Hai bản đều có dấu thật
Tại phòng giám định nghiệp vụ của Tàng Ký Các, mùi giấm thanh chưng cất và hơi dầu khoáng thấu quang bốc lên nồng nặc, quánh đặc trong không gian kín mít khi Tạ Thanh Nghi dùng chiếc nhíp sừng hươu gắp một lớp màng trong suốt mỏng như cánh ve ra khỏi mặt giấy nhận nợ.
Căn phòng này nằm sâu nơi chái đông của viện giám định, tách biệt hoàn toàn khỏi sự ồn ào hỗn tạp của các dãy bàn tiếp nhận công văn bên ngoài bằng một bức tường dày ba thước ốp đá phiến xám và ba lớp rèm cách âm dệt từ vỏ cây du già ngâm nước vôi. Không khí bên trong lạnh buốt đến mức thấu xương. Bốn góc phòng kê bốn chậu đồng ba chân chứa đầy các khối đá huyền băng khai thác từ mạch nước ngầm dưới đáy thung lũng, liên tục tỏa ra từng làn khói trắng nhờ nhờ bò là là sát mặt sàn lát gạch tráng men thô, duy trì nhiệt độ căn phòng ở mức khiến mỗi hơi thở thở ra đều ngưng tụ thành làn sương mỏng, lơ lửng rồi tan biến chậm chạp trong không gian tĩnh mịch.
Trên mặt bàn thao tác bằng đá hoa cương đen tuyền phẳng như gương, bản khế ước nợ mang ký hiệu Canh-Chín của đệ tử ngoại môn Mạnh Du được trải thẳng tắp. Bốn góc tờ văn bản được cố định chắc chắn bằng bốn thanh nẹp đồng thau mạ bạc nặng trịch, trên mặt nẹp khắc chìm các vạch đo ly phân chuẩn xác. Dưới luồng sáng dịu mát, không tỏa nhiệt phát ra từ chiếc đèn thạch anh tím treo lơ lửng trên xà nhà bằng dây xích bạc, vệt mực chu sa của dấu ấn huyết vốn mang sắc đỏ tươi nay lại ánh lên một sắc tím sẫm lạ thường. Đáng chú ý hơn cả, men theo đường viền mép ngoài của dấu vân tay, một quầng huỳnh quang mỏng manh sắc xanh lục lờ mờ hiện rõ dưới góc chiếu nghiêng ba mươi độ, tựa như lớp váng dầu nổi trên mặt nước tù hãm.
Tạ Thanh Nghi không hề chớp mắt. Nàng đứng thẳng lưng, sống lưng mảnh dẻo tựa như một thanh đoản kiếm giấu trong vỏ bao lụa trắng. Đôi bàn tay nàng được bọc kín trong lớp găng dệt bằng tơ tằm tuyết mỏng đến mức có thể nhìn thấy rõ từng đường vân tay và khớp xương thanh mảnh bên dưới. Nàng cầm một chiếc thìa bạc nhỏ bằng ngón cái và ngón trỏ, múc từng giọt dung dịch pha chế đặc biệt—kết hợp từ dấm thanh chưng cất qua ba lần lửa chậm và dầu khoáng thấu quang tinh lọc—nhỏ men theo chu vi của dấu ấn ngón tay cái.
Khi chất lỏng lạnh buốt chạm vào ranh giới mong manh giữa vệt máu khô và thớ giấy thô ráp, một tiếng xèo xèo cực nhỏ vang lên trong không gian tĩnh mịch, tựa như tiếng một lớp băng mỏng rạn vỡ dưới gót giày trong ngày đầu xuân giá rét.
“Nhiệt độ thấp từ huyền băng làm đông kết tạm thời các liên kết tự nhiên của sợi cellulose trong giấy trúc, đồng thời làm co rút đột ngột lớp chất keo hữu cơ mà kẻ làm giả đã sử dụng để kết dính màng dẫn vào bề mặt trang giấy,” Tạ Thanh Nghi cất giọng lạnh tanh, đều đều và chuẩn xác như đang đọc một bản điều lệ lưu trữ từ trên bục giảng của Giám Ký Viện. Chiếc nhíp sừng hươu trong tay nàng khẽ chuyển động với độ chính xác tuyệt đối, đầu nhíp vót nhọn lách nhẹ vào điểm tiếp giáp vừa rạn nứt. “Nếu là máu tươi ấn trực tiếp từ đầu ngón tay của người ký, huyết thanh sẽ lập tức thấm sâu vào lòng sợi giấy ít nhất nửa phân. Các tế bào hồng cầu cùng protein kết tủa sẽ hòa lẫn với dịch keo thực vật của giấy trúc, tạo ra một cấu trúc chân rễ bám chặt không thể đảo ngược. Khi đó, nếu cố tình dùng lực cơ học hoặc dung môi để bóc tách, toàn bộ thớ giấy bề mặt sẽ bị cào xé, để lại vết sờn rách nham nhở không thể che giấu. Nhưng hãy nhìn ở đây.”
Đầu nhíp sừng hươu nhẹ nhàng luồn sâu xuống dưới góc trên bên phải của dấu triện máu.
Một tiếng tách cực khẽ, tựa như tiếng vỏ trứng nứt, vang lên giữa hai người.
Một lớp màng mỏng dính, gần như hoàn toàn vô hình nếu chỉ quan sát bằng mắt thường dưới ánh sáng ban ngày, đang dần dần tách rời khỏi mặt giấy trắng. Nó dẻo dai, có độ đàn hồi nhẹ, mang theo trọn vẹn toàn bộ cấu trúc dấu vân tay ngón cái của Mạnh Du cùng vệt máu khô sắc nét đến từng đường rãnh gai thịt, từng vòng cung xoáy ốc và những đốm đứt gãy tự nhiên của vân da. Dưới lớp màng vừa được bóc lên một cách hoàn hảo, mặt giấy trúc bên dưới lộ ra một khoảng trống phẳng phiu, sạch sẽ đến mức bất thường. Thớ giấy trúc chỉ hơi ngả màu xám nhạt do một lớp dầu khoáng mỏng bám lại, tuyệt nhiên không hề có lấy một vệt huyết sắc nào ngấm sâu vào ruột giấy.
“Màng hữu cơ chế tác từ bong bóng cá tuyết đầm lầy phương Bắc,” Tạ Thanh Nghi vừa nói vừa cẩn thận dùng nhíp nhấc bổng lớp màng chứa dấu ấn huyết lên khỏi mặt bàn. Nàng chuyển nó sang một chiếc đĩa ngọc lưu ly chứa đầy dung dịch cầm màu pha loãng. Lớp màng lơ lửng giữa làn nước trong vắt, dấu ấn máu vẫn nguyên vẹn hình hài, đỏ sẫm và uy nghi như một con dấu thật sự vừa được đóng xuống. “Loại màng này sau khi lột khỏi nội tạng cá tuyết sẽ được ngâm tẩm qua dịch chiết từ rễ cây lưu ly mọc ở vùng núi đá để triệt tiêu sắc tố tự nhiên, tạo độ trong suốt tuyệt đối và mang lại đặc tính kết dính bền chặt khi tiếp xúc với nhiệt độ lòng bàn tay con người. Vật dẫn này cho phép kẻ thao túng bóc một dấu ấn huyết còn tươi khỏi bề mặt văn bản ban đầu—chính là tờ phiếu xin nhận tiền ứng hỗ trợ đan dược mà Mạnh Du đã ký trước khi vào phòng bế quan—rồi dùng áp lực cơ học và hơi ấm lòng bàn tay để miết chặt nó lên một văn bản hoàn toàn khác.”
Nàng đặt chiếc nhíp sừng hươu xuống một khay đồng tráng men, rồi chầm chậm quay sang nhìn Lục An. Đôi mắt nàng dưới ánh đèn thạch anh tím ánh lên vẻ sắc sảo, cảnh giác và một sự điềm tĩnh sắt đá:
“Kỹ thuật bóc tách này chỉ có hiệu quả hoàn hảo nếu ấn huyết được dời đi trong vòng sáu canh giờ kể từ lúc người ký đặt ngón tay xuống mặt giấy. Quá thời hạn đó, máu khô giòn sẽ vỡ vụn khi bị kéo căng, hoặc chất keo trong huyết tương sẽ tự động ăn mòn làm thủng màng dẫn. Dấu ấn máu này là thật một trăm phần trăm. Khí tức huyết mạch của Mạnh Du chứa đựng trong vệt máu khô không hề có chút sai lệch nào so với mẫu đối chứng lưu tại tông vụ. Nhưng văn bản mà hắn đặt tay ký ban đầu đã bị hủy bỏ hoặc bị che giấu ở một nơi nào đó. Bản nợ năm mươi khối trung phẩm linh thạch này thực chất chỉ là một cái xác mượn hồn.”
Lục An đứng tựa lưng vào mép bàn thao tác đối diện. Chiếc áo vải thô màu chàm đã bạc màu ở hai bên cùi chỏ của cậu hơi đẫm hơi lạnh buốt từ các chậu huyền băng, nhưng đôi bàn tay thon dài với những vết chai sạn đặc thù của người làm nghề cầm bút sao chép và dao khắc giấy tờ vẫn giữ nguyên độ bất động tuyệt đối.
Cậu không lập tức nhìn vào chiếc đĩa ngọc chứa lớp màng dẫn lơ lửng, mà chậm rãi bước tới mép bàn đá hoa cương. Đôi mắt đen láy của cậu cúi sát xuống mặt tờ giấy nhận nợ vừa bị lột bỏ con dấu.
“Dấu ấn là thật dời sang, nhưng phần chữ viết trên tờ giấy này thì sao?” Lục An mở miệng, giọng nói của cậu bình thản, trầm thấp, hòa vào màn sương lạnh mỏng manh trôi nổi giữa hai người. Cậu rút từ trong chiếc túi da cũ kỹ đeo bên hông ra một chiếc kính phóng đại gắn trên khung đồng thau ba chân cùng một cây trâm bạc mảnh vót nhọn đầu. Cậu đặt chiếc kính lên mặt văn bản, điều chỉnh tiêu cự cho đến khi các thớ sợi của tờ giấy trúc gai phóng đại lên gấp mười lần dưới mắt mình. Cậu đưa đầu trâm bạc rà sát vào dòng chữ thứ ba trên tờ giấy nợ: *‘Nợ năm mươi khối linh thạch trung phẩm, kỳ hạn ba mươi ngày, chấp thuận cưỡng chế lao dịch tại mỏ Hắc Thạch Lĩnh nếu quá hạn’*.
Cây trâm bạc dừng lại ở nét móc câu của chữ *‘Trung’* và dấu chấm phẩy ngăn cách điều khoản cưỡng chế lao dịch.
“Kiểm chứng sư Tạ, hãy nhìn vào độ tán xạ của hạt mực lưu ngân ở dòng này so với phần tiêu đề phía trên và họ tên Mạnh Du ở dòng đầu tiên.”
Tạ Thanh Nghi khẽ nghiêng đầu. Nàng bước vòng qua mép bàn, tiến lại gần bên vai Lục An. Mùi hương thanh lãnh, nhàn nhạt như mùi tuyết đọng trên lá tùng ngàn năm phảng phất từ vạt áo của nàng lướt qua sống mũi cậu, mang theo cảm giác cách biệt của một tu sĩ chấp pháp cao cấp, nhưng ánh mắt của cả hai lúc này đều chỉ tập trung cao độ vào một tấc vuông giấy trắng mực đen dưới thấu kính đồng thau.
“Mực lưu ngân có tính chất chìm lắng khoáng chất rất đặc thù mà bất kỳ thợ làm giấy nào ở phường chế tác cũng phải nắm rõ,” Lục An chậm rãi giải thích, nhịp điệu giọng nói của cậu mang theo sự kiên nhẫn tích lũy từ mười mấy năm ngồi còng lưng trong xưởng giấy, tỉ mẩn phân loại từng thớ xơ và độ ngấm của dung môi. “Bản nợ này được chế tác từ giấy trúc gai của xưởng công ngoại môn. Loại giấy này xốp, thớ dọc thô và chứa hàm lượng khoáng tự nhiên cao. Khi viết bằng mực lưu ngân tươi mới mài, các hạt bụi bạc nghiền mịn nặng hơn sẽ chìm sâu xuống đáy thớ giấy trong vòng ba khắc đầu tiên, tạo nên một đường viền xám đậm lắng đọng ở rãnh nét bút. Trong khi đó, phần dung môi hữu cơ mang sắc đen sẽ thẩm thấu loang nhẹ sang hai bên thành thớ giấy với biên độ chừng một phần mười sợi tóc. Ở phần tiêu đề và tên họ của Mạnh Du, hãy nhìn xem, độ ngấm của dung môi rất sâu. Sợi trúc đã hút no chất lỏng và trương nở từ bốn ngày trước.”
Đầu trâm bạc trong tay Lục An khẽ gõ nhẹ ba tiếng *cộc, cộc, cộc* lên mặt chữ *‘Trung’*:
“Nhưng ở dòng chữ ghi số lượng năm mươi khối linh thạch và điều khoản lao dịch cưỡng chế này, hãy nhìn thật kỹ rìa nét bút dưới góc sáng xiên. Viền nét chữ cực kỳ sắc gọn, sắc như một nhát dao chém, hoàn toàn không có hiện tượng dung môi hữu cơ loang chân rết sang hai bên thớ giấy. Điều đó chứng tỏ điều gì? Nó được viết lên khi bề mặt giấy đã khô hoàn toàn và bị phủ một lớp keo chống thấm mỏng vô hình—chính là lớp dịch keo lưu ly thừa rỉ ra từ mép màng dẫn hữu cơ khi kẻ làm giả miết ấn huyết xuống mặt giấy. Tệ hơn nữa, hãy nhìn vào nhịp hạ bút ở đây. Người viết dòng này cố tình bắt chước lối viết khải thư chuẩn mực của viện lưu trữ, nét chữ thoạt nhìn rất ngay ngắn, nhưng ở ba nét sổ thẳng của chữ ‘Trung’ và chữ ‘Thạch’, tốc độ hạ bút bị chậm lại nửa nhịp. Kẻ đó đã ngập ngừng, phải nín thở rê ngòi bút để tránh đè lên mép của lớp màng dẫn đang nằm sẵn trên mặt giấy.”
Lục An ngẩng đầu lên khỏi thấu kính, đôi mắt đối diện trực tiếp với ánh nhìn lạnh lẽo của Tạ Thanh Nghi:
“Mạnh Du xuất quan vào giờ Thìn ngày mười sáu, trong trạng thái thần hồn suy kiệt nặng nề và ký ức cảm xúc đã bị thiên luật của tông môn cắt đứt hoàn toàn sau khi đột phá khiếu huyệt thất bại một phần. Hắn được cáng thẳng về phòng hồi sức ngoại môn dưới sự giám sát chặt chẽ của hai đệ tử trực ban y đường. Dòng chữ ghi nợ năm mươi khối trung phẩm linh thạch này được viết bằng loại mực lưu ngân cùng một lô sản xuất với dòng tiêu đề, nhưng thời điểm hạt mực chạm vào mặt giấy này phải là vào khoảng giờ Thân ngày mười bảy—tức là hơn một ngày sau khi Mạnh Du đã hoàn toàn mất đi nhận thức về việc mình từng đặt bút ký những gì.”
Không khí trong phòng giám định dường như chùng xuống thêm một bậc. Hơi lạnh từ các chậu đồng huyền băng lượn lờ quanh đầu gối họ, đặc quánh như những dải lụa ma quái chập chờn trên nền đá xám. Sự im lặng kéo dài vài nhịp thở, chỉ có tiếng giọt dầu khoáng khẽ rơi tí tách từ đầu thìa bạc xuống khay chứa.
Tạ Thanh Nghi thẳng người dậy. Nàng tháo đôi găng tay lụa tuyết vứt vào chiếc khay đồng bên cạnh, để lộ đôi bàn tay trần trắng muốt nhưng cứng cỏi. Gương mặt thanh tú của nàng đanh lại, nét lạnh lùng mang tính chuyên môn nghiệp vụ thường ngày giờ đây đã bị phủ lên một lớp nghiêm nghị sắc bén như lưỡi đao vừa tuốt khỏi bao:
“Một tài liệu giả mạo có tổ chức và cực kỳ tinh vi. Kỹ thuật bóc tách và chuyển ấn bằng màng hữu cơ này đòi hỏi dụng cụ phòng thí nghiệm chuẩn xác, sự am hiểu sâu sắc về hóa tính của giấy mực, và một tay nghề thao tác không dưới mười năm kinh nghiệm. Một đệ tử ngoại môn quanh năm vùi đầu vào việc cày cuốc linh điền như Mạnh Du tuyệt đối không thể tự mình làm ra thứ này. Và lũ đệ tử tay sai của Chấp Pháp Viện đến gõ cửa đòi nợ vào sáng nay lại càng không có đủ sự tỉ mỉ lẫn kiên nhẫn để thực hiện một trò lừa đảo phức tạp đến mức này. Muốn vạch trần kẻ đứng sau, chúng ta cần truy ngược chuỗi bàn giao.”
“Ta đã chuẩn bị sẵn khung đối chiếu thời gian,” Lục An nói, từ tốn lấy từ trong ống tay áo ra một tờ giấy bản mỏng đã được kẻ sẵn các cột mốc thời gian và danh mục phòng ban bằng nét mực đen mảnh.
Cả hai cùng bước đến chiếc bàn dài bằng gỗ lim kê sát bức tường phía tây, nơi đặt các tập hồ sơ lưu chuyển văn thư nội bộ được niêm phong tạm thời bằng chỉ điều từ sáng sớm theo lệnh kiểm tra khẩn cấp của Giám Ký Viện. Chuỗi bàn giao là linh hồn, là xương sống của mọi thủ tục hành chính tại Thanh Khê Tông. Bất kỳ một tờ khế ước, một phiếu nhận linh thạch hay một văn tự nợ nào khi lưu chuyển qua các phòng ban đều phải được đóng dấu tiếp nhận, ghi rõ ngày giờ, tên đệ tử chuyển giao và tên người tiếp nhận vào mép lề trái hoặc mặt sau của hồ sơ.
Lục An lật mặt sau của bản nhận nợ Canh-Chín. Tạ Thanh Nghi cầm theo cuốn sổ giao nhận nội bộ dày cộp của Tàng Ký Các mà nàng đã dùng quyền hạn kiểm chứng sư tư pháp để tạm giữ từ tay quản sự kho tầng một.
Hai ngón tay của họ, một thô ráp với vết chai cầm dao, một trắng muốt thon thả, cùng lướt đi trên những dòng chữ son và những con dấu mộc hình bát giác màu đỏ thẩm thấu sâu vào mặt sau tờ giấy.
“Giờ Tỵ ngày mười lăm: Đệ tử ngoại môn Mạnh Du ký phiếu xin ứng trước tiền hỗ trợ đan dược tại Bàn Tiếp Nhận số ba. Người nhận đơn: Thư lại Lý Tuần,” Lục An đọc nhỏ từng chữ, đối chiếu với dòng ghi chép tương ứng trên tờ giấy bản của mình.
“Giờ Mùi cùng ngày: Phiếu được chuyển giao từ Bàn Tiếp Nhận vào Phòng Rà Soát Hạn Mức để thẩm tra tư cách tu luyện và bổng lộc tương lai. Người tiếp nhận: Chấp sự Tiền Vụ,” Tạ Thanh Nghi tiếp lời, giọng nàng không có một gợn sóng, ngón tay trỏ trượt dọc xuống dòng tiếp theo trên trang sổ lưu chuyển nội bộ, rồi đột ngột khựng lại.
Đầu ngón tay nàng ấn mạnh xuống mặt giấy ố vàng đến mức móng tay hơi tái trắng ra.
Lục An nghiêng đầu nhìn theo hướng tay nàng chỉ.
Trên trang sổ giao nhận, dòng ghi chép chuyển giao từ Phòng Rà Soát Hạn Mức sang khâu phê duyệt chính thức xuất hiện một khoảng trống bất thường kéo dài suốt ba ngày ròng rã. Không có con dấu luân chuyển của các phòng ban trung gian, không có chữ ký của thư lại phụ trách chuyển phát văn thư thường nhật.
Chỉ có một dòng chữ viết tay bằng mực đen đậm nét, nét chữ cứng cáp, dứt khoát mang phong thái của một kẻ nắm quyền sinh sát trong tay:
*‘Giờ Thân ngày mười lăm: Chuyển giao hồ sơ Canh-Chín về Thất Quản sự để trực tiếp xem xét và duyệt đặc cách theo thẩm quyền tài chính nội viện. Ký nhận: Chu Kính.’*
Và phải đến tận *‘Giờ Tỵ ngày mười tám’*, tập hồ sơ này mới được chuyển ngược trở lại Phòng Sao Chép và Lưu Trữ Chính Thức ở tầng một, mang theo con dấu xác nhận nợ đã hoàn tất với đầy đủ điều khoản cưỡng chế lao dịch tại mỏ Hắc Thạch Lĩnh.
“Nằm bất động trên bàn làm việc của Quản sự Chu Kính suốt trọn vẹn ba ngày đêm,” Lục An khẽ lẩm bẩm. Trong giọng nói của cậu không hề có chút phẫn nộ hay kích động nào, chỉ có sự điềm tĩnh đến rợn người của một người thợ thủ công vừa tháo tung cỗ máy phức tạp và tìm thấy đúng chiếc then chốt bị mài mòn có chủ đích. “Khoảng thời gian ba ngày đó bao trùm toàn bộ tiến trình biến cố của Mạnh Du: từ lúc hắn bước vào tĩnh thất bế quan, vận chuyển linh lực cưỡng ép đột phá khiếu huyệt Phong Phủ, chịu sự trừng phạt của thiên quy khiến thần hồn chấn động mất sạch ký ức cảm xúc, cho đến tận ngày đầu tiên hắn nằm bất tỉnh mê man tại y đường ngoại môn.”
“Một tập hồ sơ tài chính thông thường không bao giờ tự nhiên nằm lại trên bàn làm việc của một tu sĩ Trúc Đài sơ kỳ lâu đến thế mà không có lý do nghiệp vụ chính đáng,” Tạ Thanh Nghi khép cuốn sổ giao nhận lại với một tiếng *cộp* khô khốc, dứt khoát. Nàng quay sang nhìn Lục An, trong đôi mắt phượng hẹp dài của nàng đã hiện lên một quyết định lạnh lùng không thể lay chuyển: “Quyền hạn kiểm chứng sư tư pháp theo trát Bảy-Mốt cho phép ta đối chất trực tiếp với bất kỳ người nào nắm giữ mắt xích bị gián đoạn trong chuỗi bàn giao chứng từ. Đi thôi. Đã đến lúc chúng ta lên tầng ba gặp Quản sự Chu.”
***
Tầng ba của Tàng Ký Các hoàn toàn khác biệt với vẻ ẩm thấp, ngột ngạt và nồng nặc mùi bột chống mốc của những gian kho chứa giấy tờ thông thường ở tầng trệt. Không gian nơi đây vô cùng rộng rãi, thoáng đãng, sàn nhà lát bằng những tấm gỗ lim dày ba tấc đánh sáp bóng loáng, phản chiếu ánh sáng tự nhiên rực rỡ chiếu rọi qua những khung cửa sổ lớn bằng gỗ khắc hoa trổ thẳng về hướng rặng núi phía sau tông môn. Mùi trầm hương ngoại nhập loại thượng hạng thoang thoảng lan tỏa trong không khí, êm dịu và ấm áp, lấn át hoàn toàn cái mùi hăng hăng của lưu huỳnh và bột phấn trừ sâu vốn là đặc trưng cố hữu của những nơi lưu trữ hồ sơ công văn cổ xưa.
Quản sự Chu Kính ngồi ung dung sau chiếc bàn làm việc đồ sộ chế tác từ một khối gỗ tử đàn ngàn năm tuổi.
Y trạc ngoài năm mươi tuổi, vóc người đẫy đà, tóc mai đã điểm những sợi bạc nhưng được chải chuốt cẩn thận, búi gọn gàng trên đỉnh đầu bằng một cây trâm ngọc bích trơn nhẵn không tì vết. Y khoác trên mình bộ đạo bào màu tro thêu chìm hoa văn mây lượn đặc trưng của hàng ngũ quản sự chấp sự nội môn, tay áo rộng buông thõng xuống mặt bàn. Gương mặt Chu Kính vuông vức, đường nét đầy đặn, khóe môi luôn giữ một độ cong nhẹ nhàng, tự nhiên như thể đang mỉm cười độ lượng với mọi sự phiền toái nhỏ nhặt trên cõi đời này. Một luồng linh áp Trúc Đài sơ kỳ ấm áp, êm dịu tựa như làn gió xuân tỏa ra quanh thân y, không hề mang theo chút khí thế đe dọa hay bức bách nào đối với kẻ đối diện, mà trái lại, chỉ tạo ra một cảm giác vững chãi, quy củ và đáng tin cậy của một người đã dành cả đời mình để duy trì trật tự của tông môn.
Khi Tạ Thanh Nghi đẩy cánh cửa gỗ lim bước vào, theo sau là Lục An, Chu Kính vừa chậm rãi đặt chiếc chén sứ thanh hoa men lam xuống khay trà bằng bạc.
“Kiểm chứng sư Tạ, và vị tiểu hữu Lục An này từ xưởng giấy của Phùng Nghiêu lão nhân,” Chu Kính mỉm cười, giọng nói của y trầm ấm, vang nhẹ trong gian phòng rộng lớn tựa như tiếng chuông đồng gõ nhịp lúc hoàng hôn. “Hai vị đến sớm hơn ta dự tính một khắc. Vụ việc của đệ tử Mạnh Du dưới ngoại môn quả thực đã làm kinh động đến tận Giám Ký Viện, chuyện này khiến một kẻ phụ trách quản lý kho như bản tọa cảm thấy vô cùng hổ thẹn. Rõ ràng là các khâu giám sát của chúng ta dưới tầng trệt vẫn còn những kẽ hở chưa được lấp kín.”
Y thản nhiên đưa tay ra hiệu về phía hai chiếc ghế bọc da hoẵng êm ái kê đối diện bàn làm việc:
“Mời ngồi. Trà Bích Loa Xuân mới hái từ đỉnh Nam Khê gửi về sáng nay, nước pha được hứng từ sương sớm đọng trên lá trúc. Uống một ngụm có thể làm dịu bớt hỏa khí và cái lạnh thấu xương của chái đông.”
“Đa tạ hảo ý của Quản sự Chu, nhưng chúng ta đến đây thừa hành nhiệm vụ theo trát kiểm định tư pháp số Bảy-Mốt do Chưởng Quản viện ban hành,” Tạ Thanh Nghi không hề ngồi xuống. Nàng đứng thẳng tắp trước chiếc bàn gỗ tử đàn, hai tay nâng bản nợ Canh-Chín đã được bóc tách cùng chiếc đĩa ngọc chứa lớp màng dẫn hữu cơ đặt vững chãi lên mặt bàn gỗ bóng loáng. “Chứng cứ vật lý đã được xác lập hoàn chỉnh và không thể chối cãi. Dấu ấn huyết trên bản nợ này thực chất là sản phẩm chuyển dời từ phiếu ứng tiền đan dược ban đầu thông qua một lớp màng vật dẫn hữu cơ chế tác từ bong bóng cá tuyết. Dòng chữ xác lập khoản nợ năm mươi khối trung phẩm linh thạch cùng điều khoản cưỡng chế lao dịch được viết bổ sung sau thời điểm Mạnh Du xuất quan và mất đi ký ức.”
Nàng rút tiếp tờ trích lục chuỗi bàn giao từ trong tay áo, ngón tay đặt thẳng vào dòng chữ ký nhận mang tên Chu Kính:
“Tập hồ sơ này đã nằm lại trọn vẹn trong phòng làm việc riêng của ngài từ giờ Thân ngày mười lăm đến giờ Tỵ ngày mười tám. Quản sự Chu, ngài giải thích thế nào về khoảng thời gian gián đoạn ba ngày bất thường này trong chuỗi bàn giao công văn?”
Đối mặt với lời chất vấn đanh thép và những vật chứng rõ ràng đang nằm phơi bày ngay trước mắt, nụ cười trên gương mặt Chu Kính thậm chí không hề suy chuyển dù chỉ một phần mười sợi tóc. Ánh mắt y thản nhiên lướt qua chiếc đĩa ngọc lưu ly, nhìn mẩu màng mỏng mang dấu vân tay máu đang bồng bềnh trôi giữa làn nước trong suốt, rồi khẽ thở dài một tiếng đầy vẻ xót xa, buồn bã và thấu hiểu sâu sắc.
“Quả nhiên đúng là như vậy,” Chu Kính lắc đầu, tự tay nhấc ấm trà bằng đất nung lên, rót thêm một chén trà nữa cho chính mình, khói trắng bốc lên nghi ngút giữa khoảng không ngăn cách giữa y và Tạ Thanh Nghi. “Kiểm chứng sư Tạ quả không hổ danh là thanh kiếm sắc bén nhất của Giám Ký Viện. Sự tinh tường, tỉ mỉ và chuẩn xác này khiến một kẻ làm công tác lưu trữ già nua như ta vừa khâm phục lại vừa thấy xót xa. Cả Lục An tiểu hữu nữa, tay nghề phân biệt giấy mực gia truyền của Lục gia các ngươi quả thực không hề bị mai một theo năm tháng.”
Nói đến đây, ánh mắt Chu Kính bỗng nhiên lướt qua bao da đựng dụng cụ vắt bên hông Lục An. Ánh mắt y dừng lại ở chiếc khóa đồng cũ kỹ, sứt sẹo trên mép bao da trong đúng nửa nhịp thở—một cái nhìn nhận diện sâu kín, quen thuộc đến mức khiến da đầu Lục An khẽ run lên một cơn ớn lạnh kỳ dị, dù nụ cười trên gương mặt Chu Kính vẫn hòa nhã, ấm áp như gió xuân.
“Hai vị nghi ngờ ta, truy xét trách nhiệm của ta, đó là điều hoàn toàn hợp tình hợp lý theo đúng quy chế điều tra tư pháp,” Chu Kính điềm đạm cất lời, giọng điệu của y không hề có lấy một tia gay gắt, tự vệ hay chối bỏ trách nhiệm. “Ba ngày đó, tập hồ sơ Canh-Chín đúng là nằm trên chiếc bàn gỗ tử đàn này của ta. Nhưng hai vị có từng ở vào vị trí của ta để hiểu rõ hay không? Mỗi một tháng, Tàng Ký Các phải tiếp nhận bao nhiêu bộ hồ sơ xin ứng trước linh thạch và đan dược của các đệ tử ngoại môn sắp bước vào giai đoạn đột phá khiếu huyệt? Bảy mươi tám bộ. Mỗi một bộ hồ sơ đều cần phải đối chiếu cẩn thận với hạn ngạch dự trữ thực tế của kho đan dược, kiểm tra xem căn cốt và kinh mạch của họ có đủ điều kiện để gánh vác phần linh lực đó hay không. Mạnh Du là một trường hợp vô cùng đặc biệt—căn cốt của hắn thuộc diện Tạp Linh Căn, tư chất bình phàm nhưng lại liều lĩnh lựa chọn đột phá khiếu huyệt Phong Phủ, nguy cơ tẩu hỏa nhập ma và tổn thương thần hồn lên tới bảy phần.”
Chu Kính chậm rãi đứng dậy khỏi ghế. Thân hình to lớn của y phủ một bóng râm nhẹ xuống mặt bàn. Y quay người bước tới dãy tủ tài liệu khổng lồ bằng gỗ thiết mộc cao chạm trần nhà dựng sát bức tường phía sau. Y rút từ trong thắt lưng ra một chùm chìa khóa bằng đồng thau nặng trịch, tra vào ổ khóa của một ngăn tủ lớn có khắc chìm hai chữ *‘Công Khai’* sơn thếp vàng.
Một tiếng *cạch* vang lên giòn giã. Chu Kính kéo ngăn tủ ra, ôm lấy ba cuốn sổ lớn bìa bọc vải xanh dày cộp bước trở lại bàn, đặt chúng xuống trước mặt Tạ Thanh Nghi:
“Ta giữ lại hồ sơ của Mạnh Du suốt ba ngày đêm đó là để chờ đợi báo cáo giám định thể chất và đề xuất cấp phát đan dược bảo hộ tâm mạch từ phía Y Đường ngoại môn gửi sang. Ban quản lý kho chúng ta làm việc luôn lấy chữ ‘Công Minh’ làm đầu, mọi quy trình đều có giấy tờ đối ứng. Mời Kiểm chứng sư cứ việc mở ra tra xét toàn bộ sổ sách đăng ký nhập kho, nhật ký chuyển phát văn thư và biên bản niêm phong của những ngày đó. Nếu có bất kỳ trang nào bị cạo sửa, chêm thêm, hoặc thiếu dấu triện giáp lai của Chưởng Quản viện, bản tọa xin cam đoan sẽ lập tức tự trói mình, bước lên Giám Ký Viện để chịu tội theo môn quy.”
Tạ Thanh Nghi liếc nhìn Lục An một cái. Nhận được cái gật đầu kín đáo của cậu, nàng cúi xuống lật mở cuốn sổ đầu tiên.
Đó là cuốn sổ cái ghi chép toàn bộ hoạt động đăng ký nhập kho và luân chuyển văn bản chính thức của Tàng Ký Các trong tháng hiện tại. Từng trang giấy bản dày dặn đều được đánh số thứ tự liên tục bằng mực son đỏ tươi từ trang một đến trang cuối cùng. Cứ mỗi hai trang liền kề, mép trên và mép dưới đều mang một nửa dấu triện giáp lai hình bán nguyệt của Chưởng Quản viện, chứng minh không có bất kỳ tờ giấy nào có thể bị xé bỏ hay tráo đổi mà không để lại dấu vết đứt gãy.
Chu Kính đứng chắp tay sau lưng, thản nhiên cúi nhìn trang sổ, ngón tay trỏ chỉ vào từng mục đối ứng với giọng điệu rành rọt, khúc chiết:
“Các ngươi hãy tự mình nhìn xem từng con số. Giờ Tỵ ngày mười lăm, hồ sơ Canh-Chín được tiếp nhận vào kho: Mã số đăng ký 1104, có đầy đủ chữ ký của thư lại tiếp nhận Lý Tuần. Giờ Thân ngày mười lăm, hồ sơ được chuyển lên bàn làm việc của ta: Mã số nội bộ 1104-Phụ, ghi chú lý do rõ ràng là chờ đối soát hồ sơ y tế từ Y Đường. Và đến giờ Tỵ ngày mười tám, ngay sau khi có giấy báo chính thức từ y đường xác nhận Mạnh Du đã đột phá thành công nhưng bị tổn thương ký ức, hồ sơ được ký lệnh chuyển xuống Phòng Sao Chép ở tầng trệt: Mã số 1104-Hoàn tất, có chữ ký giao nhận của người chuyển phát trung gian.”
Tạ Thanh Nghi nheo mắt lại. Nàng rút chiếc trâm bạc mảnh từ tay Lục An, cẩn thận đặt đầu nhọn của trâm rà dọc theo mép cắt của dấu triện giáp lai hình bán nguyệt nối giữa trang chứa mã số 1104 và trang kế tiếp.
Mọi thứ khớp nhau một cách hoàn hảo đến mức rợn người.
Mực son của dấu triện chia đôi ở hai mép trang giấy liền kề không lệch nhau dù chỉ một phần mười sợi tóc. Độ ẩm của giấy trúc, độ ngả vàng tự nhiên của mặt giấy, và tuổi mực của các dòng chữ ghi mã số hoàn toàn đồng nhất với hàng chục mục công văn khác nằm xung quanh. Không hề có bất kỳ dấu vết nào của việc cạo tẩy, dùng hóa chất tẩy mực, hay tách lớp sợi để chêm một trang giả mạo vào giữa cuốn sổ.
Đây là một hệ thống chứng từ hành chính hoàn hảo, kín kẽ và vững chắc tựa như một khối đá tảng nguyên khối được gọt đẽo nghìn năm.
“Người chuyển phát trung gian nhận trách nhiệm mang tập hồ sơ này từ phòng làm việc của ngài xuống Phòng Sao Chép ở tầng trệt vào giờ Tỵ ngày mười tám là ai?” Tạ Thanh Nghi ngẩng phắt đầu lên, ánh mắt sắc như dao găm xoáy thẳng vào đôi mắt sâu thẳm của Chu Kính, giọng nói mang theo áp lực chất vấn nặng nề.
Chu Kính không hề né tránh ánh nhìn đó. Y khẽ nghiêng đầu, đưa ngón tay chỉ vào một chữ ký tắt ngoằn ngoèo, mờ nhạt nằm ở cột ghi nhận người chuyển giao:
“Đó là đội ngũ vận chuyển lưu động của khu vực ngoại viện. Mỗi một ngày, viện vụ sẽ bố trí năm đệ tử tạp dịch luân phiên nhau tiếp nhận các hòm tài liệu đã niêm phong từ các phòng quản sự để mang phân phát sang các phòng ban chức năng khác nhau. Để tiết kiệm chi phí bùa chú cao cấp, chúng ta chỉ niêm phong các hòm gỗ đựng tài liệu bằng bùa phong bế cấp thấp thông thường, bên trong mỗi hòm chứa hàng chục bộ hồ sơ linh tinh khác nhau. Nếu quả thực có kẻ dùng kỹ thuật tinh vi để bóc tách ấn huyết, sửa đổi nội dung khoản nợ của Mạnh Du, thì điều đó chỉ có thể xảy ra trong quá trình vận chuyển trung gian này—nơi các hòm giấy tờ phải đi qua những đoạn hành lang chung đông đúc, qua khu vực kho trung chuyển lộn xộn của ngoại môn, nơi mà bất kỳ ai có chút thủ đoạn và hiểu biết về bùa chú đều có thể dễ dàng tiếp cận trong một vài khắc đồng hồ ngắn ngủi.”
Chu Kính nhìn thẳng vào mắt Tạ Thanh Nghi, trong đáy mắt y toát lên một vẻ chân thành, tha thiết và đầy tinh thần hợp tác vì công lý:
“Tàng Ký Các chúng ta, và bản thân ta, trên thực tế cũng chỉ là nạn nhân của sự xâm nhập tinh vi và kẽ hở quản lý này mà thôi. Có kẻ nào đó bên ngoài đã nắm bắt được quy trình lỏng lẻo trong khâu vận chuyển của đệ tử tạp dịch để tráo đổi nội dung bản khế ước nhằm trục lợi sức lao động và linh thạch của Mạnh Du sau khi hắn mất trí nhớ. Bản thân bản tọa ủng hộ tuyệt đối cuộc điều tra này của Giám Ký Viện. Nếu Kiểm chứng sư Tạ cần tra xét toàn bộ danh sách, lai lịch của năm đệ tử tạp dịch trực ban vận chuyển trong ngày mười tám đó, ta sẽ lập tức ký lệnh phê duyệt để các ngươi triệu tập bọn họ lên đối chất ngay trong ngày hôm nay.”
Một câu trả lời hoàn hảo đến mức tàn nhẫn.
Chu Kính không hề phủ nhận sự tồn tại của việc giả mạo chứng từ, y không hề tìm cách bảo vệ tính hợp pháp của bản hợp đồng nợ năm mươi khối linh thạch trung phẩm, nhưng bằng sự am hiểu tường tận đến từng chân tơ kẽ tóc của bộ máy quan liêu, y đã khéo léo biến toàn bộ hệ thống kho lưu trữ cấp cao thành một nạn nhân vô tội, bị lợi dụng bởi những kẻ giấu mặt. Y đẩy toàn bộ trách nhiệm hình sự, trách nhiệm giám sát và thao túng sang một “khâu vận chuyển trung gian chưa rõ danh tính”—một cái hố đen không đáy mà bất kỳ cuộc điều tra tư pháp nào sa vào cũng sẽ phải tiêu tốn hàng tháng trời để thẩm vấn, sàng lọc hàng trăm đệ tử ngoại môn không tên tuổi, để rồi cuối cùng chỉ tìm thấy một vài kẻ thế mạng vô tội hoặc những kẻ đã biến mất không dấu vết khỏi tông môn từ lâu.
Lục An đứng im như tượng gỗ bên cạnh bàn, đôi mắt đen khẽ đảo qua các con số mã hóa được ghi chép ngay ngắn trên đầu trang sổ. Cậu phát hiện ra một chi tiết kỳ lạ: các ký hiệu mã hóa chữ cái đầu của danh mục hồ sơ nhập kho ở góc trên bên phải trang giấy không tuân theo quy chuẩn ba chữ số truyền thống của Thanh Khê Tông, mà lại mang tiền tố gồm hai chữ cái lồng vào nhau một cách phức tạp—một cách thức ký hiệu đặc trưng thường thấy trong các danh mục hàng ký gửi bảo mật có xuất xứ từ các phường buôn tư nhân bên ngoài bờ cõi tông môn.
Nhưng cậu chưa kịp mở miệng để đưa ra nghi vấn thì một tiếng động khẽ khàng bên cạnh đã đột ngột cắt ngang dòng suy nghĩ của cậu.
Tạ Thanh Nghi đột ngột ngừng thở.
Toàn bộ cơ thể nàng cứng đờ lại như thể vừa bị một luồng hàn khí cực mạnh phong ấn vào khối băng ngàn năm. Bàn tay nàng, vốn đang chậm rãi lật giở một trang sổ phụ trợ ghi chép các tài sản bảo chứng lưu kho, bỗng khựng lại giữa không trung. Các đầu ngón tay thanh mảnh của nàng bắt đầu run rẩy nhẹ một cách mất kiểm soát—một phản ứng sinh lý bản năng chưa từng bao giờ xuất hiện ở một kiểm chứng sư dày dạn kinh nghiệm, người luôn nổi tiếng khắp Giám Ký Viện với biệt danh ‘Băng Tâm Thư Lại’.
Chu Kính dường như không để ý đến sự thay đổi đó, y vẫn đang thao thao bất tuyệt lật thêm một tập hồ sơ phụ bằng da thuộc đặt bên cạnh:
“...Đây là danh mục đối soát tài sản bảo chứng và các khoản tự nguyện chuyển giao từ các chu kỳ trước, dùng để chứng minh tính nhất quán tuyệt đối trong quy trình ghi chép sổ sách của kho Tàng Ký Các chúng ta qua nhiều năm...”
Nhưng ánh mắt của Tạ Thanh Nghi lúc này hoàn toàn không còn nhìn vào những con số linh thạch, không nhìn vào những điều khoản bảo chứng hay những con dấu giáp lai đỏ rực nữa. Đôi đồng tử của nàng co thắt lại dữ dội đến mức biến dạng, dán chặt vào một dòng chữ viết tay bằng mực tím đã ngả màu xám tro, nằm lặng lẽ ở góc dưới cùng của trang lưu trữ hồ sơ của bốn năm về trước.
Đó là một dòng danh mục ghi chép ngắn ngủi về các tu sĩ nội môn được đưa vào diện thanh lý tài sản và di vật sau biến cố chấn động tông môn: Biến cố Tĩnh Chuông.
*‘Mã hồ sơ: TV-0409. Đệ tử Tạ Vân — Chức vụ: Kiểm tra an toàn đo đạc trận pháp tháp chuông. Tình trạng: Đã tự nguyện chuyển nhượng toàn bộ ký ức liên quan đến cơ chế vận hành móng tháp trước khi tọa hóa.’*
Phía dưới dòng chữ ngắn ngủi đầy oan nghiệt đó, nét bút son đỏ tươi của người ký duyệt chuẩn y việc tiếp nhận và chuyển giao số ký ức bị tước đoạt ấy vẫn còn sắc lẹm, mang một phong thái ung dung, đĩnh đạc và quen thuộc đến cùng cực:
*‘Chu Kính.’*
Một cơn gió mạnh từ khung cửa sổ lớn của tầng ba Tàng Ký Các bất ngờ thổi thốc vào phòng. Ngọn gió mang theo cái lạnh buốt giá của rặng núi tuyết phía sau lưng, cuốn tung những tàn tro trầm hương trong lư đồng, làm lay động dữ dội vạt áo trắng muốt của Tạ Thanh Nghi. Trong căn phòng ngập tràn hương thơm đắt tiền và sự ấm áp giả tạo, tiếng thở của nàng bỗng trở nên nông cạn, ngắt quãng và nghẹn ứ lại nơi lồng ngực, tựa như một mảnh linh hồn sâu kín nhất của nàng vừa bị một bàn tay vô hình tàn nhẫn xé toạc ra giữa ban ngày ban mặt.
Lục An đứng bên cạnh nhìn thấy rất rõ: từng đường gân xanh nhỏ li ti khẽ nổi lên trên mu bàn tay trắng bệch của nàng, các khớp ngón tay nắm chặt lại đến mức đốt ngón tay biến thành màu trắng bệch như sáp nến. Nhưng nàng không hề hét lên. Nàng không hề rút thanh trâm bạc ra để đâm tới, cũng không để cho bất kỳ một giọt nước mắt nào kịp ứa ra nơi khóe mi. Sự kiểm soát cảm xúc sắt đá và tàn nhẫn của một người tu sĩ từng nếm trải nỗi đau mất mát người thân và sự lạnh lùng của quy chế tông môn đã khiến nàng chỉ khẽ cụp hàng mi dài xuống, dùng bóng tối của mi mắt để che đi ngọn lửa hận thù lạnh lẽo, buốt giá đang cuộn trào dữ dội nơi đáy mắt.
“Kiểm chứng sư Tạ? Sắc mặt của nàng dường như không được tốt, nàng không sao chứ?” Chu Kính bỗng nhiên dừng lại dòng giải thích, y khẽ nghiêng đầu nhìn nàng với một vẻ mặt ân cần, lo lắng và chu đáo đến mức không thể tìm ra một chút sơ hở nào.
Tạ Thanh Nghi chậm rãi rút bàn tay đang run rẩy lại. Nàng giấu những ngón tay lạnh ngắt vào sâu trong ống tay áo rộng màu tuyết. Nàng ngẩng đầu lên, gương mặt nàng trắng bệch không còn một giọt máu, nhưng nụ cười nhạt nơi khóe môi nàng lúc này lại lạnh hơn cả những tảng huyền băng dưới đáy thung lũng:
“Không sao. Sổ sách lưu trữ của Quản sự Chu quả thực rất hoàn hảo. Rất chu toàn. Không có lấy một kẽ hở nào cho người ngoài bắt bẻ.”
Nói đoạn, nàng dứt khoát quay người lại, không nhìn thêm bản nợ hay cuốn sổ cái lấy một lần nào nữa, cất bước đi thẳng ra phía cánh cửa gỗ lim của gian phòng. Chiếc áo choàng lụa trắng phần phật bay trong gió, dứt khoát cắt ngang làn khói trầm hương đang lượn lờ nghi ngút trên sàn nhà.
Lục An cúi đầu chắp tay chào Chu Kính theo đúng nghi lễ chuẩn mực của một đệ tử ngoại môn hèn mọn, thu lại chiếc kính phóng đại và cây trâm bạc vào túi da, rồi vội vã rảo bước đi theo sau bóng lưng nàng.
Ánh mắt sâu thẳm của Chu Kính dõi theo bóng lưng hai người cho đến khi tiếng bước chân của họ chìm dần sau cánh cửa gỗ lim nặng nề vừa khép lại. Nụ cười hòa nhã trên môi y từ từ nhạt dần, rồi biến mất hoàn toàn, chỉ còn lại sự tĩnh lặng thâm sâu, lạnh lẽo tựa như đáy của một chiếc giếng cạn ngàn năm không thấy ánh mặt trời.
Bước ra khỏi hành lang dài hun hút và ẩm tối của Tàng Ký Các, ngọn gió lạnh thấu xương từ đáy thung lũng lập tức ùa tới, tạt thẳng vào mặt hai người khiến vạt áo bay phần phật. Mặt trời buổi trưa đã lên cao quá đỉnh ngọn tháp Tĩnh Chuông khổng lồ dựng đứng giữa trung tâm tông môn, nhưng bóng đen dài ngoằng, nặng nề của ngọn tháp đá ngàn trượng ấy vẫn đổ dài trùm lên toàn bộ khoảng sân đá xám ngoét dưới chân họ, nuốt chửng ánh sáng ấm áp của ban ngày.
Rời phòng kho, Tạ Thanh Nghi nói: Chị ta bị ghi tự nguyện chuyển nhượng, người ký duyệt là Chu Kính.