Hợp Âm Thứ BảyC.9 / 40
Chương 9

Ca Khúc Thay Thế

Phòng họp tầng hai mươi mốt của trụ sở Nova Sound Việt Nam ngập tràn thứ ánh sáng trắng gắt gao toát ra từ những dải đèn neon âm trần. Ánh sáng ấy rọi thẳng xuống mặt bàn dài bọc da đen bóng, phản chiếu rõ từng vệt xước dăm li ti và những tập hồ sơ được đóng gáy cẩn thận. Màn hình máy chiếu kích thước cực đại ở bức tường đối diện đang trình chiếu một đồ thị phân tích dữ liệu trực tuyến đồ sộ.

Bên ngoài tấm kính cường lực chống ồn dày ba lớp, đại lộ Liễu Giai mở ra thênh thang trong nắng sớm. Từng dòng xe cộ ken đặc nối đuôi nhau trườn đi như những vệt kim loại lấp lánh dưới bầu trời thu Hà Nội, nhưng vẻ sống động hối hả của phố xá bên ngoài tuyệt nhiên không thể thẩm thấu qua lớp kính cách âm để xua tan bầu không khí ngột ngạt đang đè nặng trong căn phòng. Mùi cà phê pha máy đậm đặc phảng phất vị khét của bã cà phê cháy hòa lẫn với hương nước hoa đắt tiền nồng gắt từ các chuyên viên tiếp thị, tạo nên một thứ áp lực vô hình, khô khốc và tanh nồng mùi kim tiền. Trên màn hình trung tâm, những đường biểu diễn màu đỏ thẫm biểu thị tỷ lệ giữ chân người nghe, lưu lượng phát trực tuyến và chỉ số tương tác trên các nền tảng âm nhạc số của Tống Gia Huy trong suốt sáu tháng qua đang cắm đầu dốc đứng xuống một cách đáng báo động. Từng con số tụt giảm được bôi đỏ chói lọi, nhấp nháy như một bản án vô thanh.

Lê Hoàng Nam ngồi ở vị trí đầu bàn, hai bàn tay đan lỏng vào nhau đặt trên mặt gỗ bóng loáng. Các đầu ngón tay của ông ta khẽ gõ nhịp xuống mặt bàn theo một chu kỳ đều đặn, tàn nhẫn và chuẩn xác hệt như tiếng gõ của một chiếc đồng hồ bấm giờ trên sàn giao dịch chứng khoán. Bộ âu phục xám tro may đo ôm khít bờ vai, cà vạt thắt nút đôi thẳng thớm không một nếp nhăn, sống mũi cao mang cặp kính gọng kim loại mảnh mạ crom sắc lạnh. Mọi đường nét trên gương mặt của vị giám đốc chiến lược đều toát lên thần thái của một nhà quản trị lọc lõi, người đã quen với việc quy đổi từng rung động cảm xúc, từng giọt mồ hôi của nghệ sĩ thành những thuật toán lợi nhuận khô khốc.

Bên cạnh ông ta, Nguyễn Bảo Trâm – quản lý truyền thông phụ trách trực tiếp hình ảnh của Huy – đang lật giở xấp hồ sơ chiến dịch dày cộp. Những ngón tay sơn màu nude của cô miết chặt mép giấy, phát ra tiếng sột soạt ngập ngừng. Ánh mắt Trâm thi thoảng lại kín đáo liếc nhanh về phía chàng trai ngồi đối diện, vừa mang vẻ lo lắng, vừa có phần ái ngại trước sự tĩnh lặng dị thường toát ra từ anh.

Huy ngồi dựa lưng vào thành chiếc ghế xoay bọc da, hai cánh tay khoanh hờ trước ngực. Chiếc áo khoác bò sẫm màu có phần sờn cũ ở cổ tay khiến anh trở nên hoàn toàn lạc lõng giữa căn phòng họp sang trọng và đầy tính toán này. Đôi mắt đen thẳm của anh không hề nhìn lên những biểu đồ đỏ rực đang tố cáo sự thoái trào danh tiếng của mình trên máy chiếu, cũng không nhìn vào gương mặt sắc sảo của người đối diện. Ánh mắt Huy dừng lại ở tập tài liệu bìa màu xanh sẫm vừa được Hoàng Nam dùng hai đầu ngón tay đẩy sang giữa bàn cách đây vài phút.

“Đây là bản demo hoàn chỉnh nhất mà nhạc sĩ Thái Sơn gửi cho hội đồng nghệ thuật công ty vào lúc hai giờ sáng nay,” Hoàng Nam phá vỡ sự im lặng bằng một giọng điệu điềm tĩnh tuyệt đối, nhưng từng âm tiết phát ra đều mang sức nặng của quyền lực và sự áp chế không thể thương lượng. “Tên bài hát dự kiến là *Chạm Đáy Men Say*. Thể loại synth-pop pha trộn house thời thượng, tempo được cố định chính xác ở mức 124 phách một phút. Cấu trúc đoạn điệp khúc được thiết kế vô cùng chuẩn mực: đoạn hook bắt tai lặp lại đúng mười lăm giây một lần, âm sắc điện tử dồn dập, cực kỳ tối ưu hóa cho thuật toán phân phối của các nền tảng video ngắn hiện nay. Đội ngũ phân tích dữ liệu của chúng ta đã chạy thử nghiệm mô hình thị hiếu người dùng trong tuần trước, tỷ lệ kích hoạt hành vi lưu bài hát vào thư viện cá nhân đạt tới hơn tám mươi phần trăm.”

Hoàng Nam ngừng lại một nhịp rất ngắn, ngón tay đẩy nhẹ chiếc gọng kính lên sống mũi. Tròng kính phản chiếu ánh sáng xanh từ màn hình máy chiếu, che khuất một phần ánh mắt sắc lẹm đang găm thẳng vào Huy:

“Đây là giải pháp cứu cánh duy nhất và khả thi nhất cho vị thế nghệ sĩ của cậu vào lúc này, Huy à. Cậu đã bế tắc suốt nửa năm trời. Cậu biến mất khỏi các phương tiện truyền thông đại chúng quá lâu, đến mức công chúng bắt đầu quên mất cậu từng có hai bản hit quốc dân cách đây hai năm. Hội đồng quản trị vừa phê duyệt gói ngân sách sản xuất MV ở mức cao nhất, bao gồm cả đội ngũ đạo diễn hình ảnh hàng đầu và chiến dịch phủ sóng đa nền tảng. Tôi ra tối hậu thư cho cậu, Huy: chọn ca khúc này làm đĩa đơn chính thức đánh dấu sự trở lại vào cuối tháng, thay vì tiếp tục ném tiền bạc, nhân lực và thời gian vào một dự án thể nghiệm mông lung với một kẻ viết nhạc thậm chí còn không dám bước chân ra ngoài ánh sáng.”

Bảo Trâm khẽ hắng giọng, cố gắng xua bớt lớp không khí đông cứng trong phòng họp. Cô mở tập tài liệu của mình ra, hướng về phía Hoàng Nam với nụ cười gượng gạo:

“Anh Nam, thực ra bản demo thể nghiệm của Huy và bên phòng thu Gió Bắc có chiều sâu rất tốt. Nếu chúng ta lên một chiến dịch truyền thông khéo léo, đi theo hướng khai thác tính mộc mạc, sự chữa lành và chiều sâu tâm lý của thế hệ trẻ sau những biến động xã hội—”

“Thị trường âm nhạc này không đợi ai đi tìm chiều sâu tâm lý cả, Trâm,” Hoàng Nam lạnh lùng ngắt lời cô. Giọng ông ta không hề nâng cao, không có một chút gắt gỏng thô lỗ nào, nhưng từng chữ nhả ra lại sắc bén và dứt khoát như một lưỡi dao mổ xẻ vào thực tế trần trụi. “Người nghe hiện tại chỉ cho một bài hát vỏn vẹn năm giây đầu tiên trước khi ngón tay cái của họ trượt sang một bản nhạc khác trên màn hình điện thoại. Chúng ta đầu tư hàng tỷ đồng vào cái tên Tống Gia Huy, vào từng khuôn hình, từng bộ trang phục của cậu ta không phải để cậu ta ngồi ôm cây đàn guitar gỗ rồi thủ thỉ những triết lý âm nhạc mà chẳng một ai ngoài phòng họp này buồn hiểu.”

Huy vẫn ngồi bất động, đôi mắt đen thẳm phẳng lặng như mặt hồ nước mùa đông đã đóng băng hoàn toàn. Những lời cay nghiệt của Hoàng Nam dường như chỉ trượt qua màng nhĩ anh mà không thể khuấy động lấy một gợn sóng cảm xúc trên gương mặt góc cạnh. Chàng trai trẻ chậm rãi vươn bàn tay thon dài, những ngón tay có vết chai dày nơi đầu ngón do nhiều năm miệt mài bấm dây đàn lật mở tập tài liệu màu xanh sẫm của Thái Sơn.

Những nốt nhạc đen nhánh được in ngay ngắn, thẳng hàng bằng phần mềm ký âm chuyên nghiệp hiện đại nhất. Bản tổng phổ trông sạch sẽ, hoàn hảo đến từng vạch nhịp. Từng nốt móc đơn, từng dấu luyến láy đều được sắp đặt chuẩn xác theo đúng quy chuẩn sản xuất âm nhạc thương mại. Ca từ của bài hát xoay quanh những cuộc vui thâu đêm suốt sáng, những men say chếnh choáng trong quán bar, những cuộc tình một đêm chớp nhoáng với lớp vỏ ngôn từ hào nhoáng, bóng bẩy và thời thượng nhưng rỗng tuếch đến cùng cực. Từng ô nhịp đều được tính toán cơ học để đẩy năng lượng lên đỉnh điểm bằng những cú dồn trống điện tử chát chúa, tuyệt nhiên không có lấy một khoảng lặng thở dốc, không có lấy một sự ngập ngừng chân thực nào của tâm hồn con người trước nỗi cô đơn hay sự mất mát.

Đó là một sản phẩm hoàn hảo để phục vụ cho các thuật toán kiếm tiền. Một sản phẩm hoàn hảo để chèn vào các clip quảng cáo đồ uống có cồn, để kích thích sự hưng phấn tức thì của đám đông, tiêu thụ thật nhanh trong vòng vài tuần rồi lập tức bị vứt vào sọt rác của sự lãng quên sau hai tháng.

Huy khép tập tài liệu lại. Âm thanh khô khốc vang lên giữa căn phòng tĩnh mịch, đanh gọn như tiếng một cánh cửa vừa sập xuống. Anh dùng đầu ngón tay đẩy ngược tập hồ sơ về phía Lê Hoàng Nam.

“Tôi không hát thứ này,” Huy nói. Giọng anh trầm xuống, đều đều nhưng lạnh buốt như băng tuyết.

Hoàng Nam nheo mắt lại sau tròng kính kim loại, nụ cười nhạt nơi khóe môi lập tức biến mất:

“Cậu nói cái gì?”

“Tôi nói tôi thẳng thừng từ chối,” Huy ngẩng đầu lên, ánh mắt sắc như lưỡi thép nhìn thẳng vào người đàn ông quyền lực đối diện, không hề có lấy một tia né tránh hay do dự. “Đó là một sản phẩm rập khuôn vô cảm, được lắp ráp bằng công thức toán học và sự xốc nổi rẻ tiền. Tôi là một ca sĩ, không phải một cỗ máy phát ra âm thanh theo thuật toán của phòng tiếp thị số.”

“Cậu nghĩ mình đang đứng ở vị trí nào mà dám lên giọng đạo đức nghệ thuật với tôi hả Huy?” Hoàng Nam gằn giọng, vẻ lịch thiệp bóng bẩy bề ngoài bắt đầu nứt vỡ, để lộ sự tức giận bị xúc phạm. Ông ta đặt mạnh hai bàn tay xuống mặt bàn gỗ. “Nhạc sĩ Thái Sơn hiện đang là cái tên bảo chứng cho các bản hit hàng đầu thị trường. Cậu từ chối một người tạo hit để làm gì? Để ôm lấy mấy đoạn piano dở dang của một kẻ giấu mặt mang bí danh 'Thứ Bảy' à? Cậu nghĩ mấy hợp âm bảy lửng lơ, mấy khoảng ngắt vô lý và thứ giai điệu thiếu sức sống đó có thể sống sót nổi trên các bảng xếp hạng âm nhạc hiện nay sao?”

“Có thể chúng không tạo ra những kỷ lục số liệu tức thì trong vòng bốn mươi tám giờ đầu tiên, nhưng chúng có linh hồn,” Huy đáp trả, giọng anh vẫn điềm đạm một cách lạ lùng, nhưng sự đanh thép bên trong từng thanh âm lại khiến Bảo Trâm ngồi bên cạnh phải bất giác rùng mình. “Định hướng âm nhạc của tôi từ ngày đầu tiên bước chân vào nghề này là tự sự và chân thành. Suốt sáu tháng qua, tôi bị tắc nghẽn ý tưởng, tôi không thể cất giọng hát nổi chính là vì thứ áp lực số liệu cơ học mà công ty này nhồi nhét vào đầu tôi mỗi ngày. Bản demo từ 'Thứ Bảy' là thứ duy nhất nhắc cho tôi nhớ lý do vì sao tôi từng cầm lấy cây đàn và muốn cất tiếng hát trước cuộc đời này. Tôi chỉ tiếp tục dự án đĩa đơn này nếu giữ được trọn vẹn tinh thần và cấu trúc cốt lõi của bản phối đó. Nếu phải hát ca khúc của Thái Sơn để đổi lấy vị trí top một thịnh hành, tôi thà không phát hành bất cứ thứ gì cả.”

Hoàng Nam bật cười khan một tiếng. Tiếng cười khô khốc, mang trọn vẹn sự mỉa mai và khinh miệt của một kẻ nắm quyền lực sinh sát trong tay đối với một kẻ mộng mơ không biết lượng sức mình. Ông ta chống hai tay xuống bàn, nhoài nửa người về phía trước, ánh mắt lộ rõ sự đe dọa trần trụi:

“Cậu ngây thơ đến mức đáng thương đấy, Tống Gia Huy. Cậu nghĩ bản hợp đồng độc quyền ký bằng mực đen giấy trắng giữa cậu và Nova Sound là một trò chơi sở thích cá nhân à? Cậu còn đúng mười tám tháng hợp đồng với chúng tôi. Cậu có cần tôi mở két sắt lấy bản hợp đồng đó ra để nhắc lại cho cậu nhớ điều khoản về quyền phê duyệt sản phẩm phát hành cuối cùng thuộc về ai không?”

Bảo Trâm vội vàng rụt rè đặt bàn tay lên tay áo của Hoàng Nam, giọng run rẩy:

“Anh Nam, xin anh bớt giận. Chúng ta hoàn toàn có thể thương lượng một mốc thời gian khác linh hoạt hơn. Phía Đức An bên phòng thu Gió Bắc đang phối lại một bản mới—”

“Không có thương lượng nào nữa hết!” Hoàng Nam gạt phắt tay Trâm ra, giọng nói đã nâng lên thành một tiếng quát đanh thép vang dội khắp căn phòng họp kín. “Nếu cậu muốn giữ cái dự án ẩm ương của kẻ giấu mặt kia, được thôi. Tôi cho cậu đúng một tuần lễ. Đến thứ Sáu tuần này, nếu bản phối mới của 'Thứ Bảy' không được hoàn thiện với chất lượng vượt trội và được toàn bộ hội đồng chuyên môn thông qua, công ty sẽ lập tức cắt giảm toàn bộ ngân sách truyền thông của cậu xuống mức tối thiểu. Chúng tôi sẽ rút sạch kinh phí tiếp thị trên mạng xã hội, hủy bỏ toàn bộ chiến dịch quảng bá màn hình ngoài trời và đơn phương ấn định lịch trình phát hành ca khúc của Thái Sơn vào đầu tháng sau. Cậu hoặc là bước vào phòng thu hát theo đúng lịch trình đó, hoặc công ty sẽ đóng băng toàn bộ hoạt động biểu diễn của cậu cho đến ngày hợp đồng kết thúc. Lúc đó, để xem sự kiêu hãnh của một nghệ sĩ tự sự có nuôi nổi cái bụng của cậu và viện phí, học phí của thằng em trai cậu hay không!”

Từng lời đe dọa tàn nhẫn của Hoàng Nam giáng xuống không gian như những nhát búa tạ nện thẳng vào thanh kim loại rực lửa. Sự lạnh lùng thực dụng của cả một cỗ máy công nghiệp giải trí hiện rõ mồn một trong ánh mắt không một chút lay động của viên giám đốc chiến lược. Nhắc đến Minh Quân, ông ta đã cố tình đánh trúng vào điểm yếu chí mạng nhất của Huy, tước đi mọi đường lui của anh.

Dưới gầm bàn, hai bàn tay Huy siết chặt lại thành nắm đấm. Những khớp ngón tay trắng bệch ra vì lực ép, từng thớ gân nổi cộm trên mu bàn tay và một mạch máu nhỏ nơi thái dương anh giật mạnh từng nhịp. Cơn giận dữ bùng lên trong lồng ngực như một ngọn lửa muốn thiêu rụi tất cả, nhưng nét mặt anh tuyệt đối không để lộ một vết nứt của sự suy sụp hay hoảng loạn. Anh không thể để người đàn ông này nhìn thấy sự yếu thế của mình.

Huy chậm rãi buông lỏng nắm tay, đứng dậy khỏi ghế. Dáng người cao gầy của anh phủ một cái bóng sẫm màu lên mặt bàn. Anh đưa tay chỉnh lại mép cổ áo khoác bò một cách cẩn trọng, ánh mắt sắc lẹm lướt qua gương mặt đang hằm hằm của Hoàng Nam rồi dừng lại một thoáng trên tập tài liệu vô hồn của Thái Sơn.

“Thứ Sáu,” Huy buông ra hai chữ ngắn gọn, âm lượng không lớn nhưng sức nặng của nó làm cho không khí trong phòng như cô đặc lại. “Tôi sẽ nộp bản phối hoàn chỉnh. Nhưng nếu các người dám tự ý can thiệp vào bản quyền hay đụng chạm vào cấu trúc tác phẩm của 'Thứ Bảy', tôi sẵn sàng đưa vụ này ra pháp luật.”

Dứt lời, Huy không thèm liếc nhìn lại lấy một lần. Anh xoay người, sải những bước chân dài dứt khoát bước thẳng ra khỏi phòng họp. Cánh cửa kính dày nặng nề khép lại sau lưng anh bằng một tiếng *cách* êm ru, bỏ lại sau lưng tiếng thở dài thườn thượt đầy bất lực của Bảo Trâm và cái nhìn hầm hố, tối tăm như dã thú của Lê Hoàng Nam.

***

Đêm đã về khuya trên căn hộ chung cư cũ phía tây Hà Nội. Không gian chìm trong sự tĩnh mịch gần như tuyệt đối, chỉ còn lại tiếng kim giây của chiếc đồng hồ treo tường bằng nhựa rẻ tiền phát ra từng tiếng tích tắc đều đặn, khô khốc.

Bên trong căn phòng ngủ nhỏ ngăn bằng một vách thạch cao tạm bợ, Minh Quân đã ngủ say sau một ngày học tập mệt nhoài. Cánh cửa phòng khép hờ để lộ ánh đèn ngủ màu vàng nhạt hắt ra sàn nhà. Trên chiếc bàn học nhỏ bằng gỗ ép của cậu bé, cuốn vở bài tập ngón vẫn còn mở rộng, nơi những dòng kẻ khuông nhạc được cô Linh nắn nót ghi chú tỉ mỉ từng ngón tay cái, ngón trỏ bằng nét mực tím học trò thẳng tắp.

Huy ngồi đơn độc bên chiếc bàn làm việc ngổn ngang thiết bị điện tử. Dây cáp âm thanh, giắc cắm canon, bộ chuyển đổi tín hiệu audio interface và những bản tổng phổ ký âm chép tay được chiết xuất từ phòng thu Gió Bắc nằm rải rác khắp mặt bàn. Cốc cà phê đen pha phin từ lúc chập tối đã nguội ngắt, trên bề mặt đóng lại một màng váng mỏng sẫm màu. Ánh sáng xanh nhợt nhạt phát ra từ màn hình máy tính xách tay hắt ngược lên gương mặt góc cạnh của Huy, khắc sâu thêm những quầng thâm mỏi mệt nơi hốc mắt nhưng không thể làm mờ đi ngọn lửa trăn trở khôn nguôi đang âm ỉ cháy bên trong đáy mắt anh.

Cuộc đối đầu nảy lửa sáng nay ở Nova Sound không làm cho Huy sợ hãi. Anh đã lường trước được sự tàn nhẫn của Hoàng Nam ngay từ ngày đầu đặt bút ký vào bản hợp đồng ràng buộc sinh mệnh nghệ thuật của mình. Anh biết rõ những lời đe dọa đóng băng sự nghiệp, cắt bỏ ngân sách truyền thông hay chuyện học hành của Minh Quân không phải là những lời hù dọa suông của một kẻ rỗng tuếch. Nếu bản phối mới không đủ sức thuyết phục hội đồng thẩm định nghệ thuật vào thứ Sáu này, cỗ máy nghiền của Nova Sound sẽ không ngần ngại nghiền nát toàn bộ công sức, tâm huyết của anh và người cộng sự giấu mặt.

Thế nhưng, điều thực sự đang đè nặng lên từng nhịp thở, từng nếp nhăn trên trán Huy lúc này lại hoàn toàn không phải là những toan tính lạnh lùng hay đòn trừng phạt của Hoàng Nam.

Trong chiếc tai nghe kiểm âm Sennheiser ôm khít lấy vành tai anh, đoạn thu âm piano mộc mạc của 'Thứ Bảy' đang lặp đi lặp lại lần thứ ba mươi mốt.

Đó là một đoạn giai điệu tuyệt đẹp. Một vẻ đẹp thanh khiết, mộc mạc, mang đậm phong vị của những buổi sớm mùa thu Hà Nội khi sương mù còn bảng lảng trên mặt hồ và mùi lá mục ngai ngái bốc lên từ những vỉa hè lát gạch cũ. Chuỗi hợp âm bảy lơ lửng, không chịu giải quyết về hợp âm chủ một cách thông thường mà cứ dùng dằng, níu giữ lấy từng thanh âm vang vọng. Tiếng búa gõ lên dây đàn nỉ ấm áp, tinh tế và sâu lắng đến mức khiến cho lồng ngực người nghe phải thắt lại trong một cảm giác hoài niệm mơ hồ.

Thế nhưng, cứ mỗi khi giai điệu bắt đầu tích tụ đủ động năng, dồn nén cảm xúc để chuẩn bị bùng nổ ở ngưỡng cao trào mãnh liệt nhất – nơi mà người nhạc sĩ lẽ ra phải buông bỏ mọi chiếc khiên phòng thủ, phơi bày trọn vẹn sự trần trụi, những vết rạn nứt đau đớn và cả niềm khát khao sâu kín nhất của tâm hồn mình – thì tiếng đàn lại bất ngờ khựng lại.

Cô gái ấy luôn chọn cách dừng lại ở ranh giới mong manh đó. Cô luôn dùng một khoảng lặng gượng gạo, một dấu lặng đơn vô lý, hoặc vội vã lướt qua một chuỗi hợp âm rải cổ điển an toàn để rút lui, giấu mình vào những hợp âm thứ êm dịu, phẳng lặng nhằm che chắn cho bản thân. Cách chơi đàn ấy giống hệt như một người vừa hé mở một khe cửa hẹp của căn phòng tăm tối giấu kín tâm can mình cho người lữ khách nhìn vào, nhưng ngay khi ánh sáng vừa chớm rọi tới góc khuất nhất, người đó lại vì quá đỗi kinh hãi mà vội vàng dập sầm cánh cửa lại, khóa chặt bằng nhiều lớp then cài rỉ sét.

Huy chậm rãi tháo tai nghe ra, để mặc nó nằm chỏng chơ trên mặt bàn phím. Âm thanh mộc mạc từ củ loa nhỏ xíu vẫn lách tách phát ra như tiếng thì thầm của một bóng ma trong đêm.

Anh ngả đầu ra sau thành ghế, nhìn chăm chú lên trần nhà loang lổ vết ẩm mốc. Ký ức về buổi chiều hôm qua tại quán cà phê Nốt Nghỉ lại ùa về, rõ nét đến từng chi tiết nhỏ. Anh nhớ lại khoảnh khắc Khánh Linh ngồi bên cây đàn piano cơ màu nâu sờn cũ ở góc quán. Anh nhớ đôi bàn tay nhỏ nhắn của cô đã run rẩy dữ dội như thế nào khi bất ngờ trở thành tâm điểm chú ý của những vị khách lạ lùng. Anh nhớ ánh mắt hoảng loạn, thu mình của cô – ánh mắt của một chú chim nhỏ từng bị thương nặng bởi mũi tên sắc nhọn của người thợ săn, luôn nơm nớp lo sợ thế giới bên ngoài sẽ lại một lần nữa bẻ gãy đôi cánh của nó.

Và anh nhớ cả khoảnh khắc khi anh bước lên sân khấu nhỏ ấy, ôm lấy cây đàn guitar mộc, hòa nhịp cùng tiếng đàn của cô. Anh nhớ lời khen mà chính miệng anh đã thốt ra để vực dậy sự tự tin đang sụp đổ trong cô: *“Khúc nhạc thật sự có hồn.”*

Linh chính là 'Thứ Bảy'. Huy không còn một mảy may nghi ngờ nào về điều đó nữa. Từng nhịp lấy hơi rất khẽ trước khi chuyển đoạn, thói quen gõ nhẹ đầu ngón tay ba nhịp vô thức lên thành gỗ của cây đàn, và đặc biệt là chiếc máy đếm nhịp cơ học màu nâu cổ điển chạy lệch đúng một phần tư phách mà cô mang về nhà từ Mộc Cầm... tất cả những chi tiết vụn vặt ấy đã ráp nối lại thành một bức tranh hoàn chỉnh, tố cáo danh tính của người nhạc sĩ giấu mặt mà anh luôn tìm kiếm.

Nhưng Huy biết mình tuyệt đối không thể nói thẳng ra điều đó trước mặt cô. Anh đã ký bản thỏa thuận bảo mật danh tính nghiêm ngặt với Đức An ở Gió Bắc. Và quan trọng hơn cả những ràng buộc pháp lý khô khốc, Huy hiểu rõ tâm lý của Linh. Nếu anh vội vã xé toạc bức màn ẩn danh này vào lúc này, sự tự ti bệnh hoạn và lòng tự trọng mong manh của một tâm hồn từng gánh chịu tổn thương sâu sắc sẽ khiến Linh lập tức co cụm lại vào trong vỏ ốc kiên cố của mình. Cô sẽ hoảng sợ, cô sẽ chạy trốn, và có thể cô sẽ vĩnh viễn không bao giờ dám chạm tay vào phím đàn để viết thêm một nốt nhạc nào nữa cho cuộc đời này.

Anh không thể đối thoại với cô bằng tư cách của Tống Gia Huy – một ca sĩ nổi tiếng đang là phụ huynh của học trò cô, một người thuộc về thế giới showbiz xô bồ ngoài kia.

Anh chỉ có thể chạm vào cô bằng tư cách của một người đồng nghiệp bình đẳng trong nghệ thuật. Bằng tư cách của 'G'.

Huy kéo chiếc bàn phím máy tính lại gần, mở trình duyệt bảo mật và đăng nhập vào hòm thư nội bộ `[email protected]`.

Dưới tiêu đề mặc định *“Trao đổi chuyên môn - Bản phối thử nghiệm số 02”*, những ngón tay của Huy đặt lên bàn phím. Ban đầu, anh định viết một bức thư ngắn gọn, thuần túy mang tính kỹ thuật: yêu cầu điều chỉnh lại dải tần âm trầm của tiếng bass điện, cân bằng lại âm sắc của dàn dây và đề xuất một phương án hòa thanh khác cho phần chuyển tiếp vào điệp khúc. Nhưng rồi, khi nhìn chằm chằm vào con trỏ chuột đang nhấp nháy trên nền màn hình trắng lóa, trước sức ép nghẹt thở của thời hạn một tuần mà Hoàng Nam áp đặt, và hơn hết là khát khao cháy bỏng muốn nhìn thấy thứ âm nhạc tuyệt đẹp của cô được giải phóng hoàn toàn khỏi xiềng xích của sự sợ hãi, những dòng chữ trong lòng anh bắt đầu tuôn trào, không gì có thể ngăn lại được.

Anh gõ từng phím, tiếng lách cách khô giòn vang lên trong đêm vắng:

*“Gửi Thứ Bảy,*

*Tôi đã nghe đi nghe lại bản thu thử nghiệm phần piano của cô suốt cả buổi tối hôm nay, trong một căn phòng tĩnh lặng không có bất kỳ tạp âm nào khác ngoài tiếng thở của chính mình. Tôi phải thừa nhận một lần nữa: tư duy hòa âm của cô sở hữu một vẻ đẹp mộc mạc và độc đáo đến mức hiếm thấy. Những hợp âm bảy lửng lơ của cô mang lại một không gian tự sự rất riêng, rất thật và ấm áp giữa một thị trường âm nhạc đang bị bão hòa, ngạt thở bởi những thứ âm thanh điện tử công nghiệp được chế tác hàng loạt.*

*Nhưng tôi buộc phải hỏi thẳng cô một điều, không phải với tư cách một người đặt hàng sản phẩm, mà với tư cách của một người đang dùng chính giọng hát, chính lồng ngực và hơi thở của mình để cất lên những giai điệu do cô viết ra:*

*Vì sao âm nhạc của cô luôn cố tình rút lui ngay trước khoảnh khắc cảm xúc chạm đến ngưỡng riêng tư nhất?*

*Ở ô nhịp thứ 24, sau chuỗi dẫn nhập tuyệt vời đẩy dần từ nốt Si giáng lên Đô trưởng, cô đã tạo ra một lực đẩy cảm xúc vô cùng mãnh liệt, một sức căng âm nhạc khiến người nghe nín thở chờ đợi. Lẽ ra tại chính khoảnh khắc nghẹt thở đó, cô phải để cho giai điệu vỡ òa ra. Cô phải để cho nỗi đau, sự tiếc nuối hay niềm hạnh phúc tột cùng của người viết được trần trụi phơi bày trước ánh sáng. Nhưng cô lại không làm thế. Cô đột ngột ngắt nhịp. Cô dùng một khoảng lặng vụng về để trốn chạy, rồi vội vã lùi về những hợp âm rải an toàn, giấu mình sau sự mẫu mực, sạch sẽ của kỹ thuật cổ điển viện hàn lâm.*

*Cô đang sợ hãi điều gì vậy?*

*Có phải cô sợ rằng nếu bộc lộ toàn bộ cảm xúc thật nhất, trần trụi nhất của mình, người đời sẽ nhìn thấy sự yếu đuối, vụn vỡ bên trong cô? Hay cô sợ rằng việc đặt trọn vẹn trái tim mình lên từng phím đàn sẽ biến cô thành một mục tiêu không phòng bị, để cho người khác tùy ý phán xét, chê bai và giẫm đạp lên tổn thương của cô thêm một lần nữa?*

*Kỹ thuật của cô rất hoàn hảo. Đôi bàn tay cô lướt trên phím đàn không hề mắc một lỗi nhỏ nào về mặt trường độ, cao độ hay cấu trúc phức điệu. Nhưng nếu cô cứ tiếp tục dựng lên những bức tường phòng ngự kiên cố bằng kỹ thuật sách vở để che giấu con người thật của mình, bài hát này sẽ mãi mãi chỉ dừng lại ở ranh giới của một bài tập viết nhạc xuất sắc, tròn trịa, chứ không bao giờ có thể trở thành một tác phẩm nghệ thuật sống động chạm thấu đến tận cùng tâm can của người nghe.*

*Tôi không cần một bản nhạc an toàn. Thị trường này đã có quá thừa những thứ an toàn và giả tạo rồi. Tôi cần cô dám bước qua nỗi sợ hãi của chính mình. Hãy cho tôi thấy linh hồn thật sự của cô nằm ở đâu.*

*G.”*

Những ngón tay của Huy rời khỏi bàn phím. Con trỏ chuột nhấp nháy đều đặn trên nút “Gửi” màu xanh lam.

Huy ngồi bất động, đôi mắt nhìn xoáy vào từng dòng chữ vừa xuất hiện trên màn hình. Anh biết những lời lẽ này sắc bén đến mức nào. Chúng tàn nhẫn, chúng không có sự vuốt ve hay xoa dịu thường thấy. Chúng có thể sẽ xé toạc lớp vảy mỏng manh của vết thương lòng sâu nhất mà cô đang cố che giấu suốt nhiều năm qua. Nó có thể khiến cô suy sụp, có thể khiến cô giận dữ. Nhưng Huy biết mình không còn bất kỳ sự lựa chọn nào khác. Thời gian đang cạn kiệt dần theo từng tích tắc của chiếc đồng hồ trên tường, và một người làm nghệ thuật đích thực sẽ không bao giờ có thể bước ra khỏi bóng tối nếu cứ mãi run rẩy trốn chạy sau những tấm khiên chắn an toàn do chính mình dựng nên.

Huy hít một hơi thật sâu, lồng ngực căng lên rồi từ từ thở ra. Ngón trỏ của anh dứt khoát nhấn mạnh xuống phím chuột trái.

Một tiếng *tách* nhẹ vang lên. Bức thư rời khỏi hòm thư đi, hòa vào dòng chảy dữ liệu vô hình, mang theo toàn bộ sự khắc khoải, niềm tin và kỳ vọng trần trụi của anh gửi thẳng vào màn đêm sâu thẳm của Hà Nội.

***

Cùng thời điểm ấy, tại căn hộ tập thể cũ ở tầng ba một khu cư xá nhuốm màu rêu phong thuộc quận Hai Bà Trưng, không gian chìm trong sự tĩnh lặng dịu dàng, u hoài của nửa đêm về sáng.

Mai Anh – cô bạn thân cùng phòng – đã ngủ say từ lâu sau một ngày dài vật lộn với các hạn nộp đồ án thiết kế đồ họa. Cánh cửa phòng ngủ khép chặt, chỉ còn lại ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn đường vàng vọt hắt qua khung cửa sổ ban công nhỏ. Ngoài ban công, những chiếc lá bản dày của chậu cây lưỡi hổ đọng đầy sương đêm ẩm ướt, thi thoảng lại có một giọt nước tích tụ đủ nặng khẽ rơi xuống tấm tôn che hiên nhà bên dưới, phát ra những tiếng *lách tách* thanh mảnh, cô quạnh.

Khánh Linh ngồi thu mình trên chiếc ghế gỗ bên chiếc bàn làm việc nhỏ kê sát góc tường. Căn phòng hẹp nhưng ngăn nắp, thoang thoảng mùi thơm dịu nhẹ, thanh đạm của tách trà tim sen đã nguội ngắt từ bao giờ. Trên mặt bàn, chiếc keyboard điện tử tám mươi tám phím màu đen chiếm trọn một nửa diện tích. Ngay bên cạnh nó là chiếc máy đếm nhịp cơ học hình kim tự tháp bằng gỗ màu nâu sờn mà cô vừa mang về từ tủ đồ của Phòng học số 7 ở Mộc Cầm. Thanh kim loại của máy đếm nhịp đang đứng yên ở vị trí chính giữa, chiếc quả lắc bằng đồng nhỏ xíu phản chiếu ánh đèn bàn ấm áp.

Dưới ánh sáng vàng nhạt của chiếc đèn học để bàn, Linh đang cặm cụi dùng một chiếc bút chì gỗ đã gọt nhọn hoắt để tẩy xóa và vẽ lại từng dấu lặng, từng nốt móc kép trên bản ký âm cho phần chuyển đoạn mới. Những vệt bụi tẩy cao su li ti vương vãi trên mặt giấy kẻ khuông nhạc trắng muốt.

Kể từ sau buổi diễn ngẫu hứng xuất thần tại quán cà phê Nốt Nghỉ vào chiều hôm qua, trong lồng ngực Linh vẫn luôn âm ỉ một cảm giác bồi hồi, xao xuyến khó tả. Cảm giác ấy giống như một mầm cây non vừa được tưới một dòng nước mát lành sau chuỗi ngày dài hạn hán nứt nẻ. Lời khen *“Khúc nhạc thật sự có hồn”* phát ra từ chất giọng trầm ấm, chân thành của Tống Gia Huy, cùng ánh mắt kiên định, bao bọc của anh khi đứng bên cạnh đệm đàn cho cô trên sân khấu nhỏ vẫn không ngừng vang vọng trong tâm trí cô suốt hai mươi bốn giờ qua.

Lần đầu tiên sau ba năm đằng đẵng chìm ngập trong mặc cảm tự ti, trong nỗi sợ hãi tột cùng trước ánh mắt phán xét của đám đông, Linh cảm thấy vết thương lòng sâu hoắm dường như đã bắt đầu khép miệng, bắt đầu lên da non. Cô cảm thấy một luồng sinh khí mới mẻ len lỏi vào từng đầu ngón tay. Cô muốn viết, muốn chứng minh với bản thân mình rằng cô không phải là một kẻ tàn phế về mặt cảm xúc, rằng những nốt nhạc cô viết ra bằng cả tấm lòng này không hề là thứ âm thanh sáo rỗng, chết chóc như lời ai đó từng rủa xả.

*Ting.*

Âm thanh thông báo thư mới phát ra từ chiếc loa nhỏ của máy tính xách tay khẽ vang lên giữa căn phòng tĩnh mịch, cắt đứt hoàn toàn mạch suy nghĩ miên man của Linh.

Bàn tay cầm bút chì của cô khựng lại giữa không trung. Một mẩu than chì nhỏ nơi đầu bút khẽ gãy vụn, để lại một chấm đen đậm trên trang giấy.

Linh ngẩng đầu nhìn lên màn hình. Góc dưới bên phải hiển thị một thông báo thư đến từ địa chỉ quen thuộc của hệ thống máy chủ chuyển tiếp nội bộ thuộc phòng thu Gió Bắc. Tên người gửi hiển thị ngắn gọn một chữ cái duy nhất: **G**.

Khóe môi Linh bất giác nở một nụ cười mỏng manh, nhẹ nhõm. Cô đã quá quen với việc nhận được những dòng phản hồi từ người đàn ông này vào những khung giờ muộn màng của đêm đen. Suốt nhiều vòng trao đổi bản thảo qua lại trong dự án hợp tác bảo mật này, dù giọng điệu của G luôn có phần cộc lốc, khắt khe, kiệm lời và đôi khi lạnh lùng đến mức khó gần, nhưng Linh chưa bao giờ cảm thấy bị xúc phạm. Ngược lại, ẩn sâu sau lớp vỏ ngôn từ khô khan ấy, cô luôn tìm thấy ở G một sự thấu cảm kỳ lạ và tinh tế đến mức đáng kinh ngạc đối với từng chuyển động hòa âm của mình. Đó là một sự đồng điệu sâu sắc trong tư duy nghệ thuật mà cô chưa từng gặp ở bất kỳ ai trong suốt những năm tháng học tập tại Nhạc viện, ngoại trừ một cảm giác tương đồng đến kỳ lạ, khó giải thích với chính con người của Tống Gia Huy ngoài đời thực.

Linh với tay cầm lấy tách trà tim sen, nhấp một ngụm nhỏ để làm ẩm cổ họng khô khốc. Vị đắng thanh lan tỏa nơi đầu lưỡi. Cô đặt tách trà xuống đĩa lót, dùng chuột rê đến thanh thông báo rồi nhấp đúp để mở toàn bộ nội dung bức thư.

Thế nhưng, nụ cười dịu dàng vừa chớm nở trên môi Khánh Linh lập tức đông cứng lại.

Từng chữ, từng câu hiện ra trên nền màn hình trắng lóa như những mũi kim băng sắc nhọn, đâm thẳng vào đồng tử cô, găm sâu vào da thịt, truyền đi một cảm giác buốt nhói lan nhanh khắp toàn thân:

*“Vì sao âm nhạc của cô luôn cố tình rút lui ngay trước khoảnh khắc cảm xúc chạm đến ngưỡng riêng tư nhất?...”*

*“Có phải cô sợ rằng nếu bộc lộ toàn bộ cảm xúc thật nhất, trần trụi nhất của mình, người đời sẽ nhìn thấy sự yếu đuối, vụn vỡ bên trong cô?...”*

*“Nếu cô cứ tiếp tục dựng lên những bức tường phòng ngự kiên cố bằng kỹ thuật sách vở để che giấu con người thật của mình, bài hát này sẽ mãi mãi chỉ dừng lại ở ranh giới của một bài tập viết nhạc xuất sắc, tròn trịa, chứ không bao giờ có thể trở thành một tác phẩm nghệ thuật sống động chạm thấu đến tận cùng tâm can của người nghe...”*

Bàn tay đang cầm chuột của Linh run bắn lên một cách mất kiểm soát. Cùi chỏ của cô vô tình va nhẹ vào tách trà trên bàn. Chiếc tách sứ lắc lư, một giọt nước trà sẫm màu sóng ra ngoài mép, rơi thẳng xuống mặt bản ký âm đang mở rộng bên dưới, làm nhòe nhoẹt đi một cụm nốt móc kép cô vừa mới tỉ mỉ kẻ xong cách đây vài phút.

Linh chết lặng. Toàn thân cô lạnh toát như vừa bị dìm xuống một hồ nước băng giá giữa mùa đông. Hơi thở nghẽn lại nơi lồng ngực, nghẹn ứ nơi cuống họng như thể có một bàn tay vô hình bằng sắt đang bóp nghẹt lấy khí quản của cô, tước đoạt đi từng ngụm dưỡng khí quý giá.

Những câu hỏi sắc sảo, tàn nhẫn và chuẩn xác đến mức rợn người của G không đơn thuần là những lời nhận xét chuyên môn về một bản demo dở dang. Từng từ ngữ ấy đang biến thành những chiếc móc sắt bén ngót, xoáy thẳng vào vùng ký ức tăm tối nhất, nơi cất giấu bóng ma quá khứ kinh hoàng mà suốt ba năm qua cô đã dùng toàn bộ sức lực, sự tự lừa dối và lòng tự trọng rách nát của mình để lẩn tránh, phong tỏa và chôn vùi dưới đáy sâu tâm can.

Trước mắt Linh, ánh đèn bàn học màu vàng bỗng chốc nhòe đi, chao đảo dữ dội. Không gian căn phòng tập thể cũ kỹ dường như tan biến thành làn khói, nhường chỗ cho hình ảnh của khán phòng hòa nhạc lớn tại Nhạc viện Hà Nội vào một buổi chiều mùa thu u ám ba năm về trước.

Ngày hôm đó, cô – cô sinh viên thủ khoa chuyên ngành Sáng tác đầy kiêu hãnh, ngây thơ và ấp ủ biết bao giấc mộng thanh xuân rực rỡ – đã đứng run rẩy bên cạnh bục chỉ huy của dàn nhạc sau khi dàn nhạc thính phòng vừa trình diễn xong bài thi tốt nghiệp đại học của mình. Dưới hàng ghế đầu tiên của hội đồng giám khảo trang nghiêm, người thầy hướng dẫn khắt khe, uy tín và được kính trọng bậc nhất của khoa Sáng tác, thầy Trần Quốc Vinh, đã chậm rãi tháo chiếc kính lão gọng đồi mồi xuống.

Gương mặt nghiêm nghị, những nếp nhăn hằn sâu nơi khóe miệng và ánh mắt thất vọng đến tột cùng của người thầy năm ấy như một tảng đá ngàn cân đổ sụp xuống, đè bẹp hoàn toàn sự tự tôn non nớt của cô. Giọng nói trầm đặc, vang vọng qua hệ thống micro của hội trường lớn vẫn còn in hằn nguyên vẹn trong từng tế bào ký ức của Linh, sắc lạnh như một lưỡi dao mổ xẻ:

*“Kỹ thuật phức điệu của em rất chuẩn mực, giải quyết hòa âm cổ điển không sai sót một quy tắc giáo khoa nào. Nhưng bài hát này rỗng tuếch. Nó hoàn toàn vô hồn. Em đang dùng kỹ thuật hàn lâm để phô trương sự khéo léo của bàn tay, dùng các quy tắc sách vở để che đậy việc em không hề dám sống thật với cảm xúc bên trong mình. Một tác phẩm như thế này, nghe xong chỉ thấy sự lạnh lẽo của những công thức toán học chứ chẳng để lại lấy một chút hơi ấm con người nào cả.”*

Lời phán xét tàn nhẫn ấy ngày hôm đó đã biến thành một bản án tử hình dành cho giấc mơ âm nhạc của Khánh Linh. Nó đập nát hoàn toàn niềm tin ngây thơ của cô gái hai mươi hai tuổi. Nó biến cô từ một tài năng trẻ đầy triển vọng, niềm tự hào của cả khóa học thành một kẻ hèn nhát bỏ trốn khỏi cuộc thi sáng tác quy mô lớn ngay trước ngày khai mạc. Nó tước đoạt đi của cô sự dũng cảm để đối diện với phím đàn, đẩy cô vào một góc khuất vô danh, biến cô thành một cô giáo dạy piano trầm lặng ở một trung tâm nhỏ bé, ngày qua ngày chỉ dám gõ những nốt nhạc đồ-rê-mi mẫu mực, vô thưởng vô phạt cho những đứa trẻ vỡ lòng.

Và giờ đây, sau đúng ba năm đằng đẵng lẩn trốn trong bóng tối...

Một người đàn ông hoàn toàn xa lạ mang bí danh 'G', một người chưa từng gặp mặt cô, chưa từng biết quá khứ nhục nhã của cô là gì, lại một lần nữa dùng chính những nhát dao sắc lẹm ấy xé toạc lớp vỏ bọc an toàn mà cô đã dày công đắp nặn từng ngày.

Anh ta nhìn thấu cô. Anh ta nhìn thấu tim gan cô qua từng phím đàn. Anh ta nhìn thấy nỗi sợ hãi hèn mọn, trần trụi đằng sau những hợp âm bảy lửng lơ đầy vẻ tự sự. Anh ta vạch trần việc cô luôn cố tình ngắt nhịp ở những nốt cao trào để trốn chạy, để không một ai trên cõi đời này có thể chạm tới vết thương đang mưng mủ, rỉ máu bên trong lồng ngực cô.

Nỗi sợ hãi và sự tự ti bị dồn nén suốt bao năm bùng lên dữ dội như một cơn sóng thần, cào xé nát vụn tâm can Linh. Nước mắt cô trào ra từ khóe mắt, nóng hổi và mặn chát, lăn dài trên đôi gò má gầy guộc rồi rơi lã chã xuống mu bàn tay.

“Không... không phải như vậy...” Linh thì thầm trong vô thức, giọng cô vỡ vụn ra thành từng tiếng nấc nghẹn ngào. Hai bàn tay cô run rẩy bấu chặt lấy gấu chiếc áo len mỏng, siết mạnh đến mức các khớp ngón tay đau nhói.

Một nỗi thôi thúc hèn nhát quen thuộc lại trỗi dậy mãnh liệt trong tâm trí cô. Cô muốn đóng sầm nắp máy tính lại. Cô muốn xóa sạch hòm thư này. Cô muốn ngay lập tức gõ một dòng tin nhắn ngắn gửi cho nhạc sĩ Đức An để xin đơn phương chấm dứt hợp đồng dự án ngay trong đêm nay. Cô muốn từ bỏ tất cả. Cô muốn vứt bỏ toàn bộ những giấc mơ hão huyền này để quay trở về với thế giới nhỏ bé, phẳng lặng và an toàn của Phòng học số 7 ở Mộc Cầm – nơi bốn bức tường cách âm dày cộp sẽ bảo vệ cô, nơi không có một ai phán xét âm nhạc của cô, nơi cô chỉ cần là một cô giáo dạy đàn bình thường, không có tham vọng, không có ước mơ và vĩnh viễn không phải chịu đựng thêm bất kỳ sự tổn thương nào nữa.

Thế nhưng, ngay giữa khoảnh khắc tuyệt vọng và muốn buông xuôi ấy, sâu thẳm dưới đáy lòng Linh, một câu nói khác của G trong bức thư lại bất ngờ vang lên, nhức nhối và bỏng rát như một vết roi quất thẳng vào sự tự tôn còn sót lại của một người nghệ sĩ:

*“Tôi không cần một bản nhạc an toàn. Tôi cần cô dám bước qua nỗi sợ của chính mình. Hãy cho tôi thấy linh hồn thật sự của cô nằm ở đâu.”*

Câu nói ấy như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào cơn mê muội của cô. Nó đau đớn, nhưng nó không chứa đựng sự vùi dập hay khinh miệt. Nó chứa đựng một sự đòi hỏi khắc nghiệt, một lời thách thức từ một tâm hồn đang khát khao kiếm tìm sự chân thật tột cùng trong nghệ thuật.

Linh đứng bật dậy khỏi chiếc ghế gỗ. Đầu gối cô run rẩy va mạnh vào mép bàn làm việc khiến chiếc bàn rung lên một nhịp, chiếc máy đếm nhịp cơ học màu nâu khẽ lắc lư, phát ra một tiếng *cạch* nhỏ khô khốc.

Bỏ mặc chiếc máy tính vẫn đang sáng đèn, Linh bước từng bước nặng nề, xiêu vẹo về phía chiếc tủ quần áo bằng gỗ ép đã sờn rách mép dán kê ở góc tối nhất của căn phòng. Đôi chân trần của cô lạnh buốt khi chạm vào mặt sàn nhà lát gạch hoa cũ kỹ.

Linh quỳ sụp xuống sàn nhà, hai bàn tay run rẩy nắm lấy tay cầm của cánh tủ dưới cùng. Cánh tủ gỗ mở ra phát ra một tiếng cót két khô dầu rợn người giữa đêm khuya. Bên dưới những lớp chăn bông mùa đông được bọc kín trong túi nilon và những tập giáo trình âm nhạc cổ điển dày cộp, Linh lần mò vào tận góc sâu nhất, nơi không khí ẩm mốc bốc lên nồng nặc.

Những ngón tay của cô chạm vào một chiếc hộp các-tông dẹt, phủ một lớp bụi mỏng xám xịt.

Linh run rẩy kéo chiếc hộp ấy ra ngoài ánh sáng. Bụi bám vào đầu ngón tay cô, ram ráp và lạnh lẽo. Cô đặt chiếc hộp lên sàn gạch, cẩn thận gạt bỏ lớp bụi mờ trên nắp hộp rồi mở ra.

Bên trong chiếc hộp là một tập bản thảo chép tay khổ lớn A3. Những trang giấy kẻ khuông nhạc chuyên dụng đã ngả hẳn sang màu vàng ố vì thời gian và độ ẩm đặc trưng của những mùa nồm ẩm ướt kéo dài của đất trời Hà Nội. Mực bút máy màu xanh đen năm xưa đã phai nhạt đi nhiều chỗ, chuyển thành một sắc xám xịt buồn bã. Những vết tẩy xóa bằng lưỡi lam lam nham, những vệt mực hằn sâu vì lực ấn của ngòi bút từ ba năm trước vẫn còn hiện rõ mồn một trên từng trang giấy.

Đó chính là tập tổng phổ bài thi tốt nghiệp đại học năm xưa của cô. Bản nhạc mang tên *“Khúc Tưởng Niệm Mùa Thu”* – tác phẩm đỉnh cao của thời sinh viên, nhưng cũng chính là tác phẩm đã bị thầy Trần Quốc Vinh thẳng tay gạt bỏ không thương tiếc với lời chê cay nghiệt: “Nhạc không có hồn”.

Linh ngồi bệt xuống nền gạch hoa lạnh lẽo, lưng tựa vào cánh tủ gỗ. Đôi bàn tay gầy guộc run rẩy lật từng trang giấy ố vàng đã giòn mép.

Những nốt nhạc năm xưa hiện lên trước mắt cô, rõ ràng và tàn nhẫn hơn bao giờ hết. Kỹ thuật phức điệu dày đặc đan cài vào nhau như một mê cung toán học không lối thoát, những chồng hợp âm mở rộng phức tạp, những đoạn chuyển điệu chuẩn xác đến từng phần triệu của mi-li-mét theo đúng chuẩn mực kinh viện châu Âu thế kỷ mười chín...

Và rồi, đúng như những gì G vừa chỉ ra trong bức thư đêm nay, ở mọi điểm cao trào của tác phẩm ba năm trước, Linh đều nhìn thấy chính bản thân mình đang trốn chạy. Ở mọi khoảnh khắc mà giai điệu lẽ ra phải bùng cháy rực rỡ nhất, cô đều cố tình chèn vào những dấu lặng bất thường, hoặc dùng những thủ pháp hòa thanh an toàn để bẻ hướng giai điệu sang một tông giọng khác êm đềm hơn.

Cô chưa bao giờ dám để cho trái tim mình trần trụi trước âm nhạc. Cô luôn sợ hãi sự tổn thương, luôn nơm nớp lo sợ người khác sẽ nhìn thấy sự yếu mềm, vụn vỡ và những khoảng trống cô độc bên trong mình. Chính vì nỗi sợ hãi đớn hèn ấy, cô đã tự tay dùng kỹ thuật hàn lâm để xây nên một pháo đài bằng đá kiên cố, bất khả xâm phạm, rồi tự giam cầm chính linh hồn âm nhạc của mình trong pháo đài lạnh lẽo, tối tăm đó suốt bấy nhiêu năm trời.

Thầy Trần Quốc Vinh năm xưa với đôi tai lão luyện của một bậc thầy đã nhìn thấy điều đó.

Và G đêm nay, chỉ qua một đoạn demo piano mộc mạc chưa đầy ba phút, cũng đã nhìn thấu tận đáy tim cô điều đó.

Linh ôm chặt tập bản thảo cũ kỹ vào lòng. Cô gục trán lên hai đầu gối, hai bả vai gầy rung lên bần bật theo từng tiếng nấc nghẹn ngào. Những giọt nước mắt ấm nóng, mặn chát của sự thức tỉnh muộn màng rơi lã chã, thấm ướt trang giấy ký âm đã ố vàng theo năm tháng. Nỗi đau đớn như một lưỡi dao mổ xẻ rạch nát lồng ngực cô, nhưng đồng thời, nó cũng mang lại một sự thức tỉnh tàn nhẫn đến tột cùng.

Cô không thể tiếp tục lẩn trốn như thế này được nữa.

Nếu cô chọn cách rút lui vào đêm nay, nếu cô gửi lá thư xin chấm dứt hợp đồng cho Đức An, cô sẽ vĩnh viễn là một kẻ hèn nhát bị ám ảnh và giam cầm bởi một lời chê bai suốt phần đời còn lại. Cô sẽ mãi mãi chỉ là một cái bóng vật vờ gõ những phím đàn vô cảm cho qua ngày đoạn tháng.

Nếu cô muốn âm nhạc của mình có một linh hồn thực sự, nếu cô muốn những hợp âm bảy lơ lửng của mình có thể sưởi ấm, có thể chữa lành cho những tâm hồn cô đơn khác như cái cách mà chúng đã vô tình lay động Tống Gia Huy trong buổi chiều mưa ở Nốt Nghỉ, cô buộc phải dũng cảm quay trở lại nơi mọi thứ bắt đầu. Cô buộc phải đứng thẳng dậy để đối mặt với nguồn cội của nỗi đau này. Cô phải tìm cho bằng được câu trả lời cho câu hỏi đang xé nát tâm can mình: Liệu âm nhạc của cô năm xưa có thực sự là một thứ rác rưởi vô hồn, hay chính sự phòng thủ hèn nhát của bản thân đã bóp nghẹt nó ngay từ khi nó vừa thành hình?

Khánh Linh từ từ ngẩng đầu lên. Cô đưa mu bàn tay áo quẹt khô những giọt nước mắt còn đọng lại trên khóe mi. Đôi mắt sưng đỏ của cô dừng lại trên dòng ghi chú nhỏ được viết bằng nét bút chì mờ nhạt ở góc dưới cùng của trang bìa tập bản thảo ố vàng.

Đó là dòng địa chỉ liên hệ và số điện thoại cố định của người thầy hướng dẫn năm xưa.

Một địa chỉ quen thuộc, nằm ẩn mình trong một con ngõ sâu rợp bóng cây cổ thụ gần khu tập thể cũ của Nhạc viện lập tức hiện lên trong tâm trí Linh: Hiệu sách Bản Nhạc Cũ – nơi người thầy giáo già nghiêm khắc của cô vẫn thường lui tới vào mỗi buổi chiều muộn để tìm lại những bản nhạc cổ điển đã thất truyền.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn