Hoa Ban Không TànC.6 / 38
Chương 6

Giá của một bát cơm

Con trâu mộng đực của nhà bác Lương lớn hơn tôi rất nhiều, thân mình nó đen trũi và gồ ghề như một khối đá tai mèo vừa lăn từ đỉnh Pha Luông xuống nằm chắn ngang lối đi, còn sợi dây thừng xỏ qua mũi nó giữ trong tay tôi thì thô ráp đến mức chỉ sau một quãng đường dắt từ chuồng ra bãi suối vào buổi sáng đầu tiên, lớp xơ gai đã chà xát làm trợt đỏ cả lòng bàn tay non nớt.

Sương mù vùng biên viễn Nà Ban không bao giờ chịu tan đi theo cách của sương dưới đồng bằng. Nó không bốc lên cao thành mây khi mặt trời hé rạng, mà chỉ loãng dần ra, biến thành một thứ khói xám đục ngầu, nhờ nhợ và nặng trịch, lơ lửng là là sát những vạt cỏ dại rậm rạp đang ngập ngụa trong thứ nước buốt giá như ngâm đá dăm. Con trâu mộng lừ đừ sải từng bước chân nặng nề qua mép suối cạn. Từng móng guốc to bản, nứt nẻ của nó bổ sầm sập xuống những hòn cuội trơn tuột, phát ra những tiếng lách cách khô khốc dội ngược vào vách đá dựng đứng hai bên bờ. Cứ đi được vài bước, nó lại bất thần vươn cái cổ dày cui nghênh sang một bên, ngoạm phập một búi cỏ lác ven bờ rồi giật mạnh một cái. Sợi dây thừng bện bằng vỏ cây thừng mực ngâm bùn vừa ráp vừa cứng quẫy mạnh theo cú giật của con vật, cứa nghiến vào cổ tay khẳng khiu của tôi. Da thịt của một đứa trẻ năm tuổi mềm như cuống lá non, chưa từng quen với sự cọ xát dữ dội của loại dây thừng rừng; những vết xước rớm máu li ti bắt đầu tấy đỏ, rát bỏng lên dưới từng cơn gió núi thổi ràn rạt qua mặt suối.

Tôi cắn chặt hai hàm răng lại, những ngón chân trần gầy guộc bấm sâu hoắm vào lớp bùn nhão nhoét lạnh ngắt dưới lòng lạch cạn, cố đem toàn bộ chút sức tàn của thân hình quắt queo ra mà ghìm dây thừng lại mỗi khi con vật đồ sộ kia quay đầu, dỏng đôi tai to bản ngóng về phía vạt nương ngô non mới nhú của nhà ông Thào bên xóm Mo. Lời đe dọa sắc lẹm của bác Lương trước khi tôi dắt trâu ra khỏi cổng rào đá vẫn còn ong ong, dội từng hồi buốt nhức bên tai: chỉ cần một mầm ngô của người ta bị con trâu này giẫm nát hay ngoạm mất, thì phần đòn roi phạt vạ ấy sẽ giáng thẳng xuống lưng tôi, giáng bằng roi dâu hay cán rựa gãy mà không có bất kỳ một sự nể nang hay dung thứ nào.

Bãi cỏ ven suối lúc sớm mai quạnh quẽ không một bóng người. Chung quanh chỉ có tiếng nước chảy róc rách qua các khe đá rêu phong và tiếng gió đông bắc luồn qua các hẻm sâu rú lên từng chặp ngắt quãng. Thỉnh thoảng, từ những lùm cây rậm rạp phía chân núi đá vôi mù mịt, một cánh chim bìm bịp lại kêu lên những tiếng đùng đục, thảng thốt rền vang, càng khoét sâu thêm sự im lìm tê tái của thung lũng đá xám ngắt. Tôi đứng nép mình dưới gốc một cây vạng cằn cỗi đã rụng gần hết lá sau những đợt sương muối kéo dài, co ro trong chiếc áo vá chằng vá đụp của cha Hòa để lại. Chiếc áo quá rộng so với thân hình nhỏ bé của tôi, vạt áo dài trùm qua gối l phần cổ áo rộng hoác để mặc cho từng luồng gió buốt táp thẳng vào khoảng ngực trơ xương sườn. Tôi kẹp chặt hai bàn tay tím tái vào giữa hai bên đùi non để tìm kiếm chút hơi ấm mỏng manh còn sót lại từ da thịt, nhưng cái lạnh thấu xương của vùng cao dường như chẳng chừa lại một ngóc ngách nào trên cơ thể.

Đói. Cơn đói cồn cào và nhức nhối bắt đầu bốc lên từ đáy dạ dày rỗng không. Bát mèn mén vụn trộn sắn khô nuốt vội từ tối hôm qua đã tan biến từ lâu trong cái bao tử lép kẹp của một đứa trẻ phải làm việc quần quật, giờ đây chỉ còn lại một cảm giác cồn cào, quặn thắt đến nao lòng, như thể có một nắm sỏi sạn đang bị co bóp, nghiền nát và chà xát liên tục vào thành ruột non nớt. Tôi đứng chôn chân nhìn chiếc bụng tròn bè phập phồng gặm cỏ của con trâu mộng, bỗng thấy thèm thuồng một cách ngây ngô. Tôi thèm được như con vật to xác kia, chỉ cần cúi đầu xuống là có cái nhét đầy dạ dày, thèm có một nơi chốn bình yên mà không phải nơm nớp sợ hãi từng cái nhíu mày, từng cái liếc xéo sắc lạnh của những người lớn trong nhà.

Đến khi mặt trời lên chừng con sào, ánh nắng nhợt nhạt và yếu ớt xuyên qua màn sương mù xám đục tạo thành những vệt sáng vàng vọt xiên khoai chiếu lên những mỏm đá tai mèo lởm chởm, con trâu mới chịu uể oải ngẩng đầu lên khỏi vũng cỏ lác. Hai bên hông nó đã căng tròn đẫy đà sau khi ngốn đống cỏ ướt sũng. Tôi lật đật quấn lại sợi dây thừng vào cổ tay, lùa con trâu đi ngược con dốc dài dẫn trở về bản. Con dốc trũng dựng đứng đầy đá dăm và sỏi nhọn hoắt như muốn đâm toạc những ngón chân trần đã nứt nẻ vì sương muối của tôi. Về đến bờ rào đá nhà bác Lương, tôi dắt con trâu vào góc chuồng quen thuộc, buộc chặt đầu dây thừng vào chiếc cột gỗ nghiến mốc meo, rồi nhanh tay vơ thêm một ôm rơm khô bỏ vào máng cho nó nhai trệu trạo như lời bác dặn, đoạn đứng nép mình im thin thít bên mép sân đất nện để chờ đợi công việc tiếp theo.

Bác Lương từ trên gian nhà sàn năm gian bước xuống từng bậc cầu thang gỗ pơ mu nặng trịch. Trên tay bác cầm một chiếc rựa đã vỡ mất một góc lưỡi, cán rựa bện dây mây lên nước đen bóng vì mồ hôi tay qua nhiều năm tháng. Bác dừng lại ở chân cầu thang, đưa cặp mắt ti hí sắc lẹm soi xét một lượt từ chiếc bụng căng tròn của con trâu, ngó qua máng rơm rồi dừng trừng trừng trên người tôi. Không một nụ cười, cũng chẳng có lấy một lời khen ngợi hay một cái gật đầu bằng lòng nào dành cho buổi sáng nhọc nhằn của đứa cháu mồ côi.

“Cột trâu xong rồi thì vào chái phụ vác cái gùi nhỏ ra đây,” giọng bác Lương trầm đục, khô khốc và rời rạc như tiếng hai gióng nứa khô đập vào nhau giữa trưa hanh. “Đi theo bác dâu mày lên đồi chặt nứa, nhặt củi khô về chêm vào gầm sàn cho kín gió. Chiều nay còn phải lên vạt nương trên đỉnh dọn đá hộc mà làm cỏ ngô. Nhà này từ xưa đến nay không có cái thói đứa nào ngồi không mà há mồm chờ người ta xúc cơm cho ăn.”

Tôi cúi gầm mặt xuống, nhìn chằm chằm vào những ngón chân dính đầy bùn suối của mình, lí nhí đáp:

“Dạ, con biết rồi ạ.”

Tôi lách người bước nhanh vào chái phụ tối tăm và ẩm thấp ở mé sau nhà sàn. Đây là nơi chứa rơm khô, củi mục và đống nông cụ han gỉ của gia đình bác, nơi mà mùi phân trâu nồng nặc bốc lên từ vách nứa hở quyện chặt với mùi ẩm mốc của đất nện và mùn cưa mục ruỗng. Chiếc gùi tre đan thưa cũ kỹ của Lan bỏ lại sau khi được đổi chiếc gùi mới nằm chỏng chơ bên cạnh chiếc chõng tre đã gãy mất hai nan giát. Tôi khom lưng, quàng hai quai gùi làm bằng vỏ dây rừng tước mỏng lên đôi vai gầy nhẳng của mình. Sợi dây thô ráp đè nghiến lên làn da mỏng manh khiến hai bên vai tôi rát buốt như bị cọ vào đá mài, nhưng tôi tuyệt nhiên không dám chần chừ dù chỉ một giây để xốc lại quai cho đỡ đau.

Trên sườn đồi thoai thoải nằm ngay phía sau bản Nà Ban, từng cơn gió quẩn mang theo mùi đất ải nồng nặc và ngai ngái thổi thốc vào mặt. Bác dâu Sương đã đứng sẵn ở đó từ trước, chiếc váy chàm sẫm màu vén cao giắt ngang thắt lưng, đôi bàn tay gầy gò nổi đầy gân xanh thoăn thoắt vung chiếc cuốc bướm bạt phầm phập vào những vạt cỏ tranh rậm rạp đang mọc lấn át vào mép nương ngô non. Thấy tôi lầm lũi cúi đầu đi tới với chiếc gùi trĩu trên lưng, bác dừng tay cuốc, lấy vạt áo chàm lau vội lớp mồ hôi nhễ nhại đang rịn ra trên trán, đưa cặp mắt một mí sắc sảo nhìn tôi bằng một ánh nhìn dò xét đầy vẻ tính toán.

“Đến rồi thì cúi cái lưng xuống mà nhặt đá hộc xếp cho thật ngay ngắn vào mép bờ ta luy,” bác Sương cất giọng the thé, âm thanh chói gắt xuyên qua màn gió lạnh, không hẳn là giận dữ tột cùng nhưng luôn đượm vẻ hằn học của một người phải gánh thêm một miệng ăn ngoài dự tính. “Cỏ tranh kia nhổ thì phải dùng sức mà bứng bật cả củ rễ sâu hoắm của nó ra, gom lại thành một đống để trưa nắng hẵng châm lửa đốt cho sạch mầm. Đừng có đứng đực mặt ra đấy như khúc gỗ mục dầm mưa. Mày năm tuổi rồi, ở cái đất Nà Ban này đứa năm tuổi con nhà người ta đã biết cõng em gánh nước tưới rau, không ai nuôi báo cô một đứa chỉ biết ngửa tay đợi người khác xúc cơm đổ vào miệng đâu.”

“Vâng, con nhặt ngay đây ạ,” tôi nói nhỏ đến mức tiếng gió gần như nuốt chửng câu trả lời, rồi vội vã bước ngay vào giữa những rãnh đất lởm chởm đá tai mèo.

Đá ở sườn núi Nà Ban sắc cạnh vô cùng và nặng trịch như những tảng chì đúc. Mỗi một hòn đá hộc bị lưỡi cuốc của bác dâu bật lên khỏi lòng đất đều dính bết một lớp đất đỏ quánh, dẻo quẹo như keo. Tôi khom tấm lưng còng queo xuống, dùng cả hai bàn tay nhỏ bé ôm trọn lấy từng tảng đá to gần bằng chiếc ấm tích bằng đất nung, gồng hết sức bình sinh của một đứa trẻ thiếu ăn để nhấc bổng nó lên khỏi mặt đất, lảo đảo bê từng bước ra mép bờ rào ta luy. Cạnh đá sắc lẹm cứa rách những đầu ngón tay nứt nẻ, lớp đất đỏ quạnh nhét chặt vào từng kẽ móng tay gây ra những cơn đau nhức nhối buốt tận óc. Khi chiếc lưng non nớt đã mỏi nhừ và hai đầu gối run rẩy vì phải khuỵu xuống đứng lên quá nhiều lần trên sườn dốc trơn tuột, tôi lại quay sang dùng hai bàn tay trần để nhổ cỏ tranh. Rễ cỏ tranh ăn sâu hoắm vào lòng đất cằn cỗi nhiều sỏi đá, mép lá cỏ sắc bén như những lưỡi dao lam; chỉ cần một thoáng sơ sẩy là mép lá ráp đã rạch một đường ngọt xớt ngang mu bàn tay tôi, khiến những giọt máu tươi rỉ ra, hòa cùng đất cát đỏ ối.

Bác Sương vừa bổ những nhát cuốc cằn cỗi xuống lớp đất chai cứng vừa liên tục cằn nhằn về chuyện tiền phân bón vụ này đắt đỏ, về giá ngô khô dưới chợ phiên Mộc Châu bị cánh thương lái ép xuống tận đáy, rồi bác bóng gió xa xôi nhắc đến những món nợ cũ mà cha tôi để lại trước khi xuôi tay nhắm mắt. Từng lời nói the thé, đay nghiến của bác dâu như những nhát cuốc bổ thẳng vào lòng tôi. Năm tuổi, tôi chưa hiểu hết những toan tính phức tạp của người lớn về tiền bạc hay ruộng nương, nhưng tôi hiểu rất rõ thân phận côi cút của mình trong căn nhà này. Công việc nặng nhọc mà vợ chồng bác Lương giao cho tôi làm không phải là một sự rèn giũa nghiêm khắc của người thân thích cưu mang một đứa cháu ruột thịt, mà là một cuộc trao đổi sòng phẳng đến tàn nhẫn. Từng bát mèn mén nuốt vội, từng cọng rau dớn luộc chát ngắt, từng chỗ nằm ẩm mốc trên chiếc chõng tre ọp ẹp dưới chái phụ đều có một cái giá cụ thể được quy đổi bằng từng gùi củi khô, từng tảng đá hộc tôi phải nhấc lên khỏi mặt đất mỗi ngày. Nếu tôi không làm, hoặc làm không vừa mắt họ, cánh cửa gỗ kia có thể đóng sập lại bất cứ lúc nào, đẩy tôi ra giữa thung lũng đá xám buốt giá mà không có cha mẹ chở che.

Nghĩ đến cảnh tượng kinh hoàng ấy, tôi lại cắn chặt môi, cúi rạp người xuống ôm lấy một tảng đá khác. Mồ hôi túa ra đầm đìa trên trán, chảy cay xè vào khóe mắt hòa lẫn với lớp bụi đất đỏ bám đầy trên khuôn mặt nhem nhuốc.

Đến khi mép bờ ta luy đã thành hình bằng những hàng đá xếp ngay ngắn và vạt nương ngô trên đỉnh đồi đã sạch bóng những gốc cỏ tranh sắc nhọn, mặt trời vùng cao đã đứng bóng ngay trên đỉnh đầu, tỏa ra thứ ánh sáng hanh hao và chói gắt. Bác dâu Sương chống cuốc thở dốc, lấy vạt áo lau mồ hôi rồi quay sang bảo tôi đi lần vào bìa rừng nứa gom củi khô gùi về nhà trước, còn bác sẽ ở lại cuốc nốt khoảnh đất giáp ranh với nương nhà người khác.

Tôi lần theo con đường mòn nhỏ ven sườn đồi, chui vào mép rừng le rậm rạp. Nơi đây sau những trận mưa dầm mùa hạ thường có rất nhiều cành củi dẻ gai khô bị gió quật gãy mục nằm vắt vẻo trên các bụi gai. Có những cành củi dẻ to và dài, hai bàn tay tôi không bẻ gãy nổi, tôi phải dùng hết sức của đôi chân trần giẫm mạnh lên thân cành cho nó gãy vụn thành từng đoạn ngắn, rồi dùng những sợi dây rừng tước sẵn bó chặt lại thành một bó lớn. Bó củi khô to quá khổ so với thân hình quắt queo của một đứa trẻ năm tuổi, nặng trĩu kéo oằn hai vai, nhưng tôi vẫn cố gom nhặt thật nhiều, nhét đầy vào lòng gùi và buộc thêm một bó phụ phía trên. Tôi ngây thơ nghĩ rằng nếu mình gùi được một bó củi thật lớn về nhà để chêm kín gầm sàn chắn gió rét, bác Lương và bác dâu sẽ bớt cau có, và bữa cơm tối nay có thể tôi sẽ không phải đón nhận những cái nhìn lạnh lùng như dao cạo găm vào lưng mình nữa.

Tôi còng lưng, hai tay bám chặt vào quai gùi, kéo lê bước chân nặng nề vượt qua con dốc dài đầy đá dăm dẫn về khoảng sân trước nhà bác Lương. Mồ hôi rịn ra từ chân tóc chảy ròng ròng làm tầm nhìn của tôi nhòe nhoẹt. Đôi chân trần run rẩy bước thấp bước cao, từng ngón chân cố bấu chặt lấy nền đất trơn trượt để giữ cho cả thân hình không ngã chúi về phía trước dưới sức nặng của gùi củi.

Khoảng sân trước nhà lúc này vắng tanh, chỉ có tiếng gió xào xạc qua rặng chuối sau bờ rào đá. Dưới mái hiên rộng của gian nhà sàn, mấy chiếc thúng tre đựng hạt ngô giống đang được phơi dang dở trên nền đất. Đó là những thúng ngô hạt đỏ au, mẩy tròn, giống ngô răng ngựa tốt nhất mà đích thân bác Lương đã chắt chiu, lựa chọn từng bắp to đều cất trên giàn bếp suốt cả mùa đông qua, nay mới đem ra phơi thêm vài con nắng cho thật giòn, thật kiệt nước trước khi đem gieo hạt xuống nương vào chiều nay. Đêm qua sương muối rơi nhiều và dày đặc, mép sân đất sát chân hiên vẫn còn đọng lại một lớp bùn nhão nhoét, trơn trượt chưa kịp khô ráo.

Tôi thở dốc từng cơn hổn hển, lồng ngực phập phồng như chiếc ống bễ lò rèn, hai bên vai buốt nhói như có ngàn mũi kim châm dưới sức nặng của bó củi khô. Khi bước qua khoảng sân hẹp để tiến về phía lối đi dẫn vào chái phụ, một đầu cành dẻ gai dài và cứng thò ra khỏi bó củi bỗng mắc kẹt vào chân cột hiên bằng gỗ nghiến.

Sức quán tính kéo giật toàn bộ cơ thể tôi lại phía sau một cách đột ngột. Tôi loạng choạng mất thăng bằng, chiếc gùi nặng trĩu kéo nghiêng cả người tôi sang một bên. Trong cơn hoảng loạn tột cùng vì sợ bó củi bị tuột rơi xuống đất làm gãy nát, tôi cuống cuồng giơ cả hai tay ra chới với bám víu vào khoảng không trống rỗng.

“Rầm!”

Bó củi nặng trịch cùng cả thân hình tôi va cực mạnh vào mép chiếc thúng tre lớn nhất đặt sát lối đi. Chiếc thúng tre đan dày bị hất tung lên khỏi mặt đất, lật nghiêng sang một bên.

Một âm thanh rào rào khô khốc, rùng rợn vang lên giữa buổi trưa vắng lặng của bản làng. Toàn bộ số ngô hạt bên trong thúng trút ào ào xuống khoảng sân đất bẩn. Hàng ngàn, hàng vạn hạt ngô giống đỏ au, mẩy tròn văng tung tóe khắp nền đất, lăn lông lốc qua rãnh thoát nước và chìm nghỉm vào vũng bùn đất nhão nhoét, xám xịt và ướt sũng ngay trước bậc thang nhà sàn.

Tim tôi thắt nghẹn lại, dường như ngừng đập hoàn toàn trong khoảnh khắc ấy. Toàn thân tôi run rẩy ngã quỵ xuống đất, hai đầu gối trần đập mạnh vào những hòn đá dăm đau điếng, nhưng nỗi đau thể xác lúc này hoàn toàn tan biến trước một nỗi sợ hãi khủng khiếp đang bóp nghẹt lấy cuống họng tôi.

“Trời đất quỷ thần ơi là trời!”

Một tiếng thét the thé, xé lòng bỗng vang lên từ phía đầu con ngõ dốc. Bác dâu Sương vừa gùi bó rau lợn về đến cổng rào đá thì tận mắt chứng kiến toàn bộ cảnh tượng kinh hoàng ấy. Bác quẳng phịch chiếc gùi rau xuống đất bẩn, lao bổ vào sân như một cơn lốc dữ, hai mắt trợn trừng nhìn đống ngô giống quý giá đang vùi sâu trong lớp bùn lầy nhơ nhớp.

Ngay sau đó, tiếng bước chân nặng nề, dồn dập của bác Lương cũng rầm rập chạy từ trong gian nhà sàn bước ra ngoài hiên. Bác đứng sững lại ở đầu cầu thang gỗ, nhìn chiếc thúng rách nằm chỏng chơ và những hạt ngô vàng óng đang dần bị lớp bùn xám đục nuốt chửng hoàn toàn. Gương mặt bác Lương tối sầm lại như bầu trời trước cơn giông tố, từng thớ thịt trên gò má vuông vức giật giật dữ dội.

“Mày… mày làm cái trò quái quỷ gì thế này hở Nam?” Bác Lương gầm lên, giọng run rẩy vì cơn giận dữ tột độ nghẹn ứ nơi cổ họng.

Tôi run rẩy quỳ sụp xuống nền đất ướt, hai bàn tay rướm máu cuống cuồng cào bới, cố vớt vát những hạt ngô đang chìm dưới vũng bùn lên, giọng vỡ òa ra trong sự kinh hoàng tột độ:

“Bác… bác ơi, con không cố ý đâu ạ… Bó củi nặng quá nó vướng vào chân cột hiên… Con xin lỗi bác, để con nhặt lên ngay, con nhặt sạch ngay bây giờ ạ…”

“Nhặt cái gì? Mày còn nhặt được cái giống gì nữa ở cái vũng bùn thối này hả thằng mặt giặc?” Bác dâu Sương quỳ thụp xuống bên đống ngô, hai bàn tay run bần bật bốc lấy từng nắm ngô lẫn lộn bùn đất nhơ nhớp, nước mắt trào ra nơi khóe mắt đầy nếp nhăn vì xót của cải. “Ngô này là ngô giống tao với bác mày phải chắt chiu lựa từng bắp trên gác bếp suốt mấy tháng mùa đông, phơi ròng rã cả tuần trời nay! Chiều nay định đem tra hạt xuống nương mà bây giờ vùi hết vào bùn nước thế này thì thối mầm, hỏng sạch hết rồi! Mày có biết một thúng ngô giống này dưới chợ người ta đổi được bao nhiêu cân gạo, bao nhiêu tiền phân bón không hả thằng trời đánh thánh vật kia?”

Bác Lương sầm sập bước từng bước nặng trịch xuống sân. Chiếc bóng to lớn, đen đúa và nồng nặc mùi thuốc lào của bác trùm kín lấy thân hình nhỏ thó, run rẩy như một con chim non ướt lông của tôi. Bác không lao vào đá hay dùng cán rựa đập vào lưng tôi như tôi từng sợ hãi nhắm nghiền mắt đợi chờ, nhưng ánh mắt bác nhìn xuống tôi lúc này còn tàn nhẫn và đáng sợ hơn cả những lằn roi rướm máu. Đó là ánh mắt của sự khinh miệt tột cùng, sự bực bội và thất vọng tràn trề đối với một thứ của nợ vô tích sự mà số phận trớ trêu bắt bác phải cưu mang.

“Đúng là cái đồ vô tích sự, ăn hại đái nát!” Bác Lương nghiến răng qua từng kẽ kẽ răng vàng ố, từng lời thốt ra lạnh buốt như băng đá trên đỉnh núi. “Mới tí tuổi đầu mà đã vụng thối vụng tha, hậu đậu không ai bằng! Cầm sợi dây thừng dắt con trâu cũng để nó kéo lê, gùi một bó củi khô thì làm đổ nát tan tành cả gia tài mùa màng của người khác. Nuôi mày tốn cơm tốn gạo của cái nhà này, sức làm thì chẳng thấy được bao nhiêu, chỉ thấy rước họa với báo hại là giỏi! Ăn thì đòi ăn cho đẫy bụng như người lớn, mà làm thì như đứa đui què mạt rệp!”

Những lời chửi rủa cay độc ấy như từng mũi dùi nhọn hoắt đâm thẳng vào lồng ngực non nớt của tôi. Tôi cúi gục đầu sát mặt đất, trán gần như chạm vào những hạt ngô giống dính đầy bùn nhão. Tôi không dám mở miệng cãi lại nửa lời, cũng không dám ngẩng lên nhìn vào gương mặt đằng đằng sát khí của hai người lớn. Tôi biết mình đã gây ra một lỗi lầm quá lớn. Tôi biết hoàn cảnh của gia đình bác lúc này túng quẫn và khốn khó đến mức nào. Sau cái chết liên tiếp của cha mẹ tôi chỉ trong chưa đầy hai tháng vừa qua, món nợ thuốc men chạy chữa và tiền mua ván đóng áo quan vẫn còn treo lơ lửng trên đầu, cả nhà bác phải thắt lưng buộc bụng, dè xẻn từng hạt ngô, hạt thóc để vượt qua những tháng ngày giáp hạt đói kém. Một thúng ngô giống đối với người dưới xuôi có thể chỉ là một món tiền nhỏ, nhưng ở cái bản nghèo Nà Ban chót vót trên vách đá này, nó là mồ hôi nước mắt của cả một mùa vụ, là sự sống còn của cả gia đình trong sáu tháng dài đằng đẵng sắp tới.

Bác dâu Sương vừa dùng đôi bàn tay run rẩy gạt lớp bùn đất để vớt từng hạt ngô còn sót lại, vừa quệt nước mắt lã chã, cơn giận dữ tích tụ bấy lâu nay bùng phát thành một lời tuyên án dứt khoát và lạnh lùng:

“Tao nói cho mày biết, cái nhà này không phải là cái kho chứa của nợ cho thiên hạ! Bữa tối hôm nay mày đừng có hòng thò cái mặt vào mâm cơm! Mày chỉ được ăn cái phần nước canh thừa với mấy mẩu sắn sượng người ta ăn còn sót lại thôi! Để cho mày đói cái bụng ra, cho ruột mày cào xé lên xem mày có nhớ đời mà cẩn thận cái tay cái chân không!”

Tôi cắn chặt môi dưới đến mức bật máu tươi, vị mặn chát và tanh nồng của máu lan tỏa nơi đầu lưỡi. Nước mắt tôi trào ra xối xả, chảy ướt đẫm hai gò má bám đầy bụi đất đỏ, nhưng tôi tuyệt nhiên không thốt ra một tiếng van xin hay giải thích. Tôi biết, trong căn nhà này, đối với một đứa trẻ mồ côi ăn nhờ ở đậu như tôi, mọi lời thanh minh về việc cành củi quá nặng hay chiếc quai gùi quá chặt đều sẽ ngay lập tức bị quy chụp thành thói lười biếng, giảo hoạt và vô ơn bạc nghĩa.

Bác Lương hừ lạnh một tiếng thật khô khốc từ trong lồng ngực, giật lấy chiếc rựa trên tay bác Sương rồi hậm hực quay lưng, sải từng bước chân nặng nề bước lên nhà sàn. Bác bỏ mặc tôi quỳ trơ trọi giữa khoảng sân đất ướt lạnh, hai bàn tay vẫn bấu chặt lấy những hạt ngô giống dính đầy bùn nhão nhoét.

***

Bóng tối buông xuống thung lũng đá Nà Ban nhanh như một cái chớp mắt. Gió mùa đông bắc lại bắt đầu rít từng hồi qua những khe đá hẹp phía sau bản, mang theo hơi lạnh buốt giá từ đỉnh núi đá vôi tràn vào gian bếp nhà bác Lương.

Ánh lửa bập bùng từ bếp củi giữa nhà hắt lên những bóng người ngồi quây quần bên mâm cơm tối đặt trên chiếc chiếu cói rách mép. Mùi ngô bung nồng nàn quyện với mùi măng chua xào tóp mỡ bốc lên ngào ngạt, kích thích khứu giác đến mức làm ruột gan tôi quặn thắt từng cơn vì đói. Chiếc bụng lép kẹp réo lên ùng ục trong bóng tối, nhưng tôi chỉ dám ngồi nép mình vào một góc tối sát vách nứa, cách xa mâm cơm chừng vài bước chân, hai đầu gối co ro kéo sát vào ngực, cằm tì lên đầu gối run rẩy.

Anh Tùng ngồi đối diện với nồi cơm, vừa nhai ngấu nghiến miếng sắn luộc độn ngô vừa liếc mắt nhìn tôi với vẻ đắc thắng và hả hê ra mặt. Anh cố tình nhai thật to, thỉnh thoảng lại gắp một miếng tóp mỡ vàng ươm bỏ vào miệng nhai giòn rụm như muốn trêu ngươi cái dạ dày rỗng không của đứa em họ côi cút. Lan ngồi bên cạnh mẹ, thỉnh thoảng lại lén đưa ánh mắt ái ngại, đầy vẻ thương cảm nhìn về phía góc tối nơi tôi đang ngồi thu lu, nhưng mỗi lần con bé toan mở miệng hay gắp một miếng thức ăn định để riêng ra bát thì cái lườm sắc lẹm, đầy đe dọa của bác dâu Sương lại khiến Lan phải sợ hãi cúi gầm mặt xuống, vội vã và cơm vào miệng để che giấu.

Bác Lương ngồi ở đầu mâm, lặng lẽ nâng bát cơm mèn mén đầy ngọn, thỉnh thoảng gắp một miếng măng chua bỏ vào miệng nhai chậm rãi. Bác không hề đưa mắt nhìn về phía góc tối nơi tôi đang ngồi co ro, như thể sự hiện diện của tôi trong căn phòng này chỉ là một bóng ma vô hình không đáng bận tâm, hay một thứ đồ vật cũ kỹ bỏ xó dưới chân cột nhà.

Bữa ăn trôi qua trong một bầu không khí im lặng nặng nề, quánh đặc lại như nhựa cây, chỉ có tiếng nhai nuốt thô thiển và tiếng đũa bát va vào nhau lách cách. Khi mọi người đã ăn gần xong, nồi cơm mèn mén chỉ còn trơ lại lớp cháy mỏng dính sát đáy gang và trong liễn sành chỉ còn lại chút nước luộc rau rừng lõng bõng, bác Sương buông đũa, lấy mu bàn tay quệt ngang miệng một cái dứt khoát. Ánh mắt bác lướt qua thân hình gầy nhẳng, tím tái vì lạnh và đói của tôi đang thu lu nơi góc cột. Có lẽ cái vẻ mặt câm lặng, cam chịu không một lời oán thán hay van lơn của tôi từ trưa đến giờ đã làm gợn lên một chút trắc ẩn mỏng manh trong lòng người phụ nữ quanh năm lam lũ và cay nghiệt ấy.

Bác thở dài một tiếng thật khẽ, đưa ngón tay trỏ khẳng khiu chỉ về phía chiếc bát sứt mẻ đựng chút nước canh thừa trên mép mâm, cất giọng đều đều không chút biểu cảm:

“Còn chút nước canh rau dớn với mấy mẩu sắn cháy dưới đáy nồi đấy. Đói quá thì bò lại đây mà húp cho ấm cái bụng. Lần sau làm ăn việc gì thì liệu cái thần hồn mà nhìn trước ngó sau.”

Đó là một lời ban phát. Một thứ ân huệ rẻ rúng được ném ra trước mặt mọi người sau khi một đứa trẻ đã bị trừng phạt đủ đầy bằng sự sỉ nhục và cơn đói khát kéo dài suốt một ngày ròng. Anh Tùng khịt mũi một cái đầy vẻ mỉa mai, còn bác Lương vẫn cắm cúi nhấp từng ngụm nước chè chát ngắt từ chiếc bát sứ hoa lam sứt vòi, không một lời phản đối cũng chẳng hề lên tiếng đồng tình.

Tôi nhìn chằm chằm vào chiếc bát sứt mẻ đựng thứ nước canh loãng toẹt nguội ngắt ấy. Cơn đói cồn cào trong bụng như muốn xé rách dạ dày tôi ra từng mảnh vụn, nó gầm gào thúc giục tôi hãy bò lại mâm, hãy quỳ xuống mà vơ lấy mẩu sắn cháy đen và húp cạn bát nước canh để xoa dịu đi nỗi đau đớn thể xác đang hành hạ thân mình. Nhưng một cái gì đó sâu thẳm bên trong tôi—thứ lòng tự trọng non nớt nhưng cứng cỏi như lõi gỗ nghiến mà mẹ Mai và cha Hòa đã gieo vào tâm hồn tôi trước khi qua đời—đột ngột trỗi dậy dữ dội, chặn đứng bước chân tôi lại.

Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt đắng ngắt nơi cuống họng, ngước mắt lên nhìn bác Sương, lắc đầu rất khẽ nhưng dứt khoát:

“Dạ thôi… Con không đói ạ. Con xin phép hai bác cho con về chái ngủ trước.”

Nói xong, không đợi bác dâu kịp phản ứng hay chuyển sang cơn giận dữ mới, tôi vội vã chống tay đứng dậy, lủi thật nhanh ra khỏi gian bếp sáng rực ánh lửa, bước thẳng vào màn đêm đen kịt và buốt giá của chái phụ phía sau nhà. Tôi thà ôm cái bụng đói meo nằm co ro trên chiếc chõng tre lạnh ngắt suốt đêm nay, còn hơn phải bò đến bên mâm cơm để nhặt nhạnh thứ ân huệ bố thí đầy cay nghiệt ấy trước cái nhìn khinh khi của người khác.

Gió lạnh lùa qua những khe liếp nứa rách rưới rít lên từng hồi sè sè như tiếng bầy rắn trườn qua đống lá khô. Tôi chui tọt vào chiếc chăn chiên mỏng tang đã rách nát nhiều chỗ, cuộn tròn người lại như một con tôm nhỏ bị ném vào tro lạnh, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập không sao kìm lại được. Cái đói và cái lạnh bắt đầu phối hợp với nhau một cách tàn nhẫn, hành hạ thân xác một đứa trẻ năm tuổi đến tận cùng giới hạn của sự chịu đựng. Dạ dày tôi thắt lại từng cơn buốt nhói như có ai đang lấy tay bóp nghẹt lấy ruột non. Nước mắt bất giác trào ra, nóng hổi lăn dài trên hai gò má bẩn thỉu rồi nhanh chóng nguội ngắt, đóng thành một vệt mặn chát nơi cằm.

Trong bóng tối đặc quánh của căn chái phụ, tôi nhớ mẹ Mai da diết, nhớ mùi khói bếp ấm áp và thơm mùi gạo mới trong căn nhà cũ xiêu vẹo của gia đình mình ngày trước. Tôi nhớ những buổi chiều mùa đông lạnh giá, mẹ ôm tôi vào lòng, dùng hơi ấm từ bàn tay gầy gò của mẹ để sưởi ấm đôi bàn tay nhỏ bé của tôi, rồi mẹ kiên nhẫn dạy tôi viết từng nét chữ O tròn trịa, chữ Ô có chiếc nón xinh xắn bằng một mẩu than củi nhặt từ bếp lửa lên trên tấm giấy xi măng nhăn nhúm. Mẹ từng nhìn sâu vào mắt tôi mà bảo: “Dù nhà mình có nghèo đói đến đâu, con cũng phải ráng giữ lấy cái chữ, giữ lấy cái nết người cho thật sạch sẽ, không được hèn hạ.” Giờ đây mẹ đã đi xa, cha cũng nằm lại vĩnh viễn dưới nấm đất lạnh lẽo nơi sườn đồi hoang vu, chỉ còn lại mình tôi trơ trọi giữa cõi đời rộng lớn và cay nghiệt này, bắt đầu nếm trải từng mùi vị đắng chát của giá trị một bát cơm nơi đất khách quê người.

Tôi nhắm chặt hai mắt lại, lấy hai tay ôm chặt lấy bụng, cố dỗ mình chìm sâu vào giấc ngủ để tạm quên đi cơn đói đang cào xé ruột gan từng hồi. Nhưng cơn đau thắt ở dạ dày mỗi lúc một dữ dội hơn, khiến tôi chỉ biết oằn mình trên chiếc chõng tre ọp ẹp, cắn chặt vạt áo rách để không bật ra tiếng rên rỉ thành lời giữa đêm vắng.

Đúng lúc ấy, từ phía cánh cửa liếp ọp ẹp ngăn cách chái phụ với gian nhà chính, một tiếng cọt kẹt rất khẽ vang lên.

Một bóng đen nhỏ thó lách qua khe cửa hẹp, rón rén bước từng bước nhẹ bẫng trên nền đất nện ẩm ướt tiến về phía chiếc chõng tre của tôi.

Tôi nín thở, vội vã đưa mu bàn tay áo quệt ngang khóe mắt đẫm nước, hai vai co rúm lại sau mép chăn chiên rách. Trong bóng tối lờ nhờ hắt vào từ khe vách đá rỉ nước, cái bóng dừng lại bên mép giát tre. Một mùi lá dong luộc thơm mát lẫn mùi cơm gạo nương thoang thoảng bay tới giữa bầu không khí hôi hám, ẩm mốc của góc chuồng trâu.

“Anh Nam…”

Tiếng thì thào nhỏ như hơi thở cất lên bên tai. Đó là Lan. Con bé khẽ ngồi thụp xuống bên cạnh mép chõng tre gãy nan, chiếc bóng gầy guộc chao đảo theo ngọn gió lạnh luồn qua kẽ liếp. Lan thận trọng ngoái đầu nhìn về phía cánh cửa thông với gian nhà chính, lắng tai nghe ngóng một thoáng xem có tiếng động nào từ giường ngủ của cha mẹ hay không, rồi mới run rẩy lần giở một bọc lá dong nhỏ giấu kín trong vạt áo bông sờn rách, chìa ra trước mặt tôi.

“Em bớt lại đấy. Anh ăn đi cho ấm bụng.”

Ánh trăng suông nhờ nhợ lọt qua kẽ nứa rọi vào lòng bàn tay nhỏ nhắn của Lan. Bên trong manh lá dong xanh đã héo rũ, được gói ghém một cách vụng về là một vắt cơm nguội độn sắn chỉ nhỉnh hơn nắm tay trẻ con một chút. Vài hạt cơm khô khốc dính bết vào mép lá, tỏa ra chút hơi ấm mỏng manh còn sót lại từ da thịt con bé truyền qua lớp áo bông.

Nhìn nắm cơm nguội, cổ họng tôi bỗng nghẹn đắng lại như bị một hòn sỏi chặn ngang. Ruột gan tôi đang quặn lên dữ dội vì đói, nhưng từng lời mắng mỏ cay nghiệt ban chiều của bác dâu và ánh mắt soi mói, dè bỉu của anh Tùng nơi mâm cơm ban nãy vẫn như những tảng đá đè nặng lên ngực tôi. Vết thương từ sự xua đuổi và sỉ nhục vẫn còn rát bỏng, biến bất kỳ miếng ăn nào lúc này thành một thứ gì đó vừa nhục nhã vừa đớn đau tột cùng.

Tôi rụt hai bàn tay lại vào sâu trong tấm chăn rách, khẽ lắc đầu, cố ghìm giọng mình xuống thật thấp:

“Anh không đói đâu. Em mang cất đi, bác dâu mà biết thì em lại bị mắng đòn đấy.”

“Mẹ ngủ say rồi, cả bố với anh Tùng cũng ngáy to lắm rồi,” Lan thì thào dồn dập, giọng con bé sốt ruột và có phần dứt khoát khác hẳn vẻ rụt rè, sợ sệt thường ngày khi đối diện với mẹ. Lan không rút tay về mà ấn mạnh bọc lá dong vào lòng bàn tay đang co quắp của tôi. Lớp lá dong ram ráp cọ vào làn da nứt nẻ nơi đầu ngón tay tôi. “Em ăn no phần của em rồi mới lén cất phần này lại cho anh. Cơm nguội từ bữa trưa đấy, để đến sáng mai là thiu mất, vứt đi thì phí một miếng ăn của nhà. Anh mà không ăn là em mang quẳng cho lợn ăn thật đấy.”

Câu nói nửa như dỗi hờn, nửa như ép buộc của đứa em họ trạc tuổi mình làm những ngón tay tôi khẽ run lên bần bật. Tôi nhìn gương mặt mờ ảo, lem luốc của Lan trong bóng tối mờ mờ. Đôi mắt tròn xoe của con bé không hề có vẻ thương hại hay ban phát ân huệ như người lớn. Đôi mắt trong veo ấy chỉ đơn giản là không nỡ nhìn thấy một đứa trẻ khác cùng máu mủ phải quằn quại trong cơn đói thấu xương giữa đêm lạnh buốt giá của bản Nà Ban. Lan cố tình viện cớ cơm để lâu sẽ thiu để tôi bớt thấy mình như một kẻ hèn hạ phải đi nhặt nhạnh lòng trắc ẩn của người khác.

“Cầm lấy đi mà ăn nhanh lên,” Lan giục khẽ một lần nữa, ngón tay nhỏ nhắn và ấm áp của con bé khẽ chạm vào mu bàn tay lạnh buốt như băng của tôi. “Em phải ra chum nước đầu sàn đây, đứng lâu mẹ mà thức giấc thì chết cả hai đứa.”

Nói đoạn, Lan dứt khoát buông tay, để lại bọc cơm nằm trọn trong lòng bàn tay tôi. Con bé lanh lẹ xoay người, bước những bước êm ru như một con mèo rừng trên nền đất nện ẩm ướt, lách qua khe liếp tre rồi biến mất sau cánh cửa ngách dẫn sang gian bếp. Tiếng then cài bằng gỗ khẽ khàng rơi vào chốt, trả lại cho gian chái phụ một khoảng không gian đen đặc, tĩnh mịch và lạnh lẽo như đáy vực sâu.

Tôi ngồi trơ trọi một mình trên chiếc chõng tre ọp ẹp, hai bàn tay run rẩy ôm chặt lấy bọc lá dong ấm áp. Mùi tinh bột sắn thơm ngọt thoang thoảng bốc lên đánh thức cơn cồn cào trong dạ dày đến mức nước miếng cứ ứa ra nơi chân răng. Tôi run run mở từng nếp lá đã héo úa. Vắt cơm nguội ngắt, hạt cơm khô cứng lại vì gió rét, những miếng sắn thái lát độn vào đã sượng sùng và ngả màu xám đục. Tôi đưa vắt cơm lên miệng, cắn một miếng nhỏ.

Miếng cơm nguội khô khốc vừa chạm vào đầu lưỡi không hề có vị ngọt ngào như cơm gạo mới, chỉ có vị chua nhạt của sắn lưu cữu và mùi khói bếp quẩn quanh nơi kẽ lá. Nhưng khi tôi cố gắng nhai thật chậm rãi, nhai nát từng hạt cơm cứng và nuốt khan từng chút qua cuống họng ráp bỏng, một luồng ấm áp mơ hồ từ từ lan dần xuống lồng ngực rồi chảy vào dạ dày, xoa dịu đi cơn co thắt dữ dội đang giày vò thân xác tôi suốt từ chập tối đến giờ.

Nước mắt tôi lại ứa ra, lã chã rơi từng giọt nóng hổi xuống manh lá dong rách nát trên đùi.

Tôi vừa nuốt từng miếng cơm khô khốc vừa cảm thấy một nỗi xấu hổ và cay đắng vô bờ bến trào dâng trong lồng ngực non nớt. Tôi biết ơn Lan, biết ơn sự tử tế thơ dại và ấm áp của đứa em họ, nhưng miếng cơm ấy cũng đồng thời cứa một nhát dao sâu hoắm vào lòng kiêu hãnh của tôi. Một đứa con trai mồ côi năm tuổi, vừa mới hôm qua còn nghe cha Hòa dặn phải sống cho đàng hoàng, giữ lấy cốt cách của người thợ mộc nghèo mà thanh sạch, vậy mà hôm nay đã phải giấu giếm ngồi ăn miếng cơm thừa để dành của một đứa em họ trạc tuổi mình trong xó tối ẩm mốc. Cái đói có thể làm thể xác một đứa trẻ nhức nhối, quằn quại, nhưng cái nghèo hèn và thân phận ăn nhờ ở đậu còn tàn nhẫn hơn gấp bội: nó đặt lòng tự trọng của một con người lên bàn cân đo đếm mỗi ngày, thử lửa nó bằng từng bát canh cặn, từng lời mắng nhiếc khinh khi và từng vắt cơm nguội lén lút ăn vội trong bóng đêm dày đặc.

Tôi nuốt trọn miếng cơm cuối cùng, cẩn thận dùng đầu ngón tay nhặt nhạnh từng hạt tấm nhỏ còn sót lại dính trên các kẽ gân lá dong bỏ vào miệng, không dám để lãng phí dù chỉ một mảnh vụn nhỏ. Ăn xong, tôi cuộn tròn manh lá dong lại thật chặt, giấu tạm vào một góc chân chõng tre nơi đống nông cụ hỏng đang nằm ngổn ngang để tránh bị phát hiện.

Cái bụng đã đỡ cào xé dữ dội, nhưng cái lạnh từ vách đá ẩm ướt phía sau lưng vẫn liên tục thốc qua những nan tre gãy của chiếc chõng. Tấm chăn chiên mỏng tang không tài nào ngăn nổi hơi đá thấu buốt từ nền đất bốc lên. Cả người tôi run lên bần bật từng chặp, sống lưng lạnh ngắt như có ai áp một tảng băng trôi vào da thịt trần trụi. Tôi nghĩ mình cần phải tìm một thứ gì đó để lót thêm dưới lưng cho đỡ gió lùa, nếu không thì suốt cả đêm đông buốt giá này, tôi sẽ không thể nào chợp mắt nổi lấy một canh giờ ngắn ngủi.

Nhớ lại góc chái phụ tối tăm nơi ban ngày tôi thấy người lớn quẳng đống đồ đạc cũ kỹ của cha mẹ tôi sau khi dọn căn nhà xiêu vẹo đổ nát, tôi lần mò tụt xuống đất. Nền đất nện ẩm ướt bám vào lòng bàn chân lạnh ngắt như dẫm vào đá suối. Tôi quờ quạng men theo chân tường đá gồ ghề, tiến về phía chiếc bao tải dứa rách nằm lép kẹp dưới gầm sàn phụ, nơi cất giữ những bộ quần áo lao động sờn rách của cha Hòa và vài manh chiếu mục của mẹ Mai còn sót lại sau ngày tang tóc.

Bàn tay tôi chạm vào lớp vải bao gai thô ráp, kéo nó ra mép ánh sáng mờ nhạt hắt vào từ khe cửa liếp. Tôi cẩn thận giũ từng mảnh vải vụn, từng lớp giẻ rách, hy vọng tìm được một chiếc áo chàm cũ còn lành lặn hay một tấm bao tải sạch sẽ để trải lên giát chõng tre che bớt những khe hở gió lùa.

Khi lật giở đến tận đáy chiếc bao tải cũ kỹ bốc mùi ẩm mốc nồng nặc và mùi mùn cưa mục ruỗng, ngón tay tôi bỗng chạm phải một vật mỏng, phẳng và hơi cứng, nằm kẹp cẩn thận giữa hai lớp áo bông rách tơi tả của mẹ Mai.

Tim tôi bỗng đập thình thịch từng hồi hồi hộp. Tôi nín thở, cẩn thận luồn tay rút vật đó ra khỏi đống giẻ vụn nát.

Dưới dải sáng trắng đục của ánh trăng muộn lọt qua khe nứa hẹp, hiện ra trước mắt tôi là một quyển vở học trò đã ố vàng theo năm tháng.

Gáy quyển vở được khâu lại bằng một sợi chỉ dù màu đen đã tưa mép, bìa ngoài bọc bằng giấy xi măng thô ráp đã nhăn nhúm, loang lổ những vệt nước ố màu nâu nhạt. Tôi nín thở, hai bàn tay vừa nãy còn vấy đầy bùn đất và cơm nguội vội vàng chùi thật kỹ, thật sạch vào gấu quần chàm trước khi run rẩy lật mở từng trang giấy mỏng manh.

Quyển vở này chính là di vật thiêng liêng nhất của mẹ Mai từ những ngày mẹ còn đi học chữ ở trường làng dưới vùng đồng bằng xuôi, trước khi theo ông bà ngoại phiêu dạt lên vùng kinh tế mới hoang vu Nà Ban này. Mẹ đã nâng niu, gìn giữ nó qua bao nhiêu năm tháng nghèo khó, thiếu thốn, mang theo nó vào tận góc buồng tối tăm nơi căn nhà vách đất xiêu vẹo của cha con tôi. Nửa đầu quyển vở chi chít những dòng chữ nắn nót viết bằng mực tím đã phai màu theo thời gian, những bài thơ về đồng bằng trù phú, về những mái trường ngói đỏ tươi xa xôi mà ngày còn sống, mẹ từng ôm tôi vào lòng đọc cho tôi nghe bên ánh đèn dầu leo lét mỗi tối mùa đông.

Nhưng khi những ngón tay run rẩy của tôi lật dần về những trang cuối cùng, bàn tay tôi bỗng khựng lại.

Có bốn trang giấy ở phần đuôi quyển vở vẫn còn nguyên vẹn một cách kỳ diệu. Chúng đã ngả dần sang màu vàng ngà của rơm rạ mục vì thời gian, mép giấy hơi quăn queo và giòn rụm vì hơi ẩm của vách đá núi, nhưng mặt giấy vẫn phẳng phiu, sạch bong, in rõ những hàng ô ly mờ mờ màu xanh nhạt chưa từng có một vết mực nào chạm tới.

Bốn trang giấy trắng tinh khôi, nằm im lìm và tĩnh lặng giữa đống giẻ rách rưới bần hàn và mùi phân trâu ngai ngái của góc chái phụ ẩm thấp.

Tôi run rẩy miết nhẹ đầu ngón tay chai sần, nứt nẻ của mình lên mặt giấy ráp thô mộc. Giữa một không gian ẩm thấp, ngột ngạt của kiếp sống ăn nhờ ở đậu, nơi mỗi hơi thở và mỗi bước chân của tôi đều bị người ta đong đếm bằng nợ nần, bằng giá trị của một bát mèn mén hay một nắm ngô rơi, những trang giấy trắng này hiện lên như một khoảng trời câm lặng, sạch sẽ và thiêng liêng đến kỳ lạ. Lời dặn dò cuối cùng của mẹ Mai bên bậu cửa chiều đông năm nào bỗng chốc dội về, vang vọng và rực sáng giữa bóng đêm thăm thẳm của thung lũng Nà Ban: *“Dù đói nghèo đến đâu cũng không được để nghèo cái chữ, nghe con…”*

Tôi ôm chặt quyển vở cũ kỹ vào lồng ngực gầy guộc đang phập phồng thổn thức từng cơn. Gió ngoài đồi nứa vẫn rít qua khe vách buốt nhói đến tận xương tủy, nhưng trong góc tối mịt mùng của chái phụ ẩm mốc, bàn tay nhỏ bé của tôi đã ghì chặt lấy những trang giấy trắng tinh như nắm lấy chiếc phao cứu sinh duy nhất của cuộc đời mình.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn