Kiếm Cốt Dưới Tro — Phần 1: Cửa Trời Không Có TiênC.11 / 40
Chương 11

Đường kiếm không theo búa

Gió buốt từ hẻm đá phía sau đỉnh Lạc Hạc rít qua những mắt lưới rào kẽm gai rỉ sét, xé toạc lớp sương mù đặc quánh đang là là bám lấy sườn núi cằn cỗi. Dưới chân dốc, khu đất nện phía sau dãy lò rèn ngoại viện chìm trong một màu xám đục nhờ nhờ của bụi xỉ và vôi vữa.

Tống Hoài ngồi bất động trên một tảng đá mài sa thạch xám lớn. Chiếc áo chẽn bằng dạ thô màu xám tro của anh đã sờn rách ở hai bên mạng sườn, để lộ ra những đường viền nẹp kim loại cong vênh của bộ giáp trợ lực cột sống cũ kỹ. Những ngón tay thô ráp, chai sần vì vặn ốc và quai búa của anh đều đặn gõ từng nhịp *cộc, cộc, cộc* xuống mặt một thanh gỗ vụn đặt ngang đầu gối, chuẩn xác như tiếng con lắc của một chiếc đồng hồ nước đã rỉ nhớt.

Trước mặt anh năm bước, cỏ khô trên khoảnh đất trống đã bị giẫm nát nhừ thành một lớp bùn dẻo quánh, xỉn màu. Ninh Chiêu đứng đó, hai chân chùng xuống trong một thế đứng gượng gạo. Áo vải thô nhuộm chàm của cô ướt đẫm mồ hôi sau lưng dù trời lạnh căm căm. Dưới hõm nách phải của cô, một cành liễu khô dài chừng một thước rưỡi, vỏ sần sùi và giòn rụm vì sương muối, đang bị kẹp chặt đến mức cong oằn lại.

"Hạ hông xuống thêm nửa tấc nữa," giọng Tống Hoài vang lên, trầm đục và khô khốc như tiếng hai hòn sỏi lăn cọ vào nhau dưới đáy máng xối. "Ngươi lại gồng cứng cả cái cơ thang bên phải rồi. Thả lỏng bả vai ra. Bản lề mà bị rỉ sét thì cánh cửa quay thế nào được?"

Ninh Chiêu không đáp. Cô siết chặt hai hàm răng, hít một hơi sâu qua kẽ miệng, luồng khí lạnh buốt rát rạt sộc thẳng vào đáy phổi mang theo mùi than non cháy dở và vị tro khoáng đắng chát. Cô bước lùi một nhịp. Gót chân phải vừa chạm vào lớp đất đá dăm lạo xạo thì lập tức chuyển dịch trọng tâm sang chân trái, xoay nhẹ trục xương chậu để chuẩn bị vung một đường chém nghịch từ dưới hất lên bằng thanh gậy gỗ dẻ gai đang cầm ở tay phải.

Nhưng ngay khi xung lực vừa từ mặt đất truyền lên khớp gối, bản năng của một thợ rèn suốt mười mấy năm quai búa tạ mười hai cân ở trấn Lò Khê lại đột ngột trỗi dậy, chiếm quyền kiểm soát toàn bộ cơ thể cô.

*Rắc.*

Khớp bả vai phải giật cục một tiếng khô khốc. Khối cơ lưng phía sau co rút dữ dội theo phản xạ dựng điểm tựa chết để dập sắt. Cánh tay phải của Ninh Chiêu vung lên quá đà, bả vai bị kéo giật ngược lên phía mang tai, hõm nách lập tức mở toang ra một khoảng trống.

Cành liễu khô trượt ra khỏi nách, rơi tuột xuống đất, nảy lên hai nhịp rồi lăn lông lốc vào đám rễ thông phủ đầy tro xỉ.

"Nhặt lên," Tống Hoài không buồn chớp mắt, đầu ngón tay vẫn gõ lộc cộc đều đặn trên thanh gỗ vụn. "Lần thứ mười một."

Ninh Chiêu cắn chặt môi dưới đến rớm máu, cúi người nhặt cành củi khô lên. Cô kẹp nó lại vào hõm nách phải, lồng ngực phập phồng dữ dội. Những giọt mồ hôi lạnh túa ra từ chân tóc mai, chảy dài dọc theo gò má xương xẩu rồi nhỏ tong tòng xuống nền đất bùn.

Cánh tay trái của cô vẫn buông thõng bất động bên sườn. Từng lớp băng vải xám quấn chặt từ cẳng tay xuống tận các đốt ngón, giữ chặt một thanh nẹp tre dẹt áp sát mu bàn tay. Vết bỏng sâu do linh hỏa khoét vào màng xương cách đây mấy ngày vẫn âm ỉ nhức nhối theo từng nhịp mạch đập, tỏa ra một luồng nhiệt âm ỉ, rát buốt như có hàng ngàn mũi kim châm vào tủy sống. Nhưng nỗi đau đớn thể xác ấy không khiến cô bực bội bằng sự bất lực của cánh tay phải lành lặn.

Một người thợ rèn cả đời kiếm cơm bằng cách nện búa xuống mặt đe gang. Khi quai chiếc búa tạ nặng trịch giáng xuống phôi thép đỏ rực, toàn bộ cơ thể người thợ rèn phải hóa thành một khối đá nguyên khối. Bàn chân phải dậm chết xuống sàn đất, khớp háng khóa chặt, cột sống dựng thẳng như cột chống lò, và đặc biệt là khớp bả vai cùng khối cơ thang phải thắt lại thành một điểm tựa tuyệt đối bất động. Điểm tựa ấy càng cứng nhắc, lực dội ngược từ mặt đe dội lên phôi thép càng mạnh, xỉ sắt mới văng ra nhanh, thớ thép mới mau chóng dẻo quánh lại.

Suốt mười mấy năm ròng rã ở xưởng rèn của cha, cơ thể Ninh Chiêu đã khắc sâu cái phản xạ chết chóc ấy vào từng thớ thịt, từng sợi gân. Mỗi khi bàn tay cô nắm lấy một chiếc cán gỗ hay chuôi sắt, dù là búa, kìm kẹp hay thanh kiếm gỗ nhẹ hẫng, toàn thân cô lại tự động dựng lên cái khung thép bất động ấy.

Cô lùi lại một bước, hít sâu. Một, hai, xoay hông, vung ngang.

*Tách.*

Cành liễu khô lại rơi xuống, đập trúng mũi giày vải rách tưa mép của Ninh Chiêu.

Ninh Chiêu đứng sững giữa bãi đất, lồng ngực nghẹn ứ lại vì tức tối. Bàn tay phải cô nắm chặt lấy chuôi gậy gỗ dẻ gai đến mức các khớp xương trắng bệch ra, đường gân xanh nổi ngoằn ngoèo trên mu bàn tay thô nhám.

Tống Hoài thở hắt ra một hơi khói mờ. Anh chống hai bàn tay thô kệch lên đầu gối, chầm chậm đứng dậy khỏi tảng đá mài sa thạch. Cử động của anh nặng nề và gượng gạo. Một bên hông của anh hơi lệch sang phải để né tránh áp lực từ chiếc nẹp lưng bằng sắt bị gãy mất một chốt hãm, mỗi bước đi đều khiến cái khung kim loại rỉ sét tì nghiến vào đốt sống thắt lưng thứ tư của anh, phát ra những tiếng ken két khô khốc bên dưới lớp vải áo dạ.

Anh bước từng bước nặng trịch đến cách Ninh Chiêu ba bước chân, mũi chiếc giày da thô gạt nhẹ cành liễu khô về phía chân cô.

"Ngươi vẫn đang nghĩ kiếm là búa," Tống Hoài dừng lại, đôi mắt sâu hoắm nằm dưới đôi mày rậm rạp nhìn thẳng vào mắt cô, ánh nhìn sắc lẹm như một mũi đột thép gió vừa mới mài bén. "Búa đánh xuống đe gang, vật bị đánh là một cục sắt chết. Cục sắt không có sự sống. Nó không biết nghiêng người, không biết bước lùi nửa bước, không biết thọc một mũi nhọn vào cổ họng ngươi. Nó chỉ nằm trơ trơ ở đó để ngươi dồn toàn bộ sức nặng của cả trăm cân xương thịt xuống một điểm tựa chết nhằm phá vỡ liên kết tinh thể bên trong nó. Cho nên ngươi khóa cứng bả vai, dậm chết gót chân, gồng cứng cơ lườn—đó là đạo của kẻ dập sắt."

Anh giơ thanh gỗ vụn trên tay lên, đầu gậy chỉ thẳng vào hõm ngực của Ninh Chiêu:

"Nhưng kẻ đối diện ngươi cầm kiếm là một con người bằng xương bằng thịt. Người sống thì có khớp xương, có trục xoay, có trọng tâm liên tục dịch chuyển theo từng hơi thở. Khi ngươi vừa khóa chết bả vai để chuẩn bị phát một lực chém bạt mạng, đối thủ chỉ cần nhích mũi chân sang mạn sườn ngươi nửa tấc, đổi góc tì đè của lưỡi kiếm, toàn bộ cái lực nghìn cân của ngươi sẽ đổ nhào vào một khoảng không vô định. Và khi ấy, chính cái điểm tựa chết mà ngươi dày công gồng cứng sẽ biến thành một sợi dây thừng tự trói gãy cánh tay của chính ngươi."

Tống Hoài hạ thanh gỗ xuống, gõ nhẹ ba tiếng *cộc, cộc, cộc* vào đầu khớp vai phải của Ninh Chiêu:

"Kiếm không phát lực từ bả vai. Lực của kiếm đi từ mặt đất, truyền qua lòng bàn chân, đẩy qua khớp gối, xoay quanh trục xương chậu và cột sống rồi mới mượn đường dẫn của cánh tay phóng thẳng ra mũi kiếm. Bả vai chỉ là một cái bản lề trơn dầu, một vòng bi điều hướng. Bản lề phải lỏng, phải trơn tru thì cánh cửa mới có thể khép mở tùy ý theo gió. Ngươi kẹp cành liễu dưới nách không phải để dùng sức bắp thịt ghì chặt lấy nó như ôm một khúc gỗ, mà là để cảm nhận: lúc ngươi vung kiếm chém tới, bả vai ngươi có bị nhấc bổng lên theo thói quen giật cục hay không. Giữ cành liễu không rơi bằng sự khép kín tự nhiên của khung xương sườn và cánh tay, chứ không phải bằng cách thắt chặt khối cơ nách."

Ninh Chiêu nhìn chằm chằm vào đôi mắt đục ngầu nhưng tỉnh táo lạ thường của Tống Hoài. Hơi thở dồn dập trong lồng ngực cô dần lắng xuống. Lời của Tống Hoài không phải là những khẩu quyết tu tiên huyền ảo, mơ hồ trong các cuốn bí kíp mà lũ đệ tử nội môn hay tụng niệm; đó là ngôn ngữ của cơ học, của lực học, của sự phân bổ tải trọng mà một người thợ rèn có thể hiểu rõ đến từng chân tơ kẽ tóc.

Cô cúi xuống nhặt cành liễu khô lên. Lần này, khi đặt nó vào hõm nách phải, Ninh Chiêu không vội vã siết chặt cơ bắp. Cô nhắm nghiền hai mắt lại, hít vào một hơi thật dài, cảm nhận luồng khí lạnh buốt tràn qua phế quản. Cô buông lỏng hai bờ vai xuống. Khối cơ thang đang căng cứng dọc hai bên cổ từ từ dãn ra. Cánh tay phải thả lỏng, chỉ có các ngón tay khép hờ quanh chuôi gậy gỗ. Cành liễu nằm im lìm giữa nách và sườn, được giữ lại bởi chính độ khép tự nhiên của khớp vai thả lỏng.

"Làm lại," Tống Hoài lùi trở lại tảng đá sa thạch, ngồi xuống, thanh gỗ trên tay lại bắt đầu gõ nhịp. "Trăm lần nữa. Khi nào vung gậy mười nhát mà cành liễu không rơi, cơ vai không giật, gót chân không dậm chết, lúc đó mới được chạm vào phôi sắt."

Gió khe núi lại rít lên từng hồi buốt giá, cuốn theo những đám bụi than mù mịt qua bãi đất trống. Từng nhát gậy gỗ vung ra trong buổi sớm không còn xé toạc không khí bằng những tiếng rít đanh giòn, bạt mạng như trước. Thay vào đó, những đường quét trở nên trầm đục, trôi chảy, nhịp nhàng ăn khớp với từng hơi thở hít vào và thở ra đều đặn của Ninh Chiêu.

***

Để nuôi sống một cơ thể đang phải gánh chịu khối lượng lao dịch khổng lồ ở ngoại viện cùng những bài tập thể lực gắt gao của Tống Hoài, chỉ có ý chí là không đủ. Cơ bắp không mọc ra từ sự nhẫn nhịn suông; chúng cần vật chất thực tế để đắp vào.

Ninh Chiêu hiểu rõ điều đó hơn bất kỳ ai. Là con gái của một người thợ rèn cả đời đối mặt với lửa và kim loại, cô biết rằng một thanh thép muốn chịu được ngàn vạn nhát búa mà không gãy thì phôi thép phải được nuôi bằng than đá già lửa, không được có bọt xỉ. Cơ thể con người cũng vậy. Những đệ tử ngoại môn nhà giàu bước chân vào Thanh Lư Tông thường mang theo từng bình đan dược bổ khí, đan ích huyết tỏa mùi xạ hương thơm nức, nuốt một viên có thể no cả ngày, gân cốt nóng ran như lửa sưởi. Ninh Chiêu không có thứ đó. Cô chỉ có khẩu phần ăn đạm bạc của một thợ bảo trì hạng ba: hai bát cơm gạo đỏ độn cám thô mỗi bữa, một liễn đất nung đựng đậu nành ninh nhừ với muối hạt, và những ngụm nước giếng đá trong vắt, lạnh thấu ruột gan.

Đậu nành ninh muối là nguồn đạm thô duy nhất cô có thể tiếp cận được với giá rẻ mạt từ nhà bếp ngoại viện. Mỗi ngày, sau khi kết thúc ca dọn xỉ than lúc nửa đêm, Ninh Chiêu đều ép mình ăn cạn từng hạt đậu nát, nhai kỹ lớp vỏ dai nhách để dạ dày không bị cào xé. Cô thiết lập một kỷ luật sinh hoạt sắt đá đến mức khắc nghiệt: dù mệt mỏi rã rời đến đâu, cô cũng phải ngủ đủ ba canh giờ thật sâu trong căn buồng xép ẩm mốc cạnh kho than, không để những giấc mộng đứt quãng quấy nhiễu.

Khi thức dậy vào đầu giờ Dần, khi tiếng chuông đồng trên đỉnh Lạc Hạc còn chưa kịp điểm nhịp đầu tiên, cô bắt đầu ngày mới bằng việc nâng hạ các kiện phôi thép thô nặng năm mươi cân từ sàn kho lên kệ sắt. Cô không nâng bằng sức giật của lưng như trước. Cô nhớ từng lời Tống Hoài dạy: hít vào khi hạ trọng tâm, dồn khí xuống đan điền, giữ cột sống thẳng tuyệt đối như một cây cột chống lò, rồi thở ra từ từ qua kẽ răng khi dùng lực đạp của hai đùi để đẩy kiện phôi lên vị trí.

Sự kiên trì thô ráp ấy không đem lại những đột phá chấn động kinh thiên động địa như sự trợ lực của linh đan diệu dược. Không có luồng linh khí ngũ sắc nào bốc lên từ đỉnh đầu cô, cũng không có kinh mạch nào phát sáng rực rỡ dưới da thịt. Nhưng sự biến đổi diễn ra lầm lì, vững chắc từ tận đáy sâu của gân cốt. Các thớ cơ bắp dọc hai bên sống lưng cô dày dặn lên từng ngày, săn lại như những tao dây chão ngâm dầu gai. Khớp hông của cô mở rộng, bàn chân bám chặt xuống mặt đá như rễ thông cắm vào khe nứt, và hơi thở của cô trở nên sâu thẳm, đều đặn ngay cả khi phải khiêng vác một khối lượng sắt vụn khổng lồ suốt nhiều dặm đường dốc.

Không cần đến bất kỳ viên đan dược nào của phủ Quan Tế, Ninh Chiêu đã tự tay đắp nên tầng đáy kiên cố nhất của cảnh giới Luyện Thân—một nền móng được xây bằng đạm thô của đậu, giấc ngủ sâu của kẻ lao động và nhịp thở cơ học của một người thợ rèn hiểu rõ giới hạn của xương thịt.

***

Buổi chiều, bầu trời phía trên dãy núi Lạc Hạc sầm sì như một tấm da trâu mốc meo bị ngâm nước lâu ngày. Những dải mây xám nặng trĩu sà thấp xuống tận các chóp tháp thông gió của các xưởng luyện kim, phả xuống thung lũng một luồng gió ẩm ướt, buốt giá.

Ninh Chiêu xách chiếc giỏ mây cũ kỹ đựng bộ đồ nghề nguội tiến vào gian chái phía đông của y xá Thạch Tuyền. Nơi đây nằm khuất sau những rặng tùng cằn cỗi mọc chen chúc trên vách đá dựng đứng, tách biệt hẳn với khu điều trị chính của các đệ tử nội môn. Theo thỏa thuận đổi công lao dịch giữa Viện Công Tượng và khu điều trị dành cho tạp dịch, Ninh Chiêu nhận việc nắn thẳng, tẩy gỉ và gia công lại các thanh nẹp xương bằng hợp kim đồng thiếc bị cong vênh cho y xá. Đổi lại, bác sĩ Trần Mộc sẽ đích thân rửa vết thương, bôi cao dược và thay băng định kỳ cho bàn tay trái bị bỏng sâu của cô mà không ghi chép bất kỳ dòng nào vào sổ phạt hay sổ theo dõi phế nhân của đám quản sự ngoại viện.

Cánh cửa gỗ dán giấy dầu dày cộp khép lại sau lưng cô, ngăn bớt tiếng gió rít thê lương ngoài hẻm núi. Gian phòng nắn xương nồng nặc một thứ mùi hỗn tạp đặc trưng: mùi giấm thanh chua gắt dùng để tẩy trùng mặt đe, mùi dầu trẩu béo ngậy quét lên các dụng cụ cắt gọt, và mùi tanh nồng, nhờn nhợt của máu khô bám lâu ngày trên các dải băng vải xếp thành đống trong góc phòng.

Ánh sáng duy nhất trong căn phòng ẩm thấp này lọt qua một ô cửa sổ nhỏ xíu mở ra vách đá sau núi và ngọn đèn dầu hạt cải lớn đặt ngay giữa chiếc bàn gỗ dẻ gai chắc nịch. Trên ngọn đèn dầu có gắn một thấu kính thạch anh phóng đại đường kính nửa thước, hội tụ luồng ánh sáng vàng vọt thành một quầng tròn sáng rực, soi rõ từng hạt bụi li ti lơ lửng trong không khí.

Trên mặt bàn gỗ dẻ gai, một chiếc khay bằng gỗ thông ngâm dầu chứa chừng hai mươi thanh nẹp xương vừa được phẫu thuật tháo ra từ cơ thể người bệnh. Những thanh nẹp này dài từ năm tấc đến bảy tấc, dày cỡ hai phân li, uốn lượn theo các đường cong giải phẫu học khác nhau. Chúng được chế tạo bằng hợp kim đồng thiếc pha chì—thứ kim loại chuyên dùng trong ngoại khoa tu tiên của tầng lớp hạ đẳng để nẹp cố định các đoạn xương cẳng tay, xương đùi hoặc các đốt sống bị gãy dập do tai nạn lao động hay sụp hầm mỏ. Hợp kim đồng thiếc có tính dẻo dai tuyệt vời, chịu được lực uốn lặp đi lặp lại và không bị rỉ sét nhanh như sắt thép khi tiếp xúc lâu ngày với dịch mô và máu của cơ thể sống.

Ninh Chiêu kéo chiếc ghế đẩu gỗ thô lại gần bàn, đặt chiếc giỏ mây xuống sàn đất nện. Cô rút ra một chiếc kìm mỏ dẹp bọc đồng, một chiếc búa gỗ nhỏ bọc da trâu đã mòn nhẵn và vài thanh nêm bằng sừng hươu. Bàn tay trái của cô cẩn thận tì mép nẹp tre cố định lên mặt bàn để giữ thăng bằng cho cơ thể. Các ngón tay quấn băng xám co quắp lại bất động, chỉ có bàn tay phải thuần thục với lấy thanh nẹp đồng đầu tiên trong khay.

Thanh nẹp này dài chừng sáu tấc, vốn dùng để nẹp xương chày. Nó bị vặn xoắn một góc chừng mười lăm độ ở đoạn giữa, các lỗ bắt vít cơ khí bị toét miệng, rõ ràng là do người bệnh đã phải chịu một lực đè nén hoặc va đập cực mạnh trong quá trình liền xương.

Ninh Chiêu đưa thanh nẹp vào quầng sáng hội tụ bên dưới thấu kính thạch anh, nheo mắt xoay nhẹ thanh kim loại để tìm điểm tập trung ứng suất uốn trước khi đặt nó lên chiếc đe gỗ nhỏ để gõ nắn.

Nhưng ngay khoảnh khắc bề mặt kim loại màu vàng xỉn lọt vào điểm tiêu cự của thấu kính phóng đại, đôi đồng tử màu xám tro của Ninh Chiêu đột ngột co rút lại thành hai chấm nhỏ.

Toàn thân cô cứng đờ. Hơi thở nghẽn lại nơi cuống họng.

Trên bề mặt cong vênh của thanh nẹp đồng thiếc, tại chính khu vực áp sát trực tiếp vào màng xương của người bệnh, kim loại không hề nhẵn bóng hay mòn vẹt như hiện tượng cọ xát cơ học thông thường. Toàn bộ bề mặt áp xương ấy bị ăn mòn loang lổ bởi hàng trăm, hàng ngàn lỗ rỗ li ti, sâu hoắm, ken dày đặc vào nhau tạo thành một mạng lưới hình lục giác không đều đặn.

Một cấu trúc tổ ong hoàn chỉnh.

Chiếc búa gỗ bọc da trâu trên tay phải Ninh Chiêu tuột khỏi kẽ ngón tay, rơi xuống mặt bàn gỗ dẻ gai phát ra một tiếng *cộc* khô khốc, vang dội lạ thường trong gian phòng vắng ngắt.

Ninh Chiêu không buồn nhặt búa. Bàn tay phải run rẩy của cô vội vã vơ lấy thanh nẹp thứ hai trong khay, rồi thanh thứ ba, thanh thứ tư, thanh thứ năm...

Cô lật tung khay gỗ. Tiếng kim loại va chạm vào nhau lách cách, hỗn loạn.

Mười hai trong số hai mươi thanh nẹp xương được tháo ra từ cơ thể của các bệnh nhân khác nhau đều mang cùng một dấu vết biến tính quái dị, rợn người ấy!

Những vết rỗ tổ ong này hoàn toàn không phải là những vết rỗ ngẫu nhiên do rỉ sét sinh học, do mủ viêm hay dịch mô axit ăn mòn. Các lỗ rỗ có miệng tròn vo, sắc cạnh, mép viền của mỗi lỗ đều có dấu vết bị nung chảy cục bộ ở nhiệt độ cực cao rồi đông cứng lại tức thì thành các gờ gỉ màu xanh đen sủi bọt li ti. Và điều kinh hoàng nhất: đáy của mọi lỗ rỗ lục giác đều đâm xiên một góc khoảng ba mươi độ hướng về cùng một phía dọc theo trục dài của thanh nẹp!

Đó là dấu vết định hướng của một dòng hạt mang năng lượng! Đó là vết tích để lại của một luồng phóng điện linh lực cực mạnh, vượt xa ngưỡng dẫn truyền tự nhiên, bị cưỡng bức ép chạy qua một vật dẫn kim loại có điện trở không đồng đều!

Một luồng khí lạnh buốt chạy dọc sống lưng Ninh Chiêu, đánh thẳng vào đại não cô. Ký ức bị kéo giật ngược về quá khứ mười một năm trước, bên trong căn hầm bí mật đào sâu dưới đáy lò nung của Lò Ninh ở trấn Lò Khê.

Đó là một đêm mùa đông rét mướt, tiếng gió gầm rú trên ống khói lò cao. Cha cô—Ninh Trác—ngồi gục đầu bên bàn vẽ dưới ánh đèn dầu lạc leo lét, ngón tay dính đầy muội than cẩn thận dùng ngòi bút lông chấm mực nho tỉ mỉ vẽ lại từng mặt cắt phóng đại của những mảnh kim loại đen vớt được từ mương thoát áp của trạm dẫn lực bỏ hoang.

Trong cuốn sổ da trâu niêm phong bằng mỡ bò mà Ninh Chiêu đã chôn sâu dưới đáy máng nước ngầm trước ngày lên đường nhập tông môn, có đúng ba trang giấy vẽ chi tiết những vết rỗ tổ ong này. Từng nét vẽ của cha cô run rẩy nhưng chính xác đến tàn nhẫn, và bên cạnh hình vẽ mặt cắt kim loại, nét chữ sắc nhọn như khắc đục của ông ghi rõ từng dòng:

*'Cấu trúc tổ ong trên hợp kim đồng thiếc: Sinh ra do hiện tượng quá tải linh áp cưỡng bức. Khi dòng bản nguyên kiếm cốt bị cưỡng chế rút qua vật dẫn với lưu lượng vượt ngưỡng chịu tải của sinh thể, phản lực dòng hạt sẽ bóc tách các phân tử thiếc ra khỏi nền đồng, tạo thành vi lỗ rỗng hình lục giác. Đây là dấu hiệu của sự bòn rút, không phải hao mòn cơ học thông thường.'*

Bàn tay phải của Ninh Chiêu siết chặt lấy mép bàn gỗ dẻ gai, móng tay cắm sâu vào thớ gỗ ẩm mốc. Mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm lớp áo lót bên trong, dính bết vào da thịt lạnh ngắt.

Những thanh nẹp xương này... chúng được tháo ra từ ai?

Từ những đệ tử ngoại viện bị gãy xương trong lúc giao đấu? Hay từ chính những phu dịch cơ khí mang trên vai vết kẹp định vị bằng đồng mà cô đã nhìn thấy hôm qua dưới chân đài Huyền Khuyết và cổng số Bảy—những con người có đôi mắt vô hồn và hai cánh tay trắng bệch như sáp nến của xác chết?

Nếu những thanh nẹp kim loại cấy sâu vào xương tủy của họ bị ăn mòn thành hình tổ ong như thế này, điều đó có nghĩa là gì?

Nó có nghĩa là cơ thể của họ đã bị biến thành một bộ phận của một cỗ máy khổng lồ! Một mạch dẫn sống! Linh lực, bản nguyên, thậm chí là chính sinh mạng và tủy xương của họ đã bị cưỡng bức hút qua những thanh nẹp đồng này, biến chúng thành những chiếc cầu chì chịu tải dở sống dở chết bên trong da thịt, dẫn truyền năng lượng để nuôi dưỡng một thứ gì đó nằm sâu dưới lòng đất Thanh Lư Tông!

Bàn tay phải của Ninh Chiêu run lên bần bật. Cô vươn ngón tay cái thô ráp, miết mạnh lên bề mặt rỗ ráp của thanh kim loại dưới thấu kính. Cảm giác gợn ráp, sắc lạnh của những vi lỗ lục giác cào vào da thịt như một dòng điện vô hình truyền thẳng vào tim cô, làm sống dậy nỗi kinh hoàng tột cùng về bản thiết kế ngầm mà cha cô đã phải đánh đổi cả tính mạng để che giấu.

"Cót két..."

Tiếng bản lề cửa gỗ khẽ kêu lên phía sau lưng cô, phá vỡ bầu không khí tĩnh mịch nghẹt thở.

Ninh Chiêu giật mình thót tim. Theo phản xạ phòng vệ của một thợ rèn, bàn tay phải của cô lập tức hạ thấp xuống, dùng mu bàn tay che khuất thanh nẹp đồng có vết rỗ tổ ong dưới quầng sáng của thấu kính, đồng thời nín thở, chầm chậm xoay đầu lại.

Bác sĩ Trần Mộc đã bước vào gian phòng tự lúc nào.

Ông đứng lặng lẽ ngay ngưỡng cửa, mặc một chiếc áo chẽn bằng vải lanh xám mộc mạc đã bạc màu ở cổ áo. Vạt áo bên phải của ông dắt một hàng kim châm cứu bằng bạc dài ngắn khác nhau, chuôi kim lấp lánh ánh kim loại lạnh lẽo. Khuôn mặt vuông vức của người thầy thuốc già phủ một lớp da sạm đen vì gió núi, đôi mắt thâm quầng sau những đêm dài thức trắng mổ xẻ và băng bó.

Khuôn mặt ấy phẳng lặng như một mặt gương đồng rỉ sét, không để lộ ra một chút biểu cảm gợn sóng nào.

Trần Mộc không nhìn vào bàn tay trái đang quấn băng nẹp của Ninh Chiêu, cũng không mở miệng hỏi tại sao cô lại dừng tay và làm đổ khay đồ nghề. Ánh mắt sâu hoắm của ông lướt qua đống nẹp kim loại nằm ngổn ngang trên bàn dẻ gai, rồi dừng lại trúng vào mu bàn tay phải của cô—nơi cô đang cố che giấu thanh nẹp xương mang vết rỗ lục giác.

Không gian trong phòng chùng xuống, nặng nề như trước một cơn giông bão ngầm dưới lòng đất. Tiếng bấc đèn dầu hạt cải nổ lách tách từng tiếng nhỏ, đếm từng nhịp tim đang đập dồn dập, nghẹn ứ trong lồng ngực Ninh Chiêu.

Trần Mộc không nói một lời nào. Ông bước chầm chậm lại mép bàn, bước chân nhẹ tênh không một tiếng động. Ông với tay lấy một mảnh vải gai thô màu xám sạch sẽ đặt ở góc bàn, trải rộng ra mặt gỗ dẻ gai.

Bằng những động tác cực kỳ điềm tĩnh, chuẩn xác và lạnh lùng của một người đã làm nghề y qua hàng chục năm, Trần Mộc đưa tay nhặt từng thanh nẹp bị biến tính nặng nhất ra khỏi khay. Ngón tay khẳng khiu như cành củi khô của ông nhặt thanh thứ nhất, thanh thứ hai, rồi thản nhiên gạt nhẹ mu bàn tay phải của Ninh Chiêu sang một bên để nhặt lấy thanh nẹp có vết rỗ tổ ong dày đặc nhất.

Ông đặt tất cả mười hai thanh nẹp biến tính vào giữa mảnh vải gai, túm bốn góc vải lại, buộc thành một bọc tròn chặt chẽ bằng một sợi dây gai dùi lỗ.

Ninh Chiêu ngồi bất động trên ghế đẩu, hai mắt dán chặt vào từng cử động của ông, toàn thân căng ra như một cánh cung đã kéo hết cỡ.

Trần Mộc ôm bọc vải gai vào lòng, quay người bước về phía góc phòng tối tăm phía sau bàn bốc thuốc. Ở đó, nằm khuất sau những kệ gỗ sồi cao ngất ngưởng chứa đầy những hũ gốm đựng rễ cây và cao thuốc, có một chiếc rương gỗ lim đen bóng, cao chừng hai thước, rộng ba thước.

Chiếc rương này hoàn toàn khác biệt với những đồ đạc xơ xác trong y xá. Nắp rương được gia cố bằng hai đai sắt dày bản tán đinh tán lớn. Trên hai chiếc quai khóa bằng đồng đỏ gắn chặt vào thân rương là hai ổ khóa dạng đĩa xoay bằng cơ khí phức tạp—loại khóa có hai tầng chìa riêng biệt, chỉ mở được khi xoay đúng mã rãnh bi, vốn là thiết bị bảo mật cơ khí chỉ được trang bị cho các kho lưu trữ mật tịch trọng yếu của viện Chấp Pháp và viện Công Tượng.

Trần Mộc thò tay vào trong túi áo trong, rút ra một chùm chìa khóa bằng đồng thau nặng trịch.

*Tách. Cạch. Rắc.*

Tiếng lách cách cơ học của các bi khóa và lẫy thép chuyển động vang lên rành rọt, đanh gọn trong gian phòng tĩnh mịch. Nắp rương gỗ lim nặng nề hé mở một khe hẹp chừng nửa thước.

Dưới ánh sáng lờ mờ hắt ra từ ngọn đèn dầu, Ninh Chiêu nhìn thấy thoáng qua bên trong lòng rương được lót một lớp nỉ dạ màu đỏ thẫm dày cộp để chống ẩm. Bên trên lớp nỉ đỏ ấy, xếp ngay ngắn thành từng hàng, từng lớp là hàng chục bọc vải gai tương tự như cái ông vừa gói. Tất cả đều phồng lên bởi hình thù cong queo, uốn lượn của những thanh nẹp kim loại đã bị biến tính.

Hàng trăm thanh nẹp tổ ong.

Trần Mộc đặt bọc vải mới vào một góc trống trong rương, rồi dứt khoát hạ nắp rương gỗ lim xuống.

*Cầm. Tách.*

Hai tầng khóa lại được khóa chặt. Trần Mộc rút chùm chìa khóa ra, giấu sâu vào trong ngực áo, vỗ nhẹ lên vạt áo lanh rồi quay người lại nhìn Ninh Chiêu.

Ánh mắt sâu hoắm của người thầy thuốc già đọng lại một vẻ lạnh lẽo phẳng lặng như mặt nước giếng đá giữa mùa đông buốt giá. Trong ánh mắt ấy không có sự tức giận, không có sự hoảng sợ, mà chỉ có một vẻ cảnh cáo nghiêm khắc đến tàn nhẫn, đan xen với một sự che chở câm lặng đến nghẹt thở.

"Nắn những thanh còn lại trong khay đi," Trần Mộc cất giọng đều đều, khô khốc và bằng phẳng như tiếng tụng kinh của một nhà sư mù, tựa như việc cất giấu những thanh kim loại mang dấu vết tội ác kinh hoàng kia chỉ là một thủ tục thu dọn rác rưởi định kỳ. "Trời sắp tối rồi. Nắn xong thì mang khay sang phòng bên cạnh, ta đổi thuốc mới cho bàn tay trái."

Dứt lời, ông xoay người bước ra ngoài hành lang gỗ, khép cánh cửa dán giấy dầu lại. Gian phòng nắn xương lại chìm vào sự im lặng quánh đặc, chỉ còn lại Ninh Chiêu ngồi trơ trọi giữa quầng sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu hạt cải và mẩu nẹp đồng gãy vụn mà cô đã nhanh tay giấu tọt vào đáy túi áo từ trước đó.

***

Hoàng hôn buông xuống thung lũng ngoại viện nhanh như một cái chớp mắt. Gió núi bắt đầu mang theo hơi ẩm lạnh buốt thấu xương của sương muối và mùi bùn khoáng tanh nồng.

Phía sau khu nhà kho chứa vật liệu của phân viện Quản lý Công Trình, mặt đất nhão nhoét bùn đen do nước thải xả ra từ các bể lắng lọc quặng. Nằm lọt thỏm giữa hai bức tường đá rêu phong nứt nẻ là một chiếc giếng nước cổ xây bằng đá tảng, thành giếng phủ đầy rêu xanh trơn trượt.

Lê Vãn đang ngồi trên một khúc gỗ mục bên miệng giếng cạn. Chiếc túi da thuộc màu nâu sẫm của chị mở toang trên đùi, bên trong lộ ra những tập hồ sơ đo đạc thủy văn dày cộp chi chít những con số ghi chép, biểu đồ áp suất nền móng và những thước dây bằng đồng bị gỉ xanh. Khuôn mặt thanh tú nhưng xanh xao vì thiếu ngủ của người cựu khảo sát viên Cục Địa Mạch chìm trong bóng tối lờ mờ của ráng chiều tà.

Ninh Chiêu bước nhanh tới, đứng chắn trước hướng gió thổi để che cho người bạn đồng hành. Không nói một lời thừa thãi, cô thò bàn tay phải vào sâu trong túi áo ngực, rút ra một mẩu kim loại nhỏ dài chừng hai đốt ngón tay—đoạn gãy vỡ của một thanh nẹp xương mà cô đã lén bẻ lại và giấu kín trước khi Trần Mộc gom hết vào bọc vải gai.

"Nhìn kỹ cái này đi," Ninh Chiêu hạ thấp giọng xuống mức tối đa, chìa mẩu kim loại ra trước mặt Lê Vãn. "Vết rỗ hình tổ ong. Vi lỗ lục giác có mép nóng chảy cục bộ rồi đông cứng lại. Đáy lỗ đâm xiên một góc ba mươi độ dọc theo trục dài. Nó hoàn toàn trùng khớp với bản vẽ mặt cắt mảnh vỡ buồng dẫn nạp trong cuốn sổ tay kỹ thuật của cha tôi!"

Giọng nói của Ninh Chiêu run lên vì kích động:

"Những người phục vụ ở đài Huyền Khuyết và cổng số Bảy... họ không chỉ đơn thuần là bị kẹp chặt thân thể để lao dịch. Xương cốt của họ, linh lực của họ, sinh mạng của họ đã bị cưỡng bức rút cạn qua những thanh nẹp này để dẫn vào đại trận! Đại trận đang ăn thịt người sống!"

Lê Vãn không hề tỏ ra kinh ngạc. Chị cũng không vội vã đưa tay ra đón lấy mẩu kim loại. Đôi mắt sắc sảo của chị nhìn chằm chằm vào khuôn mặt đang căng thẳng tột độ của Ninh Chiêu, ánh nhìn điềm tĩnh đến mức lạnh lùng.

Chị chầm chậm thò tay vào túi da thuộc, rút ra một chiếc kính lúp cán đồng có ba nấc thấu kính gập và một chiếc nhíp gắp mẫu quặng bằng thép không gỉ.

Lê Vãn dùng nhíp kẹp lấy mẩu đồng thiếc từ tay Ninh Chiêu, đưa nó lên sát tầm mắt. Chị kéo từng nấc thấu kính của chiếc kính lúp ra, xoay đi xoay lại mẩu kim loại dưới ánh sáng nhờ nhợ cuối cùng của buổi hoàng hôn. Chị dùng đầu nhọn của nhíp cạo nhẹ lên lớp gỉ màu xanh đen bám trên mép một lỗ rỗ, đưa mẩu bột gỉ lên sát mũi ngửi một hồi lâu.

Tiếp đó, Lê Vãn rút từ ngăn hẹp của túi da ra một chiếc lọ thủy tinh nhỏ xíu nút bấc. Chị dùng đầu que thủy tinh chấm một giọt chất lỏng trong suốt, không màu từ trong lọ, cẩn thận nhỏ thẳng vào khu vực có vết rỗ tổ ong trên thanh nẹp.

*Xèo...*

Một làn khói trắng cực mỏng bốc lên kèm theo tiếng xèo xèo nhỏ xíu. Một mùi chua nồng, hăng hắc của toan khoáng đậm đặc lập tức lan tỏa trong không khí lạnh.

Lê Vãn thản nhiên lau sạch đầu que thủy tinh, đút chiếc lọ trở lại túi da, rồi gập chiếc kính lúp ba nấc lại bằng một tiếng *tách* dứt khoát. Chị ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào đôi mắt xám tro của Ninh Chiêu.

Ánh mắt của Lê Vãn không hề có sự đồng cảm, phẫn nộ hay kích động mà Ninh Chiêu đang mong chờ. Đó là ánh mắt sắc lạnh, vô cảm của một chuyên gia kỹ thuật đã trải qua mười năm chôn vùi tuổi xuân trong Cục Địa Mạch—nơi mà một con số sai lệch có thể chôn sống cả một đoàn khảo sát dưới lòng đất, và một kết luận vội vã có thể khiến cả một gia tộc bị tru di.

"Ninh Chiêu," giọng Lê Vãn vang lên, lạnh buốt như một gáo nước giếng đá dội thẳng vào đỉnh đầu cô. "Thu cái suy đoán cảm tính đầy lỗ hổng ấy lại đi."

Ninh Chiêu sững người, lồng ngực thắt lại: "Chị nói cái gì? Bản vẽ của cha tôi ghi rõ từng nét—"

"Bản vẽ của cha cô ghi lại hiện tượng biến tính kim loại dưới áp suất linh lực cực hạn, điều đó về mặt lý thuyết là có thể đúng," Lê Vãn ngắt lời cô, giọng nói dứt khoát, không để lộ ra một kẽ hở nào cho sự tranh luận theo cảm xúc. "Nhưng hiện tượng rỗ bề mặt dạng vi lỗ tổ ong này không phải là bằng chứng duy nhất của một nguyên nhân duy nhất. Cô là một thợ rèn, cô hiểu về tính chất vật lý của kim loại, nhưng cô không hiểu về hóa học địa chất và bệnh lý học công nghiệp."

Lê Vãn giơ chiếc nhíp đang kẹp mẩu kim loại lên ngang tầm mắt Ninh Chiêu:

"Thứ nhất, hợp kim đồng thiếc cấy vào cơ thể người sống phải tiếp xúc liên tục với mồ hôi muối, dịch rỉ viêm nhiễm và các ion axit hữu cơ trong suốt nhiều tháng trời. Dưới tác động của thân nhiệt ba mươi bảy độ và sự co bóp cơ học liên tục của các bó cơ bắp xung quanh, hiện tượng ăn mòn điện hóa cục bộ hoàn toàn có thể xảy ra. Nếu trong quá trình đúc phôi nẹp, thợ luyện kim phân bổ hàm lượng chì và tạp chất kẽm không đều, các hạt tinh thể chì sẽ đóng vai trò như các cực điện hóa cực nhỏ, tự động bị ăn mòn bóc tách ra khỏi nền đồng thiếc, để lại các lỗ rỗng hình tổ ong y hệt như thế này!"

Chị chỉ mũi nhíp vào giọt axit vừa phản ứng:

"Thứ hai, vùng núi Lạc Hạc này quanh năm chìm trong bụi tro khoáng xả ra từ ba mươi lò luyện quặng của đỉnh núi. Bụi tro chứa đầy lưu huỳnh hoạt tính và axit khoáng ngấm qua da thịt của các phu dịch, tích tụ lâu ngày trong các vết thương hở sâu đến tận xương. Độc tố khoáng chất ấy kết hợp với dịch mô người bệnh hoàn toàn có thể tạo ra các phản ứng ăn mòn hóa học dị thường."

Lê Vãn hít một hơi sâu, ánh mắt nghiêm nghị đến mức khắc nghiệt:

"Cái cô đang nhìn thấy ở đây, Ninh Chiêu, mới chỉ là một sự *tương quan bề mặt*. Hai hiện tượng có hình thức bên ngoài giống nhau không bao giờ đồng nghĩa với việc chúng được sinh ra từ cùng một nguyên nhân bản chất! Trong ngành khảo cứu trận pháp và địa chất của triều đình, nếu cô đem một sự tương quan chưa được loại trừ các biến số vật lý và hóa học thông thường ra để làm tiền đề cho một cáo buộc nặng nề như việc 'rút kiếm cốt cưỡng bức qua cơ thể người', Cục Địa Mạch hay viện Chấp Pháp chỉ cần cử một giám định viên hạng bét đặt một câu hỏi về nồng độ ion lưu huỳnh trong dịch rỉ vết thương là có thể đập nát toàn bộ lập luận của cô thành từng mảnh vụn!"

Lê Vãn gằn từng tiếng một:

"Và hậu quả là gì? Cô sẽ không lật tẩy được bất kỳ cỗ máy ngầm nào cả. Cô sẽ lập tức bị tống giam vào ngục Nam Trụ vì tội vu khống nghi lễ tông môn và phá hoại trật tự sản xuất của đỉnh Lạc Hạc. Lúc đó, cái mạng của cô, của Tống Hoài, và cuốn sổ tay của cha cô cũng sẽ tan thành tro bụi!"

Ninh Chiêu siết chặt nắm tay phải. Móng tay cô cắm sâu vào lòng bàn tay chai sạn đau nhức nhối. Lời nói của Lê Vãn như những nhát búa lạnh lùng nện thẳng vào sự nôn nóng đang bốc hỏa trong đầu cô. Đau đớn, cay nghiệt, nhưng hoàn toàn chuẩn xác về mặt logic.

"Vậy còn chiếc rương gỗ lim khóa hai tầng của bác sĩ Trần Mộc thì sao?" Ninh Chiêu nghiến răng, hạ giọng thì thầm nhưng từng chữ vẫn trĩu nặng sự hoài nghi. "Tại sao ông ta phải thu gom từng thanh nẹp hỏng? Tại sao phải giấu kín sau kệ thuốc? Tại sao phải dùng loại khóa cơ khí bảo mật hai tầng của viện Chấp Pháp để khóa chặt hàng trăm thanh nẹp biến tính như thế?"

"Đó là việc của Trần Mộc," Lê Vãn bình thản thả mẩu kim loại trở lại lòng bàn tay của Ninh Chiêu, rồi thong thả kéo khóa chiếc túi da thuộc trên đùi. "Ở cái đất Thanh Lư Tông đầy rẫy tai mắt này, bất kỳ kẻ nào muốn sống sót qua tuổi bốn mươi đều phải có một chiếc rương khóa hai tầng của riêng mình. Người làm nghề y có cách riêng của họ để tự bảo vệ mạng sống và bảo vệ những con bệnh khốn khổ dưới quyền họ."

Chị đứng dậy khỏi khúc gỗ mục, phủi sạch lớp bụi than bám trên gấu quần:

"Khi nào cô tìm được bằng chứng vật chất chứng minh các thanh nẹp này chứa tàn dư bức xạ có cùng tần số dao động linh lực với lõi kiếm trận Huyền Khuyết; hoặc khi nào cô tìm được một phu dịch sống sót tận mắt làm chứng về quy trình cấy nẹp và đưa người vào buồng áp suất linh lực—khi đó, chúng ta mới có được tầng chứng cứ thứ hai để xâu chuỗi sự việc. Còn bây giờ, hãy nhét mẩu kim loại đó sâu vào đáy túi áo, câm mồm lại và quay về xưởng mài hoàn thành cho xong định ngạch dũa phôi của cô đi. Đừng để Hạ Từ ngửi thấy bất kỳ mùi bất thường nào từ cô."

Nói dứt lời, Lê Vãn khoác chiếc túi da lên vai, xoay người sải bước nhanh về phía khu lán trại trắc lượng phía tây. Bóng dáng mảnh khảnh, cô độc của chị nhanh chóng hòa tan vào màn sương xám đặc quánh đang cuồn cuộn tràn xuống từ vách đá.

Ninh Chiêu đứng lại một mình bên miệng giếng cạn rêu phong. Gió núi rít qua khe đá sau lưng cô từng hồi buốt giá. Cô cúi đầu nhìn mẩu kim loại nhỏ nằm trơ trọi trong lòng bàn tay phải. Lớp kim loại lạnh ngắt, ráp sắc tì vào da thịt chai sần.

Cô hít một hơi sâu, siết chặt các ngón tay lại, nhét mẩu đồng gãy vào tận đáy sâu của túi áo trong, rồi quay người bước đi trong bóng tối mịt mù của đêm đông.

***

Đêm đã xuống sâu trên đỉnh Lạc Hạc.

Bãi đất trống phía sau khu lò rèn ngoại viện chìm hoàn toàn trong bóng tối dày đặc, quánh đặc như mực tàu. Những tiếng đập búa, tiếng bễ thở phì phò của các lò luyện kim phía xa đã tắt từ lâu theo lệnh giới nghiêm của viện Chấp Pháp. Giờ đây, chỉ còn lại tiếng gió rít từng hồi qua những mắt lưới rào kẽm gai rỉ sét và tiếng giun dế rúc rỉ rả dưới lớp cỏ úa phủ đầy tro xỉ.

Ánh trăng mờ đục, méo mó rọi qua tầng mây xám xịt hắt xuống bãi đất những vệt sáng nhờ nhợ, soi rõ hình bóng cô độc của Ninh Chiêu.

Cô đứng giữa bãi đất, hai chân chùng xuống, toàn thân bất động.

Lần này, trong tay phải của cô không còn là thanh gậy gỗ dẻ gai nhẹ hẫng của buổi sáng nữa. Thay vào đó là một thanh kiếm sắt thô chưa mài bén—loại kiếm phôi dài ba thước hai tấc, nặng đúng năm cân bằng thép non, chuyên dùng để trang bị cho đệ tử tạp dịch tuần tra dọc hàng rào ngoài rìa thung lũng.

Chuôi kiếm bằng gỗ sồi quấn dây gai thô ráp cọ vào lòng bàn tay chai sần của cô. Lưỡi kiếm đen sì, dày bản, bóng nhờn một lớp mỡ bò chống rỉ sét, phản chiếu ánh trăng nhờ nhợ như một dải nước đục.

Cánh tay trái của cô vẫn buông thõng sát sườn, nẹp tre áp chặt mu bàn tay bị bỏng sâu. Từng lớp băng vải xám cọ vào gấu áo chàm phát ra những tiếng sột soạt rất khẽ theo từng nhịp phập phồng của lồng ngực. Cơn đau từ màng xương vẫn âm ỉ nhức nhối, nhưng tâm trí cô lúc này đã hoàn toàn tách rời khỏi cảm giác đau đớn ấy.

Ninh Chiêu nhắm nghiền hai mắt lại.

Trong bóng tối sâu thẳm sau mi mắt, cô không nhìn thấy đao quang kiếm ảnh rực rỡ, cũng không mộng tưởng đến những kiếm chiêu kinh thiên động địa có thể xẻ núi lấp biển của các bậc đại năng.

Trước mắt cô lúc này chỉ hiện lên từng lời chỉ dẫn cộc lốc, khô khốc của Tống Hoài trên bậc đá sa thạch. Cô nhìn thấy ánh mắt sắc lạnh, vô cảm của Lê Vãn bên bờ giếng cạn. Cô nhìn thấy bàn tay khẳng khiu của bác sĩ Trần Mộc khi hạ nắp chiếc rương gỗ lim khóa hai tầng. Và cô nhìn thấy đôi bàn tay chết cóng, trắng bệch như sáp nến của những người phu dịch câm lặng dưới chân đài Huyền Khuyết.

Sự thật không nằm ở những suy đoán viển vông hay những cơn thịnh nộ bộc phát. Sự thật là một kết cấu cơ học nặng nề, tàn nhẫn và lạnh lùng, đòi hỏi từng bánh răng, từng then chốt phải ăn khớp với nhau một cách tuyệt đối chính xác, không được phép dung thứ cho một li sai số nào.

Muốn sống sót để đào bới đến tận cùng cỗ máy ngầm đang nghiền nát xương tủy của những kẻ khốn cùng, trước hết, cô phải giữ được mạng sống của chính mình trước những mũi kiếm thật của viện Chấp Pháp.

Ninh Chiêu thở ra một hơi dài qua kẽ răng, luồng khí nóng tan biến vào màn đêm băng giá.

Cô buông lỏng hai bờ vai. Khối cơ thang dọc hai bên cổ thả lỏng hoàn toàn.

*Bản lề trơn dầu. Không khóa chết.*

Cô bắt đầu bước lùi bước thứ nhất.

Mũi chân phải miết nhẹ trên mặt đất nện, hông xoay nhẹ một góc ba mươi độ. Trọng tâm cơ thể từ từ trượt ra phía sau một cách êm ái mà không làm lay động trục thẳng đứng của cột sống. Thanh kiếm phôi nặng năm cân trong tay phải cô hơi chúc mũi xuống đất, tạo thành một góc nghiêng bốn mươi lăm độ phòng hộ tự nhiên trước lồng ngực.

Bước thứ hai.

Bàn chân trái rút về sau một nhịp cực êm, gót chân khẽ chạm lớp đất đá dăm. Đầu gối trái hơi chùng xuống, đón lấy toàn bộ tải trọng của thân thể mà không gây ra một rung chấn nào lên khớp háng. Khớp xương chậu mở ra nhẹ nhàng, đón nhận lực trượt của bước lùi rồi truyền dẫn một cách trơn tru ngược lên vùng thắt lưng.

Bước thứ ba.

Trọng tâm hạ sâu xuống đáy đan điền. Đúng vào khoảnh khắc mũi chân phải vừa chạm đất để khóa cứng cự ly sinh tử, cánh tay phải của Ninh Chiêu hoàn toàn không dùng sức giật của cơ vai để vung chém.

Cô mượn trọn vẹn lực xoay của trục xương chậu đang bật ngược trở lại! Khớp bả vai phải thả lỏng tuyệt đối như một ổ bi ngâm dầu tráng mỡ, để cho quán tính của năm cân thép non tự dẫn dắt cẳng tay quét ra một đường gạt ngang sắc ngọt từ dưới hất lên!

*Vút!*

Lưỡi kiếm sắt xé toạc không khí đêm đen bằng một tiếng rít trầm đục, chuẩn xác, vẽ nên một vòng cung bán nguyệt hoàn hảo chắn ngang tầm ngực.

Thanh kiếm dừng lại bất động giữa không trung, vững chắc như một khối đá tảng cắm sâu vào lòng đất.

Cổ tay phải của Ninh Chiêu không hề bị rung lắc. Khớp bả vai phải không hề bị giật cục hay nhấc bổng lên. Và điều quan trọng nhất: chấn động lực sinh ra từ đòn gạt ngang nặng nghìn cân ấy đã hoàn toàn triệt tiêu dọc theo hai bên sống lưng, truyền thẳng xuống hai bàn chân đang bám chặt vào mặt đất nện!

Không có một tia phản chấn nào truyền sang bả vai trái. Không có một chấn động nào làm lay động mu bàn tay trái đang quấn băng nẹp tre của cô.

Không có đau đớn. Không có sự bục vỡ của vết thương cũ.

Ninh Chiêu từ từ hạ mũi kiếm sắt xuống đất, lồng ngực phập phồng một nhịp thở sâu thẳm, êm ái và dài dặc. Một cảm giác nhẹ nhõm, tự do kỳ lạ len lỏi vào từng thớ cơ, từng khớp xương của cô.

Cô đã làm được. Cô đã bước qua cánh cửa đầu tiên của tầng đáy Luyện Thân—không phải bằng linh đan diệu dược của kẻ thống trị, mà bằng chính kỷ luật sắt đá và sự thấu hiểu sâu sắc về cơ học của một người thợ rèn.

*Keng... Keng... Keng...*

Đột nhiên, từ phía cổng chính của ngoại viện, ba tiếng mõ đồng đanh gọn, vang dội xé toạc màn đêm tĩnh mịch của thung lũng, dội ngược vào vách đá dựng đứng của đỉnh Lạc Hạc từng hồi gấp gáp.

Tiếp theo tiếng mõ đồng là tiếng bước chân rầm rập của đội hộ vệ áo giáp đen, tiếng bánh xe ngựa bịt sắt nghiến sỏi lạo xạo trên đường dốc lát đá, và tiếng hô lớn của chấp sự trực cổng vọng lại qua một chiếc loa đồng cỡ lớn:

"Mở cổng y xá! Đốt đuốc sân trong! Toàn bộ thợ phụ và phu dịch tập hợp tại sân Bạch Thạch tiếp giá!"

Ninh Chiêu giật mình quay phắt đầu lại về phía con đường dẫn vào ngoại viện. Ánh đuốc đỏ rực bốc lên ngùn ngụt từ con đường lát đá dẫn từ chân núi lên, hắt những cái bóng dài ngoằng, ma quái lên các bức tường vôi trắng của dãy nhà kho.

Tiếng mõ đồng vang lên từ cổng viện: Quan Tế Đỗ Kính đích thân đến y xá phát thuốc trị tro định kỳ cho các trấn dưới núi.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn