Bản Nhạc Cũ
Con ngõ nhỏ ngoằn ngoèo rẽ vào từ đường Hào Nam, chạy dọc theo bờ tường phía sau Nhạc viện Hà Nội, ngập tràn bóng râm của hàng cây xà cừ cổ thụ đã đứng đó qua nhiều thế hệ sinh viên.
Gió đầu hạ mang theo hơi ẩm nồng nã thổi qua vòm lá rậm rạp, làm rơi rụng lả tả những chùm hoa xà cừ li ti, khô ráp xuống mặt đường nhựa loang lổ vết nứt chân chim. Từ các ô cửa sổ mở hé trên tầng cao của tòa nhà học vụ Nhạc viện cách đó một dãy tường hoa, tiếng luyện thanh soprano lảnh lót vút lên cao rồi đứt quãng, xen lẫn tiếng đàn cello rền rĩ dạo đi dạo lại một đoạn chạy ngón âm giai thứ. Những âm thanh quen thuộc đến thắt lòng ấy từng là bầu không khí hít thở hàng ngày của Đặng Khánh Linh, nhưng suốt ba năm qua, cô đã tìm mọi cách để bịt tai, ngoảnh mặt, trốn chạy khỏi chúng.
Hôm nay, chính những thanh âm ấy lại như những sợi dây vô hình kéo lê từng bước chân cô trở về chốn cũ.
Linh đứng chôn chân trước bậc thềm tam cấp phủ đầy rêu xanh của một ngôi nhà cổ mang kiến trúc Pháp thuộc đã xuống cấp. Tấm biển gỗ treo nghiêng lệch bên khung cửa sổ hình vòm sơn màu xanh lục bong tróc, trên khắc mấy chữ thếp vàng đã mờ xỉn: *Hiệu sách Bản Nhạc Cũ*.
Hai bàn tay Linh siết chặt lấy quai chiếc túi xách bằng vải thô dày cộm, siết mạnh đến mức các khớp ngón tay trắng bệch, mồ hôi lạnh rỉ ra râm ran trong lòng bàn tay. Bên trong lớp vải thô thô ráp ấy là tập tổng phổ khổ lớn A3 mang tên *“Khúc Tưởng Niệm Mùa Thu”* – kỷ vật đớn đau của thời thanh xuân mà đêm qua, sau khi đọc xong bức thư điện tử sắc ngọt như dao mổ của người cộng tác mang bí danh “G”, cô đã quỳ gối bới tung đáy tủ quần áo để tìm lại.
Tập tổng phổ nằm áp sát vào mạn sườn Linh qua lớp áo sơ mi mỏng, nặng trịch và nóng rực như một khối than hồng âm ỉ cháy. Đêm qua cô không chợp mắt lấy một phút. Từng câu chữ của “G” cứ lặp đi lặp lại trong đầu cô như một hồi chuông cảnh tỉnh: *“Tại sao ở ô nhịp thứ 24, bạn lại lùi về vùng an toàn? Tại sao bạn luôn sợ hãi việc để cho bản thân mình trần trụi trước âm nhạc? Bạn đang phòng thủ trước ai?”*
Linh hít một hơi thật sâu. Lồng ngực cô thắt nghẹn bởi nỗi hồi hộp, sự run rẩy và cả một khối ngổn ngang đã nén chặt ròng rã ba năm trời. Cô đưa tay đẩy nhẹ cánh cửa gỗ lim bạc màu.
Tiếng chuông đồng nhỏ gắn trên mép cửa khẽ lắc lư, phát ra một tiếng “keng” thanh mảnh, trong trẻo, xé toạc không gian tĩnh lặng của con ngõ trưa.
Mùi giấy ẩm mốc quen thuộc lập tức ùa tới, xộc thẳng vào cánh mũi Linh, quấn quyện lấy mùi hương nhàn nhạt của gỗ thông mục, mực in lưu huỳnh và bã trà mạn sấy khô trong góc phòng. Không gian bên trong hiệu sách cũ kỹ, tĩnh mịch đến lạ kỳ, dường như hoàn toàn tách biệt khỏi sự ồn ã, xô bồ của phố xá Hà Nội đang cuồn cuộn ngoài kia.
Những chiếc giá gỗ cao kịch trần oằn mình dưới sức nặng của hàng vạn tập sách giáo trình, các tuyển tập tiểu phẩm piano từ thời Đông Dương, những bản thảo ký âm chép tay thủ công trên giấy dó đã ngả màu cánh gián từ thời tiền chiến, và vô số bản in Roneo sờn rách mép của Bach, Beethoven, Chopin, Tchaikovsky, xen lẫn những tập nhạc của các nhạc sĩ tiền bối Việt Nam như Hoàng Việt, Văn Cao, Đỗ Nhuận. Bụi bặm lơ lửng nhảy múa trong những vệt nắng xiên khoai chiếu qua ô cửa chớp hẹp.
Và ngay giữa căn phòng nhỏ hẹp ấy, bên chiếc bàn gỗ lim sẫm màu bóng loáng vân thời gian, một bóng người gầy gò, quen thuộc đang ngồi quay lưng về phía cửa ra vào.
Giảng viên sáng tác đã nghỉ hưu Trần Quốc Vinh đang tỉ mẩn dùng một mảnh khăn nhung màu hạt dẻ lau cặp kính lão gọng đồi mồi. Mái tóc của ông đã bạc trắng quá nửa, những sợi tóc cước lởm chởm sau gáy cắt ngắn gọn gàng. Bờ vai ông hơi so lại dưới lớp áo sơ mi sọc xanh nhạt đã sờn rách ở mép cổ áo, toát lên vẻ khắc khổ muôn thuở của một trí thức hàn lâm già nua dành cả đời sống chết với từng dòng kẻ khuông nhạc.
Trên mặt bàn gỗ lim đặt một tách trà gốm Bát Tràng đang bốc làn khói mảnh như sợi tơ, vài tập tổng phổ chép tay khổ lớn của sinh viên nộp nhờ sửa chữa, một cây bút máy Parker nắp mạ vàng đã mòn vẹt và một chiếc chặn giấy bằng đồng thau đúc hình chiếc khóa Sol nặng trịch.
Linh sững sờ. Đôi chân cô như bị đổ chì dính chặt xuống nền gạch hoa kiểu Pháp đã mòn nhẵn hoa văn.
Dù biết rõ sau khi rời khỏi bục giảng của khoa Sáng tác, thầy Vinh đã chọn chốn này làm nơi dừng chân, dành những năm tháng cuối đời để sưu tầm, phân loại và gìn giữ những bản nhạc cổ vô giá của Nhạc viện, nhưng việc trực tiếp đối diện với người từng tự tay dập tắt toàn bộ giấc mơ thanh xuân của mình vẫn là một cú giáng tàn khốc vào tinh thần vốn đã mong manh của cô. Ký ức về buổi bảo vệ tốt nghiệp ba năm trước đột ngột dội về như một cơn ác mộng: ánh đèn vàng vọt của phòng hòa nhạc nhỏ, những cặp mắt soi mói của hội đồng chấm thi, tiếng thở dài lạnh buốt của người thầy ngồi ở ghế chủ tịch, và bản án sấm truyền nghiền nát tất cả: *“Kỹ thuật rất sạch sẽ, nhưng nhạc không có hồn. Em viết như một cái máy sao chép không cảm xúc.”*
Nghe tiếng chuông đồng rung lên cùng tiếng bước chân ngập ngừng khựng lại phía cửa, ông Vinh chậm rãi cài lại gọng kính lão lên sống mũi. Đôi bàn tay gầy gò nổi rõ những đường gân xanh của ông dừng lại trên mặt bàn, rồi ông từ từ xoay người lại.
Ánh mắt nghiêm nghị, sắc sảo giấu sau cặp tròng kính dày cộp quét qua người khách lạ. Ông nheo mắt lại trong vài giây phân vân, cố lục tìm trong trí nhớ đã nhuốm màu thời gian. Rồi, như nhận ra bóng hình quen thuộc của đứa học trò từng khiến mình đặt nhiều kỳ vọng nhất, đồng tử ông khẽ giãn ra, toàn thân bất giác khựng lại.
Không gian bên trong hiệu sách chìm vào một khoảng lặng đặc quánh, nặng nề đến mức người ta có thể nghe thấy cả tiếng một hạt bụi rơi xuống mặt giấy bản, tiếng nước sôi tăm tắp trong chiếc ấm nhôm đặt trên bếp điện con trong góc phòng.
Chiếc khăn nhung màu hạt dẻ trên tay người thầy giáo già từ từ tuột xuống, rơi hờ hững trên mặt bàn lim. Hai người nhìn nhau, một già một trẻ, ngăn cách bởi khoảng cách ba năm dằng dặc và một vết thương chưa từng khép miệng.
Đối với ông Vinh, ba năm có lẽ chỉ là một đoạn ngắn trong chuỗi ngày hưu trí lặng lẽ bên những trang giấy cổ. Nhưng đối với Linh, ba năm ấy là cả một kiếp lưu đày nội tâm, là chuỗi ngày chôn vùi tuổi trẻ trong mặc cảm bất tài, tự giam mình trong bốn bức tường cách âm chật chội của Trung tâm Mộc Cầm, lặp đi lặp lại những bài tập ngón cơ bản cho lũ trẻ con để trốn chạy bản án nghiệt ngã năm nào.
"Linh... phải không?"
Giọng ông Vinh cất lên, trầm thấp, khàn đặc vì tuổi tác và thói quen uống trà đậm, nhưng ngữ điệu vẫn giữ nguyên sự dứt khoát, chuẩn xác, không thừa một âm tiết của một nhà sư phạm âm nhạc kinh viện lão thành.
Linh nuốt khan một ngụm nước bọt cay đắng. Cổ họng cô khô khốc như có cát chà xát. Theo một phản xạ tự vệ cố hữu đã ăn sâu vào tiềm thức, cô cúi gập đầu thật thấp, hai bàn tay bấu chặt vào gấu áo sơ mi:
"Em... em chào thầy ạ."
Ông Vinh không lập tức đứng dậy chào đón hay tỏ vẻ vồn vã. Ông ngồi yên trên chiếc ghế bành bọc da cũ kỹ, ánh mắt chăm chú nhìn cô gái trẻ thật lâu. Ông lướt qua gương mặt xanh xao, bờ môi tái nhợt, đôi mắt thâm quầng trũng sâu sau một đêm thức trắng, rồi dừng lại thật lâu ở chiếc túi vải thô cô đang ôm khư khư trước ngực như một tấm khiên che chắn sinh mạng.
Trong đôi mắt đục mờ vì năm tháng của người thầy già, một tia cảm xúc phức tạp thoáng lóe lên – có sự kinh ngạc, có bùi ngùi xót xa, và dường như có cả một thoáng ân hận sâu kín mà ông đã giấu kín sau vẻ ngoài lạnh lùng suốt ngần ấy năm trời.
"Đã ba năm rồi nhỉ," ông thở dài, tiếng thở nghe nặng nề như tiếng lá rụng. Ông đưa bàn tay run rẩy chỉ về phía chiếc ghế đẩu bằng gỗ mít tròn kê đối diện bàn làm việc. "Ngồi đi. Đứng mãi ở cửa làm gì cho gió lùa."
Linh bước tới từng bước một, gót giày vải chạm khẽ lên sàn gạch phát ra những âm thanh khô khốc. Mỗi bước đi đối với cô nặng nề như đeo chì. Cô ngồi xuống mép chiếc ghế đẩu, hai đầu gối khép chặt, sống lưng giữ thẳng tắp một cách cứng nhắc như một thí sinh đang căng thẳng chờ đợi hội đồng giám khảo xướng tên vào phòng thi.
Ba năm trước, ngay sau khi kết thúc buổi bảo vệ tốt nghiệp đầy ê chề, cô đã thu dọn toàn bộ tài liệu, rời khỏi Nhạc viện mà không một lời từ biệt với bất kỳ ai. Cô không đến dự lễ bế giảng, không bước lên bục nhận tấm bằng tốt nghiệp danh dự loại giỏi mà khoa trao tặng, cắt đứt hoàn toàn liên lạc với bạn bè cùng khóa, lặng lẽ rút lui về dạy hợp đồng tại Trung tâm Mộc Cầm. Cô đã trốn chạy ông Vinh, trốn chạy những giảng viên từng kỳ vọng vào cô, và tàn nhẫn hơn cả, cô trốn chạy chính sự phán xét cay độc của bản thân mình.
"Nghe cô Thu Hà bên Mộc Cầm thỉnh thoảng ghé qua đây mua giáo trình có kể, em vẫn đang dạy piano cho lũ trẻ vỡ lòng bên ấy," ông Vinh mở lời, tay cầm ấm sứ rót một dòng nước sôi nóng rẫy vào tách trà mạn, làm bốc lên một làn khói thơm ngát mùi hoa ngâu. "Mấy năm qua... em không viết thêm được tác phẩm nào à?"
Câu hỏi của ông rơi trúng vào vết thương sâu kín và nhức nhối nhất trong tâm can Linh, khiến hai bờ vai gầy của cô khẽ co rúm lại. Cô cụp mắt nhìn chằm chằm vào những đường vân gỗ sần sùi trên mặt bàn lim, nơi có một vết sẹo sâu do tàn thuốc lá để lại từ nhiều năm trước.
"Em... em không viết được nữa thưa thầy," Linh cất giọng, tiếng nói nhỏ và nghẹn như hơi thở hắt ra từ lồng ngực bị đè nén. Ngón tay cô vô thức bấm sâu vào lòng bàn tay đến mức bật máu. "Sau kỳ thi năm đó, em đã hiểu ra... em không có đủ tư chất để trở thành một người sáng tác. Lời thầy dạy ngày ấy... từng chữ một, em chưa bao giờ dám quên."
"Lời tôi dạy?"
Ông Vinh khẽ nhướng đôi lông mày bạc trắng đã rụng lơ thơ, khóe môi giật giật một cách chua chát. Ông buông chén trà xuống đĩa lót bằng gốm nghe một tiếng *cạch* khô khốc.
"Tôi nhớ là ngày hôm đó, tôi đã buông ra một lời phán xét cẩu thả và tàn nhẫn thì đúng hơn. 'Nhạc không có hồn', đúng không?"
Linh giật thót mình ngẩng phắt đầu lên. Cô không thể ngờ rằng sau ba năm trời, giữa hàng trăm lứa sinh viên ra trường, ông lại có thể nhớ chính xác đến từng từ, từng chữ của bản án đã dập tắt toàn bộ sự tự tin và lòng kiêu hãnh tuổi trẻ của cô.
Cụm từ ấy từng như một mũi dao găm tẩm độc cắm sâu vào lồng ngực cô suốt một nghìn ngày qua. Nó biến thành một bóng ma ám ảnh mỗi khi cô ngồi trước phím đàn. Cứ mỗi lần cô định đặt bút viết xuống một nốt nhạc, hay mỗi lần cô định thả hồn mình trôi theo một đoạn chuyển điệu ngẫu hứng, cụm từ “không có hồn” lại vang lên bên tai như một lời nguyền rủa, bóp nghẹt mọi cảm xúc vừa nhen nhóm. Và đêm qua, kẻ mang bí danh “G” bí ẩn ấy lại một lần nữa xới tung vết sẹo ấy lên, phơi bày nó ra trần trụi dưới ánh đèn huỳnh quang.
Thay vì né tránh ánh mắt ngập tràn uất ức và đau đớn của cô học trò cũ, ông Vinh khẽ thở hắt ra một hơi dài, đôi mắt già nua nhìn sâu vào mắt cô với một vẻ thấu suốt lạ thường.
Ông không nói thêm lời nào, chỉ lặng lẽ xoay người sang bên cạnh, cúi xuống vươn tay kéo chiếc ngăn kéo dưới cùng của chiếc bàn làm việc gỗ lim. Chiếc ngăn kéo bằng gỗ thịt nặng trịch, lâu ngày không mở, phát ra tiếng kêu *két* trầm đục và khô khốc.
Từ bên trong khoảng tối sâu hun hút của chiếc ngăn kéo, nơi chứa đầy những tập hồ sơ lưu trữ cũ kỹ, đôi bàn tay đồi mồi của ông Vinh không lấy ra một cuốn sổ danh bạ hay một hộp trà mới. Ông cẩn thận nhấc ra một tập hồ sơ khổ A3 dày cộp, được bọc cẩn thận trong một lớp bìa giả da màu xanh rêu đã sờn rách ở các góc gáy. Bề mặt lớp bìa da phủ một lớp bụi mỏng, nhưng trên đó vẫn còn in rõ những dòng chữ mạ nhũ vàng đã mờ: *Tổng phổ Tốt nghiệp – Khoa Sáng tác Nhạc viện Hà Nội*.
Ông đặt tập tài liệu nặng trịch lên mặt bàn gỗ lim, lấy chiếc khăn nhung lau nhẹ lớp bụi trên bìa, rồi đẩy nó về phía Linh.
"Cái này, lẽ ra tôi phải tự tay đưa lại cho em từ ba năm trước," ông Vinh nói, giọng ông chùng hẳn xuống, run run một cách bất thường. "Nhưng sau buổi bảo vệ tốt nghiệp định mệnh đó, em biến mất quá nhanh. Sáng hôm sau tôi gọi điện về văn phòng khoa tìm em thì người ta bảo em đã nộp đơn xin rút tên khỏi triển lãm tác phẩm mới, từ chối nhận giấy khen của hội đồng, rồi cắt đứt toàn bộ liên lạc, đổi cả số điện thoại."
Trái tim Linh như ngừng đập một nhịp. Cô bàng hoàng nhìn tập tài liệu màu xanh rêu nằm sừng sững trước mặt.
Bằng đôi bàn tay run rẩy đến mất kiểm soát, Linh lật mở lớp bìa da cũ kỹ.
Trang tiêu đề hiện ra dưới mắt cô: *“Khúc Tưởng Niệm Mùa Thu” – Tác phẩm khí nhạc cho tứ tấu dây và piano. Tác giả: Đặng Khánh Linh. Giảng viên hướng dẫn: NSƯT. Trần Quốc Vinh.*
Đây chính là bản thảo chép tay thứ hai mà cô đã nộp lưu chiểu cho hội đồng chấm thi ba năm trước. Cô từng đinh ninh rằng nó đã bị quẳng vào một góc kho lưu trữ ẩm mốc nào đó của thư viện Nhạc viện, hoặc tệ hơn, đã bị người ta đem đi thanh lý cùng đống giấy vụn từ lâu.
Nhưng điều khiến Linh nghẹn thở, khiến sống mũi cô cay xè và toàn thân run lên bần bật không phải là sự xuất hiện nguyên vẹn của bản thảo, mà là những nét bút mực đỏ dày đặc, nắn nót xuất hiện ở khắp các lề trang, chèn vào giữa từng khuông nhạc, từng bè phức điệu.
Không hề có một dấu gạch chéo thô bạo nào. Không hề có những lời mạt sát, gạt bỏ như trong tưởng tượng đầy sợ hãi của cô suốt ba năm qua.
Dưới ngòi bút máy mực đỏ sắc sảo của người thầy giáo khắt khe bậc nhất Nhạc viện là những dòng phân tích chuyên môn vô cùng tỉ mỉ, chi tiết đến từng dấu lặng, từng nốt hoa mỹ:
*“Ô nhịp 12 đến 16: Cách xử lý đảo phách ở bè cello kết hợp với việc chuyển điệu đột ngột từ Đô trưởng sang La thứ song song rất tinh tế. Bộc lộ một trực giác hòa âm xuất sắc hiếm thấy ở lứa sinh viên cùng khóa.”*
*“Ô nhịp 28: Chuỗi hợp âm bảy thứ (Am7 - Dm7) kết hợp với các nốt treo lơ lửng ở bè violon một tạo được một không gian hoài niệm rất đặc trưng của Hà Nội. Rất đắt giá. Cần giữ nguyên cấu trúc này khi dàn dựng thực tế.”*
*“Bè trầm đi tuyến giai điệu độc lập hoàn toàn, đối vị phức điệu hai bè được xử lý mẫu mực theo phong cách Baroque nhưng mang hơi thở hiện đại. Nền tảng học thuật của tác giả vô cùng vững vàng.”*
Linh lật từng trang, từng trang trong sự bàng hoàng tột độ. Đầu ngón tay cô lướt qua những dòng mực đỏ đã khô từ nhiều năm trước. Và rồi, cô dừng lại ở trang cuối cùng của bản tổng phổ.
Nơi góc phải dưới cùng, bên cạnh khung điểm số của hội đồng giám khảo, là một con số đỏ chói mà cô chưa từng một lần được nhìn thấy: **9.5**.
Điểm số cao nhất của khóa tốt nghiệp năm ấy.
Và ngay phía dưới con số 9.5 là một đoạn nhận xét dài bằng nét bút máy mực đen của chính thầy Trần Quốc Vinh:
*“Tác phẩm đạt đỉnh cao về mặt kỹ thuật phức điệu, cấu trúc khúc thức và phối khí hàn lâm. Tuy nhiên, tác giả dường như đang cố tình che giấu toàn bộ tổn thương, nỗi sợ hãi và cảm xúc thật của mình phía sau những bức tường hợp âm quá đỗi hoàn hảo và an toàn. Em cần dũng cảm đập vỡ lớp vỏ bọc kinh viện ấy để âm nhạc thực sự chạm tới trái tim người nghe. Tôi tin em sẽ đi rất xa nếu dám đối diện với chính mình.”*
Từng dòng chữ nhòe đi sau màn nước mắt đang dâng đầy trong mắt Linh. Những giọt nước mắt nóng hổi tích tụ suốt một nghìn ngày câm lặng rớt xuống, thấm ướt bề mặt lớp giấy ký âm đã ngả màu vàng ố, làm nhòe đi một nốt móc kép ở bè piano.
Một tiếng nấc nghẹn ngào bật ra từ cuống họng Linh, xé toạc sự im ắng ngột ngạt của căn phòng sách cũ.
"Thầy... tại sao...?"
Linh ngẩng đầu lên, hai mắt đỏ hoe nhìn trừng trừng vào gương mặt già nua đầy những nếp nhăn của thầy Vinh. Giọng cô run rẩy, vỡ vụn trong sự uất ức tột cùng:
"Tại sao ngày hôm đó... trước mặt toàn thể hội đồng giám khảo, trước mặt bao nhiêu bạn bè và thầy cô... thầy lại chỉ nói một câu duy nhất rằng... nhạc của em vô hồn? Thầy có biết câu nói đó đối với một đứa sinh viên vừa mới bước chân vào ngưỡng cửa cuộc đời như em... nó tàn nhẫn đến mức nào không? Nó đã giết chết toàn bộ niềm tin của em! Em đã nghĩ mình là một kẻ bất tài, một con thợ đàn rỗng tuếch, một kẻ chỉ biết sao chép giáo trình mà không có lấy một giọt cảm xúc! Em đã sống ba năm qua như một kẻ tàn phế trong âm nhạc... Thầy có biết không?!"
Những giọt nước mắt tuôn rơi không dứt trên đôi má gầy guộc của Linh. Bao nhiêu ấm ức, bao nhiêu cay đắng, bao nhiêu đêm thức trắng nhìn lên trần nhà tự cắn rách môi mình trong căn phòng trọ chật hẹp bấy lâu nay bỗng chốc vỡ òa thành một cơn lũ cảm xúc không gì ngăn lại được.
Ông Vinh ngồi im phăng phắc. Ông không hề ngắt lời cô, cũng không hề đưa ra bất kỳ lời biện bạch nào để xoa dịu cơn giận dữ chính đáng của đứa học trò. Đôi mắt người thầy già đục mờ đi sau làn khói trà, đong đầy sự day dứt và nỗi ân hận khôn nguôi.
Ông vươn tay, nhẹ nhàng đẩy tách trà nóng sang sát mép bàn phía Linh, rồi từ từ ngả lưng vào thành ghế bành. Ánh mắt ông hướng ra ngoài khung cửa sổ hình vòm, nơi những vòm lá xà cừ cổ thụ đang xao xác đung đưa dưới làn gió đầu hạ.
"Tôi biết," ông Vinh chậm rãi cất lời, giọng ông trầm xuống như một lời tự thú. "Tôi biết mình đã phạm phải một sai lầm tệ hại. Một sai lầm khủng khiếp của một kẻ làm thầy giáo điều, kiêu ngạo, quen dùng sự cay nghiệt và đòn roi tâm lý để kích thích lòng tự ái của học trò."
Ông Vinh thở dài, bàn tay gầy guộc khẽ vân vê chiếc chặn giấy bằng đồng thau trên bàn:
"Năm đó, trong số tất cả những sinh viên tôi từng hướng dẫn suốt bốn mươi năm đứng trên bục giảng của Nhạc viện này, em là đứa có tố chất xuất sắc nhất. Em có một đôi tai thiên bẩm, một nhạc cảm nhạy bén đến mức đáng kinh ngạc và một nền tảng kỹ thuật phức điệu vượt trội hoàn toàn so với lứa bạn cùng trang lứa. Tôi đã đặt vào em quá nhiều kỳ vọng. Kỳ vọng đến mức trở thành một sự tham lam ích kỷ của một người thầy sắp về hưu. Tôi muốn thấy em bước lên một sân khấu lớn hơn, muốn thấy em tạo ra một tác phẩm thực sự vĩ đại, một tác phẩm có thể làm rúng động tâm can người nghe, xé toạc những quy chuẩn tầm thường của một bài thi tốt nghiệp mẫu mực."
Ông Vinh quay lại nhìn thẳng vào mắt Linh. Ánh mắt nghiêm khắc năm xưa giờ đây đã hoàn toàn tan biến, chỉ còn lại sự thấu hiểu và xót xa của một người cha nhìn đứa con gái bị mình làm tổn thương:
"Nhưng buổi chiều hôm trước ngày bảo vệ, khi ngồi dưới khán phòng nghe dàn nhạc sinh viên diễn thử *'Khúc Tưởng Niệm Mùa Thu'*, tôi đã vô cùng thất vọng. Không phải thất vọng vì em viết dở, Linh à. Trái lại, tác phẩm của em hoàn hảo đến mức không thể bắt bẻ nổi một lỗi hòa thanh nào. Nhưng chính sự hoàn hảo đó đã tố cáo em. Tôi nhận ra em quá hèn nhát. Em sợ bị người khác nhìn thấu nỗi cô đơn, sợ người ta phát hiện ra những vết thương và sự yếu đuối bên trong tâm hồn mình. Thế nên, ở tất cả những đoạn cao trào – những nơi lẽ ra giai điệu phải vỡ òa ra trong đau đớn, phải trần trụi và gào thét – thì em lại vội vã dựng lên những bức tường phức điệu dày đặc. Em nhồi nhét những chuỗi hợp âm kinh viện mẫu mực, những thủ pháp đối vị lắt léo vào đó để làm gì? Để đánh lạc hướng người nghe! Em dùng kỹ thuật hàn lâm tuyệt hảo như một pháo đài phòng thủ kiên cố để trốn chạy chính cảm xúc thật của mình."
Từng lời nói của thầy Vinh như những mũi kim châm thẳng vào tâm can Linh. Cô bàng hoàng nhận ra, những lời phân tích ấy ăn khớp một cách kỳ lạ, chuẩn xác đến rợn ngườivới những dòng thư mà “G” đã gửi cho cô đêm qua: *“Tại sao bạn luôn sợ hãi việc để cho bản thân mình trần trụi trước âm nhạc? Hãy đập vỡ bức tường phòng thủ đó đi.”*
"Ngày hôm sau, khi bước vào buổi chấm thi chính thức," ông Vinh tiếp tục, giọng ông nghẹn lại trong sự cay đắng, "khi thấy các giáo sư khác trong hội đồng không tiếc lời khen ngợi sự chuẩn mực máy móc trong tác phẩm của em, cơn giận bên trong tôi đã bùng lên. Tôi giận vì thấy em đang tự chôn vùi tài năng thật sự của mình vào sự an toàn tầm thường. Trong cơn nóng giận mù quáng và sự tự phụ ngạo mạn của một kẻ già nua, tôi đã nghĩ rằng nếu tôi cho em một điểm số tuyệt đối và những lời khen êm tai, em sẽ mãi mãi ngủ quên trong pháo đài an toàn đó. Tôi muốn dùng một cú sốc thật nặng để đánh thức em, muốn em phải tự ái, phải đứng phắt dậy đập bàn cãi lại tôi, phải dũng cảm chứng minh cho tôi thấy ngọn lửa đích thực bên trong em."
Người thầy già run rẩy cúi đầu xuống. Đó là một cái cúi đầu nặng trĩu của một bậc tiền bối trước đứa học trò mà mình đã vô tình hủy hoại:
"Nhưng tôi đã đánh giá sai lầm hoàn toàn. Tôi đã quên mất rằng một tâm hồn nghệ sĩ thực thụ luôn nhạy cảm và mong manh đến nhường nào. Lời nói cay nghiệt trong cơn giận dữ của tôi không đánh thức được ngọn lửa của em, mà nó đã biến thành một bản án tàn nhẫn, nghiền nát toàn bộ lòng tự trọng và sự tự tin của em. Suốt ba năm qua, mỗi lần nghe ngóng tin tức về em, biết em không còn viết nhạc nữa, tôi đều tự dằn vặt mình. Tôi là một người thầy tồi, Linh à."
Ông Vinh ngẩng lên, khóe mắt ông rơm rớm:
"Tôi xin lỗi em, Linh. Lời xin lỗi này... đã quá muộn màng mất ba năm rồi."
Nước mắt Linh vẫn tuôn rơi, nhưng những tiếng nấc nghẹn ngào trong lồng ngực cô đã dần lắng xuống. Cảm giác ấm ức, cay đắng và nỗi tủi hờn đè nặng suốt thời thanh xuân của cô kỳ lạ thay không hề bùng lên thành sự oán hận.
Những lời trần tình của người thầy già như một luồng ánh sáng ấm áp rọi thẳng vào tảng băng u tối đã giam cầm tâm hồn cô bấy lâu nay. Tảng băng ấy đang từ từ nứt toác, tan chảy ra thành dòng nước ấm, gột rửa đi mọi mặc cảm tự ti và sự sợ hãi vô căn cứ.
Hóa ra, cô chưa từng là một kẻ bất tài. Hóa ra, âm nhạc của cô chưa từng là thứ rác rưởi vô hồn.
Lời chê bai tàn nhẫn năm xưa không phải là sự phủ nhận tài năng hay bản chất con người cô, mà là sự thất vọng trước sự hèn nhát, trốn chạy của chính cô. Cô đã tự tay xây nên một nhà tù bằng kỹ thuật kinh viện để giam hãm chính mình, rồi suốt ba năm qua lại đi đổ lỗi cho người khác đã khóa chặt cánh cửa ấy.
Linh đưa mu bàn tay áo thô quẹt khô những giọt nước mắt trên má. Cô hít sâu một hơi, đón lấy mùi hương trầm ấm của trà mạn và sách cũ. Lồng ngực cô bỗng nhẹ bẫng đi, một cảm giác thanh thản, tự do chưa từng có lan tỏa khắp các mạch máu.
"Thầy ơi..." Linh ngập ngừng mở lời, giọng cô vẫn còn khản đặc nhưng ánh mắt đã ánh lên những tia sáng kiên định, trong trẻo. "Gần đây... em có tham gia viết phối khí cho một dự án âm nhạc ẩn danh. Nhưng người cộng tác với em... anh ấy vừa gửi cho em một lá thư phê bình rất gay gắt. Anh ấy nói y hệt như những lời thầy vừa nói. Anh ấy bảo rằng ở những nốt nhạc quyết định, em vẫn luôn lùi về vùng an toàn, vẫn đang dùng kỹ thuật để phòng thủ, và em đang bóp nghẹt linh hồn của bài hát vì sợ hãi việc phải đối diện với sự trần trụi của chính mình."
Nghe đến đó, ông Vinh khẽ mỉm cười. Đó là một nụ cười hiền hậu, ấm áp hiếm hoi trên gương mặt vốn luôn nghiêm nghị của ông. Ông nâng chén trà lên nhấp một ngụm nhỏ, rồi từ tốn nói:
"Vậy thì người cộng tác đó của em là một người có đôi tai vô cùng thính nhạy, và quan trọng hơn cả, người đó có một trái tim nghệ thuật chân thành tuyệt đối. Trong cái thời buổi âm nhạc công nghiệp thị trường này, người sẵn sàng khen ngợi em thì nhiều vô kể, nhưng người dám nhìn thẳng vào điểm yếu, dám chỉ ra sự trốn chạy của em để kéo em ra khỏi vũng lầy an toàn... người đó mới thực sự là tri âm, mới thực sự trân trọng tài năng của em."
Ông Vinh vươn ngón tay khẳng khiu gõ nhẹ lên trang tổng phổ cũ kỹ:
"Em nhìn lại những trang nhạc này của em xem. Những hợp âm bảy lơ lửng này, những khoảng lặng bất ngờ này... ba năm trước, em dùng chúng như những chiếc phanh gấp để trốn chạy cảm xúc. Nhưng em có nhận ra không, nếu em can đảm, nếu em dám đối diện với nỗi đau, dám chấp nhận sự dang dở và đổ vỡ của cuộc đời, thì chính những hợp âm bảy và khoảng lặng ấy sẽ biến thành đôi cánh tự do nhất của em. Chúng không phải là khiếm khuyết. Chúng chính là bản sắc, là linh hồn độc nhất vô nhị của Đặng Khánh Linh mà không một trường lớp, không một giáo trình kinh viện nào có thể dạy được."
"Bản sắc của em..." Linh lẩm bẩm nhắc lại từng từ, ngón tay run run chạm nhẹ vào một hợp âm Đô trưởng bảy (Cmaj7) được ghi chú cẩn thận bên lề khuông nhạc.
"Đúng vậy," ông Vinh gật đầu chắc nịch, ánh mắt tràn đầy sự khích lệ. "Đừng sợ sự vụn vỡ, Linh à. Âm nhạc không bao giờ cần sự hoàn hảo không tì vết của một cỗ máy sao chép. Nó cần những vết sẹo, cần hơi thở dồn dập, cần sự chân thực đến nghẹt thở của một con người bằng xương bằng thịt. Em đã lẩn trốn trong bóng tối quá đủ rồi. Đã đến lúc em phải tự tay đập vỡ chiếc lồng kính an toàn đó, giải phóng cho những nốt nhạc của chính mình."
Cuộc trò chuyện giữa hai thầy trò kéo dài suốt cả buổi chiều muộn bên chiếc bàn gỗ lim trong góc hiệu sách cũ. Họ nói về âm nhạc cổ điển, về những chuyển biến phức tạp của đời sống nghệ thuật đương đại, về sự giằng xé giữa kỹ thuật hàn lâm kinh viện và sự biểu đạt tự do, phóng túng của dòng nhạc indie độc lập.
Lần đầu tiên sau ba năm đằng đẵng, Linh tìm lại được cảm giác say mê thuần khiết của thời sinh viên – cảm giác của một đứa học trò say sưa đàm đạo về nghệ thuật với người thầy mà mình hằng tôn kính, không còn rào đón, không còn sợ hãi, không còn mặc cảm tự ti.
Khi ánh hoàng hôn đỏ ối của một buổi chiều đầu hạ rọi xiên qua khung cửa kính vòm, nhuộm một màu vàng cam ấm áp lên những giá sách cao ngất ngưởng, Linh đứng dậy, kính cẩn cúi đầu chào người thầy già.
"Em cảm ơn thầy," Linh nói, một nụ cười rạng rỡ, thanh thản lần đầu tiên sau nhiều năm nở trên bờ môi cô. "Cảm ơn thầy vì đã giữ lại bản thảo này cho em... và cảm ơn thầy vì đã nói cho em biết sự thật."
Ông Vinh mỉm cười, vẫy vẫy bàn tay gầy gò:
"Đi đi, cô bé. Đừng để cây đàn của em phải chờ đợi thêm một ngày nào nữa."
***
Đêm Hà Nội buông xuống sâu thẳm, mang theo luồng gió mát lành thổi dọc qua những con phố rợp bóng xà cừ cổ thụ.
Khánh Linh trở về căn hộ tập thể nhỏ tại quận Hai Bà Trưng khi chiếc đồng hồ treo tường nơi góc phố đã điểm gần mười một giờ đêm. Đèn trong phòng khách đã tắt từ lâu, không gian chìm trong bóng tối lờ nhờ, chỉ còn một vệt sáng mỏng hắt ra từ khe cửa phòng ngủ của Mai Anh cùng tiếng gõ bàn phím lách cách, vội vã quen thuộc của cô bạn thân đang miệt mài chạy deadline cho một dự án thiết kế đồ họa.
Linh rón rén bước vào căn bếp nhỏ, rót cho mình một cốc nước ấm, uống từng ngụm chậm rãi để làm dịu đi cổ họng đang khô rát. Sau đó, cô không bước vào phòng ngủ, mà đi thẳng ra góc ban công nhỏ hẹp ngoài hiên – nơi cô đã kê chiếc bàn gỗ ép đặt cây keyboard điện tử cùng bộ dàn máy tính xách tay cũ kỹ của mình.
Không khí sau cơn mưa rào bất chợt đêm qua vẫn còn đượm chút hơi ẩm mát lạnh dễ chịu. Tiếng còi tàu đêm chở hàng vọng lại từ phía ga Giáp Bát xa xăm nghe buồn bã và u hoài; tiếng bánh xe máy muộn màng lạo xạo trên mặt đường nhựa dưới ngõ hẻm; tiếng gió luồn qua những thanh sắt rỉ sét của lan can ban công tạo thành những âm thanh vi vu khe khẽ...
Tất cả những tạp âm đời thường hỗn độn ấy, giờ đây lọt vào tai Linh không còn là những thứ tiếng ồn đáng ghét làm hỏng sự vô trùng của một bản thu âm kinh viện nữa. Chúng hòa quyện vào nhau một cách kỳ diệu, tạo thành một nhịp thở sống động, chân thực của thành phố về đêm.
Linh ngồi xuống chiếc ghế xoay bọc nỉ đã sờn rách ở mép đệm.
Cô không với tay bật ngọn đèn tuýp trắng lóa trên trần, mà chỉ bật chiếc đèn bàn nhỏ phát ra ánh sáng vàng dịu đặt ở góc keyboard. Ánh sáng vàng ấm áp bao bọc lấy mặt phím đàn và đôi bàn tay cô.
Trên giá để sách nhạc của cây đàn, cô không đặt cuốn tiểu phẩm giáo trình Clementi, không đặt bất kỳ tập bài tập ngón Czerny hay Hanon nào của trung tâm Mộc Cầm, và cô cũng không đặt tập tổng phổ tốt nghiệp bìa da xanh rêu vừa mang về.
Giá nhạc hoàn toàn trống trơn.
Linh cúi đầu nhìn xuống mười đầu ngón tay của mình. Lạ lùng thay, chúng không còn run rẩy, không còn căng cứng và lạnh ngắt như mỗi khi cô chuẩn bị bước lên bục giảng của Nhạc viện hay mỗi khi đối diện với ánh mắt soi xét lạnh lùng của Tống Gia Huy trong phòng thu. Mười đầu ngón tay cô mềm mại, ấm nóng và tràn đầy một nguồn năng lượng đang chực chờ bùng nổ.
Cô với tay lấy chiếc tai nghe kiểm âm chuyên dụng, cắm giắc vào cổng soundcard, kéo chiếc micro thu âm condenser lại sát mép thùng đàn, rồi khởi động phần mềm thu âm trên chiếc laptop cũ.
Bức thư điện tử của “G” đêm qua vẫn còn mở nguyên trên màn hình, từng dòng chữ như đang phát sáng trong bóng tối: *“Tại sao bạn luôn sợ hãi việc để cho bản thân mình trần trụi trước âm nhạc? Hãy đập vỡ bức tường phòng thủ đó đi.”*
Và văng vẳng bên tai cô lúc này là lời dặn dò đầy ân cần của thầy Trần Quốc Vinh: *“Âm nhạc cần những vết sẹo, cần hơi thở, cần sự chân thực đến nghẹt thở của một con người bằng xương bằng thịt. Hãy giải phóng cho những nốt nhạc của em.”*
Khánh Linh nhắm nghiền mắt lại.
Cô hít một hơi thật sâu, đón lấy luồng gió đêm mang theo hương thơm ngai ngái của lá xà cừ mục và mùi hoa sữa trái mùa thoang thoảng.
Trong tâm trí cô lúc này, mọi nỗi sợ hãi từng bóp nghẹt thanh xuân của cô bỗng chốc tan biến thành mây khói. Không còn nỗi ám ảnh về lời phán xét “nhạc không có hồn”. Không còn áp lực nghẹt thở về thời hạn bàn giao bản thảo trước thứ Sáu của giám đốc âm nhạc Sơn Thạch bên Nova Sound. Không còn bóng ma của buổi bảo vệ tốt nghiệp ba năm trước, và cũng không còn những ranh giới, những quy chuẩn hòa thanh kinh viện mà cô từng tôn sùng như những giáo điều bất khả xâm phạm.
Cô nghĩ đến Tống Minh Quân – đứa trẻ mười hai tuổi gầy gò, luôn gồng mình chịu đựng nỗi sợ thất bại để làm vừa lòng người anh trai tài năng, đứa trẻ đã tìm lại được nụ cười rạng rỡ bên phím đàn chỉ nhờ những hợp âm bảy thứ vụng về và câu chuyện về chiếc hộp rỗng.
Cô nghĩ đến Tống Gia Huy – người đàn ông kiệt quệ với đôi mắt thâm quầng sau những đêm thức trắng chăm em, người nghệ sĩ cô độc đang liều mạng đem cả sự nghiệp và danh tiếng của mình ra đánh cược trước một bộ máy giải trí thương mại khổng lồ, nghiệt ngã, chỉ để bảo vệ một khoảng lặng bảy ô nhịp thuần khiết.
Và cô nghĩ đến chính mình – cô gái hai mươi ba tuổi đã tự giam cầm bản thân trong bóng tối của sự hèn nhát suốt một nghìn ngày qua.
Linh mở mắt ra. Đôi mắt cô sáng trong và kiên định. Cô vươn tay bấm nút thu âm trên phần mềm. Vạch đỏ bắt đầu chạy dọc trên màn hình.
Bàn tay phải của Linh nhẹ nhàng nhưng dứt khoát hạ xuống phím đàn.
*Đoong...*
Một hợp âm Đô thăng thứ bảy (C#m7) ngân vang, trầm lắng, lan tỏa trong tai nghe kiểm âm. Âm thanh mở ra một không gian mênh mang, u uất, đầy trăn trở nhưng tuyệt nhiên không hề bi lụy.
Ngay sau đó, bàn tay trái của cô không đi theo lối đệm rải arpeggio hoa mỹ, an toàn và khuôn sáo như những bản demo trước. Thay vào đó, cô nhấn mạnh vào những nốt bass đối vị chậm rãi, chắc nịch, nặng trĩu từng bước đi như nhịp tim đập thổn thức trong lồng ngực một người đang bước đi một mình giữa đêm đông Hà Nội.
Giai điệu bắt đầu tuôn trào cuồn cuộn dưới mười đầu ngón tay cô.
Nó không còn là sự trau chuốt, sắp đặt tỉ mỉ, lạnh lùng của một thủ khoa sáng tác Nhạc viện. Nó mộc mạc, gai góc, sần sùi và trần trụi. Giai điệu lượn qua những quãng nghịch chênh vênh, những hợp âm bảy thứ và hợp âm át chín lơ lửng không chịu giải quyết, tạo nên một cảm giác chông chênh, thắc thỏm của những tâm hồn đang chới với giữa lằn ranh mong manh của niềm hy vọng và sự đổ vỡ.
Và rồi, bản nhạc tiến dần, tiến dần đến ô nhịp thứ 24.
Nơi này, chính tại ô nhịp định mệnh này, đêm qua cô đã run sợ mà lùi bước, vội vã đưa giai điệu quay về một hợp âm bậc một êm đềm, an toàn để xoa dịu đôi tai người nghe – nơi mà “G” đã thẳng thừng vạch trần rằng cô đang dựng lên một chiếc khiên phòng thủ hèn nhát.
Lồng ngực Linh phập phồng dồn dập. Nhịp tim cô đập thình thịch vào xương sườn. Mồ hôi rịn ra ướt đẫm trán. Một nỗi sợ hãi quen thuộc trỗi dậy từ đáy tiềm thức, thôi thúc ngón tay cô lướt sang một hợp âm thứ quen thuộc để giữ cho cấu trúc bài hát được tròn trịa, phẳng lặng.
Nhưng lần này, Khánh Linh không lùi bước nữa.
Cô cắn chặt môi dưới đến mức bật máu, dồn toàn bộ sức mạnh từ đôi vai gầy, cánh tay và toàn bộ tâm can vào mười đầu ngón tay.
Thay vì lùi về vùng an toàn, ngón tay cô đột ngột giáng mạnh xuống một chuỗi hợp âm nghịch đầy xung đột, bẻ gãy hoàn toàn cấu trúc êm đềm trước đó, đẩy cao trào vút lên một quãng tám cao hơn.
Âm thanh bùng nổ dữ dội! Nó gào thét, nó xé toạc mọi quy tắc hòa thanh chuẩn mực của trường phái kinh viện. Đó là tiếng thét của sự giam cầm ròng rã suốt ba năm trời. Đó là tiếng nấc nghẹn ngào của những đêm cô đơn khóc thầm bên cánh tủ quần áo. Đó là nỗi tuyệt vọng cùng cực của một người nghệ sĩ từng đánh mất tiếng nói của chính mình, và giờ đây đang dùng hết sức tàn để giành giật lại linh hồn từ tay số phận.
Giai điệu không hề dừng lại để né tránh nỗi đau. Nó dấn thân thẳng vào tâm bão, xoáy sâu vào tận cùng của sự vụn vỡ, trần trụi, mãnh liệt và tàn khốc đến nghẹt thở. Không có một nốt nhạc nào giả tạo, không có một kỹ xảo hoa mỹ nào được dùng để che đậy. Mọi vết sẹo, mọi góc khuất mềm yếu, run rẩy và đau đớn nhất trong tâm hồn Đặng Khánh Linh đều bị phơi bày trọn vẹn, không giấu giếm dưới từng phím đàn piano.
Sau cơn bão cao trào xé lòng ấy, Linh không sử dụng bất kỳ một câu chuyển tiếp mượt mà nào để hạ màn.
Cô đột ngột buông phím.
Hai bàn tay cô nhấc bổng lên khỏi bàn phím, dừng lại giữa không trung.
Một khoảng lặng tuyệt đối xuất hiện.
Đúng ba phách rưỡi.
Không gian trong chiếc tai nghe kiểm âm tĩnh mịch đến mức rợn người. Trong ba phách rưỡi ấy, không có bất kỳ một nốt nhạc nào vang lên. Chỉ còn lại tiếng thở dốc nghẹn ngào, run rẩy của chính Linh, tiếng gió đêm rít qua khe cửa ban công, và tiếng tích tắc cơ học lách cách, khô khốc của chiếc máy đếm nhịp bằng gỗ cũ kỹ đặt nơi góc bàn – một tiếng tích tắc lệch nhịp một phần tư phách, thô mộc, trần trụi và đầy tính hiện thực.
Khoảng lặng ấy không còn là sự trốn chạy hèn nhát nữa. Nó là khoảnh khắc của sự thức tỉnh thiêng liêng, là một khoảng trống cứu rỗi để người nghe được thở, được lắng lại sau khi vừa cùng cô đi qua đáy vực sâu thẳm nhất của nỗi đau.
Rồi, từ trong sự tĩnh lặng thiêng liêng ấy, bàn tay phải của Linh khẽ hạ xuống.
Một nốt Sol duy nhất trên quãng tám cao vang lên.
Nốt nhạc ngân nga, trong trẻo, mong manh như một giọt sương mai, nhưng lại chứa đựng một sức sống kiên định, mãnh liệt lạ kỳ – tựa như một mầm cây xanh non vừa đội tung lớp đất đá cằn cỗi sau cơn bão lớn để vươn mình đón lấy ánh bình minh.
Giai điệu dần khép lại bằng một hợp âm Fa thăng trưởng bảy (F#maj7) ngân dài, lơ lửng giữa không trung.
Hợp âm ấy không chịu giải quyết về âm chủ. Nó không khép lại một cách trọn vẹn, vuông vức theo quy chuẩn trường lớp. Nó dang dở, nó mở toang ra một chân trời bao la, vời vợi của sự tha thứ, của niềm tin và sự tự do tuyệt đối.
Nốt nhạc cuối cùng từ từ tắt hẳn trong không gian tĩnh mịch.
Khánh Linh ngồi bất động trước bàn phím. Hai bàn tay cô buông thõng trên đùi, mười đầu ngón tay đỏ ửng và tê dại. Mồ hôi ướt đẫm trán và lưng áo cô, còn trên má, hai dòng nước mắt nóng hổi đã chảy dài tự lúc nào.
Nhưng bên trong lồng ngực cô, nơi từng bị đè nặng bởi khối đá ngàn cân của sự tự ti và sợ hãi, một ngọn lửa ấm áp, rực rỡ và tự do chưa từng có đang bùng cháy mãnh liệt.
Cô biết, lần này cô đã không còn phòng thủ. Cô đã không còn trốn chạy. Cô đã để cho âm nhạc của mình được sống, được thở, được đau đớn và được giải phóng một cách chân thực nhất.
Linh đưa tay tháo chiếc tai nghe kiểm âm ra khỏi đầu, với tay cầm lấy con chuột máy tính. Cô bấm nút dừng thu âm.
Trên màn hình laptop, đồ thị sóng âm của bản thu hiện lên rõ mồn một. Khác hẳn với những dải sóng âm phẳng lặng, gò bó, đều đặn đến vô cảm của các bản demo trước đây, dải sóng âm lần này gồ ghề, sắc nhọn, với những biên độ dao động mãnh liệt ở đoạn cao trào và một khoảng phẳng lặng ngắt quãng đầy ám ảnh ở ô nhịp thứ 24.
Linh không hề mở bất kỳ plugin nào để lọc bỏ tạp âm, không dùng thuật toán để nắn chỉnh lại nhịp phách cho thẳng thớm, chuẩn mực. Cô giữ nguyên vẹn từng tiếng thở dốc, từng tiếng cọ xát của móng tay trên phím đàn, và cả tiếng tích tắc lệch nhịp của chiếc máy đếm nhịp gỗ cũ kỹ.
Cô bấm lệnh xuất tệp âm thanh ra định dạng WAV chất lượng cao nhất.
Mở trình duyệt web, Linh đăng nhập vào hòm thư điện tử bảo mật của dự án tại địa chỉ `[email protected]`.
Trong ô người nhận, cô điền địa chỉ quen thuộc của kỹ sư âm thanh Đức An và tài khoản đại diện của “G”.
Ở phần tệp đính kèm, cô kéo tệp âm thanh vừa kết xuất vào khung thư. Thanh tải dữ liệu chạy từ từ rồi chuyển sang màu xanh lục báo hiệu đã hoàn tất.
Con trỏ chuột nhấp nháy liên hồi ở ô tiêu đề thư điện tử.
Khánh Linh dừng lại vài giây. Cô xoay ghế, nhìn ra ngoài khung cửa ban công. Bầu trời đêm Hà Nội phía đông đang dần chuyển mình từ màu đen đặc sang màu xanh thẫm của một ngày mới sắp rạng. Những ngọn gió ban mai mát lành luồn qua khe cửa, thổi bay những sợi tóc mai lòa xòa trước trán cô, mang theo hơi thở tinh khôi của đất trời.
Cô quay lại bàn phím máy tính, những ngón tay gõ nhẹ từng phím chữ dứt khoát.
Bản thu âm mới được Linh hoàn thành trong đêm và gửi đi với tiêu đề: 'Lá thư viết cho những điều dang dở'.