Gian phụ lạnh
Nhà bác Lương ở cùng một bản Nà Ban, cách cái dái đất dựng căn nhà gianh xiêu vẹo của cha con tôi chưa đầy nửa tầm hú dài của người lớn, nhưng từ khoảnh khắc bước chân qua cái ngưỡng cửa bằng gỗ nghiến đã lên nước đen nhánh ấy, tôi có cảm giác như mình vừa bị bứng đi, ném sang một vùng trời khác xa xôi và mịt mùng muôn trượng.
Đó là một khoảng cách chẳng thể nào đo đếm bằng những khúc quanh co của bờ ta luy đất đỏ trơn trượt sau mỗi cơn mưa rừng, cũng không thể tính bằng mấy cây cột mốc đẽo bằng đá vôi sứt sẹo, phủ đầy rêu mốc dọc theo lối mòn dẫn từ đầu dốc xuống thung lũng. Khoảng cách ấy là một cái vực thẳm câm lặng và tàn nhẫn, ngăn đôi giữa hai cõi đời: một bên là những gì thân thuộc đến rách tươm, ấm sực hơi thở của cha bên rặng xoan già và mảnh đất có mùi rơm rạ mục của mẹ; bên kia là một trật tự hoàn toàn xa lạ, một nếp nhà vuông vức, sặc mùi toan tính và lạnh lùng, nơi mà từng ngụm khí tôi hít vào, từng tiếng đặt chân trần của tôi xuống mặt đất đều phải tự biết dè chừng, nép mình lại như một con chuột núi lạc đàn bước vào hang thú lớn.
Bác Lương đẩy cánh liếp tre khép hờ, bước vào gian giữa trước. Bác đi bằng những bước chân nện gót rất nặng, sải chân dài khiến lớp ván gỗ sồi lát một phần gian trên khẽ rung lên từng chập cọt kẹt. Mùi khói bếp củi quẩn quanh trong bầu không khí ngột ngạt không hề mang mùi thơm ngai ngái, nồng ấm của mạt cưa gỗ dổi hay hơi cháo hoa loãng sánh hạt mà cha tôi vẫn thường cặm cụi nấu cho tôi mỗi sớm mai mùa đông giá rét. Ở đây chỉ có mùi mồ hôi chua khét bám chặt vào từng thớ vách nứa qua năm này tháng khác, mùi những bồ ngô hạt để từ vụ trước gặp hơi ẩm bắt đầu lên mốc xám sát tận xà nhà, và cái vị hanh hao ngột ngạt của những tấm fibro xi măng hấp trọn hơi nóng gắt gao từ ban chiều, giờ đây đang từ từ phả xuống không gian bên dưới một thứ hơi hầm hập như lò than sắp tàn.
Bác Lương chẳng thèm quay đầu lại nhìn xem đứa cháu nhỏ thó có theo kịp bước chân mình hay không. Chiếc bóng lưng to bè, vạm vỡ đẫm màu áo chàm sẫm của bác lướt sượt qua mép gian thờ nhỏ đóng bằng ván bìa tạp le te vài chân nhang tàn lạnh ngắt, rồi rẽ ngoặt dứt khoát về phía góc hồi sau nhà. Ở đó có một lối đi hẹp và tối om, chỉ vừa đủ lọt một người lớn nghiêng vai lách qua, hai bên vách nứa cọ vào vai áo nghe ráp sạt.
“Mang đồ vào đây.”
Tiếng bác Lương buông ra trầm đục, khô khốc như tiếng hai thanh củi gộc va đập vào nhau giữa đêm đông rét buốt. Âm thanh ấy rơi tõm vào cái góc tối tăm của ngôi nhà rồi dội lại, không mang theo một chút hơi ấm của tình ruột thịt, chỉ thuần túy là một khẩu lệnh cộc lốc của kẻ bề trên ban phát chỗ dung thân cho một sinh linh bé mọn thừa thãi.
Tôi luống cuống bước ríu cả hai chân vào nhau, mười ngón chân trần bấm chặt xuống nền đất nện đã qua bao năm người giẫm thành một lớp mặt trơn láng như mài đá, cố giữ cho thân mình khỏi trượt ngã. Gian phụ thực chất là một chái nhà dựng tạm bợ, tựa lưng chênh vênh vào sườn vách đá taluy lổn nhổn phía sau nhà. Mái ngói xi măng ở đây dốc thụt hẳn xuống thấp tè, khiến cho một đứa trẻ năm tuổi còi cọc như tôi chỉ cần giơ với cánh tay gầy nhẳng lên là tưởng chừng những đầu ngón tay đã có thể chạm tới những đường rãnh xám tro bám đầy bồ hóng và mạng nhện cáu ghét.
Không khí nơi này lạnh ngắt một cách khác thường. Đó là cái lạnh ẩm ướt, nhớp nháp như từ sâu trong lòng ruột của vách đá núi đá vôi rỉ ra từng giọt vô hình, len lỏi qua từng kẽ nứa thưng chắp vá thô kệch chưa kịp trát bùn non hay trét rơm rạ. Gió đồi từ ngoài khe núi cứ men theo những kẽ hở hẹp ấy mà luồn vào, rít lên từng hồi sè sè buốt óc, quất thẳng vào da thịt trần trụi.
Nơi góc tường ẩm ướt nhất, sát cạnh mép đá rỉ nước, là một chiếc chõng tre ọp ẹp đã gãy mất một nan giát ở khoảng giữa, bốn chân chõng gập ghềnh không đều nhau, phải kê tạm trên bốn viên đá hộc nhặt vội ngoài bờ suối. Trên mặt chõng trải độc một manh chiếu cói rách bươm mép, sợi cói mủn nát ra từng đoạn ngắn, rơi rụng lả tả xuống mặt nền đất lổn nhổn sỏi dăm.
Chung quanh chiếc chõng ấy chất đầy những thứ đồ phế thải tích tụ qua nhiều năm tháng của một nếp nhà làm nông lam lũ: mấy cái bồ tre đan vụng về sứt cạp, méo mó dùng để đựng ngô hạt mọt từ hai ba mùa rẫy trước; vài bó đóm nứa khô bám đầy bụi tro xám xịt và mạng nhện giăng mắc; hai chiếc cày hỏng gãy mất bắp cày nằm chỏng trơ dưới chân vách nứa; và một đống bao tải dứa dính đầy bùn đất đỏ khô cong cứng ngắc, bốc lên mùi ngai ngái nồng nặc của phân lân và đất ải.
Bác Lương buông tay, quẳng chiếc bọc quần áo của tôi xuống đầu chiếc chõng tre. Chiếc bọc may bằng bao tải rách đựng mấy manh áo chàm cũ kỹ của tôi va vào nan tre phát ra một tiếng “bịch” nhẹ tênh, xẹp lép, trơ trọi và thảm hại giữa không gian chật chội, tranh tối tranh sáng.
“Chỗ của mày đấy,” bác Lương nói, đôi mắt đùng đục nhìn lướt qua khoảng không gian lụp sụp một lượt từ góc vách đá ẩm ướt cho đến khoảng trần thấp tè, rồi quay mặt hẳn ra phía cửa sổ con không chấn song trông thẳng ra bờ rào đá sau nhà. “Đêm tối có gió lùa thì kéo mấy cái bao dứa kia mà đắp thêm vào chân. Nhà tao không có đệm bông, chăn len dày như nhà cán bộ dưới phố huyện đâu. Đồ đạc của bố mày để lại, tao gom hết vào cái bao dứa kia rồi đấy, tự mà dọn dẹp lấy cho gọn gàng. Đừng có bới tung ra khắp nhà.”
Tôi đứng trơ trọi giữa gian buồng hẹp, hai tay ôm khư khư lấy ngực áo. Dưới lớp vải chàm thô ráp đã sờn rách, vá chằng vá đụp bằng những đường chỉ xanh chỉ đỏ vụng về, cuốn sách tập đọc lớp một của mẹ vẫn cấn mạnh vào lồng ngực gầy guộc của tôi. Cạnh mép bìa sách cứng, những góc giấy bồi đã sờn gãy tì thẳng vào từng dẻ xương sườn nhô ra, mang lại một cảm giác nhức nhối ran rát. Nhưng kỳ lạ thay, chính cái đau hữu hình và buốt nhói ấy lại là điểm tựa duy nhất giữ cho tôi không ngã quỵ. Nó nhắc cho tôi nhớ rằng trên cõi đời này, tôi từng có một người mẹ tên Mai, từng có một bàn tay gầy xanh xao dịu dàng nắn nót từng ngón tay thơ dại của tôi chỉ cho tôi từng nét cong, nét thẳng trên trang giấy trắng tinh thơm mùi nắng.
Ngoài chiếc bọc rách nát vứt nơi đầu chõng tre kia, tôi chẳng còn bất cứ thứ gì thuộc về một mái ấm gia đình đúng nghĩa. Cả cuộc đời năm năm ngắn ngủi, khốn khó của tôi bỗng chốc bị thu nhỏ lại thành một đống giẻ vụn vô thừa nhận và một cuốn sách ép hoa khô mang theo hơi ấm đã tàn lụi của hai nấm mồ mới đắp dưới chân đỉnh Pha Luông sừng sững mây mù.
Từ gian nhà ngoài, tiếng bước chân giậm thình thịch trên sàn ván kèm theo tiếng đũa bát va vào nhau lẻng xẻng kéo tuột tôi về với thực tại nghiệt ngã. Tiếng kim loại va đập vào đồ sành sứ khô khốc vang lên giữa không gian tịch mịch. Bác dâu Sương bưng một âu sành mẻ miệng bước vào góc bếp, giọng the thé, lanh lảnh như tiếng dao cạo vào đáy nồi gang vọng thẳng qua vách nứa, dội vào gian phụ:
“Ông nó về đến nhà rồi đấy à? Bảo thằng Nam ra rửa cái tay cái chân cho sạch đất cát rồi vào mà ăn cơm! Đứng ngây ra như phỗng ở đấy làm cái gì, tính để cả cái nhà này chết đói chờ cơm một đứa con nít ranh chắc?”
Bác Lương không buồn đáp lại lời vợ, chỉ khẽ hất hàm về phía lối đi tối tăm dẫn ra máng nước sau hè rồi quay gót dứt khoát bước ra gian giữa. Tôi lầm lũi cúi đầu, hai bàn chân run rẩy bấm từng ngón xuống nền đất ẩm ướt, bước theo cái bóng đen dài ngoằng của bác đang đổ dài trên vách nứa, nơi cổ họng nghẹn ắng lại một cục đắng ngắt như vừa nuốt phải mật cá suối.
***
Bữa cơm tối đầu tiên của tôi tại nhà bác Lương diễn ra trên chiếc phản gỗ thấp đặt sát mép vách nứa gian giữa, ngay bên cạnh bếp lửa đang cháy dở những thanh củi gộc ẩm ướt phì phì nhả ra từng cuộn khói cay xè. Ánh sáng vàng vọt, tù mù từ chiếc đèn dầu hỏa cũ kỹ đặt ở góc cột cái chỉ đủ soi rõ những gương mặt đăm chiêu, khắc khổ, lấm lem bùn đất và mồ hôi của những con người vừa trải qua một ngày dài quăng quật, vật lộn trên nương ngô dốc đứng.
Bác dâu Sương ngồi ngay ở đầu nồi gang, chiếc muôi gỗ đẽo thô cầm lăm lăm trên tay như một thứ quyền uy tuyệt đối trong góc bếp. Mâm cơm bày trên chiếc mâm gỗ tròn đã nứt toác một đường dài, chỉ có một âu mèn mén ngô xay màu vàng thẫm trộn lẫn những lát sắn khô thái mỏng luộc chín tới ngả màu xám tro, một đĩa rau rừng luộc ngả màu xanh tái chấm với bát muối hạt giã lẫn ớt chỉ thiên đỏ lòm cay xé lưỡi, và một bát nước luộc rau đục nhờ nhờ bốc lên làn khói mỏng dính.
Bác Sương thoăn thoắt xới cơm ra từng chiếc bát sành tráng men da lươn đã sứt sẹo gần hết vành. Đôi mắt một mí sắc lẻm của bác đảo một vòng quanh mâm, dừng lại trên từng gương mặt như một chiếc cân vô hình nhưng chuẩn xác đến tàn nhẫn và lạnh lùng. Chiếc muôi gỗ gõ cồm cộp vào miệng nồi gang, từng nhát gõ vang lên đanh gọn. Bát của bác Lương được đơm đầy nhất, ngọn mèn mén được nén chặt tay đến tận mép bát; bát của Tùng nhỉnh hơn một chút so với bát của Lan, ngọn ngô vàng ươm nổi rõ từng hạt xay thô; còn chiếc bát mẻ miệng to tướng đẩy về phía góc phản nơi tôi ngồi chỉ lưng lửng một lớp mèn mén lẫn đầy những vụn sắn khô xám ngoét xơ xác.
“Ăn đi,” bác Sương đặt mạnh chiếc muôi gỗ xuống cạnh âu sành, giọng khô khốc và sắc lẹm như mảnh nứa cật cứa vào da thịt. “Ở cái đất Nà Ban này, hạt gạo cắn đôi, cọng rau rừng bẻ làm ba. Người làm ra hạt ngô hạt lúa bạc cả mặt mày, trầy da tróc vảy từ lúc mặt trời chưa rúc qua rặng tre cho đến khi sương muối rơi ướt đẫm hai vai áo. Nhà này không phải cái kho mậu dịch, không có ai ngồi rỗi ăn không mà có cơm đút vào miệng đâu.”
Bác ngừng lại một nhịp, với tay lấy chiếc quạt nan rách mép phe phẩy xua đám khói bếp đang tạt thẳng vào mặt, rồi chĩa chiếc quạt nan ấy thẳng về phía tôi, ánh mắt sắc như lưỡi dao cạo găm chặt vào người tôi:
“Thằng Nam nghe cho rõ đây này. Đã bước chân về đây rồi thì phải biết cái nếp nhà bác. Nước uống nước rửa thì tự vác cái can nhựa hai mươi lít xuống mó nước đầu bản mà gánh về, mỗi sớm mai một đôi can đầy ặc, không ai rỗi hơi đi gánh nước cho mày rửa mặt với súc miệng đâu. Củi đun bếp cũng thế, đi đâu ra khỏi cổng thì tiện tay mót từng cành khô bên bìa rừng tha về nhét đầy gầm sàn. Bát ăn xong tự mang ra máng nước sau hè mà cọ rửa cho sạch, úp cẩn thận vào rổ. Quần áo rách thì tự mượn kim chỉ mà vá víu, bẩn thì vò với tro bếp ngoài suối, tao không rỗi hơi đi hầu hạ thêm một miệng ăn báo cô trong nhà.”
Từng lời bác buông ra dồn dập, gãy gọn, không thừa thãi dù chỉ một chữ. Nó không hẳn là sự độc ác vô cớ của một người muốn hắt hủi đứa cháu côi cút mang cùng dòng máu, mà là thứ cay nghiệt trần trụi được nhào nặn từ nỗi sợ hãi muôn đời của người nghèo miền núi: sợ đói. Căn nhà này vốn đã oằn lưng cõng bốn miệng ăn trên những vạt nương ngô cằn cỗi toàn đá tai mèo sắc nhọn và những khoản nợ tiền phân bón, tiền giống dai dẳng từ mùa vụ năm ngoái chưa trả hết. Việc phải rước thêm một đứa trẻ năm tuổi côi cút, gầy trơ xương sườn và mang theo cả món nợ truyền kiếp của cha nó là một gánh nặng hữu hình có thể đè sụp bất cứ sự yên ổn mong manh nào mà gia đình này đang cố níu giữ từng ngày. Sự cay nghiệt của bác Sương, xét cho cùng, chỉ là tấm lá chắn xù xì, nhọn hoắt dựng lên để bảo vệ từng thìa ngô, cọng rau cho những đứa con ruột thịt do chính bụng bác đẻ ra.
Tôi ngồi thu lu nơi góc phản gỗ tối tăm nhất, hai bàn tay run rẩy bưng chặt chiếc bát mẻ. Những hạt ngô xay thô nhám cọ vào ngón tay ráp ráp. Tôi cắn chặt môi, khẽ lí nhí trong cuống họng sâu thẳm:
“Vâng… con nhớ rồi ạ.”
“Nhớ thì phải làm cho đúng!” Bác Sương gắt khẽ một tiếng qua kẽ răng, rồi quay sang gắp một ngọn rau rừng to bản vào bát của Tùng. “Cơm áo ở trên cái đất này là mồ hôi, là máu chảy ra từ đầu ngón tay cả đấy. Không có chuyện há miệng chờ sung rụng đâu con ạ.”
Bác Lương ngồi ở phía đối diện mâm cơm, nãy giờ vẫn im lìm như một khối gỗ mục và chậm rãi nhai từng miếng mèn mén khô khốc trong miệng. Bác không nhìn bác Sương, cũng không nhìn vào bát cơm vơi xám xịt của tôi. Mãi đến khi lùa xong nửa bát, bác mới đặt đôi đũa tre mòn vẹt xuống cạnh mâm, với tay lấy chiếc điếu cày làm bằng ống nứa ngà dựng bên chân cột cái. Tiếng đóm nứa rít lên tanh tách xé toang không gian ngột ngạt, rồi một làn khói thuốc lào đặc quánh phả ra từ kẽ răng vàng ố của bác, cuộn tròn thành từng vệt mờ mịt bay là là lên xà nhà bám đầy bồ hóng.
Ánh mắt bác Lương chiếu thẳng vào tôi qua màn khói lam chiều đặc quánh ấy, nặng nề, u uất và lạnh lẽo như một tảng đá hộc lăn từ đỉnh núi xuống:
“Bác mày nói không sai một chữ nào đâu, Nam ạ.” Giọng bác trầm đục, từng từ từng tiếng thốt ra đều có sức nặng đè nén khiến không gian quanh mâm cơm bỗng chốc đông cứng lại như có một tảng băng vừa rơi xuống. “Bố mày chết đi, để lại một đống nợ nần ngập đầu cho người ta đòi rát mặt. Tiền thuốc thang ròng rã mấy tháng trời lúc mẹ mày nằm liệt giường ho ra máu, tiền gỗ đóng hai cái áo quan cho cả bố lẫn mẹ mày của lão Thào bên xóm Mo, tao đều phải đứng ra ký giấy điểm chỉ nhận nợ thay cả. Mảnh nương ngô trên sườn đồi Ban Nà của nhà mày, tao phải gộp vào làm chung thì mới có cái mà khấu trừ dần vào tiền lãi hàng tháng cho người ta. Mày phải hiểu cho thật rõ điều ấy trong đầu.”
Tôi cúi gằm mặt xuống chiếc bát sành mẻ, không dám nhìn thẳng vào đôi mắt trũng sâu, vằn lên những tia máu đỏ quạch của bác. Cổ họng tôi khô rát, nghẹn đắng lại như có nắm cát chặn ngang.
“Tao đưa mày về đây nuôi,” bác Lương gõ mạnh đuôi điếu cày xuống mặt phản gỗ, một tiếng ‘cộc’ vang lên khô khốc đến rợn người, “là vì mày mang dòng máu họ Nguyễn nhà này, tao không thể để người trong bản Nà Ban người ta chỉ trỏ vào mặt bảo tao thấy cháu ruột chết đói đầu đường xó chợ mà khoanh tay đứng nhìn cho đành. Nhưng tao nói thẳng một lần này cho mày ghi tạc vào óc: cái nhà này không phải cái kho thóc của nhà nước, tao cũng không phải người giàu có gì để nuôi không một đứa miệng ăn rỗi việc. Từ ngày mai, mày được ở đây, có chỗ che mưa che nắng, có bát cơm hạt ngô bỏ vào mồm, thì mày phải đem sức mày ra mà đổi lấy từng hột.”
Bác dừng lại một nhịp dài, với tay cầm chiếc ca nhôm móp méo hớp một ngụm nước chè chát đắng khét lẹt:
“Năm tuổi, mày chưa vác nổi cái cuốc nặng thì làm việc nhẹ. Người nhỏ làm việc nhỏ, làm theo đúng cái sức của mày. Trâu bò phải có người chăn dắt, cỏ voi phải có người cắt gùi về, nương ngô phải có người mót từng bắp lép. Mày đổ mồ hôi ra bao nhiêu thì mày mới được nuốt bát cơm bấy nhiêu. Đừng có tưởng mồ côi mồ cút rồi ngồi một xó khóc lóc mà người ta thương xót dâng cơm dâng nước tận miệng cho ăn. Đất Nà Ban này đá sỏi nhiều hơn đất thịt, người ta chỉ sống được bằng đôi bàn tay chai sần thôi. Mày nghe rõ chưa?”
“Dạ… con nghe rõ rồi ạ,” tôi đáp, giọng run rẩy như sắp vỡ òa thành tiếng khóc nấc, nhưng tôi đã kịp cắn chặt môi dưới cho đến khi nếm thấy vị mằn mặn, tanh tanh của máu tươi rỉ ra nơi khóe miệng. Tôi tự nhủ bằng tất cả sự non nớt và hoảng sợ của mình rằng tôi tuyệt đối không được phép rơi nước mắt. Nước mắt ở căn nhà này sẽ chỉ bị coi là sự yếu đuối vô tích sự, là cái cớ để người ta thêm chán ghét và chê bai tôi là một đứa trẻ lười biếng, chỉ biết ăn bám vào giọt mồ hôi của người khác.
Ở phía đối diện mâm cơm, Nguyễn Văn Tùng – anh họ tôi, lớn hơn tôi ba tuổi – nãy giờ vẫn ngồi im lặng theo dõi toàn bộ câu chuyện với vẻ mặt lầm lì. Thằng Tùng có vóc người đậm đà, xương vai thô và chắc nịch hơn hẳn những đứa trẻ cùng trang lứa trong bản Nà Ban. Nó thừa hưởng trọn vẹn từ cha nó cái quai hàm bạnh vuông vức và đôi mắt một mí hẹp dài lúc nào cũng gườm gườm dò xét người đối diện.
Khi bác Lương nhắc đến mảnh nương ngô của cha tôi và món nợ áo quan phải gánh thay, đôi lông mày rậm rạp của Tùng khẽ nhíu chặt lại thành một nếp gấp sâu hoắm trên trán. Nó lùa vội một miếng mèn mén lớn vào miệng, nhai trui trủi phát ra những tiếng lục cục nặng nề nơi vòm họng, ánh mắt không hề rời khỏi người tôi dù chỉ nửa giây. Đó không phải là ánh mắt tò mò hay thương hại của một đứa trẻ con nhìn một người em họ vừa mất cả cha lẫn mẹ, mà là cái nhìn đầy hằn học, lạnh lùng và cảnh giác của một kẻ cảm thấy lãnh địa vốn đã chật chội của mình đang bị xâm phạm một cách trắng trợn.
Đối với Tùng, sự xuất hiện của tôi trong ngôi nhà này không đơn thuần là thêm một đứa em côi cút cần được cưu mang đùm bọc. Tôi là hiện thân của món nợ thuốc men dai dẳng mà cha tôi để lại trên vai bố mẹ nó, là lý do khiến âu cơm ngô mèn mén mỗi bữa của nó từ nay phải san bớt đi một phần, là nguyên nhân khiến bố mẹ nó phải lớn tiếng cãi cọ, chì chiết nhau suốt những ngày làm đám tang vừa qua dưới chân núi. Tệ hơn nữa, sự có mặt của tôi đồng nghĩa với việc những phần việc nặng nhọc trong nhà – vốn đã đè nặng lên vai nó – nay sẽ phải sắp xếp lại trong một bầu không khí ngột ngạt hơn, và nó sẽ phải chia sẻ không gian sống vốn đã tù túng này với một đứa trẻ ốm yếu, xanh xao mà nó luôn nhìn bằng nửa con mắt khinh miệt.
Thấy bác Lương đã dứt lời và với tay lấy que đóm nứa khác, Tùng liền đặt mạnh chiếc bát sành tráng men da lươn xuống mâm cái “choảng”. Tiếng bát đập mạnh vào mặt mâm gỗ làm mấy cọng rau rừng xanh tái trong đĩa rung rinh, nước chấm bắn ra mép mâm. Nó quay sang nhìn thẳng vào mặt bác Sương, cất cái giọng the thé cố tình kéo dài ra đầy hậm hực:
“Mẹ! Sáng mai con phải đi lấy thêm củi khô ở tít trên dốc Ban Nà đấy à? Thế cái phần việc dọn chuồng trâu phân ngập đến mắt cá chân thì ai làm? Đừng có bảo con phải vừa gánh phân vừa đi mót củi cho cả cái nhà này nhé! Con không làm hết được đâu!”
“Mày việc gì phải đứng núi này trông núi nọ mà tị nạnh!” Bác Sương lườm Tùng một cái sắc lẹm, nhưng cái giọng the thé của bác khi nói với con trai đã dịu đi rất nhiều, mang theo sự bao bọc rõ rệt so với lúc quát nạt tôi. “Việc của mày thì mày cứ cắm đầu làm cho xong phần mày đi đã. Sáng mai tao khác có sắp xếp đâu vào đấy, không đến lượt mày phải đứng ra lo chuyện người khác làm ít hay làm nhiều.”
Tùng bĩu môi dài thượt, đôi mắt hẹp dài liếc xéo qua tôi một cái đầy vẻ khinh thị và ác cảm. Nó không nói thêm nửa lời nào nữa, nhưng khi nó vươn cánh tay ngăm đen, gân guốc qua mặt mâm để với đĩa muối ớt, cái khuỷu tay thô ráp của nó đã cố tình thúc một cú thật mạnh, giáng thẳng vào mạn sườn gầy guộc của tôi.
Cú thúc bất ngờ và chuẩn xác khiến tôi giật bắn mình, đau điếng đến nghẹn thở. Chiếc bát sành mẻ miệng trên tay tôi chao đảo dữ dội, suýt nữa thì vuột khỏi những ngón tay trần rơi xuống sàn gỗ. Vài hạt mèn mén vàng ươm và một mẩu sắn khô văng ra ngoài, rơi vãi lả tả trên mặt gỗ cáu bẩn.
“Vụng về như con chó ốm!” Tùng lầu bầu trong cổ họng, giọng lạnh ngắt và khinh khỉnh như mảnh băng vụn rỉ ra từ kẽ đá. “Có mỗi việc bưng cái bát ăn cơm mà cũng không xong thì làm được cái tích sự gì cho đời. Đúng là cái đồ nợ đời rước về!”
Bác Lương đang rót dở ngụm nước chè chát, đưa đôi mắt nặng nề nhìn sang phía hai đứa tôi. Ánh mắt bác nghiêm nghị, lạnh lùng quét qua cánh tay Tùng và chiếc bát chao đảo trên tay tôi, nhưng bác không hề cất tiếng mắng mỏ hay răn đe thằng Tùng lấy một lời nào. Bác chỉ đặt mạnh chiếc ca nhôm xuống mặt phản, dằn giọng:
“Ăn cho xong cái bữa đi rồi mau dọn dẹp mâm bát. Đêm hôm rồi, không có ngồi đấy mà lải nhải chuyện nọ xọ chuyện kia nữa.”
Tôi cắn chặt răng nén cơn đau buốt nhói đang chạy dọc từ mạn sườn lên tận cuống họng. Tôi không dám kêu đau, không dám thở mạnh, và càng không dám ngước mắt lên nhìn thẳng vào gương mặt vênh váo của Tùng. Tôi chỉ lặng lẽ đưa những ngón tay khẳng khiu, run rẩy nhặt từng hạt mèn mén rơi vãi trên mặt phản gỗ dơ bẩn bỏ ngược lại vào bát mình, rồi cúi gằm mặt xuống lùa vội những miếng cơm khô khốc vào miệng.
Vị ngô xay thô ráp nghẹn ứ nơi cổ họng, mặn chát vị muối hột và cay xè mùi ớt chỉ thiên, nuốt đến đâu rát buốt dọc thực quản đến đấy. Tôi hiểu rất rõ cái thông điệp tàn nhẫn được gửi gắm qua cú thúc cùi chỏ đau điếng và cái nhìn sắc như dao cạo của Tùng: ở trong cái nếp nhà này, tôi mãi mãi chỉ là một kẻ ngoại lai bước vào từ bóng tối, một gánh nặng thừa thãi đang ngày ngày ăn lấn vào phần cơm manh áo của nó, và tôi sẽ phải tự học cách cúi đầu thật thấp, nép mình thật sâu nếu như còn muốn tiếp tục tồn tại qua những ngày tháng mịt mùng sắp tới.
Bữa cơm tối nặng nề trôi qua trong tiếng va chạm lách cách khô khốc của bát đũa sành và tiếng nước luộc rau sôi sùng sục trào bọt nơi góc bếp. Bác Lương là người buông đũa đứng dậy đầu tiên. Chiếc bóng lưng to bè của bác che khuất hoàn toàn ngọn đèn dầu tù mù khi bác bước thẳng ra sân sau để xem lại then cài chuồng trâu và mấy đống rơm khô. Bác Sương dọn nốt âu mèn mén đã trơ đáy cạo nghe ken két, rồi the thé sai thằng Tùng xách xô ra vại nước đầu hồi gánh thêm nước để tráng máng lợn.
Tôi co ro thu dọn mấy đôi đũa tre mòn vẹt, các ngón tay vẫn chưa hết run rẩy sau cú thúc trời giáng của Tùng. Đúng lúc tôi toan với tay nhấc chiếc rổ tre thủng vành lên để gom bát đĩa mang ra sàn nước, một bàn tay nhỏ nhắn, khẳng khiu đã chìa ra, đỡ lấy phần việc ấy một cách nhanh nhẹn nhưng vô cùng nhẹ nhàng.
Đó là Lan. Con bé trạc tuổi tôi, khuôn mặt gầy guộc hình lưỡi cày đen nhẻm vì nắng gió, nhưng đôi mắt nó lại to tròn, sáng và tĩnh lặng như mặt nước mó sâu thẳm dưới chân núi đá vào những ngày đông cạn nguồn. Suốt từ đầu bữa ăn cho đến giờ, Lan gần như không hề mở miệng nói một lời nào. Con bé chỉ lặng lẽ nhai từng hạt ngô vụn trong góc mâm, thi thoảng lại đưa đôi mắt đen láy nhìn tôi bằng một ánh nhìn không hề có chút phán xét, dè bỉu hay xa lánh.
“Để đấy tao mang ra máng rửa cho,” Lan nói thầm, giọng con bé khẽ khàng và mềm mại đến mức chỉ có hai đứa đứng sát sạt vào nhau mới nghe thấy. “Mày vào buồng phụ đi. Trời tối hẳn rồi đấy, trong buồng ấy không có đèn dầu đâu, lát nữa tối om không thấy đường mà đi đâu.”
Tôi ngập ngừng buông tay khỏi vành rổ tre. Lan nhanh thoăn thoắt bưng chồng bát đĩa bước thoăn thoắt ra phía sàn nước sau hồi nhà, nơi có tiếng nước chảy róc rách từ ống nứa dẫn từ khe núi về. Tôi lầm lũi quay lại lối đi hẹp dẫn vào góc chái phụ. Vừa bước chân qua ngưỡng cửa bằng nẹp tre thô kệch, tôi đã thấy Lan vòng qua lối vách nứa bước vào từ lúc nào, trên hai tay con bé ôm một tấm chăn chiên mỏng tang đã ngả sang màu xám xịt như tro bếp, viền chăn sờn rách lòi cả những sợi bông ép cũ kỹ vón cục lại với nhau.
Con bé đặt tấm chăn gấp vội lên mép chiếc chõng tre ọp ẹp, rồi cúi rạp người xuống, đưa ngón tay trỏ chỉ vào khoảng kẹt tối tăm giữa hai chiếc bồ đựng ngô mục kê sát vách đá:
“Chỗ này là khô ráo nhất trong cả cái gian này đấy. Mưa to thì nước hay dột ở mé ngoài cửa sổ dốc xuống, còn cái góc này có tấm nẹp tre che kín từ trên xà nhà, mày cứ để cái bao tải đựng quần áo của mày vào sâu trong này thì không sợ bị ẩm mốc đâu.”
Tôi lẳng lặng làm theo lời Lan, nhấc chiếc bọc may bằng bao tải rách nhét sâu vào khoảng kẹt tối om ấy. Lan đứng khoanh tay nhìn tôi dọn dẹp, hai bàn tay gầy gò buông thõng bên mép váy chàm cũ đã ngắn cũn cỡn. Con bé không hề cất tiếng tò mò hỏi xem mẹ tôi lúc lâm chung ở trạm xá xã có kịp trăng trối lại điều gì không, cũng chẳng buồn gặng hỏi xem cha tôi đã nôn ra bao nhiêu bát máu tươi trong cái đêm mưa gió mịt mùng trên sườn Pha Luông trước khi nhắm mắt xuôi tay. Sự im lặng đầy ý tứ của Lan giống như một tấm màn che chắn kín đáo và ấm áp lạ thường, giữ cho trái tim non nớt của tôi không bị chạm vào những miệng vết thương còn đang rỉ máu nhưng chỉ chực chờ một lời gợi nhắc là vỡ òa thành tiếng khóc than vô vọng. Ở một nơi mà từng ánh mắt, từng cử chỉ của người lớn đều như muốn đòi hỏi tôi phải biết thân biết phận của một kẻ ăn nhờ ở đậu, sự thấu hiểu câm lặng của một đứa trẻ cùng tuổi quý giá hơn bất kỳ lời dỗ dành vụng về nào trên đời.
“Cái chăn này mẹ tao bảo đem vào cho mày đắp đấy,” Lan nói khẽ, đôi mắt tròn xoe liếc nhanh ra phía vách nứa ngăn với gian giữa như để thăm dò xem mẹ nó có đang để ý hay không. “Nó hơi mỏng một tí, nhưng đêm lạnh thì mày cứ cuộn chặt vào người, cuộn tròn như con ốc ấy thì đỡ rét buốt hơn. Thằng Tùng tính nó hay nói quàng nói xiên bắt nạt người khác thế thôi, mày đừng có dại mà cãi lại nó làm gì. Cãi lại là bố tao mắng cả hai đứa, mà mày thì kiểu gì cũng bị đòn nặng hơn đấy.”
“Tao biết rồi,” tôi thì thào đáp lại, trong lòng dấy lên một cảm giác ấm áp hiếm hoi len lỏi giữa bốn bề gió buốt đang rít từng hồi ngoài khe nứa. “Cảm ơn mày nhiều nhé, Lan.”
Lan không nói thêm lời nào nữa. Con bé chỉ khẽ gật đầu một cái thật nhanh rồi quay người, bước thoăn thoắt ra gian ngoài để kịp cầm chổi nứa quét dọn những hạt ngô rơi vãi trên sàn trước khi bác Sương bước vào cất tiếng gắt gỏng.
Cánh liếp tre khép lại sau lưng Lan, để mặc tôi chìm nghỉm một mình giữa khoảng không gian tối đen đặc quánh của gian phụ.
Mùi ẩm mốc từ vách đá phía sau lưng phả ra ngai ngái, nồng nặc mùi bùn non và rêu rã, quyện đặc với mùi tro bếp nguội ngắt và cái vị hanh hao buốt giá của những tấm fibro xi măng cáu ghét trên đỉnh đầu. Đợi cho tiếng bước chân thoăn thoắt của Lan khuất hẳn ngoài gian giữa và tiếng chổi quét sàn bắt đầu xao xác vang lên, tôi mới run rẩy đưa bàn tay lạnh ngắt vào trong ngực áo chàm, chậm rãi rút cuốn sách tập đọc lớp một bìa rách nát của mẹ ra ngoài.
Trong bóng tối lờ mờ hắt qua những kẽ nứa thưa thớt từ ngọn đèn dầu tù mù nơi gian chính, cuốn sách hiện lên như một khối hình mờ ảo nhưng vô cùng thiêng liêng. Tôi đưa những đầu ngón tay gầy guộc, nứt nẻ vì giá rét vuốt ve từng mép giấy ố vàng thô ráp, lần giở từng trang sách đã quăn góc cho đến trang sách có ép cành hoa ban khô mà mẹ tôi đã cẩn thận kẹp vào từ mùa xuân năm ngoái. Dù những cánh hoa rừng mỏng manh ấy nay đã khô quắt lại, chuyển sang màu nâu xỉn và giòn rụm đến mức chỉ cần chạm mạnh là có thể vỡ vụn ra thành bột mịn, nhưng trong tâm tưởng non dại của tôi, nó vẫn thơm ngát một mùi hương dịu dàng khó tả. Đó là mùi mồ hôi của mẹ, mùi của một mái ấm nghèo nàn bên rặng xoan già dẫu bữa đói bữa no nhưng lúc nào cũng tràn ngập sự chở che, yêu thương vô bờ bến.
Tôi biết rất rõ rằng, ở trong cái nếp nhà đầy toan tính này của bác Lương, một cuốn sách dạy chữ là thứ đồ hoàn toàn thừa thãi, thậm chí còn là một cái gai chướng mắt đối với người lớn. Bác Lương coi con chữ là thứ viển vông, hão huyền chỉ tổ làm trễ nải việc nương rẫy và làm cùn mòn sức lao động của con người; còn bác dâu Sương chắc chắn sẽ không ngần ngại giật lấy cuốn sách này ném thẳng vào bếp lửa đang cháy để làm mồi nhóm cám lợn nếu như bác bắt gặp tôi rỗi việc ngồi lật giở từng trang chữ. Tôi tuyệt đối không được phép để cuốn sách này lộ ra ngoài ánh sáng như một món đồ chơi hay một kỷ vật được nâng niu.
Tôi quỳ gối xuống nền đất nện ẩm ướt trơn láng, luồn sâu cánh tay xuống dưới manh chiếu cói rách bươm trải trên mặt chõng tre ọp ẹp. Nơi góc chõng sát vào vách đá rỉ nước có một khe hẹp kín đáo được tạo bởi hai thanh giát tre ghép kênh kiệu lên nhau. Tôi cẩn thận nhét cuốn sách vào sâu tận cùng khe hẹp ấy, ép cho nó nằm thật phẳng phiu dưới lớp cói mục nát, rồi cẩn thận kéo một mảnh bao tải dứa dính đầy đất khô phủ kín lên phía trên để che giấu hoàn toàn dấu vết.
Đó là cách duy nhất để tôi giữ lại cho riêng mình một phần đời cũ đã vĩnh viễn mất đi. Giấu cuốn sách đi không đơn thuần là giấu đi một kỷ vật cuối cùng của người mẹ vắn số, mà là giấu đi cái quyền được nhớ về những ngày tháng tôi còn có một người cha xẻ gỗ thương con hết mực, một người mẹ cặm cụi dạy tôi từng nét chữ bằng mẩu than củi bên hiên nhà mỗi buổi chiều tà. Đó là tài sản duy nhất, linh thiêng nhất mà cảnh nghèo đói cùng cực, những món nợ truyền kiếp hay sự cay nghiệt của vợ chồng bác Lương không bao giờ có thể tước đoạt khỏi tay tôi.
Đặt lưng nằm xuống chiếc chõng tre gập ghềnh, từng khớp xương trên cơ thể năm tuổi còi cọc của tôi rã rời, nhức mỏi như vừa bị ai đem búa đập vào. Tấm chăn chiên mỏng tang sờn rách của Lan mang cho không đủ sức ngăn nổi cái lạnh buốt giá như kim châm từ lòng vách đá núi đá vôi rỉ ra, thấm qua lớp áo chàm mỏng cắn sâu vào từng thớ thịt. Tôi cuộn tròn người lại như một con tôm nhỏ bị vứt lên bờ, hai bàn tay lạnh ngắt luồn sâu vào hai bên nách để cố tìm kiếm chút hơi ấm tàn dư từ lồng ngực gầy guộc.
Từ gian nhà chính ngăn cách bởi một vách nứa mỏng manh thưng tạm, từng âm thanh sinh hoạt đời thường của gia đình bác Lương vẫn dội sang tai tôi rõ mồn một từng chi tiết.
Tiếng điếu cày nứa của bác Lương rít lên từng hồi sòng sọc giòn giã, nước điếu réo lên ùng ục, theo sau là tiếng thở phào khoan khoái, dài thượt của người đàn ông trụ cột sau một ngày quần quật lao lực ngoài nương rẫy. Tiếng bác Sương ngồi bên mép phản gỗ lách cách đếm từng đồng tiền xu, tiền hào lẻ trong chiếc hộp sắt tây gỉ sét, miệng bác không ngớt càu nhàu, chì chiết về giá phân đạm dưới phố huyện vụ này lại tăng giá, về món tiền nợ mua chịu ngô giống ở cửa hàng mậu dịch trên xã đang bị người ta tính lãi từng ngày. Tiếng thằng Tùng ngáy pho pho ngon lành nơi góc phản ấm áp, thỉnh thoảng nó lại ú ớ mê sảng trong giấc ngủ về một con chim khướu rừng hay một buổi đi bẫy chuột nương trên vạt đồi xa. Và tiếng con Lan đều đặn, nhẫn nại lia từng nhát chổi nứa quét dọn những hạt ngô rơi vãi quanh chân cột cái trước khi đi ngủ.
Đó là một nhịp sống tròn trịa, gắn kết chặt chẽ và đầy đủ tôn ti trật tự của một gia đình nông dân vùng cao. Những âm thanh ấy bình dị, quen thuộc và ấm áp biết bao đối với họ, nhưng đối với tôi lúc này, chúng lại xa lạ, cách biệt và tàn nhẫn đến tận cùng xương tủy. Tôi nằm co ro nơi góc tối tăm, lắng nghe từng hơi thở, từng tiếng động nhỏ nhặt nhất vọng qua vách nứa, và một sự thật trần trụi, lạnh lùng dần dần hiện hình rõ rệt trong tâm trí non nớt: tôi đã có mặt trong căn nhà này, tôi thở chung bầu không khí với họ, nhưng tôi chưa bao giờ và sẽ không bao giờ có thể thuộc về nơi này.
Tôi không phải là một đứa cháu ruột được người ta chờ đợi, đón nhận bằng vòng tay yêu thương hay sự xót thương máu mủ. Tôi chỉ là một kẻ lệ thuộc bước vào nếp nhà này qua cánh cửa sau tối tăm, một sự phiền toái mang theo những món nợ truyền kiếp mà người ta buộc phải cưu mang chỉ vì danh dự hão huyền của dòng họ trước những lời đàm tiếu của xóm bản Nà Ban. Sự tồn tại của tôi ở đây được đo đếm một cách sòng phẳng bằng những bát mèn mén vơi lẫn đầy sắn khô, bằng những đôi can nước gánh từ mó sâu về, bằng những gùi củi mót bên bìa rừng, và bằng những lời răn đe sắt đá về giá trị của giọt mồ hôi đổi lấy miếng ăn.
Nằm trong góc tối của gian phụ lạnh ngắt như hầm đá, tôi cắn chặt răng vào cổ áo chàm để ngăn không cho những tiếng nấc nghẹn ngào bật ra thành tiếng. Nước mắt nóng hổi cứ thế trào ra nơi khóe mi, chảy dài qua thái dương rồi thấm đẫm vào manh chiếu cói mủn nát, mằn mặn và lạnh toát. Đêm vùng cao buốt giá buông xuống thung lũng Nà Ban đen kịt như một tấm vải liệm khổng lồ nuốt chửng mọi ước mơ con trẻ, chỉ còn lại tiếng gió đồi rít qua khe nứa sè sè như một lời nhắc nhở lạnh lùng về kiếp sống ăn nhờ ở đậu đầy cay đắng vừa mới bắt đầu.
***
Trời còn chưa rạng tỏ. Sương mù dày đặc từ đỉnh Pha Luông tràn xuống thung lũng Nà Ban trắng xóa, đặc quánh như nước gạo vo, phủ lên mái nhà fibro xi măng và những bờ rào đá một lớp màng nước nhờ nhờ, buốt lạnh thấu tận tim gan. Tiếng gà rừng gáy le te rụt rè nơi bờ suối cạn vừa dứt thì tiếng đập cửa gian chái phụ đã vang lên dồn dập, giòn giã như tiếng gõ mõ cầm canh:
“Cộp! Cộp! Cộp!”
“Nam! Dậy mau! Tính ngủ trương mắt ra cho đến tận trưa đấy à?”
Tiếng quát oang oang của bác Lương xé toang không gian tĩnh mịch, tê tái của buổi sớm mai vùng cao. Tôi giật mình choàng tỉnh giấc, cả người run bắn lên cầm cập vì cái lạnh cắt da cắt thịt ùa vào buồng. Tấm chăn chiên mỏng đẫm hơi sương đêm trĩu nặng trên ngực lạnh ngắt. Tôi vội vã bật dậy khỏi chõng tre, mười đầu ngón chân trần vừa chạm xuống nền đất nện đã có cảm giác buốt nhói như giẫm phải một tảng băng trôi.
Chưa kịp vuốt lại mái tóc bù xù vì gió đêm hay xỏ thêm manh áo rách nào cho bớt run, tôi đã lật đật đẩy cánh liếp tre bước vội ra khoảng sân trước. Gió sớm từ khe núi thốc thẳng vào mặt làm tôi nghẹn thở, buốt rát cả sống mũi.
Bác Lương đã đứng sừng sững ở giữa khoảng sân đất lầy lội sương muối từ bao giờ. Bác mặc chiếc áo chàm đã sờn rách hai bên nách, thắt lưng buộc chặt một dải vải gai thô, chân xỏ đôi ủng cao su cũ bám đầy bùn đất đỏ khô khốc từ vụ mùa trước. Đứng ngay bên cạnh bác, con trâu mộng to lớn đen trùi trũi đang đứng thở phì phò, hai lỗ mũi to như hai cái chén sành phả ra từng luồng hơi nước trắng xóa vào không gian lạnh giá. Trên chiếc sừng cong vút, nhọn hoắt của nó vắt vẻo một đoạn thừng mũi bện bằng vỏ cây rừng dày cộp và chắc nịch.
Bác Lương đưa đôi mắt sâu hoắm, nghiêm nghị và lạnh lùng nhìn chằm chằm vào thân hình gầy nhẳng, run rẩy của tôi. Trong ánh nhìn sắc như dao ấy, tuyệt nhiên không có lấy một lời hỏi han xem đêm qua tôi ngủ trong buồng đá có đủ ấm hay không, có quen chỗ nằm mới hay không, hay một đứa trẻ năm tuổi vừa mới mất cả cha lẫn mẹ trong vòng chưa đầy hai tháng ngắn ngủi thì làm sao có thể gượng dậy nổi sau một đêm trở gió buốt xương.
Và tuyệt nhiên, trong căn nhà này, không một ai buồn nhắc đến chuyện trường lớp của tôi. Không ai hỏi tôi có muốn đi học cái chữ như lời mẹ Mai từng trăn trối bên giường bệnh, hay có muốn theo chúng bạn cùng lứa đến lớp học mẫu giáo dựng tạm bằng tre nứa ở đầu bản Nà Ban hay không. Trường học và con chữ, đối với những đứa trẻ mồ côi ăn nhờ ở đậu trên mảnh đất cằn cỗi toàn đá tai mèo này, là một khái niệm quá đỗi xa xỉ, nằm ngoài tất cả mọi toan tính sinh tồn khắc nghiệt của người lớn.
Bác Lương vung cánh tay thô ráp, chìa đầu sợi dây thừng trâu xù xì về phía tôi.
“Cầm lấy!” Giọng bác cộc lốc, dứt khoát như một mệnh lệnh thép không cho phép chối từ. “Từ sáng hôm nay, việc chăn dắt con trâu này là phần việc của mày. Thằng Tùng phải lên nương cuốc hố tra hạt giống ngô với tao, con Lan ở nhà phụ mẹ mày giã gạo nấu cám lợn. Mày dắt con trâu này ra bãi cỏ ven suối Nà Ban, thả cho nó gặm cỏ đến khi nào bụng căng tròn đẫy đà rồi mới được lùa về chuồng. Trông chừng mắt mũi cho cẩn thận, đừng có để nó ăn lấn sang vạt ngô non vừa mới nhú của nhà lão Thào bên xóm Mo. Con trâu này mà phá một ngọn ngô của người ta thì về nhà tao lột da mày ra đấy, nghe chưa!”
Bàn tay nhỏ thó, tím tái vì giá rét của tôi run rẩy vươn ra đón lấy đầu sợi dây thừng mũi trâu. Sợi dây bện bằng vỏ cây thừng mực thô nháp, lạnh buốt và nhớp nháp sương đêm cọ mạnh vào lòng bàn tay tôi đau rát như bị xát muối. Sức nặng của sợi dây thừng to bản, kèm theo cái hích đầu khẽ khàng nhưng chứa đầy sức mạnh hoang dã của con trâu mộng to gấp năm, gấp sáu lần cơ thể tôi, làm tôi chao đảo cả người, hai đầu gối khuỵu xuống suýt nữa thì ngã sấp mặt trên nền đất nhão.
“Có nghe rõ tao dặn không?” Bác Lương quắc mắt lên, quát khẽ một tiếng đanh gọn làm bầy gà dưới gầm sàn giật mình táo tác.
“Dạ… con nghe rõ rồi ạ,” tôi lí nhí đáp lại trong cổ họng khô khốc, hai bàn tay cố sức bấu chặt vào những nút thắt gồ ghề của sợi thừng gai.
Bác Lương không buồn nhìn thêm đứa cháu nhỏ lấy một cái. Bác quay gót dứt khoát, vác chiếc cuốc chim nặng trịch lên vai rồi sải những bước chân dài ngoằng đi về phía đầu ngõ dốc, nơi bóng dáng bác dâu Sương và thằng Tùng cũng đang lục tục chuẩn bị những chiếc gùi bắp giống để bắt đầu một ngày lao dịch mới trên nương cao.
Một trật tự sống mới đã chính thức được thiết lập quanh cuộc đời tôi, lạnh lùng, tàn nhẫn và sòng phẳng đến mức tột cùng, không để lại bất kỳ một kẽ hở nào cho những mơ mộng non dại của một đứa trẻ mồ côi.
Tôi đứng chôn chân giữa mảnh sân đất mù mịt sương muối lạnh thấu xương, hai bàn tay tím ngắt nắm chặt lấy sợi thừng mũi trâu ướt đẫm, lầm lũi cất những bước chân trần đầu tiên giẫm lên nền sỏi đá nhọn hoắt dẫn lối ra bờ suối vắng. Phía chân trời xa xôi, đỉnh Pha Luông vẫn sừng sững, xám ngắt và câm lặng trong ngàn tầng mây mù, như lạnh lùng chứng kiến bước đi đầu tiên của một đứa trẻ côi cút bước vào kiếp sống lam lũ nhọc nhằn, nơi mỗi một bát cơm manh áo đều phải đánh đổi bằng từng giọt mồ hôi mặn chát và những vết cứa buốt giá của phận đời ăn nhờ ở đậu.