Kiếm Cốt Dưới Tro — Phần 1: Cửa Trời Không Có TiênC.10 / 40
Chương 10

Những người cùng quét sân

Tiếng chổi tre quét trên mặt sàn đá xanh vang lên rào rào, khô khốc và nhịp nhàng, hòa lẫn vào tiếng hô quyền trầm đục, đồng thanh từ phía võ trường phía tây vọng lại giữa màn sương sớm xám xịt.

Không khí đầu đông ở lưng chừng núi Lạc Hạc buốt buốt như nước ngâm xỉ sắt lâu ngày trong hầm tối. Màn sương muối mù mịt mang theo bụi tro mỏng từ các đỉnh lò luyện kim trên cao trôi lờ lững xuống thung lũng ngoại viện, đọng lại thành một lớp váng ẩm ướt, trơn nhẫy trên khắp những phiến đá xám của sân Bạch Thạch. Mỗi nhát chổi Ninh Chiêu đẩy qua đều rọc một vệt sẫm màu trên nền đá trơn trượt, gom lại những vụn than đá rụng rời, những cọng lá thông khô giòn rụm và cả những sợi vải gai rách bươm vương vãi từ vạt áo của đám đệ tử sơ cấp sau buổi tập thiết thân quyền chiều muộn hôm qua.

Ninh Chiêu kéo chặt lại vạt áo vải thô màu nâu xám bết bụi than. Cô kẹp chặt cán chổi tre dài vào nách phải, dùng bàn tay phải thô ráp, gân guốc đẩy từng dải rác ẩm ướt về phía mép rãnh thoát nước bằng đá xẻ.

Cánh tay trái của cô vẫn phải ép chặt dọc theo mạn sườn, bất động dưới hai thanh nẹp bằng gỗ thị gai và nhiều tầng vải băng đã ngả sang màu cháo lòng cáu bẩn. Dù cánh tay không trực tiếp cử động, mỗi nhịp rướn người đẩy chổi về phía trước vẫn kéo giật các bó cơ ngực và gân duỗi đang co rút trên mu bàn tay trái, truyền một luồng đau buốt nhói, âm ỉ chạy dọc từ cổ tay lên tận khớp bả vai. Cơn đau không dữ dội như lúc da thịt bị thanh sắt nung đỏ đè nghiến vào hôm nào, nhưng nó dai dẳng, nhức buốt tận xương tủy mỗi khi ngọn gió lạnh tạt qua kẽ vải băng. Cô cắn chặt môi dưới, điều hòa từng hơi thở dài và sâu, chìm dần xuống đan điền như bài học giữ khí mà Tống Hoài từng bắt cô lặp đi lặp lại trên nền gạch nung, ép từng cơn co thắt lắng xuống dưới đáy lồng ngực.

Quét dọn xong một góc sân rộng bằng ba gian nhà lò lớn, Ninh Chiêu dựng cây chổi tre vào chân cột đá hoa biểu, quay người bước về phía kho chứa củi than phía sau hồi xưởng Công Tượng.

Tại góc sân kho ẩm ướt, hai sọt tre đan mắt cáo chứa đầy than đá loại xỉ vụn—thứ than phẩm cấp thấp nhất, lẫn đầy tạp chất đá vôi và bốc mùi lưu huỳnh khen khét, chuyên dùng để sưởi ấm cho các dãy phòng ngủ tập thể của tạp dịch và môn sinh chưa nhập môn—đã được phu khiêng than xúc đầy ắp tự bao giờ. Đống than đen nhánh ướt đẫm nước sương, nặng trĩu.

Ninh Chiêu cúi người, hạ bờ vai phải xuống đón lấy chiếc đòn gánh bằng tre đực đã lên nước bóng lộn, nhẵn thín vì mồ hôi của bao đời thợ phụ. Vì tay trái hoàn toàn phế liệt tạm thời, không thể vươn ra phía trước để giữ thăng bằng hay ghìm đầu đòn gánh, cô đã phải tự nghĩ ra cách dùng một sợi dây thừng bện bằng xơ dừa thô ráp buộc vòng qua trước ngực, khóa chặt một đầu đòn gánh áp sát vào hõm vai phải để tạo điểm tì cố định.

Khi cô gồng cứng các cơ lưng, hít một hơi đầy lồng ngực rồi đứng thẳng dậy, sức nặng của hai sọt than xỉ lập tức nén ập xuống bả vai. Khớp gối và các đốt xương sống phát ra những tiếng kêu rắc rắc khô khốc.

*Một bước. Hai bước.*

Trọng tâm thân người tuyệt đối không được đổ dồn về phía trước hay nhấp nhô theo thói quen lấy đà quai búa tạ ngày trước. Ninh Chiêu giữ thẳng trục cột sống, hạ thấp khớp hông, miết chặt từng mép đế giày rơm bện xuống mặt đá xanh trơn tuột theo từng nhịp thở. Trọng lượng từ hai sọt than truyền thẳng qua trục xương vai, ép dọc cột sống xuống hông rồi phân bổ đều qua hai bàn chân đang bám chặt lấy mặt đất. Nặng nề, gắt gao, nhưng vững vàng như một trụ đá.

Phải mất ba chuyến đi đi về về giữa làn sương lạnh buốt thấu xương, trèo lên trèo xuống hàng chục bậc thềm đá bám đầy rêu trơn, cô mới đổ đầy than đá vào bốn chiếc lò sưởi bằng gang gỉ sét đặt tại hành lang gió lùa của các khu nhà tập thể phía nam.

Khi mồ hôi muối bắt đầu túa ra ướt đầm lớp áo lót bên trong, gặp ngọn gió núi lạnh ngắt thổi thấu qua lớp vải thô làm da thịt run lên bần bật, Ninh Chiêu mới quay trở lại góc xưởng mộc phụ nằm sát rìa sân Bạch Thạch.

Dưới mái hiên lợp ngói vỡ ẩm thấp nồng nặc mùi mỡ bò thối dùng để quét trơn trục máy và mùi muội than bám đen kịt trên các xà gỗ, chiếc sọt tre lớn chứa các khí cụ hư hại cần tu sửa đã được đám tạp dịch khiêng tới đặt sẵn tự lúc nào. Bên trong sọt không hề có kiếm thép sáng loáng, đao sắt bén ngót hay giáp trụ tinh xảo, mà chật ních hơn sáu mươi thanh kiếm tập làm bằng gỗ dẻ gai của đám thiếu niên sơ cấp ngoại viện.

Những thanh kiếm gỗ này sau hàng nghìn lần va đập nảy lửa trên sàn đấu tập đã tưa xơ như những chiếc chổi cùn. Mép kiếm dập nát, xơ gỗ chĩa ra tua tủa, nhiều thanh còn dính cả những vệt máu khô thâm đen cáu lại từ những bàn tay non nớt bị cọ toác da hay trúng đòn chém sượt.

Ninh Chiêu ngồi xuống chiếc ghế đẩu ba chân bằng gỗ tạp. Cô tì cẳng tay trái có nẹp gỗ lên mặt bàn đá ráp để làm cữ chặn thân kiếm lại, bàn tay phải cầm lấy chiếc nạo sắt hình bán nguyệt chuyên dùng để gọt bào gỗ cứng.

*Xoẹt. Xoẹt.*

Từng lát gỗ dẻ gai mỏng tang, quăn queo như vỏ bào từ từ cuộn lại dưới lưỡi nạo rồi rơi lả tả xuống mặt đất ẩm ướt quanh chân cô. Lực phát ra từ cổ tay và ngón tay phải của cô đều đặn, chuẩn xác và lạnh lùng như chuyển động của một cỗ máy cán sắt: gọt sạch những chỗ dập nát bám máu khô, nạo phẳng những rãnh nứt dọc theo thớ gỗ, vát mỏng lại phần đầu mũi kiếm bị tù tà, rồi dùng một miếng da cá nhám khô ráp chà miết liên tục dọc theo thân kiếm cho đến khi bề mặt gỗ dẻ gai lại trơn lụi, ánh lên sắc vàng ngà đùng đục, tuyệt đối không còn sót lại một dằm nhọn hay gờ nứt nào có thể đâm vào thịt người cầm.

"Động tác dứt khoát gớm nhỉ. Nhìn cái vết nạo phẳng lỳ và mịn thế này thì đám nhóc con cầm vào tập sẽ không bị rộp lòng bàn tay đâu."

Một giọng nói trẻ trung, hơi the thé vang lên ngay phía trên đỉnh đầu cô, kèm theo tiếng thở dốc hổn hển của kẻ vừa phải chạy bộ một quãng đường dài vượt dốc núi dựng đứng.

Ninh Chiêu không ngẩng đầu lên ngay lập tức. Nhát nạo cuối cùng trên tay cô vẫn điềm tĩnh miết hết chiều dài sống kiếm gỗ, dọn sạch vụn dăm cuối cùng ở đốc kiếm, rồi cô mới từ tốn đặt thanh gỗ xuống bàn đá và ngước mắt nhìn lên.

Đứng trước mặt cô là một thiếu niên trạc chừng hai mươi tuổi, vóc người gầy gò, dong dỏng cao nhưng các thớ thịt lộ ra ở cổ và bắp tay lại săn chắc, dẻo dai như một nhánh cây sau bão lớn. Cậu ta mặc bộ võ phục vải thô màu xám tro của đệ tử ngoại viện, hai ống quần túm chặt bằng xà cạp vải bố bết đầy bùn đất đỏ quạnh của những con đường mòn xuyên rừng. Sau lưng cậu ta đeo một chiếc gùi mây hẹp và dài, bên trong ken đặc những ống tre niêm phong bằng sáp đỏ cùng vài bọc thuốc bọc sơ sài bằng lá chuối rừng khô buộc dây lạt. Đôi mắt cậu ta sáng quắc, lanh lợi, hai bên khóe mắt có những nếp nhăn nhỏ hằn sâu do thường xuyên phải nheo lại trước gió bụi đường trường, toát lên vẻ tháo vát, dạn dày của một kẻ lấy việc chạy chân chuyển đồ làm kế sinh nhai nơi sơn môn.

"Tôi là Bùi Sách," cậu thiếu niên tự nhiên ngồi thụp xuống một tảng đá xanh đối diện bàn mài của cô, tháo chiếc gùi mây sau lưng đặt cẩn thận xuống góc đất khô, rồi rút chiếc khăn lau mặt bằng vải thô đã ngả màu xám xịt ra quệt mồ hôi trán nhễ nhại. "Tôi chuyên chạy trạm thư từ, chuyển công văn và tải thuốc nam cho các phân xưởng ngoại viện. Ban nãy từ trên dốc nhìn xuống, thấy tỷ một tay gánh hai sọt than đá xỉ vụn mà chỉ dùng một bên vai với dây thừng chằng chéo ngang ngực, tôi đã đoán chắc tỷ là thợ mới chuyển từ lò rèn Công Tượng qua rồi. Cánh tay trái bị lửa táp hỏng gân sâu thế kia mà vẫn dám nhận định ngạch bào sáu mươi thanh kiếm gỗ dẻ gai trong buổi sáng à?"

Ninh Chiêu khẽ liếc nhìn tấm thẻ bài bằng gỗ thị gai đeo lủng lẳng bên hông mình—tấm thẻ khắc ba chữ "Thợ phụ ba" nét chữ sắc nhọn do chính tay quản sự Hạ Từ quẳng cho cô chiều hôm qua. Cô đặt thanh kiếm gỗ dẻ gai đã được gọt nhẵn bóng sang một bên sọt thành phẩm, tay phải thò vào sọt thô nhấc thanh kiếm tiếp theo lên:

"Không nhận việc thì lấy gì bỏ vào miệng."

Bùi Sách ngẩn ra một thoáng rồi bật cười khà khà. Nụ cười sảng khoái làm lộ hàm răng hơi khấp khểnh nhưng xua tan đi phần nào cái lạnh buốt giá và u ám của gian xưởng ẩm thấp rìa vách núi.

"Nói thật bụng đấy! Ở cái đất Thanh Lư Tông này, mở miệng ra là các vị trưởng lão, chấp sự toàn rao giảng những lời đạo nghĩa cao siêu, kiếm ý thông thiên với tu tiên phi thăng thoát tục, nhưng không có cháo lót dạ thì tiên nhân cũng biến thành ma đói ngã lăn ra rãnh nước mà thôi."

Nói đoạn, cậu ta thò bàn tay đầy vết chai sạn vào sâu trong ngực áo, cẩn thận lôi ra một gói vải dầu nhỏ đã sờn rách góc. Mở lớp vải dầu bọc ngoài, bên trong là hai chiếc bánh ngô hấp đã nguội ngắt từ lâu, cứng quắc lại như hai hòn đá cuội và mép bánh đã bắt đầu khô nứt nẻ thành từng kẽ nhỏ. Bùi Sách không hề ngần ngại, dùng hai bàn tay thô ráp vận sức bẻ đôi một chiếc bánh, đưa nửa lớn hơn về phía Ninh Chiêu:

"Ăn chút đi tỷ. Tận cuối giờ Thìn mới có kẻng phát cháo loãng ở nhà ăn ngoại môn, nhưng cái thứ cháo ấy nói làm gì, toàn nước lã nấu với gạo tấm mốc lẫn sâu mọt, nuốt vào bụng chưa đầy nửa canh giờ, đi tiểu một bãi là ruột gan lại réo ầm ĩ như xay lúa. Bánh này mẹ tôi tự tay xay ngô nương gửi theo xe thồ chở rau củ lên núi tuần trước đấy. Hơi khô khốc một tí, nhưng chắc dạ, nhai kỹ thì ngọt bùi lắm."

Ninh Chiêu nhìn chằm chằm vào nửa chiếc bánh ngô màu vàng sẫm thô ráp, rồi ngước lên nhìn thẳng vào đôi mắt trong veo, chân thành không chút toan tính hay dò xét của chàng trai trẻ. Ở nơi lạnh lẽo đầy rẫy sự đề phòng và dòm ngó này, một mẩu bánh ngô khô cũng đủ quý giá hơn ngàn lời khách sáo. Cô không từ chối, vươn bàn tay phải bám đầy bụi gỗ và muội than đón lấy miếng bánh.

Cắn một miếng, chiếc bánh ngô cứng đến mức phát ra tiếng *khục* khô khốc trong kẽ răng, nhai trẹo cả quai hàm, những vụn ngô thô ráp cọ rát cả vòm họng khô khát khiến cô suýt nghẹn ứ nơi cổ.

Bùi Sách dường như đã đoán trước được điều đó, nhanh nhẹn tháo chiếc bầu nước bằng quả bầu khô đeo bên hông, mở nút bần rồi đưa sang cho cô: "Uống một ngụm nước ấm này đi tỷ. Sáng sớm trước khi xuất phát tôi có xin nước sôi ở bếp than rồi pha thêm chút muối hạt với nhánh gừng nướng đập dập, chống gió độc và lạnh buốt tốt lắm đấy."

Ninh Chiêu nhận lấy bầu nước, ngửa cổ nhấp một ngụm nhỏ. Dòng nước ấm nồng mằn mặn vị muối biển và cay nồng vị gừng nướng chảy tràn qua cổ họng, làm mềm dần những mẩu bánh ngô khô khốc trong khoang miệng. Cô nuốt trôi miếng bánh xuống dạ dày, cảm nhận một luồng hơi ấm nhỏ nhoi nhưng chân thật từ từ lan tỏa ra khắp lồng ngực đang lạnh ngắt.

"Cậu làm chân chạy trạm ở ngoại viện này bao lâu rồi?" Ninh Chiêu hỏi, giọng nói trầm khàn đã bớt đi vài phần phòng thủ lạnh lùng ban đầu.

"Hai năm có lẻ rồi tỷ ạ," Bùi Sách thở dài một hơi dài, ánh mắt dõi ra khoảng sân Bạch Thạch xa xa, nơi sương muối đang dần tan đi dưới những tia nắng ban mai nhợt nhạt như mắt cá chết. "Nhà tôi ở tận vùng bãi bồi hạ lưu sông Cổ Xích. Mùa đông năm kia hạn hán kéo dài nứt toác cả đồng ruộng, rồi đợt gió tro nóng từ thượng nguồn đột ngột tràn qua thiêu rụi sạch bách hoa màu. Lúa chết khô trên rẫy, cha mẹ tôi cùng đường phải cắn răng vay nặng lãi của phường buôn Nam Trụ mười lăm đồng bạc trắng để gom đủ tiền nộp thuế đinh cho quan nha. Không nộp thì họ gông cổ cả nhà tống vào ngục tối, còn không trả được nợ thì phường buôn kéo đến siết mảnh ruộng hương hỏa duy nhất. Tôi cùng đường, đành xin vào đây làm đệ tử ngoại viện theo diện tạp dịch tải đồ chạy trạm."

Cậu ta cắn một mẩu bánh nhỏ bỏ vào miệng, nhai chầm chậm từng chút một như muốn kéo dài vị ngọt ít ỏi của hạt ngô nương sót lại:

"Lúc ở quê nghèo bước chân đi, cứ ngây thơ tưởng vào được tông môn danh tiếng lẫy lừng như Thanh Lư Tông thì sẽ học được dăm ba chiêu thức công phu bản lĩnh thực thụ, sau này có chút vốn liếng võ nghệ trở về quê mở một võ quán nhỏ hay xin chân đi làm tiêu sư áp tiêu kiếm tiền chuộc lại mảnh ruộng hương hỏa. Ai mà ngờ được... cái chốn ngoại viện này cũng chẳng khác gì một cái cối xay thịt khổng lồ. Mỗi tháng tiền công chạy trạm gom góp từng đồng, nhịn ăn nhịn mặc bớt xén từng bữa sáng gửi về quê được chừng sáu phân bạc, trừ tiền nợ gốc rồi lại đẻ ra tiền lãi mẹ lãi con, chẳng biết đến đời nào mới chuộc lại được tờ văn tự đất."

Nói đến đây, Bùi Sách khẽ hất cằm về phía giữa sân Bạch Thạch.

Lúc này, tiếng chuông đồng từ lầu chuông trung tâm ngân vang từng hồi giòn giã báo hiệu giờ luyện tập công khai. Một nhóm chừng hai chục đệ tử trẻ tuổi mặc cẩm bào lụa xanh biếc viền chỉ bạc sáng loáng, thắt lưng da thuộc nạm ngọc bóng lộn, bên hông đeo kiếm thép tôi nước xanh có bao khảm đồng đỏ chạm trổ tinh xảo đang nghênh ngang rảo bước qua sân. Tiếng cười nói của họ tự tin, rổn rảng và kiêu hãnh, âm vang khắp không gian tĩnh lặng như những kẻ sinh ra đã đứng trên đỉnh đầu người khác.

"Tỷ thấy đám đó không?" Giọng Bùi Sách chùng hẳn xuống, xen lẫn một thoáng cay đắng sâu sắc nhưng đã bị nén chặt lại thành một thứ cam chịu bất lực quen thuộc. "Toàn là con em các thế gia phụ thuộc tông môn hoặc dòng dõi phú thương giàu có nứt đố đổ vách gửi gắm vào đấy. Họ vừa bước chân qua cổng sơn môn đã được cấp phòng riêng ở viện trên đón gió ấm, ngày ba bữa cơm trắng thịt cá đầy ắp, đan dược bồi bổ gân cốt và mở rộng kinh mạch phát định kỳ theo tháng không thiếu một viên, lại có giáo đầu chân truyền tận tình chỉ điểm từng đường kiếm mũi thương. Còn đám tạp dịch xuất thân bần hàn như chúng tôi? Sáng tinh mơ quét sân hốt rác, trưa bốc thuốc gánh than xỉ, chiều mài kiếm chùi rửa hố xí. Hở một tí là bị giám sát trừ công xá, sơ sẩy một nhịp là bị chấp pháp lôi ra đánh roi da tứa máu. Nhiều khi đêm nằm gác tay lên trán, tôi cứ nghĩ mãi, kiếm đạo của họ là thứ mọc ra từ núi vàng biển bạc và linh đan diệu dược, còn chúng tôi... có cày nát cả gân cốt, gãy cả xương tủy ra thì cũng chỉ làm lớp phân bón lót đường cho cái sân đá này mà thôi."

Ninh Chiêu im lặng lắng nghe từng lời của cậu thiếu niên. Đôi mắt sắc lạnh của cô dõi theo từng bước chân của đám đệ tử thế gia đằng xa. Cô không nhìn vào những thanh kiếm thép lấp lánh hay những dải ngọc bội đung đưa bên hông họ, mà nhìn thẳng vào cách họ đặt chân xuống nền đá—nhẹ nhàng, thanh thoát, bay bổng theo những kiếm quyết hoa mỹ, nhưng gót chân lại hẫng, thiếu đi độ bám sâu, lì lợm và vững chãi của những kẻ đã quen gánh cả trăm cân nặng trên vai vượt qua dốc đá trơn trượt.

"Cậu có học kiếm thức không?" Ninh Chiêu hỏi, mắt vẫn không rời khỏi những bóng người áo xanh.

Bùi Sách cười trừ, đưa tay gãi mái tóc rối bù dính đầy bụi đường: "Có chứ tỷ! Lớp đối kháng tự do mỗi buổi chiều tà ở góc sân phía vực, ai xong việc sớm thì được phép vào nhặt kiếm gỗ tập luyện, nhưng toàn dùng những thanh kiếm sứt mẻ tỷ vừa nạo đấy thôi. Tôi ráng học dăm ba miếng đánh thực dụng để phòng thân lúc một mình đi rừng sâu tải thuốc qua các trạm gác, chứ tài mọn sức mọn như tôi thì tranh đoạt làm sao nổi một suất kiểm tra vào nội môn. Mấy tay chấp sự áo đen nhìn đám tạp dịch chúng tôi chẳng khác nào cỏ rác bên đường."

Cậu ta ngập ngừng một lát, ánh mắt chợt liếc nhìn xung quanh rồi hạ thấp giọng xuống mức thì thào, trong đáy mắt lóe lên một tia sáng kỳ lạ: "Thật lòng mà nói... tôi thích theo bác sĩ Trần Mộc ở y xá học nghề cứu thương hơn. Nhìn bác sĩ nắn lại những khớp xương gãy, dùng kim bạc khâu nối những dải gân đứt, rắc bột thuốc cầm máu cho người ta... thấy một mạng người sống sót sau một nhát chém chí mạng hay sau một vụ tai nạn sập lò quặng, tôi thấy việc đó có ích và thanh thản hơn nhiều so với việc cầm một thanh kiếm nhọn hoắt đâm thủng cổ họng kẻ khác. Nhưng mà cái nghề ấy ở đất này bị coi rẻ lắm, nói ra thì lũ bạn cùng phòng tạp dịch lại cười ồ lên, bảo tôi là đồ hèn nhát không có chí tiến thủ."

Ninh Chiêu quay sang nhìn kỹ chàng trai trẻ. Bàn tay Bùi Sách tuy thô ráp, nứt nẻ vì sương gió và lao dịch nặng nhọc, nhưng mười đầu ngón tay lại được giữ rất sạch sẽ, các móng tay được cắt ngắn, gọn gàng và không hề có một vệt ghét bẩn bám ở khóe móng—đó là thói quen ăn sâu vào máu của những kẻ cẩn trọng khi phải chạm tay vào những miệng vết thương hở toác của con người.

"Cứu được người sống thì không có gì là hèn cả," Ninh Chiêu nói, từng chữ thốt ra chắc nịch như nhát búa đập xuống đe sắt. "Cầm kiếm giết người chỉ cần một khoảnh khắc tàn nhẫn, giữ cho một mạng người không chết dưới lưỡi kiếm mới là việc khó gấp vạn lần."

Bùi Sách sững sờ trong giây lát. Cậu ta nhìn xoáy vào đôi mắt sâu thẳm, phẳng lặng như mặt nước giếng lạnh của Ninh Chiêu, rồi bất chợt nở một nụ cười rạng rỡ, hàm răng khấp khểnh lại lộ ra: "Tỷ nói câu này nghe lọt tai và ấm bụng thật đấy! Thôi chết, tôi phải đem mấy bọc thuốc nam này giao qua khu khảo nghiệm đan dược trước giờ Thìn đây, trễ giờ là lão giám sát lại trừ mất nửa ngày công. Chiều nay xong việc gọt kiếm, nếu rảnh thì tỷ cứ ra góc sân phía vực tập kiếm gỗ nhé. Tôi sẽ chỉ cho tỷ vài thế gạt đòn căn bản mà lũ chạy trạm chúng tôi đúc kết được để đối phó với sài lang trong rừng!"

Dứt lời, cậu ta thoăn thoắt khoác chiếc gùi mây lên vai, kéo chặt lại đai ngực, vẫy bàn tay gầy gò chào Ninh Chiêu rồi chạy biến vào trong làn sương mù đang dần tan loãng.

***

Khi ánh mặt trời mùa đông bắt đầu ngả dần về phía tây, gió núi Lạc Hạc thổi lồng lộng qua khoảng sân Bạch Thạch, cuốn theo những đám bụi tro và lá khô ráp rít miết trên mặt đá hoa cương xám xịt.

Khu vực trung tâm rộng lớn của sân tập lúc này đã được dọn sạch phong quang dành cho các đệ tử sơ cấp dàn trận thế kiếm dưới sự giám sát nghiêm ngặt của các chấp sự mặc áo choàng đen mang đao dài. Những tiếng thét lệnh dõng dạc, tiếng kiếm thép va vào nhau chan chát vang dội khắp bốn bề. Ở góc chếch phía đông nam, sát mép vực đá ngăn cách với rừng thông già bạt ngàn gió hú, một khoảng đất trống lổn nhổn sỏi đá rộng chừng mười trượng là nơi duy nhất dành cho đám đệ tử tạp dịch và thợ phụ tập đối kháng tự do sau khi xong việc trong ngày.

Ninh Chiêu hoàn thành định ngạch gọt sáu mươi thanh kiếm gỗ sớm hơn dự kiến nửa canh giờ. Bàn tay phải mỏi nhừ, các khớp ngón tay cứng đờ vì cầm nạo sắt liên tục. Cô cẩn thận giắt thanh nẹp gỗ của cánh tay trái vào đai lưng vải thô cho bớt đung đưa vướng víu, rồi chậm rãi bước ra góc sân tập phía vực.

Bùi Sách đã đứng ở đó từ sớm. Cậu ta cởi trần nửa thân trên, để lộ lồng ngực gầy nhưng nổi rõ từng dải cơ bắp dẻo dai, đang cầm một thanh kiếm gỗ dẻ gai vung vẩy những đường chém gió cơ bản xé không khí vun vút.

"Tỷ tới rồi à!" Thấy Ninh Chiêu bước tới, Bùi Sách hớn hở dừng tay, bước nhanh lại đống khí cụ dựa bên tảng đá, nhặt lấy một thanh kiếm gỗ dẻ gai có quấn vài vòng vải thô ở chuôi kiếm rồi ném sang cho cô. "Cầm lấy tỷ! Thử so vài chiêu chơi xem sao. Tôi nghe đám thợ già đồn rằng dân thợ rèn các tỷ tay khỏe như gọng kìm sắt, quai cây búa tạ ba mươi cân suốt cả ngày không biết run mỏi là gì, chắc lực vung kiếm dữ dội lắm nhỉ?"

Ninh Chiêu vươn bàn tay phải đón lấy thanh kiếm gỗ giữa không trung.

Ngay khi ngón tay khép chặt quanh chuôi kiếm, một cảm giác lạ lẫm và hẫng hụt lập tức ập tới. Cảm giác cầm nắm một thanh kiếm gỗ khác biệt hoàn toàn so với một cây búa rèn. Chiếc búa tạ rèn sắt có trọng tâm dồn gần như tuyệt đối về phía đầu búa bằng khối thép đúc nặng trịch; khi quai búa, toàn bộ lực phát ra từ bả vai, chạy dọc cẳng tay và dồn hết vào điểm rơi theo phương thẳng đứng vuông góc với mặt đe. Còn thanh kiếm gỗ dẻ gai này... trọng tâm của nó nằm lệch về phía gần chuôi kiếm khoảng ba tấc, tổng thể thân kiếm nhẹ hơn cây búa rất nhiều nhưng lại chông chênh, mũi kiếm bay bổng, rất khó ghìm trục nếu chỉ dùng sức mạnh cơ bắp thô thiển để ghì chặt.

"Tôi chưa từng học bất kỳ kiếm thức bài bản nào của tông môn," Ninh Chiêu nói thật, hai chân bước rộng, đứng vào vị trí đối diện Bùi Sách chừng năm bước chân.

"Cần gì kiếm thức bài bản của đám đệ tử thế gia!" Bùi Sách cười lớn, hạ thấp hai đầu gối, hai chân mở rộng bằng vai tạo thành một thế đứng vững chãi, mũi kiếm gỗ trong tay cậu ta chĩa thẳng vào khoảng ngực Ninh Chiêu. "Cứ coi cái mũi kiếm của tôi như một khúc sắt đỏ cần đập dẹp, thấy nó chém tới thì vung kiếm lên gạt, thấy tôi hở sườn thì đâm tới! Đơn giản thế thôi!"

"Được. Đến đây." Ninh Chiêu trầm giọng đáp.

Cô hít một hơi thật sâu xuống bụng. Theo thói quen thâm căn cố đế của một người thợ rèn suốt mười mấy năm ròng rã đứng bên đe lửa, đôi mắt cô lập tức dán chặt vào đầu mũi kiếm gỗ của Bùi Sách. Trong tư duy của một người thợ luyện kim, điểm tiếp xúc—nơi thanh sắt đỏ chạm vào mặt đe, hay nơi lưỡi búa giáng xuống thớ kim loại—là thứ duy nhất quyết định hình hài và phương hướng biến dạng của vật thể. Muốn chặn đứng một lực đang lao tới, bản năng mách bảo cô phải nhìn chằm chằm vào điểm nhọn nhất, nguy hiểm nhất đang chuyển động.

*Vút!*

Bùi Sách khẽ nhúc nhích. Mũi kiếm gỗ dẻ gai xé gió đâm thẳng về phía chóp mũi Ninh Chiêu với tốc độ cực nhanh.

Ninh Chiêu không hề nao núng. Cô vận toàn bộ sức mạnh của cánh tay phải thợ rèn, vung thanh kiếm gỗ lên một đường bán nguyệt ngắn, định dùng một nhát gạt uy lực bẻ gãy đường đâm của đối phương. Cô tính toán điểm tiếp xúc cực kỳ chuẩn xác theo thói quen định vị đe búa, nhắm thẳng vào đoạn một phần ba phía đầu lưỡi kiếm của Bùi Sách để triệt tiêu đòn đánh.

Thế nhưng, ngay khoảnh khắc hai thanh kiếm gỗ chỉ còn cách nhau chưa đầy hai tấc, mũi kiếm của Bùi Sách đột ngột biến mất khỏi tầm mắt cô một cách kỳ lạ.

Đó hoàn toàn không phải là một loại kiếm pháp huyền diệu hay thân pháp ảo ảnh cao siêu gì. Đơn giản chỉ là thân người của Bùi Sách đã trượt nhẹ sang bên phải nửa bước chân. Trục vai của cậu ta xoay nghiêng một góc ba mươi độ, kéo theo cánh tay cầm kiếm rút nhẹ về nửa tấc rồi quét ngang một đường vòng cung thấp sát mặt đất.

*Bốp!*

Thanh kiếm gỗ của Ninh Chiêu chém hụt vào khoảng không rỗng tuếch, quán tính cực lớn từ cú vung tay hết sức kéo cả thân người cô chúi mạnh về phía trước. Cùng lúc đó, sống kiếm gỗ của Bùi Sách đã gõ mạnh vào mạn sườn trái đang sơ hở của cô.

Cú gõ không chứa kình lực sát thương nhằm gây tổn thương nội tạng, nhưng lực va đập đủ làm Ninh Chiêu giật nảy mình. Lồng ngực cô thắt lại, các bó cơ sườn co rúm, cô loạng choạng lùi lại hai bước trượt dài trên sỏi đá, lưng áo thô ráp chạm phải hàng rào đá ngăn bờ vực mới đứng vững lại được.

"Lại nào tỷ! Chưa tính điểm đâu!" Bùi Sách thu kiếm về thế thủ ban đầu, nháy mắt trêu chọc nhưng ánh mắt đầy vẻ tập trung.

Ninh Chiêu nghiến chặt quai hàm. Cảm giác đau rát ở mạn sườn làm bốc lên ngọn lửa bướng bỉnh trong huyết quản. Cô điều chỉnh lại nhịp thở hỗn loạn, hạ thấp đan điền, kéo trọng tâm cơ thể lùi về phía sau đúng ba tấc theo nguyên tắc giữ khoảng lùi sinh tử mà Tống Hoài từng dạy.

Lần này, cô không chờ đợi đối phương ra tay trước nữa. Ninh Chiêu chủ động phát động tấn công. Cô bước chếch lên một bước dài, thanh kiếm gỗ trong tay phải chém chéo một nhát từ trên đỉnh vai phải xuống thẳng vai trái Bùi Sách. Đòn chém mang theo toàn bộ kình lực tích tụ từ lưng, hông và bắp tay của một thợ rèn từng quen quai búa tạ quặng nặng bốn mươi cân, tiếng xé gió rít lên rợn người như một nhát búa bổ củi.

Nhưng một lần nữa, sai lầm chết người lại lặp lại một cách y hệt.

Đôi mắt Ninh Chiêu vẫn ghim chặt vào đầu mũi kiếm gỗ của Bùi Sách để phán đoán xem cậu ta sẽ đưa kiếm lên đỡ ở góc độ nào nhằm đón đầu phản lực. Cô hoàn toàn không nhận ra rằng trước khi đòn chém của cô hoàn thành nửa vòng cung đầu tiên, Bùi Sách đã chùng gối chân sau xuống nửa tấc. Khớp hông của cậu ta xoay tròn một nhịp cực kỳ tinh tế, kéo toàn bộ thân người lùi nhẹ nửa bước chân về phía sau, vừa đủ để mũi kiếm gỗ của Ninh Chiêu chém sượt qua mũi áo cậu ta chưa đầy nửa ngón tay—hoàn toàn thoát khỏi tầm sát thương nặng nhất của quỹ đạo chém.

Và ngay khoảnh khắc đòn kiếm của Ninh Chiêu chạm đáy quỹ đạo, khi toàn bộ lực quán tính đang dìm mũi kiếm của cô sát mặt đất và chưa kịp thu hồi, cổ tay phải của Bùi Sách chỉ khẽ lật nhẹ một góc vuông. Mũi kiếm gỗ của cậu ta lướt dọc theo sống kiếm của cô như một con rắn nước, rồi gõ một tiếng *cộp* đanh gọn và chuẩn xác đến tàn nhẫn vào mu bàn tay phải đang nắm chặt chuôi kiếm của Ninh Chiêu.

Một cơn đau nhói buốt chạy thẳng lên óc! Các khớp ngón tay phải của cô lập tức tê rần, mất hoàn toàn lực kẹp. Thanh kiếm gỗ tuột khỏi lòng bàn tay, rơi cạch xuống nền đá hoa cương xám xịt rồi lăn lông lốc vài vòng.

Ninh Chiêu đứng sững sờ giữa gió núi lồng lộng.

Hai lần giao đấu, diễn ra chưa đầy mười nhịp thở ngắn ngủi, cô đã đại bại một cách thảm hại và triệt để trước một thiếu niên đệ tử tạp dịch chỉ học kiếm chắp vá để phòng thân khi chạy trạm rừng sâu. Cảm giác bất lực, hụt hẫng và cay đắng trào dâng nghẹn ứ nơi cổ họng. Sức mạnh quai búa tạ từng bẻ cong những then sắt đặc, từng đập nát những tảng xỉ quặng cứng như đá tảng của cô, khi đứng trước một thanh kiếm gỗ nhẹ hẫng chưa đầy hai cân, lại trở nên thô kệch, vụng về và vô dụng đến nực cười.

Bùi Sách bước lại gần, cúi người nhặt thanh kiếm gỗ dưới đất lên rồi chìa chuôi kiếm về phía cô. Trên gương mặt gầy gò của chàng trai trẻ không hề có lấy một tia đắc thắng, ngạo mạn hay giễu cợt thường thấy ở đám môn sinh, mà chỉ có sự nghiêm túc, trầm tĩnh của một kẻ đã nếm trải đủ đòn đau và vết thương trên đường trường để hiểu rõ giá trị của từng cử động sinh tử.

"Tỷ thua là phải thôi, không có gì phải xấu hổ cả," Bùi Sách nói, đầu kiếm gỗ khẽ chỉ vào ngực mình rồi lại chỉ sang vai Ninh Chiêu. "Nãy giờ tỷ mải dán mắt nhìn vào đâu thế?"

"Mũi kiếm của cậu," Ninh Chiêu thành thật đáp, bàn tay phải đưa lên xoa bóp vùng mu bàn tay đang đỏ ửng và nhức nhối.

"Đấy chính là chỗ chết đấy tỷ ạ!" Bùi Sách lắc đầu nguầy nguậy, bước lùi lại một bước để thị phạm trực quan. Cậu ta hạ mũi kiếm xuôi theo đùi, đứng đối diện thẳng hàng với cô: "Người thợ rèn các tỷ khi làm việc thì mắt phải nhìn chăm chú vào điểm tiếp xúc của sắt thép, bởi vì thanh sắt nằm chết dí trên mặt đe, búa gõ vào điểm nào thì sắt nóng biến dạng ở đúng điểm đó. Nhưng người cầm kiếm đối diện tỷ là một con người sống sờ sờ! Mũi kiếm quả thực là thứ nhanh nhất, biến hóa khôn lường nhất và nguy hiểm nhất, nhưng nó lại là thứ bị điều khiển cuối cùng trong toàn bộ chuỗi cử động của thân thể. Nếu tỷ cứ dán chặt mắt vào mũi kiếm, thị giác của tỷ sẽ bị nó dắt đi lòng vòng như người ta dắt một con trâu xỏ mũi vậy!"

Nói đoạn, Bùi Sách vỗ mạnh bàn tay vào bả vai mình, rồi lại đập tay vào khớp hông:

"Phải nhìn vào trục hai bả vai! Phải nhìn vào khớp hông và thế đặt bàn chân của đối thủ! Tỷ nhìn này, bả vai cử động thì cánh tay mới có thể vung kiếm ra được; khớp hông xoay chuyển thì kình lực từ mặt đất mới truyền lên thân kiếm; bàn chân lùi hay tiến thì toàn bộ trọng tâm thân người mới đổi hướng né tránh. Mũi kiếm chỉ là cái cành, cái ngọn đung đưa theo gió, còn trục thân người mới là cái gốc rễ cắm sâu dưới đất. Khi tỷ thấy vai tôi khẽ chùng xuống tức là thân tôi sắp né sang bên; thấy hông tôi vặn nhẹ tức là mũi kiếm sắp đổi hướng đâm từ thẳng sang quét ngang. Nhìn thấy cái gốc chuyển động thì cái ngọn làm sao lừa được mắt tỷ nữa? Hiểu ra chưa?"

Ninh Chiêu đứng chết lặng giữa ngọn gió chiều lạnh buốt thấu xương.

Từng lời nói mộc mạc, thô ráp và đậm chất kinh nghiệm thực tế của Bùi Sách như một nhát búa tạ giáng thẳng xuống, đập vỡ tan lớp sương mù u tối đang bao phủ lấy tư duy chiến đấu của cô bấy lâu nay.

Đúng vậy! Cô đã rập khuôn toàn bộ tư duy tĩnh tại của một người thợ rèn vào nghệ thuật chiến đấu chuyển động. Khối sắt trên đe là vật chết nằm yên để người thợ định hình, còn kẻ cầm kiếm đối diện là một cỗ máy sống với hàng chục khớp nối cơ học liên tục bù trừ và chuyển dịch trọng tâm. Tống Hoài từng dạy cô cách giữ khoảng lùi sinh tử và hạ khí xuống đan điền để ổn định trục thân của chính bản thân mình, nhưng Bùi Sách lại vừa chỉ cho cô mảnh ghép còn thiếu: cách dùng trục thân của đối phương để giải mã toàn bộ chuyển động của vũ khí.

Hai bài học ấy, một tĩnh một động, một trong một ngoài, bất ngờ khớp chặt vào nhau như hai bánh răng cơ khí chuẩn xác đến từng nan răng!

"Thử lại một lần nữa," Ninh Chiêu siết chặt bàn tay phải quanh chuôi kiếm gỗ, ánh mắt cô không còn nhìn vào đầu mũi kiếm của Bùi Sách nữa, mà hạ thấp xuống nửa thước, bao quát trọn vẹn khoảng lồng ngực, hai bờ vai gầy và thế đứng của đôi bàn chân thiếu niên đối diện.

Bùi Sách nhìn thấy sự thay đổi rõ rệt trong ánh mắt cô, khẽ gật đầu mỉm cười: "Tốt lắm! Giữ nguyên ánh mắt bao quát đó! Đến đây!"

***

Khi buổi tập luyện kết thúc thì ráng chiều đỏ quạch như một vỉ quặng sắt nung dở đã lặn hẳn xuống sau những rặng thông già phía tây dãy núi, nhường chỗ cho màn đêm xám xịt, buốt giá đặc trưng của mùa tro lạnh.

Cánh tay trái của Ninh Chiêu sau một ngày dài gánh than nặng nhọc và những va chấn lúc tập kiếm đã bắt đầu phản ứng dữ dội. Dịch vàng lẫn máu bắt đầu rỉ thấm qua những lớp vải băng gai đã chuyển sang màu ố xám. Cơn đau rát như có hàng trăm đốm than hoa đang dí chặt vào da thịt khiến cô không kìm được một cái nhăn mặt đau đớn khi tháo đai nẹp gỗ ra kiểm tra.

"Vết bỏng của tỷ bục miệng, rỉ dịch mủ ra rồi kìa," Bùi Sách tinh mắt nhận ra ngay vệt dịch màu vàng nhạt loang lổ trên lớp băng gai quấn quanh mu bàn tay cô. Cậu ta vội vàng khoác chiếc áo tơi tẩm dầu lên vai, vẫy tay ra hiệu: "Đi theo tôi nhanh lên! Y xá Thạch Tuyền nằm ngay phía sau vách đá hoa cương này thôi. Tiện thể tôi sang đó nộp giấy giao nhận thuốc và xin ít dầu tra bao kiếm gỗ với nắm lá ngải đắng về nấu nước ngâm chân, tôi sẽ nhờ bác sĩ Trần Mộc rửa sạch vết thương rồi đắp thuốc mới cho tỷ."

"Có phiền bác sĩ không?" Ninh Chiêu ngập ngừng bước chậm lại. Cô biết rất rõ thân phận thợ phụ tạp dịch cấp thấp của mình vốn không được phép tùy tiện bước chân vào các khu vực chữa trị của tông môn nếu không có giấy chuyển xác nhận có đóng dấu đỏ của quản sự phân xưởng.

"Phiền cái nỗi gì mà phiền! Bác sĩ Trần Mộc tính tình bên ngoài hơi gắt gỏng, mở miệng ra là mắng mỏ gắt gao, nhưng ruột gan ông ấy tốt lắm, không bao giờ khinh rẻ đám đệ tử tạp dịch hay thợ phụ chúng ta như cái lũ thái y trên nội viện đâu," Bùi Sách vừa thoăn thoắt sải bước dẫn đường vừa quay lại trấn an cô.

Hai người men theo con đường mòn lát đá dăm gập ghềnh phía sau khu xưởng rèn, đi vòng qua một khe núi hẹp quanh năm ẩm ướt và thiếu ánh mặt trời.

Y xá Thạch Tuyền hiện ra lừng lững dưới bóng râm của một vách đá hoa cương dựng đứng cao hàng chục trượng. Đó là một dãy nhà ba gian xây bằng đá hộc xám xịt thô kệch, mái lợp ngói âm dương phủ đầy một lớp rêu xanh rì và muội tro đen nhánh trôi xuống từ các ống khói lò cao phía trên đỉnh núi. Vừa bước chân qua cánh cổng gỗ ọp ẹp vào khoảng sân nhỏ lát đá phiến phía trước, mùi thảo dược đắng ngắt quyện chặt với mùi dấm thanh nồng nặc, mùi rượu trắng sát trùng và mùi mủ máu tanh nồng đã xộc thẳng vào sống mũi, khiến người ta có cảm giác ngột ngạt đến khó thở.

Bên trong gian ngoài của y xá, vài chục đệ tử ngoại viện bị đủ loại thương tích do luyện tập kiếm trận hoặc lao dịch nặng nhọc đang ngồi nằm la liệt trên những băng ghế dài bằng gỗ thông thô ráp. Người thì bị trật khớp bả vai sưng to như quả bưởi, kẻ thì bị toác da đùi máu chảy ròng ròng ướt đẫm ống quần. Tiếng rên rỉ đau đớn khe khẽ xen lẫn tiếng cối đá giã thuốc lách cách tạo nên một bầu không khí ảm đạm, nặng nề.

Bùi Sách dường như đã quá quen thuộc với từng ngóc ngách nơi đây. Cậu ta khéo léo luồn lách qua đám đông thương bệnh nhân, dẫn Ninh Chiêu đi thẳng ra hành lang lát đá ẩm ướt dẫn về phía gian chái phía sau y xá—nơi thường ngày chỉ dành riêng cho những ca bệnh nặng ngặt nghèo hoặc những trường hợp cần cách ly theo dõi đặc biệt.

"Bác sĩ Trần có ở đây không ạ?" Bùi Sách khẽ đẩy cánh cửa gỗ thông phát ra tiếng *kẽo kẹt* khô khốc, thò đầu vào trong gian chái tối lờ mờ chỉ le lói một ngọn đèn dầu.

Một ngọn đèn dầu hạt cải đặt trên chiếc bàn gỗ con soi rõ bóng lưng còng còng của một người đàn ông trung niên trạc ngũ tuần. Ông ta mặc một chiếc áo vải thô màu chàm đã bạc phếch ở hai vai, hai tay áo xắn cao quá khuỷu để lộ đôi cẳng tay gầy guộc chằng chịt những vết sẹo nhỏ do toan thuốc và nước sôi bắn vào trong nhiều năm hành nghề. Đó chính là Trần Mộc. Gương mặt ông ta hốc hác, râu ria lởm chởm như cỏ khô, hai quầng mắt thâm quầng và trũng sâu như thể đã nhiều đêm liền không hề chợp mắt lấy một canh giờ.

"Lại là mày đấy à thằng ranh con chạy trạm?" Trần Mộc không hề quay đầu lại, đôi bàn tay gầy gò nhưng chắc nịch của ông ta vẫn thoăn thoắt châm những cây kim bạc dài chừng ba tấc vào các đại huyệt trên lưng của một người bệnh đang nằm sấp trên giường tre. "Hũ dầu tra bao kiếm để ở góc tủ thuốc đằng kia, tự đi mà lấy. Đừng có làm ồn ào ở đây, ta đang phải dẫn khí định thần cứu người."

"Hôm nay cháu không chỉ sang xin dầu đâu bác sĩ," Bùi Sách rụt rè bước hẳn vào phòng, kéo Ninh Chiêu bước theo sau. "Có người thợ phụ mới vào làm ở xưởng rèn bị lửa táp hỏng hết gân mu bàn tay trái, vết thương đang bục miệng rỉ dịch vàng hôi lắm. Cháu đưa tỷ ấy sang nhờ bác sĩ xem hộ, xin chút bột kim ngân hoa với mỡ trăn khử trùng đắp lại lớp băng mới."

Trần Mộc dừng tay, thở hắt ra một hơi dài mệt mỏi rồi từ từ xoay người lại. Đôi mắt sắc lạnh, sâu hoắm như hai lưỡi dao mổ của ông ta quét một lượt từ gương mặt lấm lem bụi than của Ninh Chiêu xuống cánh tay trái đang nẹp gỗ thị gai.

"Đưa cái tay hỏng lại đây," ông ta cộc cằn ra lệnh, giọng khàn đặc vì thiếu ngủ.

Ninh Chiêu bước lại gần chiếc bàn gỗ, cẩn thận dùng tay phải tháo từng vòng dây thừng và lột lớp vải băng gai đã bết dính chặt vào da thịt. Khi lớp vải cuối cùng được bóc ra, một mùi khét lẹt đặc trưng của vết bỏng cũ lẫn mùi tanh của dịch mủ bốc lên nồng nặc trong không khí ẩm thấp. Vùng da trên mu bàn tay trái của cô đỏ ửng, sưng phù, những mảng da non mới kéo vảy mỏng manh đã bị nứt toác ra thành từng kẽ rách do cử động mang vác nặng, bốn ngón tay quắp chặt lại như móng chim ưng vì các dải gân duỗi bị nhiệt độ cực cao nung co rút không thể duỗi thẳng ra được.

Trần Mộc nheo mắt nhìn sát vào vết thương loét đỏ, ngón tay thô ráp nhưng cực kỳ nhạy cảm của ông ta ấn nhẹ vào các điểm xung quanh khớp cổ tay và kẽ xương bàn tay:

"Bị một thanh sắt nung đỏ đè nghiến trực tiếp vào mu bàn tay đúng không? Toàn bộ các dải gân duỗi ngón tay bị tổn thương sâu vào tận màng xương thế này mà ban ngày ban mặt dám vác đòn gánh than đá với mài kiếm gỗ à? Bộ cô muốn cái bàn tay này thối rữa hoại tử ra rồi để ta dùng cưa sắt cưa cụt đến tận khuỷu tay mới vừa lòng hả?"

"Tôi cần hoàn thành định ngạch công việc để giữ được tấm thẻ bài thợ phụ," Ninh Chiêu trầm tĩnh đáp, giọng nói bình thản đến mức lạnh lùng, không hề né tránh ánh nhìn gay gắt như muốn thiêu đốt của vị bác sĩ già.

Trần Mộc hừ lạnh một tiếng trong mũi, nhưng động tác tay của ông ta khi xử lý vết thương lại cực kỳ thuần thục và cẩn trọng. Ông ta dùng một chiếc kẹp bằng bạc nhúng vào bát rượu thuốc bốc khói nghi ngút, nhẹ nhàng gắp sạch những mảnh sợi vải gai bám chặt vào miệng vết loét, dùng nước giấm thanh ấm rửa sạch dịch mủ, rồi rắc một lớp bột thảo dược màu nâu vàng mát lạnh lên bề mặt da thịt đang bỏng rát của cô. Sau đó, ông ta dùng những dải vải sạch mới tinh băng lỏng lại, cố định cẩn thận từng ngón tay:

"Mỗi ngày cứ trước giờ Tuất phải có mặt ở đây để ta rửa vết thương và thay thuốc một lần. Tuyệt đối cấm không được dùng cánh tay này để nâng vác bất cứ vật gì nặng quá mười cân trong vòng ba mươi ngày tới. Nếu cô không chịu nghe lời mà cứ cố đấm ăn xôi, sau này cánh tay này biến thành một khúc củi khô tật nguyền thì đừng có vác mặt đến đây cầu xin ta cứu chữa."

"Đa tạ bác sĩ đã tận tình cứu giúp." Ninh Chiêu khẽ cúi đầu tạ ơn.

Đúng lúc đó, một tiếng thở khò khè, đứt quãng và nghẹn ứ vang lên từ góc tối u ám nhất của gian chái thu hút toàn bộ sự chú ý của Ninh Chiêu.

Nơi góc phòng ẩm thấp đó kê hai chiếc giường tre hẹp dài. Trên giường là hai người đàn ông trạc tuổi trung niên mặc áo cộc tay bằng vải thô của phu dịch ngoại viện, nhưng thân hình của họ gầy rộc đến mức thảm hại, da bọc lấy xương sườn nhô lên từng thanh như chiếc lồng rỗng, đôi mắt trũng sâu hoắm, đờ đẫn nhìn trừng trừng lên trần nhà bằng gỗ mục như hai cái xác chết biết thở.

Điều khiến sống lưng Ninh Chiêu bất giác lạnh toát chính là đôi cánh tay của hai người đàn ông đó.

Cả hai người đều buông xuôi thẳng đuột hai cánh tay trên mặt chiếu cói rách nát. Từ khớp khuỷu tay trở xuống đến tận các đầu ngón tay, làn da của họ hoàn toàn không hề có lấy một chút sắc máu hồng hào nào của người sống. Toàn bộ bề mặt da thịt trắng bệch, nhẵn thín, bóng nhờn và mờ đục một cách kỳ quái, y hệt như những thỏi sáp nến màu trắng dùng trong các nghi lễ cúng tế người chết.

Bác sĩ Trần Mộc vừa bước lại chiếc giường tre đó, gương mặt ông ta đanh lại đầy vẻ bất lực và giận dữ. Ông ta rút từ trong bao da ra một cây kim bạc dài chừng ba tấc, không hề chần chừ, đâm thẳng ngập sâu mũi kim vào huyệt Hợp Cốc nằm giữa ngón trỏ và ngón cái trên mu bàn tay của một người phu dịch.

Mũi kim bạc đâm thấu qua các thớ thịt sâu tới tận xương, nhưng người phu dịch nằm trên giường không hề chớp mắt lấy một cái, mí mắt vẫn mở trừng trừng vô hồn, thậm chí các bó cơ bắp ở cẳng tay cũng không hề co giật hay phản ứng lấy một nhịp nhỏ nhất. Toàn bộ hệ thống cảm giác đã biến mất hoàn toàn!

Và khi Trần Mộc từ từ rút cây kim bạc ra, ở miệng vết châm hoàn toàn không có máu tươi trào ra như người bình thường. Chỉ có một giọt chất lỏng thâm xỉn, đen đặc quánh như bùn xỉ quặng rỉ ra một cách chậm chạp, đông cứng lại ngay miệng vết thương mà không thể chảy thành dòng.

"Vẫn không hề có chút phản xạ nào sao bác sĩ Trần?" Bùi Sách đứng nép bên cạnh Ninh Chiêu, khẽ thì thầm bằng một giọng run rẩy, chùng xuống đầy vẻ ái ngại và xót xa.

"Toàn bộ hệ thống kinh lạc bên trong cánh tay đã chết cóng hoàn toàn, máu huyết ngưng trệ đông đặc thành cặn xỉ từ lâu rồi, châm cứu hay dùng thuốc thang bây giờ cũng chỉ là cố kéo dài hơi tàn được ngày nào hay ngày nấy mà thôi," Trần Mộc lắc đầu cay đắng, dùng một miếng vải nhúng nước giấm ấm lau đi giọt máu đen quánh trên mu bàn tay người bệnh. "Hai người khốn khổ này từng làm việc liên tục ba tháng trời dưới chân đài Huyền Khuyết. Mới được đám chấp sự bí mật điều chuyển về khu y xá ngoại viện tuần trước với lý do ghi trong hồ sơ là bị trúng phong hàn khi quét dọn đài tế vào ban đêm. Phong hàn cái nỗi gì chứ! Có thứ phong hàn quái quỷ nào trên đời này mà làm chết trắng toàn bộ mạch máu và thần kinh từ khớp khuỷu tay trở xuống như thế này không?"

Trần Mộc bước lại bàn, lật mở cuốn sổ bệnh án dày cộp bằng giấy dó đặt ở đầu giường, nhúng ngọn bút lông vào nghiên mực đen, cẩn thận ghi chép từng dòng chữ nguệch ngoạc nhưng chính xác:

*'Hạ chi bình thường, thượng chi từ khúc trì hạ triệt để đoạn tuyệt linh giác, huyết sắc biến sáp, cơ nhục teo tóp mạn tính...'*

Ninh Chiêu nín thở, bước lại gần mép giường tre thêm nửa bước chân.

Là một người thợ rèn suốt cả cuộc đời gắn bó mật thiết với các kết cấu máy móc, đòn bẩy và sự phân bổ của lực cơ học, tầm mắt sắc sảo của cô không hề dừng lại ở đôi bàn tay trắng bệch như thỏi sáp nến kia. Ánh mắt cô lạnh lùng trượt ngược lên phía trên—nơi người phu dịch đang cởi trần để lộ lồng ngực gầy trơ xương dưới ánh đèn dầu leo lét.

Dưới ánh sáng vàng vọt, chập chờn của ngọn đèn hạt cải, Ninh Chiêu nhìn thấy rõ mồn một từng chi tiết: trên hai bả vai gầy guộc của người bệnh, kéo dài vòng qua khớp xương quai xanh xuống tận hõm nách, là những vết bầm dập tím sẫm hình vòng cung cực kỳ rõ nét và đối xứng.

Những vết bầm này tuyệt đối không phải là những vết thương phân tán ngẫu nhiên do bị đánh đòn bằng gậy gộc, cũng không phải vết trầy xước do va quẹt ngã trên đá núi. Chúng đối xứng một cách tuyệt đối, chuẩn xác đến từng phân ly giữa bả vai trái và bả vai phải. Khoảng cách giữa các đường vòng cung tím ngắt hằn sâu vào da thịt, độ lún đều đặn của vết ép cơ học, và đặc biệt nhất là bốn vết lõm tròn nhỏ có đường kính chừng nửa tấc nằm đối xứng hoàn hảo ở bốn góc của xương bả vai...

Đầu óc Ninh Chiêu như có một tia sét xé toạc màn đêm u tối!

Đó không phải là dấu vết của bất kỳ chứng bệnh tật hay phong hàn nào, và cũng tuyệt đối không phải là vết tì đè của đòn gánh hay gậy khiêng thông thường!

Đó chính là dấu vết siết chặt của các vòng kẹp cố định cơ khí chịu tải trọng lớn!

Chính là loại đai giữ bằng thép đúc bọc đồng có chốt hãm thủy lực mà cha cô—Ninh Trác—từng phác thảo những kích thước chuẩn xác từng ly trong cuốn sổ tay kỹ thuật niêm phong dưới máng nước bí mật ở Lò Ninh năm xưa! Những chiếc vòng kẹp cơ khí ấy sinh ra chỉ nhằm một mục đích duy nhất: ghìm chặt tuyệt đối cơ thể của một con người sống vào một khung kim loại chịu tải cực lớn, ngăn không cho nạn nhân giãy giụa hay co giật khi một luồng ngoại lực khổng lồ hoặc một dòng năng lượng dị thường quét qua thân xác họ!

Một cảm giác ớn lạnh buốt giá từ đốt sống cùng chạy dọc thẳng lên tận đỉnh đầu Ninh Chiêu, khiến từng sợi tóc gáy của cô dựng đứng lên.

Đốt sống thứ tư bị vỡ nát vụn của Tống Hoài... mười hai cỗ thùng gỗ sồi niêm phong bằng chì chở đầy tro tàn nóng ran giữa đêm khuya... danh sách mười hai đệ tử tuần tra mất tích bí ẩn trong cuốn sổ tay bìa đen của quản sự Hạ Từ... và giờ đây là những con người còn sống nhưng hai cánh tay đã chết cóng thành sáp nến, mang trên vai những vết kẹp cơ khí chuẩn xác này...

Tất cả những mảnh ghép rời rạc, đẫm máu và u ám ấy hoàn toàn không hề tách rời nhau!

Chúng là những mắt xích, những bánh răng cưa nằm trên cùng một cỗ máy ngầm khổng lồ, đen tối đang âm thầm vận hành và nghiền nát sinh mạng của biết bao con người ngay dưới chân ngọn núi thiêng Lạc Hạc này!

Ninh Chiêu vô thức vươn bàn tay phải thô ráp ra, những ngón tay run rẩy định chạm nhẹ vào mép vết bầm hình bán nguyệt trên vai người phu dịch để đo đạc và kiểm chứng lại khoảng cách then chốt giữa các chốt hãm cơ khí.

"Ninh tỷ!"

Một bàn tay thô ráp bất ngờ chụp chặt lấy cổ tay phải của cô, giật mạnh ngược trở lại với một lực rất lớn.

Bùi Sách đứng sát ngay sau lưng cô. Khuôn mặt của chàng trai trẻ vốn lúc nào cũng tươi cười, lanh lợi lúc này đã cắt không còn một hột máu, trắng bệch như tờ giấy quyến. Đôi mắt cậu ta mở to hết cỡ, tràn ngập nỗi kinh hoàng tột độ khi nhìn thấy hành động liều lĩnh của cô.

Bùi Sách đảo mắt nhìn quanh gian chái vắng ngắt, thấy bác sĩ Trần Mộc đang cắm cúi ghi chép không để ý, cậu ta liền ghé sát miệng vào tai Ninh Chiêu. Lồng ngực chàng trai trẻ phập phồng kịch liệt, hơi thở dồn dập và run rẩy, từng tiếng thì thầm cất lên nghẹn ngào, chỉ vừa đủ cho hai người nghe thấy giữa tiếng gió rít qua khe cửa đá:

"Đừng chạm vào... Đừng nhìn nữa! Ninh tỷ, nghe tôi... Đừng bao giờ nhận ca bảo trì ban đêm ở cổng số Bảy... Những ai xuống đó đều trở về với đôi bàn tay chết cóng."

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn