Kiếm Cốt Dưới Tro — Phần 1: Cửa Trời Không Có TiênC.9 / 40
Chương 9

Cổng núi không mở vì lời cầu

Bậc thang đá xanh dẫn lên cổng Thanh Lư Tông phủ một lớp rêu trơn ướt tro núi, chen chúc hàng trăm người mang theo đơn xin nhập môn, quà biếu và những thúng nông sản địa phương.

Mưa phùn đầu đông lất phất quyện với bụi tro xám đục từ đỉnh Lạc Hạc phả xuống, bám vào từng vạt áo tơi thô rách, biến mặt đá thành một dải trơn trượt như bôi mỡ. Mùi mồ hôi người hầm hập chen lẫn mùi bùn đất, mùi thảo dược rẻ tiền và khói than non ngún dở từ những bếp dã chiến dựng vội ven đường. Cứ cách mười bậc, hai tên tạp dịch ngoại môn lại cầm gậy sắt bịt đồng gõ mạnh xuống nền đá, tiếng kim loại va vào phiến đá ướt phát ra những âm thanh khô khốc, xua đuổi những kẻ không có giấy tờ bảo lãnh hoặc cố tình chen lấn để tranh một chỗ đứng khô ráo dưới tán thông già.

Ở phía hữu ngạn cổng vòm, nơi cắm lá cờ viền chỉ bạc thêu ba chữ "Khảo Kiếm Đường" đang phần phật bay trong gió lạnh, đoàn người xếp hàng dài dằng dặc. Đa phần là con em các dòng họ có máu mặt ở các trấn lân cận, vận áo gấm bó ống tay, chân xỏ hài da dê chống nước, thắt lưng da bò nạm ngọc đeo những thanh trường kiếm bọc bao da tinh xảo. Gương mặt ai nấy đều bừng lên nét kiêu hãnh xen lẫn vẻ nôn nóng được chạm tay vào trụ đá đo lường, được các chấp sự kiểm tra linh căn để bước vào con đường kiếm đồ danh giá. Thỉnh thoảng, một cỗ xe ngựa hai bánh bịt kín rèm the lộc cộc lăn qua lối dành riêng cho khách quý, để lại vệt bánh xe hằn sâu trên lớp tro ẩm, kéo theo những ánh nhìn ghen tị của đám đông đứng chờ dưới mưa.

Ninh Chiêu không đứng ở hàng đó.

Cô đứng nép ở lối rẽ phía tả, nơi chỉ có một chiếc lán bạt màu chàm xập xệ, mép vải rách bươm đang run rẩy theo từng cơn gió núi. Trước lán, người ta cắm một tấm biển gỗ bồ đề mốc meo khắc chìm hai chữ: "Công Tượng".

Hàng người ở đây thưa thớt, nhưng ai nấy đều mang vẻ nhọc nhằn chai sạn của những kẻ đã nếm đủ mùi cơ cực. Họ là những phu đá từ mỏ Lạc Hạc với bàn tay to bè nứt nẻ như vỏ cây khô, thợ mộc từ vùng hạ lưu mang theo hòm cưa đục nặng trĩu, hoặc những người thợ rèn thất cơ lỡ vận từ các lò rèn tư nhân bị phủ Quan Tế siết nợ sau mùa tro vừa rồi. Quần áo họ bết bùn, đầu gối thủng vải thô để lộ những vết sẹo do đá dăm cào xước, vai đeo bọc dụng cụ gỉ sét được bọc tạm trong những manh bao tải gai ẩm ướt. Không ai nói chuyện với ai; tiếng thở dài nặng nhọc hòa lẫn vào tiếng nước mưa nhỏ giọt từ mái bạt rách xuống những vũng nước đục ngầu dưới chân.

"Người kế tiếp. Giấy tờ đâu? Nhanh cái tay lên, đừng để gió lùa vào lò sưởi!"

Gã chấp sự ngồi sau chiếc bàn gỗ dài bằng sồi đỏ gắt gỏng trừng mắt nhìn xấp đơn lem nhem, tay phe phẩy chiếc bút lông đã cùn ngọn. Dưới chân gã đặt một chậu than sưởi nhỏ bằng đồng hun, than củi cháy đỏ rực tỏa ra hơi ấm hiếm hoi trong gian lán lạnh lẽo. Trên mặt bàn, nghiên mực chu sa đã đóng một lớp váng bụi xám tro, bên cạnh là một chồng thẻ gỗ tạp dùng để phát cho những kẻ qua được vòng xét duyệt hồ sơ ban đầu.

Ninh Chiêu bước lên một bước. Đôi giày vải thô của cô ngấm nước lạnh buốt, phát ra tiếng lép nhép trên phiến đá nứt. Cô hạ thấp vành nón mê rách tơi tả, để lộ nửa dưới gương mặt gầy guộc nhưng vuông vức, làn da mai mái vì sương gió và những vệt khói lò ăn sâu vào từng lỗ chân lông. Cô chìa ra mảnh giấy bản đã ố vàng bằng tay phải. Đó là một bàn tay thô ráp khác thường đối với nữ giới, các khớp xương to bè, mu bàn tay sần sùi những chấm sẹo li ti màu tím nhạt—dấu tích không thể xóa nhòa của những vụn mạt sắt bắn vào suốt mười mấy năm đứng bên đe lửa đỏ.

"Ninh Chiêu. Thợ rèn xưởng Lò Ninh, trấn Lò Khê. Xin nộp ngạch bảo trì khí cụ và lò than ngoại viện," giọng cô khàn đục vì sương lạnh và chứng rát họng kinh niên của thợ lò.

Gã chấp sự khẽ nhướng một bên mày rậm, liếc nhìn cô từ đầu đến chân bằng ánh mắt dửng dưng xen lẫn khinh bỉ. Tại các tông môn tu tiên như Thanh Lư Tông, thợ công tượng ngoại môn thực chất chỉ là đám tôi đòi hạ đẳng, đảm nhận những phần việc nặng nhọc và nhơ bẩn nhất: quét dọn xỉ than độc hại, thông các ống dẫn khí ngầm trong lòng vách đá, và sửa chữa những thanh kiếm gỗ hay giáp sắt gãy vỡ của đám đệ tử sơ cấp sau các buổi tập luyện. Đã thế, một người đàn bà nộp đơn vào ngạch thợ rèn—công việc nặng nhọc đến mức những gã đàn ông lực lưỡng nhất vùng mỏ cũng phải còng lưng, gãy khớp sau mười năm—lại càng là chuyện hiếm thấy, nếu không muốn nói là một trò cười lố bịch.

"Xưởng Lò Ninh?" Gã lật lật cuốn sổ dày cộp bọc da cừu, ngón tay dính mực dừng lại ở một trang giấy lem nhem muội than. "Chẳng phải là cái lò vừa bị quản sự Đỗ Tuyên của phủ Quan Tế niêm phong vì vi phạm định ngạch than đá và có tai nạn cháy nổ làm chết người sao? Chủ lò cụt chân hay gãy tay mà lại để một đứa đàn bà mang đơn lên núi thế này? Ở đây chúng ta cần phu quai búa, không cần người nấu cơm thổi lửa."

"Lò tạm đóng vì sự cố hỏa hoạn, chủ lò là cha tôi đã mất tích nhiều năm," Ninh Chiêu đáp, giọng không hề gợn sóng, ánh mắt nhìn thẳng vào chóp mũi gã chấp sự mà không hề né tránh. "Tôi giữ lò mười một năm, biết rèn thép cán, biết tôi nước khoáng và sửa khớp then guồng dẫn khí. Viện Công Tượng thông báo thiếu thợ bảo trì trước mùa gió tro, tôi đến nộp đơn theo đúng lệnh thông cáo dán tại đình chợ Lò Khê."

Gã chấp sự cười khẩy một tiếng đầy mỉa mai, ném phịch tờ giấy bản xuống mặt bàn đầy bụi:

"Biết gõ búa vài nhát ở xóm thợ rách rưới mà cũng dám coi mình là thợ công tượng của tông môn sao? Lên đây không phải để rèn mấy cái lưỡi cuốc hay dao băm bèo cho đám nông phu đâu. Thép của tông môn là hàn thiết, là huyền ngân nung chảy bằng linh hỏa, chạm vào một chút là cháy rụi da thịt. Cút về hạ trấn mà quét xỉ than đi, đừng làm bẩn chiếu thi tuyển của bản viện. Người tiếp theo!"

Ninh Chiêu không nhúc nhích. Bàn chân đi giày vải thô của cô bám chặt xuống phiến đá ướt tro, các ngón chân bấm chặt như muốn bám rễ vào nền đá lạnh. Lưng cô thẳng tắp như chiếc đe gang chôn chân dưới đất, chiếc áo cộc chàm bạc phếch ướt sũng nước mưa dán chặt vào đôi vai rộng và rắn chắc.

"Trong cáo thị dán ở cổng Lò Khê ghi rõ: người có kinh nghiệm thực tế qua ba năm tại các xưởng thuộc mạng lưới cung ứng đều được quyền dự hạch," cô chậm rãi nói, từng từ phát ra rõ ràng, chắc nịch như tiếng đe gõ nhịp đều đặn trong đêm vắng. "Hồ sơ của tôi có mộc triện kiểm định chất lượng khí cụ của Viện chủ Cố Thanh ký mười một năm trước trong đợt nghiệm thu giàn khoan mỏ Lạc Hạc. Chấp sự nếu muốn bác đơn, xin vui lòng đóng dấu mực đen ghi rõ lý do vào mặt sau tờ giấy này, để tôi mang xuống đối chất với phòng Tiếp Liệu dưới chân núi."

Cái tên "Cố Thanh" thốt ra từ miệng cô khiến nét mặt gã chấp sự cứng đờ lại. Đôi mắt ti hí của gã nheo lại, nhìn chằm chằm vào vết mộc tròn mờ nhạt nhưng sắc nét bằng mực chu sa cổ ở góc dưới tờ giấy ố vàng. Đúng là triện thụ lý đặc thù của Viện Công Tượng thời kỳ trước—thời điểm mà Cố Thanh còn nắm thực quyền phân phối vật tư trước khi lui về bế quan tĩnh dưỡng. Một dấu triện như thế này, đám thợ hạ đẳng bình thường tuyệt đối không thể có được. Gã chấp sự thoáng chốc cảm thấy lúng túng, bàn tay cầm bút khẽ run lên. Nhưng thói hống hách lâu năm của một kẻ gác cổng tông môn không cho phép gã chịu lép vế trước một đứa thợ rèn quê mùa. Gã đang định đập bàn quát mắng để lấy lại thể diện thì một bóng người từ phía sau tấm màn trướng ngăn lán bạt chậm rãi bước ra.

"Có chuyện gì ồn ào ở đây?"

Tiếng nói lạnh lùng, dứt khoát như tiếng lưỡi gươm tuốt khỏi vỏ bao giữa trời đông tuyết phủ.

Gã chấp sự lập tức đứng bật dậy, chiếc ghế gỗ sau lưng gã kêu kin kít trên nền đá. Gã khom lưng, hai tay chắp lại trước ngực, giọng điệu chuyển thoắt sang vẻ nịnh bợ khúm núm: "Hạ sư tỷ! Người sao lại đích thân ra đây... Chỉ là một kẻ cứng đầu dưới lò rèn Lò Khê muốn nộp đơn vào chân thợ phụ, nhưng lai lịch không rõ ràng, tay chân lại có vẻ không lành lặn..."

Hạ Từ không thèm liếc nhìn gã lấy nửa mắt. Nàng bước đến cạnh bàn gỗ, những giọt mưa tro vương trên vạt áo choàng xanh thẫm của nàng khẽ trượt đi như nước đổ lá sen. Đó là y phục của đệ tử nội môn, dệt bằng tơ tằm băng tuyết không dính một hạt bụi trần. Sau lưng nàng, một thanh trường kiếm có chuôi quấn dây gai đen tuyền được đeo chéo gọn gàng, toát ra hàn khí nhàn nhạt. Đôi mắt nàng hẹp dài, sắc bén như lưỡi dao cạo, đảo qua một lượt từ chiếc bao tải thô rách vắt trên vai Ninh Chiêu cho đến đôi giày vải sũng nước bùn của cô.

Hạ Từ chính là người phụ trách an ninh và trật tự toàn bộ khu vực khảo nghiệm ngoại môn hôm nay. Nàng nổi tiếng trong giới chấp pháp là kẻ tàn nhẫn, tỉ mỉ và không bao giờ để lọt một chi tiết bất thường nào. Trên tay trái nàng cầm một cuốn sổ tay bọc da trâu sẫm màu, các mép giấy bị lật nhiều đến mức cong queo, mép giấy lộ ra những vệt mực đỏ chằng chịt.

"Bỏ hành lý xuống bàn," Hạ Từ ra lệnh, giọng bình thản nhưng mang theo uy áp trầm mặc của một tu sĩ đã bước vào cảnh giới Kết Cốt. Áp lực vô hình tỏa ra từ cơ thể nàng khiến không khí trong lán bạt như đặc quánh lại, mấy gã phu đá đứng phía sau Ninh Chiêu bất giác rùng mình, lùi lại hai bước.

Ninh Chiêu không nói một lời. Cô tháo chiếc bao tải thô cùng bọc túi da bò đeo chéo hông đặt lên mặt bàn đá bên cạnh chiếc chậu than sưởi.

Hạ Từ vươn những ngón tay thon dài, trắng muốt nhưng có những vết chai ở kẽ ngón—vết tích của người luyện kiếm lâu năm—gạt mở chiếc bao tải. Bên trong chỉ có hai bộ quần áo vải thô bạc phếch đã giặt sạch nhưng còn vương mùi khói than nồng nặc, một túi lương khô ngô hạt rang cứng ngắc và chiếc bình nước bằng thiếc gõ móp méo ở phần đáy. Chẳng có gì đáng ngờ.

Nàng tiếp tục mở chiếc khóa cài bằng đồng xỉn màu của túi da bò. Khi những dụng cụ bên trong lộ ra, đuôi mắt Hạ Từ khẽ động đậy. Một hàng đục thép gió mài vát góc hoàn hảo, kìm mỏ quạ đúc bằng sắt xám dày dặn, thước đo góc bằng đồng đỏ có khắc vạch ly ti, và chiếc búa con bọc cán da trâu đã mòn vẹt nơi ngón tay cầm. Mọi thứ kim loại ở đây đều không hề có một chấm gỉ sét, dù chúng đã trải qua hàng ngàn giờ tiếp xúc với mồ hôi và hơi ẩm. Bề mặt thép óng lên một màu lam đen sâu thẳm—thứ ánh sắc chỉ xuất hiện khi kim loại được tôi luyện nhiều lần trong dầu khoáng thượng hạng bởi một bàn tay cực kỳ am hiểu ngọn lửa.

Đó là đồ nghề của một người thợ rèn thực thụ, một kẻ sống chết với nghề chứ không phải phường vụng trộm chắp vá.

Nhưng ánh mắt sắc như dao của Hạ Từ lập tức dời khỏi bộ đục, dừng lại trên cánh tay trái của Ninh Chiêu.

Từ nãy đến giờ, Ninh Chiêu vẫn luôn buông thõng cánh tay ấy bên mạn sườn, giấu nửa phần cẳng tay dưới lớp áo cộc rộng thùng thình. Dưới ánh sáng ban ngày mờ ảo hắt vào từ cửa lán, lớp băng vải gai dày cộm quấn quanh mu bàn tay và cổ tay trái của cô hiện ra rõ mồn một. Lớp vải thô màu nâu xám bốc lên mùi ngai ngái nồng đặc của mỡ trăn quyện với bột tro thảo dược khử trùng—thứ mùi đặc trưng và xót xa của những vết bỏng sâu do sắt nóng đè nát da thịt.

Hạ Từ bước tới nửa bước. Bàn tay phải nàng đặt hờ lên chuôi kiếm sau lưng, tay trái đưa ra nhanh như chớp, nắm chặt lấy cổ tay trái của Ninh Chiêu kéo mạnh lên khỏi vạt áo.

"Ách..."

Cơn đau buốt nhói chạy dọc theo các dải gân bị co rút, xộc thẳng lên tủy sống khiến đồng tử Ninh Chiêu co thắt lại trong tích tắc. Cảm giác như có hàng ngàn mũi kim nung đỏ cắm sâu vào màng xương. Nhưng cô cắn chặt chân răng, cơ mặt cứng đờ như một khối đá tảng, không hề phát ra một tiếng rên rỉ nào. Chỉ có hơi thở của cô khẽ ngưng bặt trong lồng ngực.

Hạ Từ không buông tay, nàng dùng ngón trỏ ấn nhẹ vào phần thịt dưới lớp băng vải:

"Bỏng lửa độ ba, gân duỗi co rút, nẹp gỗ cố định bốn ngón," Hạ Từ lạnh lùng bóc trần tình trạng thương tật chỉ qua một cái nhìn và cái chạm ngón tay chuẩn xác. Nàng nhìn thẳng vào mắt Ninh Chiêu, ánh mắt lạnh băng không một chút gợn: "Bàn tay trái này coi như phế rồi. Tay không giữ được kìm kẹp phôi, ngón không co duỗi được để xoay thép trên mặt đe, cô lấy cái gì để quai búa? Viện Công Tượng tuyển thợ vào núi đợt này là để làm việc suốt ngày đêm, gia cố lò hơi và đập chắn chuẩn bị cho mùa gió tro sắp quét qua đỉnh Lạc Hạc, chứ không phải nơi phát cháo từ thiện hay dưỡng lão cho thương binh tàn tật."

Gã chấp sự ngồi cạnh thấy có chỗ dựa, lập tức vỗ bàn hùa theo: "Đúng thế! Hạ sư tỷ nói chí phải! Bàn tay như cái vuốt gà khô queo thế kia thì nhấc nổi thanh sắt hai mươi cân không? Để nó vào lò rèn chỉ tổ vướng chân vướng tay, làm hỏng việc của tông môn! Mau cút xéo đi kẻo làm tắc cổng khảo hạch!"

Đám đông thợ thuyền đứng sau bắt đầu xì xào bàn tán. Những ánh mắt thương hại, ái ngại và cả những cái lắc đầu ngầm đổ dồn về phía Ninh Chiêu. Ở cái thời buổi tro núi ngập tràn này, tàn phế đồng nghĩa với chết đói; một thợ rèn hỏng mất một tay thì giá trị chẳng bằng một bao tải xỉ than vụn.

Ninh Chiêu khẽ giật cổ tay ra khỏi tầm kìm kẹp của Hạ Từ. Lần này, cô không giấu cánh tay bị thương sau vạt áo nữa. Cô để mặc lớp băng vải lộ ra giữa không khí ẩm lạnh, ánh mắt đen thẳm, sâu hun hút như lòng giếng cạn quét qua khoảng sân đất nện lầy lội phía sau lán tiếp nhận hồ sơ.

Nơi đó, cạnh một đống than đá chất cao như ngọn đồi nhỏ phủ bạt rách, có một chiếc đe phụ bằng gang đúc cắm sâu xuống đất và một rổ sắt phế liệu ngổn ngang. Đó là những trục kiếm thép rèn hỏng của đợt thử lò hôm qua bị vứt lăn lóc, chuẩn bị đưa vào lò nấu chảy lại để làm phôi thô.

"Thợ rèn dở nhìn vào búa. Thợ rèn giỏi nhìn vào thớ thép," Ninh Chiêu cất giọng, âm điệu phẳng lặng nhưng vang rền giữa màn mưa tro lất phất, át đi cả tiếng xì xào của đám đông. "Có những việc, kẻ cậy sức hai tay chưa chắc đã làm nổi bằng một người hiểu được độ co giãn của kim loại."

Hạ Từ khẽ nheo mắt lại, bàn tay đang đặt trên chuôi kiếm siết nhẹ: "Cô muốn chứng minh điều gì?"

Ninh Chiêu không đáp lời bằng miệng. Cô quay người, sải bước đi thẳng tới đống phế liệu sắt gỉ.

Dưới ánh nhìn soi mói của hàng chục con người, cô cúi người xuống. Dùng duy nhất bàn tay phải lành lặn nhưng gân guốc, cô luồn ngón tay vào giữa đống sắt vụn, nhấc bổng một thanh trục kiếm thép dài gần bốn thước lên khỏi mặt đất. Thanh thép nặng chừng mười lăm cân, thân dày bản, phát ra tiếng va chạm nặng nề khi cô nhấc nó lên khỏi đống phế liệu.

Đó là một phôi kiếm bằng thép rèn gập nhiều lớp, nhưng do người thợ non tay non nhiệt làm nguội không đều trong bể tôi, thân trục đã bị vặn xoắn thành một đường cong quẹo gãy khúc chừng hai mươi độ ở đoạn giữa. Loại trục kiếm rèn lỗi này vốn dĩ là cơn ác mộng của thợ rèn: bên trong nó chứa đầy ứng suất nội tại cực lớn, mạng tinh thể kim loại bị xô lệch và căng cứng; thép đã tôi nguội thì giòn như thủy tinh, nếu dùng búa tạ nện nguội thông thường để nắn thẳng thì chỉ sau ba nhát gõ, thanh kiếm sẽ lập tức gãy làm đôi với một tiếng nổ sắc bén; còn nếu đưa vào lò nung nóng lại, thớ thép đã gấp lớp sẽ bị cháy kiệt carbon, biến thanh kiếm thành sắt xốp vô dụng.

Ninh Chiêu không hề bước tới chiếc đe gang, cũng không thèm nhìn đến chiếc búa tạ mười cân đang dựng bên cạnh.

Cô bước tới mép một khối đá tảng hoa cương xám dùng làm bậc kê chân cho giàn đe rèn. Khối đá này nằm phơi mưa nắng nhiều năm, có một khe nứt tự nhiên ăn sâu vào lòng đất, mép đá sắc lẻm và cứng như sắt nguội.

Ninh Chiêu luồn mũi trục kiếm thép vào khe nứt của tảng đá, khóa chết điểm tựa đầu tiên bằng chính góc nghiêng của phiến đá hoa cương. Tay phải cô nắm chặt lấy phần đốc trục tròn, gân xanh nổi cuồn cuộn dưới làn da ngăm đen muội than. Bàn tay trái mang nẹp gỗ ép chặt sát vào mạn sườn, hoàn toàn không tham gia vào lực kéo hay chịu tải.

Cô hạ thấp trọng tâm cơ thể.

Trong khoảnh khắc ấy, toàn bộ tư thế của cô biến đổi hoàn toàn. Bộ pháp vững chãi mà Tống Hoài đã rèn cho cô trên ba mươi viên gạch nghiêng suốt những ngày giông bão ở lò rèn cũ lập tức phát huy tác dụng. Khí tức chìm sâu xuống đan điền, hai bàn chân cắm chặt xuống nền bùn đá như rễ cây cổ thụ bám vào vách núi, phân bổ lực đều khắp từ hông sang bắp đùi, biến cả thân dưới thành một bệ đỡ cơ học bất di bất dịch.

Ninh Chiêu không dùng cơ tay để giật. Bất kỳ ai dùng sức tay kéo thanh thép này đều sẽ bị lực đàn hồi giật gãy khớp vai.

Cô đưa đầu gối chân phải lên, tì thẳng vào điểm uốn lồi nhất của thanh thép gãy khúc. Cô biến chính cẳng chân và khớp gối bọc giáp da thô của mình thành một chiếc đòn bẩy thứ hai, tạo thành thế gọng kìm ba điểm hoàn hảo theo nguyên lý đòn bẩy lệch tâm.

"Răng rắc..."

Một chuỗi âm thanh rợn người phát ra từ sâu bên trong lõi thép. Đó là tiếng các thớ thép bị kéo giãn và sắp xếp lại dưới áp lực cơ học cực hạn.

Mặt đất dưới chân Ninh Chiêu lún xuống một tấc, lớp bùn ướt tro bắn tung tóe ra xung quanh mép giày. Trán cô nổi rõ những đường gân xanh, mồ hôi lạnh túa ra hòa lẫn với nước mưa chảy dài xuống cằm. Ninh Chiêu hít một hơi sâu, nín thở. Đôi mắt cô dán chặt vào vết vặn xoắn trên bề mặt kim loại xám xịt. Cô không nhìn vào toàn bộ thanh kiếm, mà đang dùng trực giác và sự nhạy cảm nghề nghiệp tích lũy qua hàng ngàn mẻ thép của Lò Ninh để "đọc" từng đường vân thép đang căng ra như dây đàn.

Cô cảm nhận được qua lớp giáp da ở đầu gối: kim loại đang kháng cự, rung lên bần bật, rồi từng tinh thể sắt bắt đầu nhượng bộ, trượt lên nhau ngay trước khi chạm tới giới hạn đứt gãy giòn.

"Ưm!"

Một tiếng gầm trầm đục nén chặt trong lồng ngực. Ninh Chiêu siết cơ bụng đến cực hạn, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể kết hợp với lực tì không thể lay chuyển của khớp gối và lực kéo chuẩn xác của cánh tay phải, giật mạnh một nhịp dứt khoát về phía sau!

*Keng!*

Một âm thanh trong trẻo, đanh thép ngân dài xé toạc màn sương mù ẩm ướt của buổi sớm.

Không có tiếng búa nện chát chúa, không có than hồng hay lửa đỏ rực rỡ. Thanh trục kiếm thép rèn lỗi bật thẳng tắp ra khỏi khe đá hoa cương. Đường cong hai mươi độ quẹo gãy biến mất hoàn toàn, trở lại thành một dải thép thon dài, phẳng lỳ như vừa được cán qua một con lăn cơ khí khổng lồ. Bề mặt thép không hề xuất hiện một vết nứt chân chim nào, các lớp rèn gập vẫn phẳng phiu, nguyên vẹn.

Ninh Chiêu từ từ đứng thẳng người dậy. Lồng ngực cô phập phồng điều hòa lại nhịp thở sâu theo đúng ba nhịp dài ngắn mà Tống Hoài từng bắt cô luyện tập thâu đêm. Cô buông lỏng ngón tay, xoay nhẹ cổ tay phải đã mỏi nhừ, rồi đặt thanh kiếm thép đã nắn thẳng nằm ngay ngắn lên chiếc bàn gỗ trước mặt Hạ Từ.

Xung quanh hoàn toàn im bặt. Chỉ còn tiếng mưa tro tí tách rơi trên mái bạt chàm rách nát.

Gã chấp sự ngồi há hốc mồm, chiếc bút lông trên tay rơi cạch xuống nghiên mực đỏ, mực chu sa bắn tung tóe lên xấp giấy tờ hồ sơ. Hắn là người trông coi kho xưởng nhiều năm, hắn thừa hiểu nắn nguội một thanh thép rèn lỗi khó đến mức nào; ngay cả những thợ cả hai tay lành lặn, dùng búa con gõ đe nhả lực suốt ba canh giờ cũng chưa chắc giữ cho thanh kiếm không bị nứt ngầm bên trong. Vậy mà một đứa đàn bà tàn phế, chỉ dựa vào một tảng đá, một khớp gối và một cánh tay, lại có thể khuất phục thanh thép trong chớp mắt.

Hạ Từ nhìn chằm chằm vào thanh thép thẳng tắp trên bàn, rồi ánh mắt nàng từ từ trượt xuống, dừng lại ở hai dấu chân lún sâu đều đặn trên nền bùn đá dưới chân Ninh Chiêu. Đôi mắt nàng lóe lên một tia sắc lạnh đầy dò xét và cảnh giác.

Người ngoài nghề chỉ nhìn thấy sức mạnh cơ bắp và sự liều lĩnh của một người thợ, nhưng một kiếm tu đã đạt tới cảnh giới Kết Cốt như Hạ Từ lập tức nhận ra chân tướng: lực đòn bẩy vừa rồi tuyệt đối không đơn thuần là sức mạnh thô thiển. Đó là sự phối hợp hoàn hảo đến rợn người của bộ pháp hạ bàn, khả năng triệt tiêu phản lực từ xương cốt xuống lòng đất, và điểm đặt lực chính xác đến từng phân ly—thứ kỹ năng chỉ có thể xuất hiện ở những kẻ từng trải qua khổ luyện sinh tử trên chiến trường hoặc dưới sự chỉ điểm của một bậc thầy về lực đạo.

Hạ Từ cúi xuống, lật mở cuốn sổ tay bọc da trâu sẫm màu của mình. Trên một trang giấy trắng còn thơm mùi mực mới, nàng dùng ngón tay chấm nhẹ một vệt mực chu sa, viết thoăn thoắt những dòng chữ sắc sảo:

*Ninh Chiêu — Thợ rèn xóm than Lò Khê. Bỏng nặng tay trái, mất khả năng cầm nắm chi tiết. Thể lực dị thường, bộ pháp hạ bàn có căn cơ kiếm phái cổ, hiểu sâu cấu trúc kim loại.*

Viết xong, nàng gấp cuốn sổ lại bằng một tiếng *bộp* khô khốc. Hạ Từ rút từ thắt lưng ra một tấm thẻ bài bằng gỗ thị gai màu vàng nghệ—loại gỗ chỉ dùng cho hạng thợ phụ việc nặng nhọc nhất ngoài rìa tông môn. Nàng dùng đầu móng tay sắc như thép khía một vết cắt sâu vào góc thẻ, rồi ném cạch xuống mặt bàn trước mặt Ninh Chiêu.

"Thẻ bài thợ phụ tạm thời," Hạ Từ cất giọng lạnh tanh, không hề có lấy một tia khen ngợi hay thán phục, ánh mắt nhìn Ninh Chiêu như nhìn một thứ công cụ có ích nhưng tiềm ẩn hiểm họa. "Ghi chú: Giám sát cấp ba. Chỉ được phép hoạt động trong phạm vi lò than và xưởng mài rìa ngoại viện. Nếu bước chân qua khỏi ranh giới cọc tiêu đỏ dẫn vào khu tu luyện nội môn, chấp pháp viện sẽ lập tức phế bỏ thẻ bài, bẻ gãy hai chân và trục xuất xuống núi. Nhận lấy rồi qua cổng."

Ninh Chiêu không nói lời cảm ơn sáo rỗng. Cô đưa bàn tay phải thô ráp cầm lấy tấm thẻ bài gỗ còn vương mùi nhựa tươi đắng ngắt.

"Đa tạ Hạ sư tỷ."

Cô nhanh nhẹn thu dọn bộ đục của cha vào túi da bò, thắt chặt lại miệng bao tải thô rồi khoác lên vai. Bước qua bậc ngưỡng cửa đá trơn trượt dẫn vào con đường đá dốc của ngoại viện, Ninh Chiêu khẽ liếc mắt nhìn lại phía sau lán bạt.

Hạ Từ vẫn đứng đó, ngọn gió núi thổi tung tà áo choàng xanh thẫm. Tay nàng đang lật giở một trang khác trong cuốn sổ tay bọc da trâu. Trong khoảnh khắc cuốn sổ mở rộng theo chiều gió, Ninh Chiêu kịp nhìn thấy những dòng chữ mực đỏ dày đặc ở trang trước: đó là danh sách ghi chép họ tên, quê quán và ngày giờ biến mất của mười hai đệ tử ngoại viện thuộc đội tuần tra đêm—những kẻ đã vắng mặt không rõ lý do trong suốt hai tháng qua. Bên cạnh mỗi cái tên đều có một dấu gạch chéo màu đen lạnh lẽo, kèm theo ký hiệu hình thoi của các trạm nạp lực ngầm.

Mối nghi ngờ trĩu nặng bấy lâu trong lòng Ninh Chiêu càng thêm đông cứng lại. Cô siết chặt quai túi da, bước chậm lại bên mép đường đá dốc, nép mình vào bóng của một bức tường đá rêu phong để chờ đợi hai người đồng hành.

***

Cách đó chừng trăm trượng, tại cổng chính bằng đá hoa cương trắng dẫn thẳng vào khu vực khảo hạch linh lực của Khảo Kiếm Đường, bầu không khí bỗng chốc trở nên hỗn loạn dữ dội.

"Lùi lại! Cút ngay ra sau rãnh nước! Kẻ tàn phế không có tư cách bước lên thềm đá Bạch Ngọc!"

Tiếng quát tháo dữ dằn của hai đệ tử chấp pháp áo xám vang lên, xé toạc màn mưa phùn. Kèm theo đó là tiếng va chạm chát chúa của những ngọn giáo sắt bịt đầu nhọn chặn ngang lối đi bằng đá trắng muốt.

Một bóng người gầy guộc, mặc chiếc áo tơi tơi tả khoác ngoài tấm áo vải thô vá chằng vá đụp đang loạng choạng lùi lại nửa bước trên bậc thang trơn ướt. Tống Hoài chống chiếc gậy tre bọc sắt xuống nền đá, đầu gậy trượt đi một đoạn ngắn trước khi bám vào một khe nứt. Bờ vai anh khẽ run rẩy dưới sức nặng của cơn đau âm ỉ nơi thắt lưng. Dưới lớp áo dày cộm lấm lem bùn đất, thanh nẹp lưng bằng thép mềm kẹp đồng đỏ mà Ninh Chiêu mới gia cố đêm qua đang cọ sát tàn nhẫn vào da thịt anh sau mỗi nhịp thở rít khàn đặc.

"Ta không xin thi tuyển kiếm tu," Tống Hoài cất giọng trầm đục, cố nén cơn ho khan đang dồn ứ lên cuống họng. "Ta đi theo diện phụ tá gánh vác dụng cụ đo đạc."

"Phụ tá cái giống gì?" Tên lính canh cổng cao lớn, mặt đầy những vết rỗ sâu hoắm, giật phắt lấy tấm thẻ căn cước bằng gỗ mục nát trên tay anh ném toẹt xuống vũng nước tro đục ngầu dưới chân. "Mở to mắt chó của ngươi ra mà nhìn! Thẻ căn cước đóng dấu chu sa chữ 'Phế': Tiền sử phế cốt do tẩu hỏa nhập ma, kinh mạch vỡ vụn, vĩnh viễn không được bén mảng tới khu vực tu luyện và công trình trọng điểm của tông môn! Một kẻ phế nhân mang điềm gở như ngươi, đứng ở cổng núi này chỉ làm ô uế phong thủy và linh khí của bản tông!"

Lời nhục mạ tàn nhẫn vang vang giữa không gian rộng lớn, lập tức thu hút hàng chục ánh mắt hiếu kỳ của đám thiếu niên áo gấm đang chờ khảo hạch. Những tiếng cười cợt khúc khích, những ngón tay chỉ trỏ bắt đầu rộ lên từ đám đông:

"Nhìn kìa, nghe nói là đệ tử từng bị phế kiếm cốt từ mấy năm trước đấy..."

"Nhìn bộ dạng như con chó đói bên lò than thế kia, tẩu hỏa nhập ma mà không chết rấp ở xó rừng là may phúc ba đời rồi, còn vác mặt lên núi làm trò cười..."

"Xương sống còng queo thế kia thì gánh được cái gì, khéo gió núi thổi mạnh một cơn là gãy làm đôi..."

Bàn tay Tống Hoài siết chặt lấy thân gậy tre, các đốt ngón tay trắng bệch ra vì dùng lực. Dưới làn da tái mét không một giọt máu, tàn dư của kiếm ý Minh Kiếm năm xưa như một con thú dữ bị xích chặt bằng xích sắt rỉ sét trong lồng tối, đang điên cuồng cào xé vết thương cũ ở đốt sống thứ tư. Cơn đau dữ dội ập đến làm mắt anh tối sầm lại, một vệt máu đỏ sẫm rỉ ra nơi khóe môi khô nứt. Nhưng Tống Hoài nhắm mắt lại, nuốt ngược ngụm máu tanh nồng vào sâu trong lồng ngực.

Sáu năm qua, những lời lăng nhục tàn tệ hơn thế này anh đã nghe nhiều hơn cả tiếng cơm sôi trong nồi đất. Điều anh cần hôm nay không phải là danh dự hão huyền của một cựu kiếm tu từng tung hoành ngang dọc, mà là bước chân qua được cánh cổng sắt nặng nề kia, tiếp cận những rãnh ngầm sâu hút để tìm lại tung tích của những người đồng đội đã biến mất không một dấu vết trong bóng tối của trạm nạp lực số Bảy.

"Dừng tay lại."

Một giọng nữ đanh gọn, mang theo vẻ mệt mỏi nhưng đầy tính uy quyền hành chính cất lên từ phía sau hàng người.

Lê Vãn bước tới. Chị không mặc đồ thợ rèn lấm lem muội than như Ninh Chiêu, cũng không rách rưới như Tống Hoài. Trên người chị là bộ y phục màu xám tro có cổ đứng nghiêm cẩn của viên chức kỹ thuật thuộc hệ thống quan phương cũ, tà áo cài khuy đồng phẳng phiu. Bên hông chị đeo một chiếc túi da căng phồng những cuộn giấy bản đồ địa mạo dày cộp, hai tay ôm chiếc hộp gỗ mun chứa kính ngắm quang học và thước đo góc bằng đồng thau sáng loáng, các góc hộp đều được bọc góc bằng kim loại để chống va đập.

Tên lính canh rỗ mặt khựng lại, ngọn giáo sắt trên tay hạ thấp xuống nửa tấc. Hắn nheo mắt nhìn bộ trang phục mang phong cách quan lại của chị, giọng điệu có phần e dè hơn nhưng vẫn giữ vẻ trịch thượng: "Cô là ai? Dám can thiệp vào việc thi hành tông quy của Chấp Pháp viện?"

Lê Vãn lạnh lùng giơ ra một phong thư dày cộp làm bằng giấy da cừu, bên trên có niêm phong sáp đỏ in hình la bàn tám hướng đè lên hai nhánh lúa mạch:

"Lê Vãn, từng nhậm chức Trắc lượng sư bậc bốn tại Cục Địa Mạch cũ. Đây là công văn điều động phối hợp đo đạc thủy văn và độ lún nền móng phục vụ việc gia cố các trụ chắn trước mùa gió tro, do Phân viện Quản lý Công trình trực tiếp phê duyệt và đóng dấu khẩn cấp."

Tên lính canh nhíu mày, giật lấy phong thư xem xét con dấu sáp. Quả thực là triện son của phân viện Công Trình—nơi nắm giữ toàn bộ việc tu bổ công xưởng và mạng lưới dẫn khí trên núi. Hắn cắn môi, nhưng ánh mắt độc địa vẫn ngoan cố chỉ thẳng mũi giáo vào mặt Tống Hoài:

"Cô có giấy tờ thì vào được, nhưng tên phế nhân này mang án tích tẩu hỏa nhập ma, hồ sơ ngoại vụ ghi rõ chữ 'Phế'. Tông quy điều thứ chín ghi rõ: cấm tuyệt đối người có tiền sử đoạn mạch bước qua cổng Bạch Ngọc!"

"Hắn là phụ tá đo đạc của tôi," Lê Vãn không hề nao núng, giọng nói đều đều, khô khốc như đang đọc một bản báo cáo số liệu vô cảm trước công đường. "Công trình đo đạc thủy văn ngầm ở các khe nứt sườn tây đợt này đòi hỏi phải vận chuyển các cọc mốc bằng đá hoa cương nặng cả tạ và dựng cọc tiêu trắc địa trong vùng nước toan khoáng độc hại bốc hơi axit. Chấp Pháp viện các người có đệ tử cao quý nào chịu hạ mình làm những công việc bẩn thỉu, độc hại và nguy hiểm đến tính mạng ấy không? Nếu các người từ chối cho người phụ tá mang vác này vào cửa, tôi sẽ lập tức quay về và ghi vào biên bản bàn giao gửi thẳng lên Trưởng lão viện: 'Phân viện Chấp Pháp cản trở tiến độ trắc đạc địa mạch khẩn cấp trước mùa tro', để xem viện chủ các người giải trình thế nào với hội đồng mùa tro khi các trụ chắn bị nứt toác!"

Sự cứng rắn, lạnh lùng và am hiểu rành rẽ từng kẽ hở thủ tục hành chính của Lê Vãn lập tức phát huy tác dụng đè bẹp đối phương. Tên lính canh lúng túng thấy rõ. Hắn là một kẻ gác cổng ngoại môn, thừa hiểu đám người làm kỹ thuật của Cục Địa Mạch tuy không có tu vi cao thâm, không có quyền sinh quyền sát như Chấp Pháp viện, nhưng trong tay họ lại nắm giữ các báo cáo an toàn công trình và thẩm định rủi ro—thứ mà bất kỳ kẻ cai quản nào trên núi cũng sợ phải gánh trách nhiệm khi xảy ra sự cố sụt lún hay nổ lò ngầm.

"Được rồi! Coi như cô lắm lý lẽ!" Tên lính canh hậm hực nhổ một bãi nước bọt xuống rãnh thoát nước. Hắn cúi xuống gầm bàn gỗ, lôi ra một tờ giấy cam kết bằng giấy gai thô ráp, ném mạnh xuống trước mặt Lê Vãn: "Ký vào đây! Bản cam kết trách nhiệm đặc biệt: Người bảo lãnh phải giao nộp toàn bộ dữ liệu đo đạc thủy văn cho phân viện quản lý công trình mỗi ngày một lần trước giờ Hợi. Tên phế nhân này chỉ được mang danh nghĩa phụ tá vác cọc mốc, nếu hắn dám bước chân vào bất kỳ điện thờ, kiếm đài hay khu vực nội viện nào, cô sẽ là người đầu tiên bị tước quyền khảo sát, tịch thu toàn bộ đồ nghề và tống giam vào ngục Nam Trụ!"

Lê Vãn không một giây do dự. Chị đặt chiếc hộp gỗ chứa kính ngắm lên bàn, cầm lấy chiếc bút lông chấm đẫm mực đen, ký xoẹt một nét dứt khoát xuống góc bản cam kết. Sau đó, chị ấn mạnh ngón tay cái dính mực chu sa đỏ lòm lên dấu triện xác nhận.

"Đi thôi," chị quay sang nói ngắn gọn với Tống Hoài.

Ánh mắt chị không hề lộ ra một tia thương hại hay an ủi nào—bởi chị biết sự thương hại lúc này chỉ làm tổn thương thêm lòng tự trọng của một kiếm tu từng đứng trên đỉnh cao. Nhưng bước chân của Lê Vãn đã cố tình chậm lại nửa nhịp, dáng người mảnh khảnh nhưng cứng cỏi của chị khéo léo che chắn cho bóng dáng xiêu vẹo, tập tễnh của Tống Hoài khi hai người cùng bước qua cánh cổng sắt nặng nề đang rít lên từng hồi ghê rợn.

***

Bước qua khỏi tầng cổng đá phòng hộ dày đến ba trượng, không gian của Thanh Lư Tông mở ra trước mắt họ không phải là cảnh tiên cảnh bồng lai rực rỡ với hoa thơm cỏ lạ như những câu chuyện truyền miệng dưới các quán trà trần gian.

Đó là một pháo đài đá khổng lồ, lạnh lẽo, ngột ngạt và bị phân chia giai tầng một cách nghiệt ngã đến tàn nhẫn.

Toàn bộ sườn núi Lạc Hạc đã bị phạt phẳng thành từng tầng bậc thang nhân tạo khổng lồ, bao bọc bởi những bức tường thành bằng đá đen dày cộp cắm đầy những cọc tiêu phòng ngự. Khói từ hàng trăm ống khói ngầm xả ra bầu không khí một mùi lưu huỳnh nồng nặc và bụi tro xám xịt. Trên các con đường lát đá, những đệ tử nội môn vận áo gấm xanh thẫm bước đi kiêu hãnh trên các lối đi trên cao có mái che, trong khi bên dưới các rãnh đường lầy lội là dòng người tạp dịch, phu phen, thợ rèn cúi gằm mặt khuân vác than đá, quặng sắt và những thùng nước toan bốc khói nghi ngút.

Ba người họ vừa bước qua khoảng sân trung chuyển thì lập tức bị tách ra bởi ba nhóm tạp dịch chấp sự khác nhau, theo đúng quy chế cách ly nghiêm ngặt của tông môn.

Lê Vãn bị đưa về phía đông bắc, nơi có những dãy nhà thấp tè bằng đá xám của phân viện Công Trình nằm chênh vênh bên sườn dốc trơ trọi đá sỏi. Tống Hoài bị hai tên cai ngục áo xám áp giải về khu lán trại lao dịch tồi tàn nằm hút sâu dưới đáy thung lũng hứng gió tro—nơi tập trung hàng trăm phu phen gánh than, đào rãnh và dọn dẹp cống ngầm. Còn Ninh Chiêu được một gã thợ cả dẫn đường dẫn về phía xưởng rèn ngoại viện, nằm nép mình bên rìa một khoảng sân đá hoa cương rộng lớn thênh thang mang tên sân Bạch Thạch.

Tuy nhiên, trong lúc đám chấp sự đang mải dừng lại đối chiếu giấy tờ bàn giao tại một ngã ba đường dốc gió lộng, ba người đã kịp lướt qua nhau trong một khoảnh khắc ngắn ngủi.

Không một lời nói nào thốt ra. Không một cái liếc mắt bất thường nào có thể khơi gợi sự nghi ngờ của những cặp mắt tuần tra xung quanh.

Khi đi ngang qua một xưởng mài kiếm lộ thiên nằm sát mép sân Bạch Thạch—nơi đặt hàng chục chiếc cối đá mài khổng lồ quay bằng sức nước dẫn từ khe núi và những chiếc hộp gỗ dài đựng đầy mạt sắt mịn dùng để đánh bóng phôi kim loại—Tống Hoài khẽ ho lên một tiếng khàn đục. Chiếc gậy tre bọc sắt của anh như vô tình trượt nhẹ trên nền đá trơn, đầu gậy chạm khẽ vào chân chiếc hộp gỗ thứ ba tính từ ngoài vào.

Ninh Chiêu hiểu ngay ám hiệu ấy.

Đó là bài học đầu tiên về sinh tồn nơi hiểm địa mà Tống Hoài đã dạy cho cô trong những đêm thức trắng bên lò rèn: mạt sắt mịn là nơi chôn giấu tin tức an toàn nhất trong một tông môn tu tiên. Mạt sắt có tính hút ẩm cao, không bắt lửa, và quan trọng nhất, mùi tanh nồng nặc của kim khí gỉ sét sẽ che giấu hoàn toàn mọi mùi mực chu sa hay mùi mồ hôi tay của con người trước khứu giác cực kỳ nhạy bén của những con linh khuyển tuần tra đêm. Bất kỳ thông tin nào thu thập được về sơ đồ đường ống ngầm, vị trí các chốt canh hay danh sách điều động phu phen đều sẽ được cuộn tròn trong ống đồng nhỏ và vùi sâu dưới ba tấc mạt sắt xám xịt kia.

Ánh mắt Ninh Chiêu dừng lại một thoáng trên mặt sân Bạch Thạch rộng mênh mông.

Khoảng sân này được lát bằng hàng ngàn phiến đá trắng tinh xảo, nhẵn thín như mặt gương. Nhưng cứ cách đúng mười trượng, người ta lại xẻ một rãnh thoát nước sâu hun hút chạy ngầm dưới lòng đất. Điều kỳ lạ và bất thường nhất là toàn bộ các miệng rãnh thoát nước ấy đều không để hở, mà được bịt kín bằng những tấm lưới đồng dày bản đúc hình hoa sen ba cánh. Trên mỗi tấm lưới đồng đều có một chiếc khóa đồng nặng trịch được niêm phong bằng chì nóng mang con dấu hình thoi của phủ Quan Tế.

Nước mưa tro đen ngòm róc rách chảy qua những khe lưới hẹp, biến mất tăm vào bóng tối vô tận bên dưới lòng đất. Thỉnh thoảng, từ sâu thẳm dưới những rãnh ngầm ấy lại phát ra những tiếng *ùng ục* trầm đục, rung nhẹ cả mặt đá hoa cương, tựa như tiếng thở nặng nhọc của một loài thủy quái khổng lồ đang bị giam cầm trong xiềng xích dưới đáy vực sâu.

"Này! Con nhỏ thợ phụ kia, mắt la mày lém nhìn cái gì mà nhìn?" Gã thợ cả dẫn đường ngoái lại, quát tháo ầm ĩ. "Mau bước cái chân vào xưởng nhận việc! Đừng tưởng có tấm thẻ bài tạm thời của Hạ sư tỷ mà được nhởn nhơ dạo mát!"

Xưởng rèn ngoại viện thực chất là một dãy lán dài hun hút lợp bằng những phiến ngói đá đen nặng nề, khói bụi mịt mù và không khí nóng hầm hập như đang đứng trước miệng một hỏa sơn sắp phun trào. Hàng chục chiếc bễ lò khổng lồ vận hành bằng guồng nước đang gầm rú hết công suất, thổi những luồng gió rực lửa vào các buồng than đá. Tiếng búa tạ nện chan chát, đinh tai nhức óc vang lên không ngớt từ sáng đến tối. Dọc theo lối đi hẹp ngập ngụa muội than và xỉ sắt nguội, hàng đống kiếm gỗ sứt mẻ, khiên sắt móp méo, giáo mác cùn gỉ và giáp sắt rách nát của đám đệ tử sơ cấp chất đống thành từng gò cao ngất ngưởng, bốc lên mùi dầu mỡ hôi hám.

"Đây là phần việc của mày hôm nay," gã thợ cả dừng lại trước một góc xưởng ẩm thấp, đá mạnh vào một sọt tre lớn chứa đầy những thanh kiếm sắt cùn mép, mẻ lưỡi và cong queo. "Mài lại toàn bộ lưỡi kiếm cho bén, nắn thẳng thân kiếm, bôi dầu chống gỉ cho đủ năm mươi thanh kiếm này trước giờ Ngọ. Nếu làm không xong hoặc làm hỏng dù chỉ một thanh, bữa chiều nay nhịn đói, cắt nửa khẩu phần cơm!"

Ninh Chiêu đứng nhìn đống khí cụ hư hỏng nằm ngổn ngang trong sọt tre. Rồi cô từ từ liếc mắt nhìn qua khung cửa sổ gỗ xập xệ, nứt toác của xưởng rèn ngay bên cạnh.

Từ góc cửa sổ hẹp và bám đầy muội than này, tầm mắt cô có thể bao quát toàn bộ góc phía nam của sân Bạch Thạch bên ngoài.

Ở đó, cứ vào mỗi buổi sớm mai khi sương mù và tro núi chưa tan hết, các giáo đầu ngoại môn sẽ tập hợp hàng trăm đệ tử sơ cấp để bắt đầu các bài huấn luyện thể lực: từ thế bước, điều hòa hơi thở, chuyển dịch trọng tâm cho đến những đường kiếm căn bản nhất của môn phái. Những đường kiếm mà người ngoài không bao giờ được phép tiếp cận.

Ninh Chiêu quay lại nhìn gã thợ cả. Bàn tay phải của cô siết chặt lấy chiếc kìm mỏ quạ giấu trong túi da bên hông.

"Tôi có thể nhận thêm hai sọt nữa," giọng cô trầm tĩnh, phẳng lặng đến mức khiến gã thợ cả đang định quay lưng đi phải giật mình dừng bước.

Hắn quay phắt lại, trố mắt nhìn cô như nhìn một kẻ mất trí: "Mày nói cái gì? Nhận thêm hai sọt? Tổng cộng một trăm năm mươi thanh kiếm đấy! Mày nghĩ mày là ai? Thần tiên hạ phàm hay là cỗ máy đúc bằng đồng?"

"Mỗi ngày tôi sẽ sửa xong một trăm năm mươi thanh khí cụ từ đầu giờ Dần, trước khi các bễ lò khác bắt đầu đỏ lửa," Ninh Chiêu nói tiếp, ánh mắt cô kiên định và sâu thẳm, không hề chớp lấy một lần. "Tôi cũng sẽ chịu trách nhiệm dọn sạch toàn bộ xỉ than độc hại và tro nguội của ba bễ rèn chính trong xưởng vào mỗi buổi đêm."

Gã thợ cả nheo mắt nhìn cô, vẻ nghi ngờ hiện rõ trên khuôn mặt bóng nhẫy mồ hôi và than củi: "Mày muốn đổi lấy cái gì? Muốn xin thêm tiền công à? Tao nói trước cho mày biết, ở cái xưởng ngoại viện này không có lấy một hạt bạc dư cho đám thợ phụ việc đâu!"

"Tôi không cần thêm tiền công, cũng không cần thêm khẩu phần ăn," Ninh Chiêu đáp, giọng nói đanh lại như thép nguội. "Tôi chỉ xin một điều kiện duy nhất: mỗi sáng sau khi hoàn thành ca làm sớm trước giờ Mão, cho phép tôi được đứng nghỉ chân bên lan can đá ở góc sân Bạch Thạch đúng một canh giờ."

Gã thợ cả nhíu mày thật sâu. Hắn nhìn xuống cánh tay trái quấn băng kín mít, bất động bên mạn sườn của cô, rồi lại nhìn đống công việc khổng lồ mà cô vừa tự nhận vào mình. Một trăm năm mươi thanh kiếm mài bén và nắn thẳng, cộng thêm việc dọn ba hố xỉ than độc hại ngột ngạt—đó là khối lượng công việc mà thường ngày phải cần đến ba gã thợ lực lưỡng, hai tay lành lặn làm quần quật cả ngày lẫn đêm mới mong hoàn thành. Một món hời từ trên trời rơi xuống cho hắn; hắn có thể bớt việc cho đám thợ ruột, lại vừa có thể báo cáo công trạng vượt mức lên các quản sự bên trên để lĩnh thưởng.

Còn chuyện đứng hóng gió bên lan can đá ở góc sân? Ở cái góc chết ấy thì làm được cái tích sự gì? Gió tro thổi buốt đến thấu xương, đứng đó cùng lắm chỉ là nhìn trộm đám đệ tử sơ cấp múa may vài bài kiếm căn bản vô thưởng vô phạt. Những thứ kiếm pháp ấy, người phàm không có linh căn, không có khẩu quyết tâm pháp dẫn khí trong kinh mạch thì dù có căng mắt nhìn suốt cả đời cũng chẳng thể nào học lỏm nổi nửa chiêu thức.

"Được!" Gã thợ cả nhổ toẹt một bãi nước bọt màu xám đen xuống sàn xưởng đầy xỉ sắt. "Giao kèo thế nhé! Nhưng tao cảnh cáo trước: nếu sáng nào tao kiểm tra mà thấy thiếu dù chỉ một thanh kiếm chưa mài bén, hoặc xỉ than chưa dọn sạch, tao sẽ đích thân bẻ gãy tấm thẻ bài gỗ kia và tống cổ mày xuống núi ngay lập tức!"

"Thành giao."

Ninh Chiêu không nói thêm bất kỳ một lời thừa thãi nào. Cô cúi người, dùng duy nhất bàn tay phải gân guốc thoăn thoắt kéo chiếc sọt tre nặng trịch về phía chiếc bàn mài bằng đá ráp đặt sát ô cửa sổ.

Cô ngồi xuống chiếc ghế đẩu ba chân mục nát. Cẳng tay trái mang nẹp gỗ được tì chặt lên mép bàn đá để làm điểm tựa giữ thăng bằng cho cả thân trên. Bàn tay phải của cô nhấc một thanh kiếm sắt cùn mép đầu tiên lên, áp chặt lưỡi thép vào mặt đá mài đang quay tít nhờ trục nước bên dưới sàn.

*Kétttt!*

Tiếng rít chói tai của kim loại cọ sát vào đá ráp vang lên dữ dội. Những chùm tia lửa màu xám cam bắn tung tóe trong bóng tối nhập nhoạng của gian xưởng rèn ngột ngạt, soi rõ từng đường nét cương nghị, lạnh lùng trên gương mặt lấm lem muội than của người con gái thợ rèn.

Ninh Chiêu khẽ ngẩng đầu nhìn qua ô cửa sổ hẹp bám đầy bụi xám.

Mưa tro đầu đông vẫn lất phất rơi không dứt, từng hạt bụi xám lạnh ngắt bám đầy lên bậu cửa gỗ mục nát. Phía trên vách đá sừng sững dựng đứng như một bức tường thành khổng lồ ngăn cách ngoại viện với tầng mây mù trên cao, đài Huyền Khuyết ẩn hiện trong mây xám như một chiếc móng sắt khổng lồ cắm sâu vào lòng núi.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn