Trên những cành cà phê trơ trụi, quả non của niên vụ mới đậu lắt nhắt từng chùm ba, bốn hạt teo tóp, nhiều quả đã thâm đen vì thiếu nước tưới đợt hai. Khôi thở dài, phủi lớp bụi đất trên tay áo. Đất đã kiệt cùng sinh lực, cây cối thoái hóa, và người nông dân ở cái vùng Cư M’Rao này thì ngày càng lún sâu vào một vòng xoáy luẩn quẩn không lối thoát: giá phân bón nhập khẩu tăng gấp đôi, giá dầu tưới tiêu tăng phi mã, năng suất tụt dốc thảm hại, trong khi giá bán cà phê nhân xô lại hoàn toàn phụ thuộc vào những cú giật dây của các sàn giao dịch kỳ hạn tận London hay New York.

Càng đi sâu vào con dốc thoai thoải dẫn tới khu rẫy ba hécta của gia đình, bước chân Khôi càng trở nên chậm chạp và nặng nề như thể bị xích sắt níu lại.

Căn nhà cấp bốn lợp mái tôn xanh của nhà họ Đoàn nằm nép mình dưới một gốc mít mật cổ thụ ở cuối con dốc. Ngôi nhà xây từ hồi năm hai nghìn, tường vôi vàng đã bong tróc từng mảng lớn để lộ ra lớp gạch chỉ xám xịt bên trong. Bao quanh căn nhà là hàng rào dâm bụt cỗi cằn, lá bám đầy một lớp bụi đỏ dày cộp khiến hoa dâm bụt đỏ cũng biến thành màu nâu gạch ảm đạm. Phía trước nhà là khoảng sân phơi tráng xi măng rộng gần ba trăm mét vuông – nơi mà trong ký ức tuổi thơ của Khôi luôn ngập tràn mùi hương ngọt lịm pha lẫn vị ngai ngái của những mẻ cà phê xô phơi nắng giòn tan, tiếng cào gỗ lùa cà phê rào rào của cha và tiếng giục giã quét dọn của mẹ mỗi khi trời chuyển cơn dông.

Thế nhưng lúc này, mặt sân phơi trống huếch trống hoác. Lớp xi măng cũ nứt toác thành những vệt dài hình chân chim, cỏ dại lơ phơ mọc ngoi lên từ các kẽ nứt.

Ở chính giữa sân, đập ngay vào mắt Khôi là một chiếc xe máy tay ga Honda SH màu trắng bóng lộn, mang biển số thành phố Buôn Ma Thuột, dựng nghênh ngang chắn ngay lối đi chính.

Khôi lập tức khựng lại, nấp mình sau thân cây mít mật sần sùi ở đầu ngõ.

Một linh cảm bất an chạy dọc sống lưng anh. Giữa trưa nắng gắt gao như thế này, chỉ có những kẻ đi đòi nợ hoặc những thương lái săn lùng đất rẫy mới chạy chiếc xe đắt tiền ấy vào tận nơi khỉ ho cò gáy này.

Tiếng người nói chuyện từ gian hiên nhà lợp tôn fibro xi măng vọng ra, rành rọt, đanh thép và lạnh lùng xé toạc không gian tĩnh lặng nghẹt thở của buổi trưa:

— Chú Hậu với thím Hạnh nên hiểu cho cái khó của tôi. Tôi đã nới thời hạn thanh toán tiền nợ vật tư từ vụ cà phê trước kéo dài sang tận đầu mùa mưa năm nay, không hề tính thêm một đồng tiền lãi phạt hay lãi suất ngân hàng nào cả, như thế là tôi đã niệm tình chỗ người cùng xã, cùng đi kinh tế mới vào đây với nhau lắm rồi đấy! Nhưng cái gì nó cũng phải có giới hạn của nó chứ. Cửa hàng vật tư của tôi cũng phải xoay xở hàng tỷ đồng vốn lưu động để nhập phân bón Bình Điền, phân đạm Phú Mỹ từ đại lý cấp một trên tỉnh về. Người ta đâu có cho tôi nợ gối đầu mãi được? Công ty người ta đòi siết công nợ của tôi từng tuần một kia kìa!

Âm điệu the thé, nhừa nhựa nhưng chứa đầy sự đe dọa ấy, Khôi nhận ra ngay tức khắc mà không cần nhìn mặt: Phạm Đức Sang.

Phạm Đức Sang, người dân Cư M’Rao thường gọi là "Sang vật tư" hay "Sang tỉ phú", trạc ngoài bốn mươi tuổi, là chủ sở hữu đại lý phân bón, thuốc bảo vệ thực vật kiêm thu mua nông sản lớn nhất nhì cái tiểu vùng này. Ở Cư M’Rao, Sang nắm giữ sinh mệnh kinh tế của hàng trăm hộ nông dân. Đầu mùa khô, khi người trồng cà phê rỗng túi sau những ngày chi tiêu cho dịp Tết, Sang là người hào phóng mở sổ ghi nợ xuất phân đạm, kali, thuốc trừ sâu và can dầu diesel chạy máy bơm cho các hộ rẫy mang về dùng trước. Nhưng cái miệng ngọt nhạt xưng anh gọi chú của gã luôn đi kèm một cái bẫy công nợ ngầm với mức lãi suất cộng dồn tinh vi, cùng điều khoản chốt giá bán sản phẩm độc quyền mà bất kỳ ai đã trót sa chân vào đều không thể ngóc đầu lên nổi.

Khôi nín thở, cẩn thận bước từng bước êm ái trên lớp lá rụng ven bờ rào, lách qua cánh cổng sắt mở toang bước lên góc hiên nhà.

Cảnh tượng bày ra trước mắt khiến lồng ngực Khôi quặn thắt lại trong một cơn đau buốt buốt.

Chiếc bàn gỗ tạp bốn chân khập khiễng đặt giữa hiên nhà bày một bộ ấm chén sành cáu bẩn nước chè xanh đóng váng. Sang ngồi ngả ngớn trên chiếc ghế tựa bọc nệm giả da đã rách một góc, một chân vắt chéo chữ ngũ đung đưa. Gã mặc chiếc áo sơ mi cộc tay hàng hiệu để lộ đôi bắp tay núng nính mỡ, cổ đeo một sợi dây chuyền vàng bản to bằng ngón tay út lấp lánh phản chiếu ánh nắng trưa rọi xiên qua mái hiên. Trước mặt Sang, trên mặt bàn gỗ xước xát, một tập tài liệu in ấn vi tính dày cộp đặt ngay ngắn bên cạnh chiếc cặp da cá sấu bóng lộn.

Trang bìa của tập tài liệu ấy đập vào mắt Khôi bằng những dòng chữ in hoa đậm nét, được gõ bằng phông Times New Roman sắc lạnh:

**CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM** **Độc lập – Tự do – Hạnh phúc**

**HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP** **VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT**

Ngồi đối diện với gã thương lái là ông Đoàn Văn Hậu. Người cha mà trong tâm trí Khôi luôn sừng sững như một ngọn núi đá, người đàn ông từng một thời hai tay cắp hai bao phân bón năm mươi ký đi thoăn thoắt trên triền dốc đá dăm mà không hề thở dốc, lúc này đang ngồi còng rạp lưng xuống. Hai bờ vai xương xẩu của ông sụp hẳn, đầu gối chụm vào nhau, toàn thân run rẩy như một cái cây non trước cơn giông tố. Mái tóc ông đã bạc trắng hơn nửa, xơ xác vì dãi dầu sương gió; gương mặt khắc khổ in hằn những vết nám đen của nắng rát bazan, khóe mắt sâu hoắm co rúm lại trong một nỗi đau đớn cùng cực. Đôi bàn tay gân guốc, móng tay đóng phèn đen kịt của ông đang đặt run run trên mặt bàn gỗ, đối diện với tờ giấy trắng mực đen.

Đứng nép mình bên cạnh cây cột hiên bằng gỗ cà chít đã nứt toác là bà Lê Thị Hạnh, mẹ của Khôi. Bà mặc chiếc áo bà ba bằng vải ú cũ kỹ đã sờn rách hai bên nách áo, hai bàn tay gầy trơ xương nắm chặt lấy vạt tạp dề vải hoa nhăn nhúm, ghì chặt vào bụng đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra. Đôi mắt bà sưng húp, đỏ hoe, ngấn nước nhưng không dám để giọt nước mắt nào rơi xuống trước mặt chủ nợ. Bà chỉ biết đứng trơ ra đó, nhìn chằm chằm vào bản hợp đồng chuyển nhượng đất với vẻ tuyệt vọng câm lặng đến xé lòng.

— Chú Hậu ký vào đây, ký thêm một chữ ký ở góc dưới bên phải trang đối chiếu công nợ cấn trừ nghĩa vụ tài sản này nữa là xong xuôi, — tiếng Sang vang lên, đều đặn, trơn tru và vô cảm như một cỗ máy đếm tiền tự động.

Gã rút từ túi áo ngực ra một cây bút bi vỏ kim loại màu vàng lấp lánh, ngón tay búng nhẹ một cái làm đầu bút bật ra, rồi đặt cạch một tiếng dứt khoát xuống mặt bàn, ngay sát mép tờ giấy trước mặt ông Hậu.

— Tôi tính toán sòng phẳng cho chú thím rồi nhé. Toàn bộ ba hécta đất rẫy này, bao gồm cả căn nhà cấp bốn chú đang ở và toàn bộ cây cà phê trên đất, tôi hào phóng định giá cho chú trọn gói bốn trăm năm mươi triệu đồng. Giờ ta trừ nợ: Một trăm tám mươi triệu tiền nợ phân bón NPK, thuốc trừ cỏ, thuốc sâu rầy chú ký sổ nợ ba vụ vừa qua; cộng thêm khoản tiền cọc sáu mươi triệu tôi ứng trước bằng tiền mặt hồi đầu năm ngoái cho chú đại tu lại cái máy nổ D24 và đào vét cái giếng khoan tưới ngầm. Tổng công nợ là hai trăm bốn mươi triệu.

Sang nhếch mép, đưa ngón tay trỏ gõ cộc cộc vào con số in hoa trên giấy:

— Cấn trừ xong xuôi, chú thím còn cầm về tròn trĩnh hai trăm mười triệu đồng tiền mặt! Tôi giải ngân một lần ngay sau khi ra ủy ban nhân dân xã làm thủ tục công chứng sang tên đổi chủ. Cầm hai trăm mười triệu đó, chú thím dưỡng già, thím Hạnh đỡ phải thức khuya dậy sớm kéo ống tưới nước, tỉa cành mỏi gối chồn chân. Cả một đời người làm lụng quần quật vì mấy gốc cà phê cỗi này rồi, ôm thêm làm gì nữa để nợ nần nó đè cho còng lưng, đêm nằm không nhắm nổi mắt?

Ông Hậu không ngẩng đầu lên. Từng thớ cơ trên gương mặt gầy guộc của ông giật giật. Khôi nghe rõ tiếng thở của cha mình, nặng nhọc, khò khè và đứt quãng như tiếng bễ rèn rách ở lò rèn đầu xã rên xiết trong đêm.

— Chú Sang... — Giọng ông Hậu cất lên, khàn đặc như có sạn bên trong, run rẩy và nhục nhã. — Mảnh rẫy này... mảnh đất này là của gia đình tôi khai hoang từ hồi đi kinh tế mới năm một chín tám sáu. Hồi đó rừng le rậm rạp, sốt rét rừng nó quật ngã bao nhiêu người... Vợ chồng tôi cắn răng đào từng gốc cây, bửa từng tảng đá ong để có được ba héc đất bazan thịt dày tầng canh tác sâu thế này... Chú định giá bốn trăm năm mươi triệu cho cả ba hécta cà phê đang vào vụ thu hoạch... rẻ quá chú ơi! Trừ nợ đi, chúng tôi còn hai trăm triệu... rồi vợ chồng già này biết lấy gì mà nương tựa những ngày tháng sau này hả chú?

Sang khẽ tặc lưỡi, gương mặt lộ rõ vẻ mất kiên nhẫn. Gã bưng chén nước chè xanh đã nguội ngắt lên nhấp một ngụm nhỏ, ánh mắt lóe lên tia nhìn sắc lạnh của một kẻ đang nắm đằng chuôi sinh mệnh của con mồi:

— Chú Hậu à, chú nói thế chứng tỏ chú chẳng hiểu quái gì về thị trường bây giờ cả! Chú cứ ôm cái tư duy của ba mươi năm trước thì bảo sao không chết chìm trong nợ! Chú nhìn ra ngoài rẫy kia xem: Cây của chú trồng từ đời tám mấy, rễ cọc thì cụt, rễ tơ thì thối vì nấm bệnh, năng suất niên vụ vừa rồi cả rẫy ba héc chú thu nổi năm tấn nhân không? Chưa nổi một tấn bảy một héc! Trong khi giá cà phê xô trên thị trường hiện nay bao nhiêu chú biết không? Bốn mươi mốt ngàn một ký! Trừ chi phí nhân công hái năm ngàn một ký, tiền dầu tưới sáu ngàn một ký, tiền phân bón nhập khẩu tăng gấp đôi, chú tính thử xem mỗi mùa chú lời ra được đồng nào hay là thâm lạm vào tiền túi?

Sang chồm người về phía trước, giọng nói hạ thấp xuống nhưng đầy sức nặng bức tử:

— Tôi đứng ra nhận cái đống nợ này của chú là tôi đang gánh rủi ro thay cho chú đấy! Chú mà không ký bán cho tôi hôm nay, vài tháng nữa bên Ngân hàng Nông nghiệp người ta cũng phát mãi cái sổ đỏ mà chú đang thế chấp vay vốn tiêu dùng thôi. Đến lúc ngân hàng người ta kéo công an, kéo cán bộ thi hành án xuống niêm phong nhà, bán đấu giá công khai, thì tôi đảm bảo với chú, một xu dính túi chú cũng chẳng cầm về được để mà dắt lưng đâu!

Từng lời nói của Sang như những mũi kim tẩm độc đâm thẳng vào vết thương đang rỉ máu trong tâm can hai vợ chồng già.

Bà Hạnh đứng bên cột hiên đưa vạt áo lên che kín miệng, cả người run bần bật. Bà quay mặt vào vách ván gỗ mục nát, cố nén một tiếng nấc nghẹn ngào đang trào dâng nơi lồng ngực.

Bóng tối của mái hiên tôn thấp tè dường như sụp xuống, đè nghiến lên gương mặt người đàn ông cả đời chỉ biết cúi đầu trước đất đai và thời tiết. Bàn tay chai sạn, gân guốc của ông Hậu run rẩy vươn ra. Các ngón tay thô ráp chạm vào thân kim loại lạnh ngắt của cây bút bi. Đầu bút rê đi một cách vô định, ngập ngừng lướt qua dòng kẻ để trống dành cho "Bên chuyển nhượng (Bên A)".

— Đừng ký, ba!

Tiếng thét vang lên xé toạc bầu không khí ngột ngạt, tù đọng của buổi trưa Cư M’Rao.

*Thịch!*

Chiếc balô bạt dù nặng trịch bị quẳng mạnh xuống mặt sân gạch xi măng, bụi đỏ bazan bắn tung tóe lên cao.

Khôi sải những bước chân dài ngoằng, lao qua ba bậc thềm hiên nhà như một cơn lốc. Trước khi ngòi bút của ông Hậu kịp chạm vào mặt giấy để vạch nét mực định mệnh đầu tiên, bàn tay rám nắng, chắc nịch của Khôi đã chụp lấy cổ tay cha mình, ghì chặt lại bằng một lực mạnh mẽ không thể kháng cự.

Cả ba người trên hiên đồng loạt giật nảy mình.

Cây bút bi trượt khỏi những ngón tay gầy guộc của ông Hậu, rơi xuống mặt bàn gỗ rồi lăn lông lốc trước khi rớt cạch xuống nền đất nứt nẻ.

— Khôi... Mày... sao mày lại về giờ này? — Ông Hậu ngẩng phắt đầu dậy. Đôi mắt già nua mờ đục vì đục thủy tinh thể mở to trừng trừng nhìn đứa con trai độc nhất như thể không tin vào mắt mình.

Bà Hạnh buông vạt áo bà ba, bước vội lại hai bước, giọng run rẩy lạc đi:

— Khôi ơi! Con về hồi nào sao không điện thoại cho má ra đầu lộ đón... Con...

Khôi không trả lời mẹ ngay. Hơi thở anh dồn dập, phập phồng sau lồng ngực gầy guộc. Cơn giận dữ và nỗi đau đớn kìm nén suốt chuyến đi dài bùng cháy dữ dội trong đôi mắt rực lửa của anh. Không thèm liếc nhìn Sang, Khôi chộp lấy xấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên bàn, lật nhanh từng trang với sự thuần thục của một người đã trải qua hàng trăm giờ đọc duyệt các biên bản kinh tế và quy hoạch dự án.

— Chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất ba hécta đất nông nghiệp kèm theo toàn bộ công trình nhà ở và cây trồng gắn liền trên đất với giá bốn trăm năm mươi triệu đồng? — Khôi đọc lớn từng câu từng chữ, giọng nói lạnh băng như thép nguội, vang vọng khắp gian hiên. — Đất thịt bazan tầng dày trên một mét rưỡi, có sẵn giếng khoan công suất mười lăm khối một giờ, đường rẫy rộng xe tải năm tấn chạy vào tận mép vườn, mà ông Sang đây dám định giá một trăm năm mươi triệu một hécta sao?

Khôi quắc mắt nhìn thẳng vào mặt Sang, ánh mắt sắc như dao găm:

— Ông tưởng tôi ở Sài Gòn làm việc là tôi mù tịt về đất đai ở quê hương mình chắc? Giá giao dịch thực tế trên thị trường khu vực Cư M’Rao này, ngay cả những lô đất đồi dốc đá sỏi, người ta cũng đang mua bán với giá ít nhất từ hai trăm tám mươi đến ba trăm hai mươi triệu một hécta! Ông dìm giá xuống một nửa, rồi ép cha mẹ tôi ký giấy gán nợ, đây là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nông dân thiếu hiểu biết pháp luật!

Phạm Đức Sang hơi giật mình trước sự xuất hiện đột ngột đầy giông bão của Khôi. Gã chỉnh lại thế ngồi, nheo mắt nhìn chàng kỹ sư trẻ từ đầu đến chân. Đôi giày vải bám đầy bụi đỏ, chiếc quần bò bạc màu và gương mặt hốc hác vì nắng gió của Khôi dường như không làm Sang run sợ quá lâu. Một nụ cười khẩy trơ tráo, ngập tràn vẻ khinh miệt nhanh chóng hiện lên trên gương mặt phị mỡ của gã thương lái:

— Ồ, ai như cậu Khôi kỹ sư thành phố đã hạ cố trở về làng đấy à? Nghe đâu dạo này làm chuyên viên, làm quản lý cho tập đoàn nông nghiệp lớn ghê gớm ở Sài Gòn lắm kia mà, sao nom ăn mặc lếch thếch như thằng đi làm mướn thế này? Cậu mới chân ướt chân ráo về rẫy, miệng còn hôi mùi sữa lắm, chưa hiểu cái sự đời ở cái xứ Cư M’Rao này đâu! Đừng có đem mấy cái mớ lý thuyết sách vở viển vông ở giảng đường về đây mà múa rìu qua mắt thợ. Đất đai sạch nợ nó có giá của đất sạch, còn đất đang ôm cả đống nợ xấu ngân hàng lẫn nợ đại lý thì nó có cái giá của đất nợ!

— Khác ở chỗ nào? — Khôi đập mạnh xấp hợp đồng xuống mặt bàn gỗ khiến bộ ấm chén sành nảy lên tanh tách, nước chè cáu cặn sánh ra ngoài mép bàn. — Khác ở chỗ ông đã dùng chính các khoản nợ vật tư đầu vào do ông tự ý nâng giá khống để ép giá trị tài sản rẫy xuống sát đáy bùn!

Khôi lật mạnh trang phụ lục đối chiếu công nợ, ngón tay chỉ thẳng vào từng dòng chữ số:

— Tôi nhìn vào bảng kê chi tiết này: Phân NPK Phú Mỹ loại mười sáu mười sáu tám, giá bán lẻ niêm yết của công ty trên toàn quốc thời điểm đó là tám trăm năm mươi ngàn một bao, ông kê khống vào sổ nợ của ba tôi một triệu hai trăm ngàn một bao! Mức chênh lệch hơn ba mươi phần trăm này là từ đâu ra? Chưa hết, thuốc bảo vệ thực vật hoạt chất Chlorpyrifos Ethyl đã bị Bộ Nông nghiệp cấm lưu hành hoàn toàn từ đầu năm ngoái vì độc tính cao đối với hệ thần kinh và môi trường, tại sao ông vẫn tuồn hàng tồn kho bán cho ba tôi với giá cắt cổ một trăm tám mươi ngàn một chai?

Khôi tiến lên một bước dài, đứng chắn giữa Sang và cha mình, ngực ưỡn thẳng:

— Đê tiện nhất là cái điều khoản tiền cọc sáu mươi triệu này! Ông cho ba tôi ứng sáu mươi triệu tiền mặt để sửa giếng, nhưng lại gài một điều khoản bổ sung bằng chữ in nhỏ xíu ở chân trang: *‘Bên vay cam kết bán toàn bộ sản lượng cà phê niên vụ tiếp theo cho Bên cho vay với mức giá sàn không vượt quá ba mươi lăm ngàn đồng một ký cà phê nhân xô loại ba’*. Nếu giá thị trường lên cao, ba tôi không được quyền bán cho đại lý khác; nếu giá thị trường tụt xuống, ông lại cấn trừ lùi vào nợ gốc! Đây hoàn toàn không phải là một hợp đồng kinh tế mua bán sòng phẳng. Đây là cái bẫy tín dụng đen đội lốt đại lý vật tư nông nghiệp để thâu tóm đất hương hỏa của người nông dân!

Bị bóc trần toàn bộ thủ đoạn làm ăn bẩn thỉu ngay trước mặt con nợ, gương mặt bóng dầu của Sang biến đổi từ đỏ tía sang tím tái. Nụ cười giả lả thường ngày biến mất hoàn toàn, thay vào đó là vẻ dữ tợn của một con buôn lọc lõi quen thói bắt nạt kẻ yếu thế.

Sang đứng bật dậy, chiếc ghế bọc da bị đẩy lùi kêu *ken két* trên nền xi măng. Gã chống hai tay xuống bàn, chồm người về phía Khôi, ánh mắt rực lên sự thù hằn:

— Cậu Khôi, cậu ăn nói cho cẩn thận cái mồm! Tôi kinh doanh có giấy phép đàng hoàng của Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Đắk Lắk, có hóa đơn chứng từ, có chữ ký điểm chỉ rành rành của ông Hậu bà Hạnh qua từng mùa vụ một. Tiền phân bón, tiền thuốc sâu tôi chở xe tải vào tận chân rẫy cho ba cậu bón vào cây, cứu sống cái vườn cà phê này chứ tôi có đổ xuống sông xuống biển đâu? Lúc hạn mặn khốc liệt, máy nổ cháy cuộn dây, ai là người xuất tiền mặt cho ba cậu vay ngay trong đêm không cần thế chấp tài sản? Ai cho nợ tiền phân cả năm ròng không tính một đồng lãi suất ngân hàng? Giờ mùa màng thất bát, giá cà phê xuống thấp, cậu ở trên phố về đây giở giọng đạo đức giả dạy đời tôi đấy à?

Sang quay ngoắt sang ông Hậu, giọng gằn từng tiếng sắc lạnh như băng:

— Chú Hậu! Tôi nói một lời dứt khoát cuối cùng cho chú biết: Hôm nay chú không ký vào cái hợp đồng này, thì sáng mai tôi ngưng cấp toàn bộ vật tư cho vụ tới. Đồng thời, tôi sẽ nộp đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar yêu cầu phong tỏa tài sản, phát mãi toàn bộ ba hécta đất này để thu hồi khoản nợ gốc lẫn lãi hai trăm bốn mươi triệu của cả tiền cọc lẫn tiền phân bón! Đến lúc tòa án thi hành án cưỡng chế, người ta bán đấu giá theo quy định nhà nước thì cái rẫy này chỉ được định giá bằng một nửa con số bốn trăm năm mươi triệu tôi đưa ra hôm nay thôi! Cậu con trai quý hóa, kỹ sư thành phố của chú giỏi giang thế thì bảo nó móc tiền túi ra mà trả nợ cho chú đi!

Lời thách thức cay độc của Sang như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào khoảng không gian đang căng như dây đàn.

Ông Hậu run bắn người. Người nông dân già nua hốt hoảng đứng phắt dậy, vội vã đưa hai bàn tay chai sần ra kéo giật mạnh cánh tay Khôi ra phía sau lưng mình:

— Khôi! Mày im ngay đi! Mày câm cái miệng lại cho tao! Chuyện làm ăn của người lớn, mày biết cái gì mà xía vào hả con?

— Ba! — Khôi quay phắt lại nhìn cha, cổ họng nghẹn đắng. — Mảnh đất này là mồ hôi, là xương máu của ba má gần ba mươi năm qua. Bán cho ông ta với cái giá mạt hạng này là cả nhà mình mất trắng! Sau này ba má già yếu, bệnh tật thì lấy cái gì mà sống?

— Tao không bán thì lấy tiền đâu ra mà trả nợ cho người ta? — Ông Hậu gào lên.

Tiếng thét của ông Hậu vỡ vụn ra thành những mảnh đau thương tột cùng. Hai mắt ông đỏ hoe, vằn lên những tia máu đỏ lòm vì uất ức và bất lực. Bàn tay ông nắm chặt lấy bả vai Khôi, lắc mạnh như muốn trút hết nỗi thống khổ bấy lâu nay:

— Mày đi học năm năm ở Sài Gòn, mày có biết ở nhà tiền phân bón nó tăng giá gấp ba lần không? Mày có biết năm ngoái mưa đá, sương muối nó quét qua, cà phê rụng trắng cả gốc rẫy không hả? Tiền lãi nợ nó đẻ ra từng ngày, từng giờ! Tao với má mày còng lưng chắt bóp từng đồng gửi cho mày ăn học thành kỹ sư, hy vọng mày thoát ly được cái kiếp làm nông cực nhục này... Không phải để mày về đây đứng nhìn cha mẹ mày bị người ta lột da, xé thịt rồi đứng đó cãi tay đôi với chủ nợ! Mày có tiền trả thay cho tao không? Mày có tiền không hả Khôi?!

*Mày có tiền không?*

Câu hỏi của cha như một tia sét rạch ngang bầu trời giữa trưa, giáng thẳng xuống đỉnh đầu Khôi.

Toàn thân Khôi chết lặng.

Bàn tay anh đang ghì chặt lấy xấp giấy tờ bỗng chốc cứng đờ. Đáy ví anh, nơi cất giữ chiếc thẻ Vietcombank, chỉ có vỏn vẹn sáu mươi tám triệu bốn trăm nghìn đồng tiền trợ cấp thôi việc. Một con số quá đỗi nhỏ nhoi, thậm chí chưa đủ để thanh toán một phần ba khoản nợ hai trăm bốn mươi triệu đang treo lơ lửng như một chiếc thòng lọng quanh cổ cả gia đình. Anh không có tiền tỷ trong tài khoản, không có các quỹ đầu tư mạo hiểm đứng sau bảo lãnh, và cay đắng hơn cả, anh thậm chí còn không có nổi một công việc để quay lại vào sáng thứ Hai tuần sau.

Nhưng nếu anh lùi bước vào giây phút này, nếu ngòi bút kia hạ xuống tờ giấy chuyển nhượng đất đai, rẫy cà phê họ Đoàn sẽ vĩnh viễn bị xóa sổ khỏi bản đồ Cư M’Rao. Cha mẹ anh sẽ bị tước đoạt toàn bộ tư liệu sản xuất duy nhất, trở thành những kẻ làm thuê làm mướn không tấc đất cắm dùi ngay trên chính mảnh đất mà họ đã đổ mồ hôi khai hoang từ thời trai trẻ.

Khôi nhìn sâu vào đôi mắt mờ đục đẫm lệ của cha, nhìn sang gò má hốc hác đầy những vết chân chim của mẹ đang nấc nghẹn bên mép cột hiên. Lòng tự trọng của một trí thức nông học, tình yêu thương máu thịt đối với gia đình và niềm kiêu hãnh của một người con không cho phép anh cúi đầu chịu nhục.

Khôi hít một hơi thật sâu, lồng ngực căng tràn khí thế. Anh đứng thẳng tắp người dậy, che chở hoàn toàn cho bóng hình còm cõi của cha mình phía sau. Từng chữ, từng lời thốt ra từ miệng anh đanh thép, chắc nịch như đá tảng:

— Con có.

Bà Hạnh giật thót mình, vội vàng buông vạt áo lau nước mắt, mở to mắt nhìn đứa con trai duy nhất. Ông Hậu thì sững sờ, bàn tay đang níu lấy vai con bỗng chốc buông thõng giữa không trung.

— Con có tiền, — Khôi lặp lại, ánh mắt không hề chớp lấy một lần dù trái tim trong lồng ngực anh đang đập liên hồi như tiếng trống trận. — Toàn bộ tiền lãi phát sinh của khoản nợ vật tư trong những tháng tới, tiền sinh hoạt hằng ngày và tiền thuốc men của ba má, con sẽ đứng ra lo liệu toàn bộ. Thời gian làm việc ở công ty nông nghiệp công nghệ cao trên Sài Gòn, con đã tích lũy được một khoản vốn riêng đủ để duy trì sản xuất. Ba không cần phải bán dù chỉ một mét vuông đất rẫy này!

Phạm Đức Sang đứng bên kia bàn trà bật ra một tràng cười khẩy đầy mỉa mai, tiếng cười the thé chói tai như tiếng kim loại cào vào kính:

— Ha ha! Cậu Khôi nói chuyện nghe oai phong lẫm liệt nhỉ? Trả lãi được mấy tháng? Rồi cái gốc hai trăm bốn mươi triệu thì tính sao? Cậu tưởng hai trăm bốn mươi triệu là tiền âm phủ hay sao mà đòi làm anh hùng cứu thế ở đây?

Khôi lạnh lùng quay sang nhìn Sang, ánh mắt sắc bén đến mức khiến nụ cười của gã thương lái phải khựng lại nửa chừng:

— Khoản tiền cọc sáu mươi triệu của ông, theo quy định của Bộ luật Dân sự, chỉ cấu thành hành vi vi phạm nếu bên bán không thực hiện nghĩa vụ giao nhận hàng hóa khi đến hạn của niên vụ thu hoạch. Hiện tại mới là tháng Tư, hoa cà phê vừa mới đậu quả non, vụ thu hoạch tháng Mười Một mới bắt đầu, hợp đồng chưa đến hạn thực hiện nghĩa vụ! Còn khoản nợ phân bón một trăm tám mươi triệu là quan hệ tín dụng thương mại dân sự, có thể thanh toán theo từng kỳ hạn thỏa thuận.

Khôi quay sang nắm chặt lấy đôi bàn tay run rẩy, gầy guộc của cha mình. Giọng anh trầm xuống, tha thiết nhưng chứa đựng một sự quả quyết phi thường:

— Ba! Con xin ba hãy hoãn việc ký cái hợp đồng bán đất này lại. Ba cho con đúng một mùa vụ thôi! Đúng một mùa vụ thu hoạch này!

Ông Hậu nhìn con trai, ánh mắt tràn ngập sự hoài nghi và đau đớn:

— Một mùa vụ thì giải quyết được cái gì hả con? Ba mươi năm nay tao làm rẫy, năm nào cũng cày xới, năm nào cũng thu hái rồi phơi xô, càng làm càng lún sâu vào nợ nần. Vườn cà phê này đã già cỗi rồi, quả thì nhỏ, bán cà phê xô cho thương lái thì lấy đâu ra giá cao mà đòi trả hết khoản nợ khổng lồ này?

— Vì từ trước đến nay, ba và cả cái vùng Cư M’Rao này chỉ bán cà phê thương phẩm cấp thấp theo phương thức phơi xô truyền thống! — Khôi siết chặt tay cha, cố gắng truyền hết tất cả tri thức và niềm tin mà anh tích lũy suốt năm năm qua vào tâm trí người nông dân già.

Khôi nói nhanh, từng luận điểm mạch lạc và thuyết phục:

— Cách làm của cả vùng này là gì? Đến mùa thu hoạch, vì thiếu nhân công và sợ bị trộm cắp, mọi người cứ hái tuốt cành, tuốt sạch cả quả xanh, quả ương lẫn quả chín nẫu đem về đổ thành đống trên nền đất bazan ẩm ướt hoặc trên sân xi măng bẩn thỉu. Quả bị dập nát, lên men chua loét một cách tự phát, rồi phơi xô tạp nham. Đến khi bán cho thương lái như ông Sang, hạt cà phê bị đen, mốc, vỡ vụn, độ ẩm không đồng đều, nên thương lái người ta tha hồ ép giá trừ tạp chất, trừ độ ẩm, chỉ mua với giá đáy của thị trường thế giới!

Khôi đưa tay chỉ thẳng ra những hàng cây Robusta xơ xác ngoài nắng:

— Nhưng rẫy nhà mình là giống Robusta sẻ cũ trồng từ những năm tám mươi! Giống sẻ cũ tuy hạt nhỏ hơn các giống cao sản dòng lá xoài hay TR4 bây giờ, nhưng phẩm chất hạt cực kỳ tốt. Hàm lượng đường trong thịt quả rất cao, hương vị đậm đà sâu lắng, có hậu vị sô-cô-la đen và hoa quả nhiệt đới tự nhiên. Ở Sài Gòn, con đã khảo sát và làm việc với rất nhiều chuỗi cà phê đặc sản, các nhà rang xay của phong trào làn sóng thứ ba. Người ta đang săn lùng những hạt Robusta chất lượng cao này với giá thu mua gấp đôi, thậm chí gấp ba lần giá cà phê xô trên thị trường nếu mình tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt!

Khôi nhìn thẳng vào đôi mắt mờ đục của cha mình, đưa ra lời cam kết đánh cược bằng cả tương lai:

— Con sẽ ở lại rẫy niên vụ này. Con sẽ tự tay cắt tỉa cành vô hiệu, phục hồi hệ vi sinh vật cho đất bằng phân bón hữu cơ ủ hoai mục, điều tiết nước tưới tiết kiệm. Đến vụ thu hoạch, con sẽ tự tổ chức thu hái: chỉ hái lựa một trăm phần trăm quả chín mọng, đo độ đường brix từng mẻ, kiểm soát quá trình lên men kỵ khí và phơi toàn bộ trên giàn phơi lưới cước cách ly mặt đất. Nếu đến cuối mùa vụ này, con không bán được cà phê chất lượng cao với giá vượt trội để trả dứt điểm khoản nợ cho ông Sang và chứng minh cho ba thấy cái rẫy này có thể sinh lời... thì lúc đó, ba muốn ký bán rẫy, con thề sẽ không bao giờ mở miệng ngăn cản ba nửa lời!

Lời thề của chàng kỹ sư trẻ rơi vào khoảng không gian tĩnh mịch của buổi trưa, vang lên dõng dạc và nặng tựa nghìn cân.

Bà Hạnh nghẹn ngào bước nhanh tới bên cạnh chồng, hai bàn tay run rẩy ôm lấy cánh tay gầy guộc của ông Hậu:

— Ông nó ơi... Tôi lạy ông... Hay là... hay là ông nghe thằng Khôi nó thử một lần đi ông? Dù sao mảnh rẫy này cũng là đất hương hỏa, là mồ hôi nước mắt của cả đời vợ chồng mình khai khẩn... Bán đi rồi, sau này có chết nhắm mắt xuôi tay làm sao mà ăn nói với tổ tiên dưới suối vàng hả ông? Thằng Khôi nó có học hành, nó là kỹ sư có bằng đỏ, nó nói chắc chắn phải có lý do của nó... Ông cho con nó một cơ hội đi ông...

Ông Hậu đứng chết lặng giữa hai người ruột thịt của mình.

Đôi bàn tay chai sạn của người nông dân già khẽ run lên bần bật. Ánh mắt kiên định, rực cháy ngọn lửa tự tin của đứa con trai duy nhất phản chiếu trong đồng tử mờ đục của ông. Trong sâu thẳm tâm can của một người cha đã dành trọn ba mươi năm cuộc đời để cắm mặt xuống đất bazan, có người cha nào lại cam tâm dâng mảnh đất của tổ tiên cho một tên thương lái bất nhân? Có người cha nào lại muốn thừa nhận mình là kẻ chiến bại hoàn toàn trước tương lai của con cái?

Cái nghèo, cái đói và bóng đen nợ nần đã bóp nghẹt mọi niềm hy vọng của ông Hậu suốt bao năm ròng rã, nhưng ngọn lửa bướng bỉnh trong mắt Khôi vào giây phút này dường như đã làm sống lại một tia sáng mong manh trong đống tro tàn của sự tuyệt vọng.

Bàn tay ông Hậu chầm chậm rút lại khỏi xấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ông siết chặt bàn tay thành nắm đấm, giấu ra sau lưng, đầu khẽ gật một cái rất nhẹ.

Nhìn thấy thái độ thay đổi dứt khoát của ông Hậu, nụ cười trên gương mặt phị mỡ của Phạm Đức Sang tắt ngấm hoàn toàn. Gã nhận ra cái bẫy hoàn hảo mà gã dày công giăng ra suốt ba mùa vụ vừa qua – nhằm nuốt trọn ba hécta đất rẫy đắc địa nằm ngay mặt đường liên thôn với giá rẻ mạt – đang đứng trước nguy cơ đổ vỡ hoàn toàn chỉ vì sự xuất hiện của thằng nhóc kỹ sư này.

Sang hừ mạnh một tiếng qua kẽ răng. Gã thô bạo vươn bàn tay đeo đầy nhẫn vàng giật phắt lấy tập hồ sơ chuyển nhượng đất đai trên bàn trà, nhét mạnh vào chiếc cặp da cá sấu bóng lộn. Tiếng kéo khóa kim loại vang lên một tiếng *xoẹt* đanh gọn và chói tai.

— Được! Khá lắm! — Sang đứng thẳng dậy, chỉnh lại chiếc thắt lưng da cá sấu, ánh mắt găm thẳng vào Khôi với vẻ thâm độc không hề che giấu. — Cậu Khôi có chí khí lắm! Cà phê chất lượng cao? Cà phê đặc sản giá gấp ba? Cậu tưởng thương trường này là cái phòng thí nghiệm vi sinh hay cái nhà màng thực nghiệm ở trường đại học của cậu chắc? Cậu tưởng mấy thằng Tây lông hay mấy cái quán cà phê máy lạnh bóng bẩy trên Sài Gòn người ta thừa tiền đến mức mang tiền tỷ về đây ném vào mấy cái hạt cà phê hái tay của cậu à?

Sang sải bước xuống bậc thềm hiên, rồi quay ngoắt người lại, ngón tay trỏ đeo nhẫn vàng chỉ thẳng vào mặt Khôi, giọng nói đằng đằng sát khí:

— Tôi cho nhà cậu đúng một mùa vụ này! Nhưng liệu cái thần hồn mà nghe cho rõ đây: Khoản nợ một trăm tám mươi triệu tiền vật tư, đúng ngày ba mươi tháng Chạp âm lịch năm nay, cậu phải mang đủ toàn bộ tiền mặt cả gốc lẫn lãi đến nộp tại cửa hàng của tôi! Còn khoản tiền cọc sáu mươi triệu tôi đã ứng trước, trên giấy trắng mực đen đã ghi rõ quyền ưu tiên thu mua độc quyền theo giá thị trường trừ hai giá!

Sang nhếch mép cười gằn, từng chữ rít qua kẽ răng:

— Cậu muốn làm cà phê gì thì mặc xác cậu, nhưng đến ngày thu hoạch, nếu không có hàng giao nộp đủ cho tôi theo định mức, hoặc không có đủ một trăm hai mươi triệu tiền chuộc cọc cộng với tiền phạt vi phạm hợp đồng gấp đôi... thì đừng có trách thằng Sang này dẫn công an huyện và cán bộ tòa án xuống đây cắm cọc, căng dây đo đất đuổi cả nhà cậu ra khỏi cái rẫy này! Lúc đó, đừng có vác mặt đến van xin tôi!

Dứt lời, Sang không thèm chào hỏi ông Hậu hay bà Hạnh lấy một câu xã giao. Gã xách chiếc cặp da nặng trịch, bước những bước sầm sập xuống khoảng sân xi măng nứt nẻ.

Gã trèo lên chiếc xe tay ga SH màu trắng, ấn nút đề nổ máy giòn giã. Trước khi vặn ga phóng đi, gã ngoái đầu lại nhìn căn nhà cấp bốn xiêu vẹo một lần cuối, rồi nhổ toẹt một bãi nước bọt màu nâu đục xuống luống đất bazan khô cằn ngay đầu ngõ.

Chiếc xe tay ga gầm rú lao đi trên con dốc, để lại phía sau một làn khói xám xịt nồng nặc mùi xăng thơm hòa lẫn trong đám bụi đỏ bazan cuộn lên mù mịt dưới ánh nắng trưa gay gắt.

Tiếng động cơ xe máy xa dần, nhỏ dần rồi tắt lịm hẳn sau khúc quanh dẫn ra đường liên xã.

Không gian trên hiên nhà chìm vào một sự im lặng nặng nề, ngột ngạt đến nghẹt thở.

Ánh nắng trưa gay gắt đã bò loang ra khắp mặt sân phơi, leo lên từng bậc thềm xi măng và chiếu thẳng vào mép chiếc bàn gỗ tạp, nung nóng lớp bụi đất bám trên mặt bàn. Xa xa ngoài rẫy, tiếng ve sầu mùa khô bắt đầu cất lên râm ran, từng hồi kéo dài như tiếng cưa rỉ sét cứa vào không gian bỏng rẫy.

Ông Hậu không nói một lời nào. Người cha già chậm rãi quay lưng lại, hai tay chắp sau hông, từng bước chân lê đi nặng nhọc bước ra phía mép hiên nhà. Ông đứng chôn chân ở đó, đôi mắt mờ đục nhìn đăm đăm ra ba hécta rẫy cà phê cỗi cằn đang oằn mình héo úa dưới ánh mặt trời rực lửa. Từng cơn gió quẩn thổi qua làm bay những sợi tóc bạc trắng, xơ xác trên vầng trán nhăn nheo của ông. Bóng lưng còng rạp, gầy trơ xương của người đàn ông in nghiêng trên vách ván gỗ mục nát, cô độc, thảm hại và buồn bã đến xé ruột xé gan.

Khôi đứng lặng sau lưng cha, khoảng cách chỉ chừng hai bước chân nhưng dường như xa xôi vạn dặm. Anh muốn bước tới, muốn đặt tay lên bờ vai run rẩy của cha để nói một lời an ủi, một lời cam đoan chắc nịch. Nhưng hai bàn chân anh như bị đóng đinh chặt xuống nền đất lạnh.

Một cảm giác tội lỗi và áp lực vô hình bóp nghẹt lồng ngực anh. Anh vừa cứu được mảnh đất hương hỏa của gia đình thoát khỏi miệng cọp trong gang tấc, nhưng cái giá phải trả là một canh bạc sinh tử kéo dài đúng sáu tháng mùa khô và mùa mưa phía trước. Và cay đắng thay, anh biết rõ sự thật trần trụi mà anh đang cố che giấu: trong tài khoản ngân hàng của anh chỉ còn vỏn vẹn hơn sáu mươi tám triệu đồng – một số tiền quá đỗi ít ỏi, thậm chí không đủ để mua mười tấn phân hữu cơ vi sinh bón lót cho đợt phục hồi cây sắp tới, chứ chưa dám mơ đến việc xây dựng giàn phơi lưới cước hay mua sắm bồn lên men tiêu chuẩn thực phẩm.

Một bàn tay gầy guộc, ram ráp những vết chai sạn lén lút chạm nhẹ vào khuỷu tay anh.

Khôi giật mình quay lại.

Bà Hạnh đang đứng sát bên cạnh anh từ lúc nào. Gương mặt người mẹ tái nhợt không còn giọt máu, đôi mắt trũng sâu nhìn dáo dác ra phía ngoài hiên, nơi bóng lưng của ông Hậu vẫn đứng bất động như một pho tượng đá nhìn về phía rẫy.

— Khôi... — Bà Hạnh thì thào, giọng run rẩy như sợ chỉ một tiếng động khẽ cũng đủ làm vỡ tan bầu không khí ngột ngạt này. — Đi theo má... mau lên, ra sau bếp với má...

Khôi khẽ gật đầu. Anh rón rén cất bước theo chân mẹ, bước qua gian phòng khách tối tăm bừa bộn những bao tải rách và cuộn dây tưới tiêu đã mục nát, đi xuyên qua chiếc chạn bát bằng tre cũ kỹ để xuống gian bếp đất phía sau nhà.

Gian bếp nồng nặc mùi tro trấu ẩm ướt và mùi khói củi cà phê cay xè tích tụ qua hàng chục năm. Ánh sáng mặt trời chỉ lọt qua được vài khe nứt hẹp trên vách nứa trát đất, rọi những vệt sáng mờ ảo, lơ lửng những hạt bụi li ti xuống chiếc chõng tre ọp ẹp đặt cạnh cối xay lúa thủ công đã bỏ không từ lâu.

Bà Hạnh cẩn thận khép hờ cánh cửa liếp đan bằng tre dẫn ra vườn tiêu phía sau. Bà ngó nghiêng qua khe cửa một lần nữa để chắc chắn ông Hậu không đi xuống, rồi mới quay phắt lại đối diện với con trai. Lúc này, không còn phải gồng mình chịu đựng trước mặt chồng và chủ nợ, bao nhiêu tủi nhục, sợ hãi dồn nén bấy lâu vỡ òa ra. Những giọt nước mắt nóng hổi ứa ra từ khóe mắt nhăn nheo của người mẹ, lăn dài trên đôi gò má sạm đen vì nắng gió.

— Khôi ơi là Khôi... — Bà nghẹn ngào thốt lên, hai bàn tay run rẩy nắm chặt lấy bắp tay con trai. — Con dại dột quá con ơi! Sao con lại đứng ra nhận gánh hết nợ nần vào người như vậy hả con? Con có biết hai trăm bốn mươi triệu nó lớn đến mức nào không?

— Má... — Khôi hạ giọng dỗ dành, bàn tay anh bao bọc lấy bàn tay lạnh ngắt của mẹ. — Con không đứng ra nhận thì trưa nay ba đã ký giấy bán đứt cái rẫy này cho ông Sang rồi! Con không thể giương mắt nhìn một tên thương lái bất lương cướp trắng mồ hôi nước mắt, cướp đi mảnh đất tổ tiên mà ba má đã cày xới ba mươi năm qua được. Con có kiến thức, con có kỹ thuật, con nhất định sẽ làm được...

— Nhưng con đâu có hiểu hết cái sự tình nông nỗi của cái nhà này! — Bà Hạnh nghẹn lời, lồng ngực bà phập phồng dữ dội trong cơn hoảng loạn tột cùng.

Bà buông tay Khôi ra, vội vã quay người lại phía góc chõng tre. Ở đó có một chiếc bao tải dứa màu xanh rách nát đựng đầy trấu khô dùng để nhóm lửa. Bà Hạnh ngồi sụp xuống nền đất ẩm, thọc sâu cả cánh tay khẳng khiu vào tận đáy bao trấu. Sau một hồi lần mò trong bóng tối, những ngón tay run rẩy của bà rút ra một bọc nilon màu đen được quấn chặt nhiều lớp bằng dây thun cao su đã ố vàng.

Khôi đứng sững lại, ánh mắt dõi theo từng cử động đầy bí ẩn và sợ hãi của mẹ.

Bà Hạnh run rẩy gỡ từng vòng dây thun, lớp nilon đen mở ra, để lộ một cuốn sổ tay nhỏ cỡ bàn tay. Bìa cuốn sổ bọc bằng da giả màu xanh dương nhưng đã sờn rách hết bốn góc, mép giấy bên trong quăn queo, ẩm mốc và ngả sang màu ố vàng của thời gian.

Bà Hạnh nâng cuốn sổ lên, run rẩy đưa về phía vệt sáng le lói rọi qua khe vách nứa, rồi chìa thẳng ra trước mặt Khôi:

— Con nhìn đi... Con tự mở mắt ra mà nhìn đi Khôi ơi...

Khôi đón lấy cuốn sổ tay từ tay mẹ. Bìa da giả ẩm ướt phảng phất mùi mốc meo và mùi khói bếp. Anh lật mở trang giấy đầu tiên dưới vệt nắng mờ mờ.

Trang giấy hiện ra trước mắt anh chi chít những dòng chữ viết tay xiêu vẹo, nguệch ngoạc bằng đủ loại mực: từ mực tím học trò phai màu, mực bút bi xanh lem nhem cho đến những nét gạch xóa bằng bút chì than đậm nét. Đó là nét chữ run rẩy của mẹ anh – một người đàn bà nông thôn chỉ học hết lớp bốn trường làng, cặm cụi ghi chép từng con số qua những đêm dài mất ngủ bên ngọn đèn dầu hỏa:

*Ngày 15 tháng 4: Vay nóng thím Bảy ngã ba: 30 triệu đồng – Lãi suất 3 phân một tháng (trả tiền dầu tưới đợt 3).* *Ngày 02 tháng 8: Nợ cửa hàng sắt thép chú Tám: 18 triệu đồng (tiền ống tưới ngầm và co nối).* *Ngày 10 tháng 11: Vay hội phụ nữ thôn: 20 triệu đồng (tiền thuê nhân công hái cà mót).* *Ngày 28 tháng Chạp: Vay nóng tiệm vàng Kim Phát trên thị trấn: 50 triệu đồng – Lãi ngày (đóng tiền lãi ngân hàng đáo hạn sổ đỏ)...*

Từng dòng, từng trang nối tiếp nhau như một bản cáo trạng tàn khốc về sự kiệt quệ tài chính của gia đình họ Đoàn. Những con số nợ nần nhảy múa trước mắt Khôi, nhòe đi trong ánh sáng lờ mờ của gian bếp đất.

— Cái này... là cái gì vậy má? — Khôi thốt lên, giọng anh lạc hẳn đi. Tim anh đập dồn dập từng hồi kinh hoàng, một cảm giác ớn lạnh từ từ bò dọc sống lưng.

Bà Hạnh đưa vạt áo bà ba lên áp chặt vào mặt để ngăn không cho tiếng khóc thét bật ra ngoài gian nhà trước. Toàn thân người mẹ gầy guộc run rẩy dữ dội, giọng bà thì thào qua kẽ răng trong nỗi tuyệt vọng tột cùng:

— Khoản nợ hai trăm bốn mươi triệu của ông Sang... chỉ là phần nổi bên trên tảng băng thôi con ơi! Ba con... ba con ổng giấu con toàn bộ... Đây mới là toàn bộ nợ nần thực sự của cái rẫy này mà ba con ổng cắn răng chịu đựng bấy lâu nay... Không phải hai trăm bốn mươi triệu... mà là gần sáu trăm triệu đồng cả gốc lẫn lãi con ơi!

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn