Hoa Ban Không TànC.4 / 38
Chương 4

Hai đám tang

Tôi không nhớ mẹ mất vào ngày nào; tôi chỉ nhớ người lớn bỗng nói nhỏ đi, còn chiếc chăn phủ lên người mẹ thì không ai cho tôi kéo xuống nữa.

Buổi sớm hôm ấy, sương mù trên đỉnh Pha Luông không chịu tan đi theo ngọn gió thung lũng như mọi bận mà cứ sà thấp xuống, dằng dặc và đặc quánh, luẩn quẩn bò quanh mái rạ ướt sũng của căn nhà gỗ. Gian buồng trong tối lờ mờ, những vệt sáng lọt qua kẽ nứa chỉ đủ vẽ lên không gian từng vệt bụi lơ lửng, lạnh buốt. Suốt mấy tháng ròng, gian buồng ấy lúc nào cũng quẩn quanh mùi ngải cứu hơ lửa trên than hồng lẫn mùi bã thuốc rừng cay nồng, thứ mùi ngai ngái bám chặt vào từng thớ gỗ mục và vách nứa đan nong mốt. Nhưng sáng nay, tất cả những mùi vị quen thuộc ấy bỗng nhiên bị lấn át, bị nuốt chửng bởi một thứ mùi xa lạ đến rợn ngợp: nó ngai ngái, ngai ngái và lạnh ngắt, tựa như hơi nước ẩm mốc bốc lên từ đáy một lòng hang đá sâu hoắm sau cơn lũ quét đầu mùa.

Tôi thức dậy trên chiếc phản nứa cập kê, hai bàn chân tê cóng vì gió lùa qua sàn. Theo thói quen của mọi sớm mai, tôi định bước tụt xuống nền đất nện, chạy ùa vào buồng trong để rúc đầu vào nách mẹ, để áp bàn tay nhỏ thó của mình vào mu bàn chân mẹ xem mẹ có bị lạnh như đêm hôm trước hay không. Nhưng chân vừa chạm xuống nền đất lạnh, một bàn tay gầy guộc, thô ráp đã nhanh như cắt túm chặt lấy vạt áo chàm của tôi, giật ngược trở lại.

Là bác dâu Sương. Đôi mắt bác đỏ hoe, vành mi thâm quầng và sưng múp lên như bọng nước, nhưng nét mặt bác lại đanh lại, cứng đờ và trơ khấc như một thanh gỗ tạp ngâm lâu ngày dưới đáy ao.

“Đừng có vào đấy nghịch, Nam,” giọng bác rít qua kẽ răng, the thé nhưng lại cố nén xuống đến mức nghẹn ứ, run rẩy nơi cuống họng. Bàn tay bác bấu chặt vào vai tôi đau điếng. “Đứng yên đây. Mẹ mày… mẹ mày đi rồi.”

Tôi tròn xoe mắt nhìn bác, ngơ ngác không hiểu. Đi đâu? Mẹ đi đâu được cơ chứ? Rõ ràng mới chập tối hôm qua thôi, mẹ vẫn còn nằm đó trên manh chiếu rách. Dù tiếng ho rút ruột rút gan đã cướp sạch từng chút hơi tàn của mẹ, dù bàn tay gầy gò chỉ còn lớp da nhăn nheo bọc lấy những đốt xương khô khốc run rẩy đặt lên ngực áo tôi, mẹ vẫn còn cố gượng mở mắt nhìn tôi qua ánh đèn dầu hỏa leo lét. Mẹ còn khẽ mấp máy đôi môi khô nứt nẻ, thều thào gọi tên tôi cơ mà. Lúc ấy, cái đầu non nớt của một đứa trẻ lên năm chưa thể nào hiểu nổi hai chữ “đi rồi” mà người lớn thốt ra mang sức nặng ghê gớm đến dường nào. Tôi cứ ngỡ người ta đi nương tỉa bắp, đi chợ phiên bên cụm bản xa, hay cùng lắm cũng chỉ như những chuyến đi đốn gỗ bạt rừng kéo dài ba tháng ròng rã bên mỏ đá Mộc Châu mà cánh đàn ông trong bản thường ngồi quanh bếp lửa rầm rì to nhỏ. Tôi không hiểu rằng có những chuyến đi, người ta sẽ chẳng bao giờ quay gót trở về bậu cửa cũ nữa.

Chẳng mấy chốc, căn nhà nhỏ vốn lặng ngắt như tờ bỗng chốc đông nghịt người. Người trong họ, người ngoài bản lục tục kéo đến mỗi lúc một đông, những bước chân bì bõm lội qua khoảng sân đất đỏ quạch, nhão nhoét lá ban rụng sau trận mưa đêm. Kỳ lạ thay, không ai bảo ai, tất cả mọi người bước qua ngưỡng cửa đều cúi gằm mặt xuống. Họ nói chuyện với nhau bằng những thanh âm thì thầm rè rè, ngột ngạt và bí bách như tiếng đàn ong vò vẽ bị vỡ tổ trong hốc cây. Từ phía sau chuồng lợn cũ sát bìa rừng, tiếng rìu bạt gỗ đôm đốp vang lên chát chúa, dứt khoát. Bên bờ giếng khơi rêu phong, tiếng mài dao xà gạc soẹt soẹt miết vào đá mài nghe lạnh cả sống lưng. Ngoài chái bếp, khói bốc lên nghi ngút từ chiếc chõ xôi đồ bằng gỗ dâu, quyện chặt lấy tiếng sụt sùi nấc nghẹn của mấy người đàn bà góa trong bản đang cặm cụi nhóm lửa, vo gạo.

Một người thím họ từ đâu bước tới, ghì chặt lấy hai bả vai tôi rồi kéo xềnh xệch lại mép sập nứa. Người ta mang ra một dải vải xô trắng thô ráp, mép viền chưa kịp vắt sổ xơ tơi tả những sợi chỉ thừa, rồi quấn chặt quanh trán tôi. Nút buộc sau gáy thắt mạnh khiến da đầu tôi giật thót. Thứ vải xô cứng quẹt vào trán ram ráp, ngứa ngáy khôn cùng.

“Lạy đi con,” người thím ấy ấn mạnh bàn tay nặng trịch lên lưng tôi, dúi đầu tôi sụp xuống nền đất. “Lạy mẹ mày đi… Khổ thân mày chưa, từ nay mồ côi mẹ rồi con ơi…”

Tôi quỳ mọp trên nền đất nện ẩm ướt và lạnh ngắt, hai đầu gối lấm lem bụi tro bếp và những mảnh vụn nứa dằm nát. Cố gượng ngẩng đầu lên, tôi he hé mắt nhìn qua khe hở giữa những ống quần chàm và những đôi chân trần nứt nẻ của đám người lớn đang chen chúc vây quanh. Trên chiếc giường nứa ọp ẹp nơi góc buồng tối, mẹ tôi nằm thẳng đơ dưới tấm chăn chàm cũ kỹ vá chằng vá đụp. Chiếc chăn phủ kín mít từ đỉnh đầu xuống tận gót chân, phẳng lặng và bất động như một mô đất mới đắp ngoài nương ngô. Nó không còn phập phồng, không còn run rẩy nâng lên hạ xuống theo từng nhịp thở khò khè, đau đớn mà tôi đã quen nghe suốt bao đêm đông lạnh giá nữa.

Cha tôi ngồi bệt ở góc cột nhà cái, hai chân co gập lại, hai cánh tay gầy guộc chằng chịt gân guốc ôm chặt lấy đầu. Suốt từ lúc tảng sáng cho đến tận giữa trưa, ông ngồi trơ trơ như một pho tượng đá đóng rêu, không hề thốt ra lấy một lời, cũng không nhỏ lấy một giọt nước mắt nào. Chiếc áo chàm rách tả tơi nơi cầu vai của ông ướt đẫm sương đêm, bết dính những vệt bùn đỏ quạch từ triền dốc Ban Nà mà ông vừa lội về. Chỉ đến khi bác Lương xăm xăm bước vào, tay cầm theo một bó hương lớn cháy đỏ rực ngút khói, vỗ mạnh bàn tay khô khốc vào vai cha đánh “bét” một tiếng, giục giã phải gượng dậy để lo việc khâm liệm, cha tôi mới chầm chậm ngẩng mặt lên.

Đôi mắt ông đỏ ngầu những tia máu vỡ, đục ngầu và dại đi như mắt của một con thú rừng vừa dính phải bẫy giằng sắt thép, hai hốc mắt trũng sâu hoắm vào khung xương gò má nhô cao xám ngoét.

“Hòa,” tiếng bác Lương gằn xuống, sắc nhọn và khô khốc như tiếng nứa cọ vào nhau. “Gượng dậy mà lo cho thím ấy cho xong xuôi. Bản trên bản dưới người ta đã kéo đến đông đủ cả rồi. Đừng có ngồi rũ ra đấy để người ngoài người ta cười cho, bảo cái nhà này đến manh áo tấm ván cho người chết cũng không lo liệu nổi!”

Cha tôi run rẩy chống tay xuống đất toan đứng lên. Khớp đầu gối ông rệu rã phát ra những tiếng kêu lục cục khô khốc. Ông lảo đảo bước từng bước nặng nề tới bên mép chiếc phản nứa. Đôi bàn tay thợ mộc to bè, sần sùi với những vết sẹo do lưỡi cưa, lưỡi đục chém ngang dọc qua năm tháng khẽ giơ ra giữa khoảng không lờ mờ khói hương. Những ngón tay thô ráp run lẩy bẩy, ngập ngừng vươn tới định chạm vào mép chăn chàm rồi lại rụt phắt về, lơ lửng giữa chừng. Dường như ông khiếp sợ rằng, chỉ một cái chạm khẽ của mình thôi cũng sẽ làm tan biến đi chút hơi ấm tàn tạ, mong manh cuối cùng của người đàn bà vừa vĩnh viễn buông tay rời bỏ ông.

Cuối cùng, đôi chân cha tôi khuỵu xuống. Ông quỳ sụp trước mép ván giát nứa, trán gục sát vào thành giường gỗ mục, rồi từ sâu trong lồng ngực gầy guộc của ông bật ra một tiếng nấc nghẹn ngào, khàn đục và méo mó. Âm thanh ấy nghe xé lòng, khô khốc hệt như tiếng một thân gỗ nghiến cổ thụ nghìn năm bị bão rừng bẻ gãy gập từ tận sâu trong ruột tủy.

Chưa kịp hiểu chuyện gì, tôi đã bị một bàn tay khác túm chặt lấy quai áo, giật mạnh lôi tuột ra ngoài sân. Khói hương bắt đầu cuộn lên nghi ngút, đặc quánh và cay xè làm hai mắt tôi xót buốt, nước mắt ứa ra ròng ròng. Tiếng khóc hờ của các bà, các chị họ hàng cất lên từng chặp, nỉ non, ai oán và thê lương, lúc bổng lúc trầm nương theo nhịp gõ khô khốc, rợn người của chiếc thanh la tang lễ. Tôi đứng trơ trọi giữa đám người lớn trùm khăn xô trắng toát, hai tai lùng bùng, ù đi bởi những lời răn đe, chỉ bảo dồn dập đổ ập xuống đầu: nào là phận con trai thì phải đứng nép bên mép đòn tay phía trái, nào là tuyệt đối không được bước chân trèo qua đòn khiêng kẻo phạm phải tội bất hiếu, nào là hễ thấy người trong bản mang bát gạo, nén hương bước vào viếng thì phải biết dập đầu tạ lễ.

Tôi đứng chết lặng, không tài nào lĩnh hội nổi những thứ nghi lễ rườm rà, nặng trĩu và xa lạ ấy. Trong lòng tôi chỉ cuộn lên một nỗi sợ hãi mơ hồ trước sự biến đổi đột ngột đến quái đản của ngôi nhà mình. Ngôi nhà vách nứa vốn dĩ im lìm, nghèo nàn xơ xác nhưng lúc nào cũng ấm sực mùi khói bếp thân thương của hai cha con, giờ đây bỗng chốc biến thành một nơi chốn lạnh lẽo, huyên náo và đầy vẻ hung hiểm, thuộc hẳn về tay những người xa lạ ngoài ngõ.

***

Đến đầu giờ chiều, khi mặt trời chỉ còn là một vệt đỏ tù mù sau màn mây xám xịt trên đỉnh núi, người ta bắt đầu chuẩn bị đưa mẹ tôi vào cỗ ván gỗ xoan tạp — cỗ ván do mấy người thợ xẻ xóm dưới vội vã cưa đục thâu đêm qua theo lời cậy nhờ của bác Lương.

Gian buồng trong tối tăm bỗng chốc bị xới tung lên trong tiếng chân người giẫm huỳnh huỵch. Người lớn đi lại rầm rập, mặt mày hầm hố. Họ cuộn vội manh chiếu rách nát đẫm những vệt máu đen thẫm mà mẹ từng nằm ho rũ rượi suốt bao ngày tháng qua, gom sạch những bọc bã thuốc bắc, thuốc lá rừng uống dở vương vãi nơi đầu giường đem vứt bừa bãi ra góc bờ rào sau vườn. Cả chiếc ghế đẩu bằng gỗ xoan thấp nhỏ mà cha tôi vừa mới cặm cụi gọt đẽo lại chiếc mộng gãy mấy hôm trước, chiếc ghế mẹ vẫn ngồi tựa lưng mỗi khi bưng bát cháo hoa loãng, cũng bị một người đàn ông lạ mặt gạt phắt sang một bên một cách tàn nhẫn để lấy chỗ cho bốn góc đòn khiêng lách vào.

Nhìn từng món đồ đạc gắn bó máu thịt với hơi thở của mẹ lần lượt bị xới xáo, dời đi hoặc quẳng bỏ như rác rưởi, một nỗi kinh hoàng mơ hồ nhưng dữ dội bỗng nhiên bóp nghẹt lấy cuống họng tôi. Trong đầu óc thơ dại của một đứa trẻ lên năm, tôi dấy lên một linh cảm tuyệt vọng và đau đớn cùng cực: nếu như tất cả những đồ vật này bị người ta vứt bỏ hết, bị dọn sạch bong không còn dấu vết, thì mẹ Mai của tôi cũng sẽ biến mất vĩnh viễn trên cõi đời này, biến mất như thể mẹ chưa từng nhóm lửa, chưa từng ngồi bên bậu cửa, chưa từng tồn tại trên cõi nhân gian đầy gió buốt này vậy.

Lợi dụng lúc mọi người đang nháo nhào khiêng cỗ ván nặng nề qua ngạch cửa hẹp, tôi luồn người lách qua những đôi chân người lớn đang chen chúc bên bậu cửa, trườn nhanh vào góc chạn bát ọp ẹp nơi vách nứa sát cạnh bồ thóc cũ.

Ở đấy, gác ngang trên một thanh nứa đực đã mọt rỗng dùng làm giá để những thứ đồ lặt vặt của đàn bà, có một vật mà lúc sinh thời mẹ luôn nâng niu, gìn giữ như một báu vật linh thiêng: cuốn sách tập đọc lớp một cũ kỹ. Bìa sách đã sờn rách hết bốn góc, những trang giấy bên trong ngả sang màu vàng khè vì ám khói bếp và thời gian đằng đẵng. Đó là cuốn sách duy nhất mẹ mang theo từ dưới miền xuôi xa xôi khi cùng ông bà ngoại lặn lội lên vùng kinh tế mới này từ thuở mẹ còn con gái. Trong cuốn sách ấy, có những hình vẽ cây cỏ xanh mướt, có những dòng chữ in nghiêng tròn trịa mà những đêm trăng sáng hay những buổi chiều tắt nắng bên hiên, mẹ thường nắm lấy ngón tay nhỏ xíu của tôi chỉ vào từng nét, kiên nhẫn dạy tôi đánh vần từng chữ O tròn như quả trứng, chữ Ô đội nón che mưa.

Tôi trèo vội lên chiếc cối đá úp ngược dưới chân vách, rướn hết cánh tay ngắn củn của mình lên cao, run rẩy chộp lấy cuốn sách. Gáy sách đã bung hết chỉ khâu, từng nếp gấp xộc xệch. Một mùi giấy mốc meo, khen khét khói củi lẫn mùi thơm thoang thoảng, nhàn nhạt của những cánh hoa ban khô mẹ từng cẩn thận ép vào trang giữa bỗng phả ngập vào mũi tôi. Tôi vội vàng ôm ghì nó vào lòng, ép chặt vào ngực áo chàm lấm lem, nơi trái tim non nớt đang đập thình thịch, loạn xạ vì kinh hãi.

“Thằng Nam! Mày chui rúc ở cái xó xỉnh ấy làm cái gì thế hả?” Tiếng bác dâu Sương the thé quát giật giọng khi bác quày quả bưng chậu nước lá bưởi nghi ngút khói đi xộc ngang qua gian giữa. “Mau ra ngoài sân mà đứng vào cạnh cha mày! Người ta chuẩn bị phát tang đến nơi rồi, còn rúc đầu vào đấy tha lôi cái thứ giấy rách rưởi ấy làm gì nữa cho chật nhà!”

Bác Sương đặt mạnh chậu nước xuống sàn, đưa bàn tay ướt sũng định giằng lấy cuốn sách để ném thẳng vào đống rác rưởi đang chờ đốt ngoài góc sân. Nhưng tôi đã kịp thụt lùi sâu hơn vào góc tối tăm kẹp giữa bức vách nứa và chiếc bồ đựng thóc đan bằng giang. Tôi gập gập cả người lại, dùng hai cánh tay xương xẩu bấu chặt lấy mép sách, mười đầu ngón tay bấm sâu đến bật máu vào lớp bìa các tông bọc giấy báo cũ. Tôi ngước mắt lên nhìn trừng trừng vào mặt bác Sương — ánh mắt của một con thú rừng nhỏ bị dồn vào chân tường, hoang dại, bướng bỉnh và tràn đầy vẻ phòng thủ quyết liệt để che chở cho miếng mồi sống còn duy nhất của đời mình.

Bác Sương khựng lại một nhịp, bàn tay lơ lửng giữa không trung. Nhìn đôi mắt ráo hoảnh không giọt lệ nhưng hằn lên những tia nhìn lì lợm đến gai người của tôi, bác bỗng thở hắt ra một tiếng khô khốc, buông thõng hai tay xuống bên sườn:

“Gớm thật, đến cái nết lì lợm, ngang bướng cũng giống hệt như cha mày không sai một ly. Thôi, ôm lấy rồi cút xéo ra ngoài sân, đứng yên vào cái góc rạp bạt kia, đừng có chạy lăng xăng người làng người ta lại quở mắng cho cả họ.”

Tôi không hề buông lỏng vòng tay siết cuốn sách ra dù chỉ nửa tấc. Giữa những bóng người lớn chao đảo qua lại, giữa mùi rượu ngô sực nức, khen khét nồng nặc của đám đàn ông khiêng đòn và tiếng gào khóc ai oán, đứt ruột của họ hàng, tôi lầm lũi bước ra, nép sát lưng vào chân cột hiên nhà. Hai bàn tay tôi ghì chặt cuốn sách trước ngực như thể đó là chiếc bè cứu sinh duy nhất giữa một dòng lũ dữ đang gầm réo cuốn phăng đi mọi mảnh vụn bình yên của tuổi thơ tôi. Gáy sách cứng cộm lên nơi ngực áo, cấn vào xương sườn tôi đau nhói, nhưng chính cái đau buốt ran ran ấy lại như một điểm tựa nhắc tôi nhớ rằng mẹ đã từng ngồi ở chính bậu cửa này. Mẹ từng cầm lấy bàn tay tôi, dùng mẩu than củi nắn nót viết từng nét chữ run rẩy lên mảnh giấy bao xi măng nhặt được ngoài chợ phiên, từng thì thầm vào tai tôi rằng dù nhà mình có nghèo đến rách rưới đói rách, con cũng phải giữ lấy cái chữ cho bằng người ta.

Khi cỗ áo quan bằng gỗ xoan tạp nặng trịch được mấy người đàn ông vạm vỡ hò dô khiêng qua ngưỡng cửa chính, cạnh đáy ván va đập mạnh vào then cửa phát ra một tiếng “cộp” khô khốc, nặng nề, cha tôi bên này bỗng đổ vật xuống nền đất như một thân cây chuối rừng bị người ta phạt ngang gốc. Đám đàn ông xúm xít lại xốc nách đỡ ông dậy, người giật tóc mai, người cuống cuồng bôi dầu gió vào hai bên thái dương đang giật lên từng hồi.

Tôi đứng trơ trọi từ xa nhìn cảnh tượng hỗn loạn ấy, hai bàn tay vẫn bấu chặt lấy cuốn sách ố vàng trước ngực. Đôi mắt tôi ngơ ngác nhìn ra phía triền dốc xa xa, lòng quặn thắt một câu hỏi thơ dại: tại sao hoa ban ngoài sườn đồi năm nay lại nở trắng muốt đến thế, trắng tinh khôi như một dải mây bồng bềnh vắt ngang lưng trời cao, mà mẹ tôi lại phải chui vào nằm im lìm trong chiếc hộp gỗ tối tăm, chật chội kia để người ta mang đi vùi sâu xuống lòng đất đá lạnh lẽo?

***

Đám tang của mẹ rồi cũng qua đi, để lại phía sau một căn nhà hoang tàn, trống trải và lạnh lẽo đến ghê người. Người trong bản lục tục kéo nhau về hết, những chiếc rạp mượn tạm bằng bạt nilon rách tả tơi được tháo dỡ vội vã, phơi trần khoảng sân đất đỏ nham nhở tàn thuốc lào, bã trầu nhăn nhúm và những mảnh giấy tiền vàng mã cháy dở bị mưa phùn vùi dập nát bấy trong lớp bùn nhão.

Kể từ ngày đắp xong nấm mồ đất cho mẹ trên sườn đồi Ban Nà, cha tôi dường như đã biến thành một con người hoàn toàn khác.

Ông không còn ngồi trước hiên nhà mỗi buổi chiều tà để cặm cụi đẽo từng chiếc cán cuốc hay tỉ mẩn bào nhẵn những thanh gỗ làm chuồng gà như ngày xưa nữa. Ông trở nên ít nói một cách đáng sợ, cả ngày ròng rã có khi ông chỉ thốt ra vài ba tiếng cộc lốc, khô khốc với tôi. Nhưng trong sự câm lặng đến nghẹt thở ấy, ông vẫn cố chăm sóc tôi theo cái cách vụng về, tội nghiệp và đau đớn của một người đàn ông góa bụa đang bị dồn vào bước đường cùng.

Sáng nào cũng thế, từ khi trời còn tối mịt mùng, khi những hạt sương muối buốt giá còn đọng trắng xóa trên những tàu lá dong sau chái nhà, cha đã lục đục thức dậy nhóm bếp. Tiếng củi nứa nổ lách tách và ánh lửa đỏ bập bùng hắt bóng ông lên vách nứa — một cái bóng gầy guộc, cộc cằn, chiếc lưng còng rạp xuống như mang vác cả một gánh nặng vô hình. Ông nấu cho tôi những bữa cơm độn sắn nát bấy, chan chút nước mắm mặn chát pha loãng với nước sôi hoặc chỉ có vài hạt muối trắng rang khô trên chảo gang. Bao giờ cũng vậy, bàn tay run rẩy của ông luôn xới cho tôi phần cơm trắng ít ỏi, thơm tho nhất gom lại từ giữa nồi, còn bản thân ông thì cầm chiếc muôi gỗ cạo vét những mảng cháy khét lẹt dưới đáy nồi, rồi ngồi thu lu nơi bậu cửa gió lùa, nhai trệu trạo từng miếng nghẹn ứ.

“Ăn nhiều vào con,” ông giục, giọng khàn đặc và ráp rúa như có ai rải cát trong cổ họng. “Ăn cho đẫy bụng mà lấy sức lớn khôn. Rồi còn đi học chữ nữa con ạ.”

Thế nhưng, sự tàn tạ và suy kiệt của cha tôi đã đến lúc không còn cách nào che giấu nổi nữa. Cái chết đột ngột của mẹ tựa như một nhát búa tạ ngàn cân nện thẳng vào cột trụ duy nhất nâng đỡ thể xác vốn đã gầy còm của người thợ mộc dốc Ban Nà. Những đêm trắng ròng rã thức canh bên giường bệnh của vợ, những cơn âu lo thắt ruột thắt gan về từng viên thuốc, từng bát cháo hoa, cộng thêm món nợ nần chồng chất như núi đè nặng lên đôi vai gầy đã gặm nhấm, đục rỗng ông từ tận bên trong.

Khoản nợ cũ vay bác Lương để mua thuốc thang cho mẹ trước đây còn chưa trả được một đồng tiền lãi nào, thì chi phí lo liệu cho đám tang lại ập tới như một trận lở núi: tiền mua mấy tấm ván gỗ xoan của cánh thợ xẻ xóm Mo do thằng Thào cầm đầu, tiền gạo nếp đồ xôi cúng ba ngày ba đêm, tiền công thuê người phát bờ đào huyệt và mấy can rượu ngô đãi làng trên xóm dưới.

Bác Lương đã sang nhà tôi hai lần kể từ hôm hạ huyệt mẹ. Bác không lớn tiếng chửi bới, cũng không đập bàn đập ghế, nhưng mỗi lời bác thốt ra đều nặng trịch như đá tảng, găm thẳng vào lòng tự trọng rách nát của cha tôi.

“Cái tiền mua gỗ làm áo quan cho thím ấy là tao phải muối mặt đứng ra bảo lãnh với thằng Thào xóm Mo đấy,” bác Lương ngồi vắt vẻo trên chiếc phản nứa ọp ẹp, rít một hơi thuốc lào sòng sọc rồi phà khói mù mịt ra gian nhà trống huếch trống hoác. “Thằng Hòa này, mày liệu mà xẻ cho xong đống gỗ nghiến bên dốc Ban Nà để giao đủ cho người ta trước khi con trăng này tàn. Không có bạc nộp cho chúng nó thì cánh xóm Mo nó kéo sang dỡ sạch cả cái mái rạ này đi đấy con ạ. Nhà tao cũng kiệt quệ đến tận xương tủy rồi, tao không hơi sức đâu mà đứng ra gánh vác thay mày mãi được!”

Cha tôi chỉ biết cúi gằm mặt xuống đất, hai bàn tay thợ mộc đan chặt vào nhau siết mạnh đến mức nổi rõ những đường gân xanh xao, run rẩy không kìm lại được:

“Em biết cái ơn của bác rồi… Bác cho em khất thêm ít bữa nữa thôi. Em ráng xẻ cho xong đống gỗ ấy, lấy được đồng tiền công nào em mang sang trả trước cho bác một nửa…”

“Một nửa cũng đừng hòng xong chuyện với chúng nó!” Bác Lương gắt lên, giọng khô khốc và tàn nhẫn như nhát chém. “Mày thử tự nhìn lại cái thân xác tàn tạ của mày xem, ho hen rút ruột như cuốc kêu mùa hạ thế kia thì mày còn xẻ nổi mấy thước gỗ nữa hả Hòa? Tao bảo này, liệu mà bán quách cái khoảnh nương bắp trên sườn đồi đi mà lấy tiền trang trải nợ nần cho nó êm chuyện!”

“Không bán được bác ơi!”

Lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi thấy cha tôi dám ngẩng phắt đầu lên cãi lại người anh trai cả, giọng ông nghẹn ứ, run rẩy nhưng lại cương quyết đến mức tuyệt vọng. Đôi mắt trũng sâu của ông bùng lên một tia sáng yếu ớt mà dữ dội:

“Khoảnh nương ấy trước lúc nhắm mắt mẹ thằng Nam đã dặn em phải giữ lại… Giữ lại để sau này còn có chỗ tỉa hạt bắp mà nuôi nó ăn học. Em có chết bờ chết bụi thì cũng đành một thân em thôi, chứ không thể để thằng Nam thất học

như em được!”

Bác Lương hừ một tiếng lạnh tanh, cái âm thanh sắc lẹm như lưỡi liềm phạt ngang thân cỏ khô. Bác đứng phắt dậy, hai bàn tay hộ pháp đập mạnh vào ống quần chàm bám đầy bụi đất cho tơi những mảng bùn khô, rồi quày quả sải từng bước dài ngoẵng xộc thẳng ra ngõ. Bóng bác đổ dài trên nền đất mấp mô, tiếng đế dép cao su nện cồm cộp xuống nền sỏi đá lổn nhổn, khô khốc và cạn tình:

“Chết với sống cái gì! Cứ lo mà cày cuốc trả cho sạch nợ nần đi đã rồi hãy ngồi đấy mà mơ tưởng chuyện chữ nghĩa cho nó!”

Lời nói buông rơi giữa khoảng sân hẹp, đập vào bờ tường đất nứt nẻ rồi tan biến vào thinh không, chỉ còn lại làn khói thuốc lào hăng nồng, đắng ngắt trôi lờ lững dưới mái rạ mục ẩm. Cha tôi vẫn ngồi bất động nơi góc phản, đầu cúi gục xuống gần chạm gối. Chiếc bóng của ông co rúm lại dưới vệt nắng chiều hắt qua khe liếp, run rẩy và kiệt cùng như một chiếc lá khô sắp rụng cuống.

Sau hôm ấy, cha tôi như người lên cơn điên.

Cái điên cuồng của một kẻ bị dồn vào chân tường đá dựng đứng, không còn lối lùi, chỉ biết lấy xương tủy của chính mình ra mà cào xới cuộc đời. Cứ mỗi độ chiều tà buông xuống thung lũng, khi sương mù từ đỉnh Pha Luông bắt đầu tràn qua những rặng tre gai đầu bản, những cơn sốt hâm hấp lại ập đến vần vò thân xác ông. Trán cha nóng ran như hòn than vùi trong tro trấu, hai gò má đỏ ửng bất thường trên làn da xám xịt, khô ráp như vỏ cây rừng vào mùa trút lá. Bất chấp những cơn ho quặn ruột, rách họng khiến ông phải gập gập cả người lại, hai tay ghì chặt lấy lồng ngực gầy guộc trơ xương để cố nén từng tiếng thở rít khè khè, cha vẫn không chịu buông đồ nghề.

Ông vác chiếc cưa tay đã rỉ sét, vác cây rìu đốn cây nặng trịch bước lên nương từ lúc tiếng gà rừng le te gáy gọi sương ngoài triền vầu. Màn đêm buốt giá chưa kịp tan biến, bước chân liêu xiêu của ông đã dẫm nát lớp sương muối phủ trắng xóa trên lối mòn dẫn lên dốc Ban Nà. Cha lao vào đống gỗ nghiến ngổn ngang với một sự căm hờn tuyệt vọng.

Từ phía triền đồi xa hút, âm thanh cưa gỗ “kéo - đẩy, kéo - đẩy” kẽo kẹt, rin rít dội ngược về căn nhà hoang vắng suốt từ sớm tinh mơ cho đến tận khi vầng trăng muộn đã nhô lên cao ngang đỉnh ngọn ban già sau nhà. Từng thớ gỗ nghiến đanh cứng như sắt thép oằn mình dưới lưỡi răng cưa cùn mòn, phát ra những tiếng ken két buốt óc. Trong bóng tối âm u của núi rừng, âm thanh ấy không giống một tiếng lao động bình thường; nó rền rĩ, thê thiết nghe hệt như tiếng rên xiết của một sinh linh khốn khổ đang bị vắt kiệt đến giọt máu cuối cùng trong huyết quản để trả cho bằng xong món nợ trần gian.

Có những buổi chiều muộn, khi sương lam giăng kín những bụi mận còi cọc ven hàng rào, tôi ngồi thu lu một mình bên mép bậu cửa, ôm chặt hai đầu gối chờ cha về. Hoàng hôn ở Nà Ban buông xuống nhanh như một cái chớp mắt, màu tím thẫm đặc quánh dần dần nuốt chửng từng nóc nhà sàn le lói khói lam chiều dưới chân núi, nuốt chửng cả con đường mòn ngoằn ngoèo rải đầy sỏi nhọn. Gió đông bắc luồn qua các kẽ liếp nứa rách nát thổi vào nhà lạnh buốt, nhưng tôi không dám vào buồng, chỉ sợ lỡ mất bóng dáng cha từ xa bước lại.

Mãi đến khi trời nhá nhem tối, bóng cha mới liêu xiêu hiện ra ở khúc quanh đầu dốc. Dáng người ông xiêu vẹo, ngả nghiêng, bước chân chới với lảo đảo hệt như một kẻ say rượu lâu năm mất phương hướng. Tôi vội vàng trèo qua bậu cửa, co cẳng chạy ùa ra ngõ đón:

“Cha! Cha đã về đấy à cha?”

Tôi chạy lại gần mới thấy cả thân hình cha ướt sũng. Chiếc áo chàm cũ kỹ vá chằng vá đụp thấm đẫm mồ hôi lạnh, bết chặt vào bộ ngực trơ xương sườn nhấp nhô theo từng nhịp thở dốc nghẹn ngào. Cha loạng choạng bước thêm hai bước, chiếc cưa tay tuột khỏi ngón tay buông rơi xuống nền đất nghe một tiếng “choảng” chát chúa. Ông không bước nổi vào sân nữa mà ngồi phịch xuống tảng đá cạnh bờ rào dâm bụt, một tay chống gối, một tay ôm chặt lấy lồng ngực rồi bắt đầu ho dữ dội.

Đó không còn là tiếng ho hen của người cảm lạnh hay tiếng khẹc khẽ của chứng phong hàn thông thường. Nó là tiếng ho xé rách lồng ngực, tiếng ho sâu hoắm cào từ cuống họng rách toác dội lên. Cả cơ thể gầy rộc của cha giật nảy lên bần bật theo từng tràng khục khặc nghẹn ứ, quằn quại như có một bàn tay vô hình đang thọc sâu vào phế quản mà xé rách từng tế bào. Cha run rẩy rút chiếc khăn tay rách nát nhét vội vào miệng bịt chặt lại, cố nuốt những cơn co thắt vào trong.

Nhưng máu tươi vẫn trào ra.

Từng vệt máu đỏ tươi, sẫm màu và đặc quánh ứa qua các kẽ ngón tay thô ráp nứt nẻ, chảy dọc theo cổ tay khẳng khiu rồi nhỏ tong tỏng xuống đám cỏ dại ven chân bờ rào. Mùi tanh nồng của máu bốc lên ngột ngạt giữa làn sương lạnh ẩm mốc của buổi hoàng hôn.

Tôi hoảng loạn òa khóc nức nở, hai bàn tay bé tí xíu nắm chặt lấy ống tay áo chàm lạnh ngắt của cha mà giật lấy giật để:

“Cha ơi… Cha làm sao thế này cha? Cha nôn ra máu kìa cha ơi… Cha đừng ho nữa, con sợ lắm cha ơi…”

Cha tôi run bần bật, vội vã nhét chiếc khăn dính đầy máu tươi ra sau lưng, giấu tịt vào cạp quần để tôi không nhìn thấy thêm nữa. Ông ngửa cổ lên trời, há to miệng cố hớp lấy từng ngụm không khí buốt giá vào buồng phổi rách nát để kìm cơn ho lại. Cả gương mặt ông tím tái, hai mắt trợn ngược lên vì thiếu dưỡng khí, gân xanh nổi chằng chịt trên vầng trán hốc hác.

Một lúc lâu sau, khi cơn co giật tạm lắng xuống, ông mới đưa bàn tay còn lại — bàn tay sần sùi bám đầy bụi mùn cưa nghiến và phảng phất mùi nhựa cây rừng ngai ngái — run rẩy áp lên mái tóc bờm xơm của tôi. Đôi mắt trũng sâu của ông nhìn tôi đục ngầu, đau đớn đến thắt ruột và ngập tràn một sự bất lực cùng cực của kẻ biết mình sắp phải buông tay lìa đời:

“Cha không sao đâu… Nam ngoan, đừng sợ… Đừng khóc mà con… Cha chỉ… chỉ mệt quá một tí thôi con ạ…”

Giọng cha thì thào, đứt quãng từng hơi, mỏng manh như sợi khói lam chiều sắp bị ngọn gió núi thốc tan vào bóng tối mênh mông của đại ngàn.

***

Nhưng sợi khói ấy rốt cuộc cũng không chống chọi nổi với cơn bão giông của số phận. Cha tôi ngã xuống vào một buổi sáng cuối xuân, đúng vào ngày những cánh hoa ban cuối cùng trên cây ban già trước sân rụng tả tơi sau một đêm mưa rào tầm tã.

Trận mưa đêm ấy lớn đến nỗi nước xối xả làm xói lở cả vạt đất chân tường, tiếng sấm ùng oàng dội vào vách núi Pha Luông suốt từ canh hai cho đến lúc rạng đông mới ngớt. Sáng hôm ấy, bếp không hề đỏ lửa.

Không có tiếng que củi nổ lách tách trong tro than, không có mùi khói bếp thân quen quẩn quanh xua đi cái lạnh buốt của hơi đất bốc lên. Gian nhà tĩnh mịch đến rợn gáy, lạnh tanh như lòng một nấm mồ đá sâu hoắm. Tôi thức dậy trên chiếc phản nứa ọp ẹp, đưa mắt nhìn quanh gian nhà chỉ thấy một màu xám xịt của ánh sáng ban mai lọt qua khe vách. Nhìn sang chiếc giường tre ọp ẹp của mẹ ngày trước, tôi thấy cha vẫn nằm im lìm ở đó, chiếc chăn chàm mỏng đắp ngang ngực, tấm lưng gầy quay vào phía bờ tường đất.

Nghĩ cha mệt vì trận mưa đêm qua, tôi rón rén bước chân trần trên nền đất ẩm ướt lại gần mép giường, khẽ nắm lấy cổ tay buông thõng bên ngoài mép chiếu của ông, lắc nhẹ:

“Cha ơi… Trời sáng rõ rồi cha… Cha dậy nấu tí cơm cho con ăn đi học chữ với cha ơi… Cha ơi…”

Ngón tay tôi vừa chạm vào da thịt cha thì giật thót người lại.

Cánh tay cha tôi cứng đờ như một thanh củi khô. Da thịt ông lạnh ngắt, một sự lạnh lẽo kỳ dị không hề giống với cái rét căm căm của sương muối mùa đông trên rẻo cao, mà là cái lạnh buốt nhói, đông cứng và bất động của một khối đá chết chóc. Trái tim thơ dại của đứa trẻ năm tuổi bỗng thắt lại vì một nỗi kinh hoàng vô cớ. Tôi trèo vội lên mép giường, hoảng hốt áp cả bàn tay, rồi áp cả khuôn mặt đầm đìa nước mắt vào lồng ngực gầy guộc của cha — nơi ấy phẳng lặng, trơ trọi từng dải xương sườn, tịnh không còn lấy một tiếng đập, không còn một hơi thở dập dồn nào nữa.

Cúi xuống nhìn kỹ gương mặt cha, tôi chết sững: bên khóe miệng tím tái, ngoẹo sang một bên của ông, một vệt máu thẫm màu đã khô cong từ lúc nào, bết dính vào gối rạ thành một vệt đen sẫm màu rỉ sắt.

“Cha ơi! Cha đừng ngủ nữa! Cha mở mắt ra nhìn con đi cha ơi!”

Tiếng gào khóc non nớt, khản đặc và tuyệt vọng của tôi xé toạc màn sương sớm yên tĩnh của Bản Nà Ban, dội vào vách đá tai mèo rồi vọng lại nghe xót xa đến nghẹn lòng.

Chỉ mươi phút sau tiếng thét ấy, người ta lại lục tục kéo đến.

Lại là những bước chân vội vã giẫm trên nền đất sũng nước ngoài ngõ, lại là những bóng người lố nhố xốc xao ngoài bậu cửa, lại là tiếng xì xào to nhỏ ngập ngừng thương xót pha lẫn bàng hoàng, và lại là mùi hương trầm cháy dở nồng nặc, cay xè mắt mũi bốc lên bao trùm cả gian nhà rách. Mọi thứ diễn ra nhanh đến mức tàn nhẫn, lạnh lùng như một vở kịch tang tóc tăm tối vừa mới hạ màn cách đây ít lâu thì nay lại bị bàn tay nghiệt ngã của số phận kéo phắt bức màn đen lên, bắt đầu diễn lại lần thứ hai trên cùng một mảnh đất khô cằn.

Chưa đầy hai tháng sau ngày mẹ tôi nhắm mắt xuôi tay, chiếc vành khăn xô trắng thứ hai lại được buộc chặt lên mái đầu bờm xơm của tôi.

Lần này, tôi không còn khóc gào lên được nữa. Cổ họng tôi khô khốc, đắng ngắt như vừa ngậm phải một nắm lá ngón rừng sâu. Tôi ngồi thụp xuống bậu cửa ra vào, lưng tựa chặt vào chiếc cột nhà bằng gỗ nghiến đã mòn vẹt vỏ, hai mắt mở to trừng trừng nhìn trân trân vào khoảng không mịt mờ trước mặt trong một trạng thái đờ đẫn, trống rỗng hoàn toàn.

Nỗi đau đớn tột cùng khi mất cả cha lẫn mẹ chỉ trong vòng chưa đầy sáu mươi ngày ngắn ngủi dường như đã vượt quá sức chứa của một đứa trẻ năm tuổi đầu, khiến mọi dây thần kinh cảm xúc trong tôi tê liệt đi. Tôi không còn phân biệt được đâu là nỗi đau buốt ruột xé gan của sự chia lìa vĩnh viễn, đâu là nỗi kinh sợ hoảng loạn trước cái chết, và đâu là sự tủi nhục bẽ bàng trước những ánh mắt thương hại lẫn toan tính của những người lớn đang đi lại, thì thầm quanh quẩn bên mình.

“Khổ quá trời đất ơi, cái số kiếp nhà thằng Hòa sao mà nghiệt ngã, cay đắng đến nông nỗi này!” Tiếng một bà cụ hom hem trong xóm vừa chắp tay nhìn lên trời vừa chép miệng thở dài bên bàn nước chè xanh kê ngoài sân. “Mả con vợ đắp đất còn chưa kịp mọc ngọn cỏ tranh, hồn còn chưa ráo sương thì thằng chồng đã vội vã nhắm mắt xuôi tay nối gót theo sau. Bỏ lại thằng con đỏ hỏn thế này thì rồi đây nó biết bấu víu vào đâu mà sống qua ngày đoạn tháng?”

“Thì cũng tại cái tính cố đấm ăn xôi, làm việc quần quật quá sức người mà ra nông nỗi cả thôi,” giọng một người đàn ông trung niên khác chen vào, thì thào sau làn khói thuốc lá cuộn tròn nhưng lại sắc lạnh như một lưỡi dao cứa vào không khí. “Nợ nần thúc sau lưng như lửa đốt, lại thêm cái chứng lao phổi thổ huyết của con vợ dạo trước lây sang. Đêm hôm thì thức trắng ho hen dập dột, ngày ra thì vần từng súc gỗ nghiến nặng cả tạ trên dốc Ban Nà, đến sắt đá còn phải mòn vẹt huống chi cái thân xác người trần mắt thịt.”

“Thế rồi bây giờ mấy khoản nợ của bên nhà anh Lương với tiền đóng cỗ ván hôm nọ của thằng Thào xóm Mo thì tính thế nào đây? Cái túp lều rách nát này với khoảnh nương ngô trên sườn đồi chắc họ kéo đến dỡ đi gán nợ hết sạch sành sanh thôi chứ còn gì nữa…”

Những âm thanh thì thầm, bàn tán ấy cứ dội vào tai tôi từng chặp, từng chặp, lùng bùng, nhức nhối như tiếng ong vò vẽ làm tổ trong màng nhĩ. Tôi co rúm hai đầu gối lại, kéo vạt áo chàm trùm kín lấy ngực, hai cánh tay nhỏ thó ghì chặt lấy cuốn sách tập đọc lớp một đã sờn rách mép của mẹ đang giấu kín trong bụng áo. Tôi sợ hãi co mình lại, sợ người ta nhìn thấy gáy cuốn sách lấp ló, sợ người ta sẽ xông lại giật phắt nốt cuốn sách cũ kỹ ấy khỏi tay tôi để đem đi gán nợ như những lời bàn tán độc địa kia.

Mùi khói nhang tang lễ thứ hai quyện chặt với mùi ẩm mốc của mái rạ mục nát và hơi đất sau mưa bốc lên ngột ngạt, tanh nồng. Tôi giương đôi mắt khô khốc nhìn chiếc quan tài gỗ tạp thứ hai được người ta khiêng vào, đặt chình ình đúng vào cái vị trí mà chiếc quan tài của mẹ từng nằm cách đây chưa lâu. Ngoài sân, cây ban già đứng trơ trọi những cành khẳng khiu, xơ xác; những cánh hoa ban trắng muốt từng là lời hứa dịu dàng của mẹ rằng mùa hoa sau mẹ sẽ khỏe lại giờ đây đã rụng sạch trơn, dập nát bấy nhầy dưới những gót chân qua lại thô bạo của đoàn người đến đưa tang.

Thế giới quanh tôi bỗng chốc sụp đổ hoàn toàn thành một hố sâu mênh mông, đen ngòm và buốt giá, bỏ mặc tôi đứng trơ trọi một mình giữa cõi đời nghiệt ngã khi mới chỉ là một đứa trẻ năm tuổi đầu còn chưa nhớ hết mặt các con chữ cái.

Bác Lương và bác dâu Sương thay mặt cha tôi đứng ra cáng đáng, coi sóc mọi việc trong đám tang thứ hai này. Dẫu trong lòng còn trĩu nặng những nỗi lo toan, tính toán thiệt hơn của cuộc sống nghèo khó, họ vẫn làm tròn bổn phận ma chay theo đúng lề thói ngàn đời của bản làng và khả năng eo hẹp của gia đình mình.

Bác Sương quấn chiếc khăn tang bằng vải xô thô ráp ngang trán, đôi mắt hoe đỏ, sưng húp vì thiếu ngủ, vừa quệt nước mắt bằng ống tay áo vừa đon đả chạy đôn chạy đáo bưng từng bát nước vối nóng mời các bậc cao niên trong họ mạc. Tiếng bác lách cách đếm từng chiếc bát sứt mượn của hàng xóm, lanh lảnh nhắc người làng khiêng mâm nhẹ tay kẻo vỡ mấy cái mâm đồng mượn của nhà trưởng bản, thỉnh thoảng lại chen vào những tiếng thở dài sườn sượt than nghèo kể khổ với mấy người đàn bà ngồi quanh chõ xôi:

“Khổ lắm các bác các chú ơi, nhà chú Hòa mất đi là để lại một gánh nợ ngập đầu ngập cổ cho nhà tôi gánh vác. Tiền thuốc thang đợt thím ấy ốm còn chưa trả dứt nổi cho nhà tôi một đồng, giờ đùng một cái chú ấy lại ngã xuống, lại thêm cỗ ván gỗ tạp với mấy mâm cỗ cúng này nữa. Vợ chồng tôi cũng còng lưng làm nương làm rẫy, nuôi thằng Tùng với con Lan còn bữa đói bữa no, giờ chẳng biết lấy đâu ra mà đắp đổi cho vừa cái miệng nợ nần này đây…”

Bên góc sân đất ẩm ướt, bác Lương đứng tựa lưng vào cây cột rạp bằng tre vừa dựng tạm, lặng lẽ rít từng ngụm thuốc lào sòng sọc. Gương mặt bác xám xịt như màu đá tai mèo trên đỉnh Pha Luông, đôi mày rậm chau chặt lại dưới vành khăn tang trắng muốt. Bác không khóc lóc ồn ào như bác dâu, nhưng mỗi cử chỉ điều hành việc khiêng ván, phân công người đào huyệt, chọn giờ hạ huyệt đều mang một vẻ dứt khoát, nặng nề đến nghẹt thở.

Khi ông Thào từ xóm Mo bước đến bên rạp, gương mặt ngập ngừng, e dè cất lời nhắc lại món tiền mộc tạm ứng cho đống gỗ xẻ bên dốc Ban Nà mà cha tôi chưa kịp hoàn thành, bác Lương chỉ nhả một làn khói đặc quánh qua mũi rồi gằn giọng qua kẽ răng:

“Ông Thào cứ việc yên tâm. Người chết thì nằm xuống dưới ba tấc đất, chứ nợ của thằng Hòa thì dòng họ Nguyễn này quyết không quỵt của ông một đồng một cắc nào hết. Chờ xong việc ma chay cho chú ấy xong xuôi, đích thân tôi sẽ vác cưa lên dốc xẻ nốt số gỗ nghiến ấy trả đủ số thước cho ông.”

Tôi ngồi co ro nơi góc hiên nhà, hai tai lùng bùng nghe từng mảnh vụn của những cuộc trò chuyện rời rạc trôi dạt qua đầu. Người ta nói về khoản nợ thuốc bắc mười mấy đồng bạc trắng còn thiếu của thầy lang trên phố huyện, về tiền mua mấy tấm ván gỗ tạp làm áo quan, về mảnh nương ngô trên sườn đồi dốc đứng nay chẳng còn người cày cuốc, và nhiều nhất vẫn là những lời bàn tán về số phận của tôi. Những ánh mắt soi mói, ái ngại, vừa thương hại vừa đề phòng liên tục quét qua đứa trẻ năm tuổi đang ngồi bất động như một bức tượng đất:

“Thế rồi cái thằng bé con này thì tính sao đây các ông các bà?”

“Mẹ nó ngày trước từ dưới xuôi phiêu dạt lên đây, đằng ngoại coi như bặt vô âm tín mấy chục năm trời rồi, có biết gốc tích ở đâu mà lần. Đưa nó về dưới ấy thì biết gửi gắm cho ai nuôi nấng?”

“Thì còn ai vào đây nữa ngoài nhà anh Lương. Anh em kiến giả nhất phận, chú nó mất đi thì bác ruột phải cưu mang lấy giọt máu của em mình, chứ chẳng lẽ lại nhẫn tâm để nó lưu lạc làm ma đói lang thang đầu đường xó chợ à?”

“Nói mồm thì dễ lắm, chứ thêm một miệng ăn thời buổi hạt thóc cõng hạt ngô này là cả một gánh nặng còng lưng đấy…”

Sau khi nấm đất đỏ tươi trên sườn đồi được đắp cao thành một gò đất mới, chôn vùi cả cha lẫn mẹ tôi nằm lại cạnh nhau dưới chân những vách đá lạnh buốt, những người đưa ma lục tục tản mác ra về theo các ngả đường mòn dẫn về bản. Khoảng sân đất trước căn nhà cũ rích chỉ còn lại những tàn tro vàng mã bay lả tả theo gió và mấy đống củi ẩm cháy dở nghi ngút tỏa khói ngột ngạt, khét lẹt.

Bác Lương, bác dâu Sương cùng một vài người lớn tuổi có vai vế trong họ ngồi lại bên chiếc bàn gỗ mộc kê ngoài hiên để định đoạt tương lai của tôi.

Bác Sương ngồi xoa hai bàn tay nứt nẻ, thô ráp vào vạt áo chàm, mắt nhìn lảng ra rặng chuối tiêu xác xơ sau vườn, giọng ngập ngừng đầy toan tính:

“Nhà mình thì chật chội có ba gian nứa, thằng Tùng với con Lan đang tuổi ăn tuổi lớn, gạo trong bồ thì vơi từng ngày từng bữa. Giờ rước thêm nó về gánh thêm một miệng ăn, tôi sợ sức vợ chồng mình không kham nổi đâu mình ạ…”

Bác Lương đập mạnh bàn tay thô ráp xuống mặt bàn gỗ phát ra một tiếng “chát” khô khốc, cắt ngang lời than thở của vợ. Bác nhìn thẳng vào mấy người già trong họ, đôi mắt đanh lại, không hề có lấy một chút ấm áp hay vỗ về của tình máu mủ, mà rắn rỏi và lạnh lùng như một phán quyết không thể nào đảo ngược:

“Không kham nổi cũng phải cắn răng mà kham! Nó mang họ Nguyễn, là giọt máu duy nhất của thằng Hòa để lại trên cõi đời này. Tôi là bác ruột nó, tôi không đưa nó về nuôi thì thiên hạ người ta nhổ bọt vào mặt tôi, nhổ vào mặt cả cái dòng họ này. Đống nợ thằng Hòa để lại tôi sẽ đứng ra gánh vác trả dần cho người ta, mảnh nương ngô trên sườn đồi tạm thời nhập vào làm chung với nhà tôi để trừ dần vào tiền thuốc men cỗ bàn. Còn thằng Nam, nó về ở với vợ chồng tôi. Nhà ăn ngô thì nó ăn ngô, nhà ăn sắn thì nó ăn sắn. Nuôi cho nó lớn lên, có da có thịt rồi nó phải lên nương mà làm lụng bù vào phần cơm nó ăn.”

Đó không phải là một lời hứa cưu mang đong đầy tình phụ tử hay lòng thương xót ruột rà, mà là một sự tiếp nhận bổn phận bắt buộc trước con mắt của dòng họ và bản làng, là một sự tính toán sòng phẳng, dứt khoát của người lớn trước nghịch cảnh mưu sinh cay nghiệt. Bác Sương khẽ thở dài thườn thượt một tiếng qua kẽ răng, cúi đầu xuống không dám cãi lại chồng thêm một lời nào nữa.

Trước khi bị dẫn đi, bác Lương bảo tôi vào trong buồng gom lấy vài bộ quần áo rách nát đem theo.

Bước chân trần của tôi ngập ngừng bước qua ngưỡng cửa gỗ quen thuộc, nơi chỉ mới vài hôm trước vẫn còn ấm sực mùi khói bếp và tiếng ho rút ruột dập dồn của cha. Gian nhà giờ đây trống huếch trống hoác, gió luồn qua các vách liếp kêu u u lạnh lẽo như một cái hang đá bỏ hoang giữa rừng sâu. Chiếc sập nứa mục nơi mẹ từng nằm liệt giường đã bị người ta tháo dỡ đem vứt chỏng chơ ngoài góc vườn, manh chiếu rách đẫm mồ hôi của mẹ cũng đã bị đem đốt sau hồi nhà, tàn tro xám xịt còn vương vãi theo gió tạt cả vào bậu cửa. Chiếc ghế xoan con con mà cha từng tỉ mẩn gọt đẽo từng cái chân cho tôi ngồi ăn cơm nằm chỏng trơ nơi chân cột cái, vương một lớp bụi đất mỏng manh.

Tôi lặng lẽ bước ra bờ ta luy mép sân, đứng chôn chân nhìn lên cây ban già trơ trụi bên bờ rào. Mùa hoa rực rỡ của núi rừng đã tàn lụi hoàn toàn sau trận mưa rào đêm qua; trên những cành cây khẳng khiu, xám ngoét chỉ còn sót lại vài chồi lá non màu xanh tái run rẩy trước những đợt gió đồi buốt giá.

Lời hứa mẹ sẽ khỏe lại khi hoa ban nở đã chết non theo nấm mồ đất đỏ dưới chân đỉnh Pha Luông; và lời hứa cha sẽ cày cuốc xẻ gỗ nuôi tôi học chữ cũng đã bị vùi sâu vào lòng đất lạnh buốt của buổi sáng hôm nay.

Hai bàn tay nhỏ thó của tôi lại luồn sâu vào trong ngực áo chàm, ôm chặt lấy cuốn sách tập đọc lớp một bìa rách nát của mẹ để lại. Từng thớ giấy ố vàng, thô nhám cấn mạnh vào lồng ngực gầy trơ xương sườn mang lại một cảm giác đau buốt nhói buồng tim, nhưng đó lại là điểm tựa duy nhất còn sót lại trên cõi đời này giữ cho tôi không ngã quỵ xuống đất.

Đứng giữa mảnh sân nhà tiêu điều và lạnh ngắt, đứa trẻ năm tuổi trong tôi bỗng hiểu ra một cách mơ hồ nhưng vô cùng thấu suốt và cay đắng: cuộc đời tôi từ khoảnh khắc này đã rẽ sang một lối khác hoàn toàn. Tôi không còn cha mẹ để làm nũng, vòi vĩnh hay khóc lóc đòi ăn; không còn được tự chọn góc ngủ quen thuộc trên chiếc phản nứa ấm hơi khói bếp của riêng mình; cũng không thể tự quyết định ngày mai mình sẽ ăn ngô hay ăn sắn, hay ai sẽ là người thương xót chăm sóc mình. Tôi đã chính thức trở thành một kẻ ăn nhờ ở đậu, một sự phiền toái mang theo món nợ truyền đời bước chân vào ngưỡng cửa nhà người khác.

Bác Lương xốc bọc quần áo cũ bọc trong manh bao tải rách của tôi lên vai, đứng ở đầu con dốc dẫn ra ngõ quay người lại nhìn. Dáng người bác cao lớn, thô ráp, in thẫm một bóng đen đặc quánh lên nền trời chiều chạng vạng đang tối dần sau triền núi xa. Bác không hề chìa tay ra để dắt tôi đi, cũng không dùng lấy một lời dỗ dành mềm mỏng nào để an ủi một đứa trẻ con vừa mồ côi cả cha lẫn mẹ trong một mùa hoa ban, mà chỉ cất giọng khô khốc, giục giã gióng một:

“Nam! Còn đứng ngây mặt ra đấy làm cái gì nữa? Bước nhanh cái chân lên mà theo tao về!”

Tôi giật mình thảng thốt, vội vã cúi đầu, hai tay ôm ghì chặt cuốn sách cũ trong bụng áo rồi lầm lũi cất từng bước chân run rẩy bước theo sau bóng lưng nặng nề của bác. Đôi bàn chân trần giẫm lên con đường mòn gập ghềnh đá sỏi sắc nhọn dẫn về phía xóm trong. Tiếng gió núi rít qua rặng ban xào xạc sau lưng như một lời tiễn biệt buốt giá cuối cùng của căn nhà cũ. Bác Lương bảo tôi theo về nhà bác, nhưng trong suốt quãng đường dài đi giữa màn sương đen kịt đang buốt lạnh buông xuống thung lũng ấy, tôi không hề nghe thấy bất kỳ ai gọi nơi chốn tôi sắp bước đến là một mái nhà.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn