Người cha ở lại
Mùa ban năm ấy trắng đến chói mắt, còn cha tôi thì ngày một ít nói, như thể chỉ cần ông im lặng đủ lâu, căn nhà sẽ không nghe thấy tiếng mẹ thở dốc.
Sắc trắng phủ kín các triền núi quanh Bản Nà Ban, trắng muốt đến tàn nhẫn trên những vách đá xám xịt của rặng Pha Luông, tràn xuống tận mép sân đất nện trước cửa nhà tôi. Mẹ tôi nằm đó, bên trong gian buồng tối om và sực nức mùi thuốc bắc đắng nghét quyện với mùi gỉ sắt ẩm mốc của chiếc hộp bánh quy đựng mấy mẩu than củi cũ. Lời hứa mẹ sẽ đứng dậy khi ban nở rộ đã tan biến theo từng búng máu tươi mẹ ho tràn ra manh chiếu rách. Mẹ yếu đi từng ngày, mắt trũng sâu, đôi bàn tay khô đét chỉ còn xương bọc da thỉnh thoảng khẽ cựa quậy tìm lấy góc chăn. Cơn sốt hầm hập không chịu dứt, biến từng hơi thở vào ra thành một tiếng rít dài nghẹn ngào, nặng nề như tiếng cưa cùn kéo trên thớ gỗ mục.
Căn nhà vách nứa của gia đình tôi nằm chênh vênh nơi sườn dốc phía tây của bản, nơi mà mỗi đợt gió thung lũng thốc lên đều cuốn theo cái lạnh buốt của sương mù chưa kịp tan. Trong gian buồng chật chội, ánh sáng mặt trời hiếm khi lọt qua nổi lớp liếp nứa dầy cộp khói bếp. Thứ ánh sáng duy nhất le lói là vệt nắng xám xịt hắt qua khe nứt trên vách gỗ, rọi nghiêng một vệt dài đầy những hạt bụi li ti lơ lửng, đậu xuống góc sập nứa nơi mẹ tôi đang thiếp đi. Tấm chăn chiên hoa màu đỏ cờ ngày cưới của cha mẹ nay đã bạc phếch thành màu tro mục, mép viền sờn rách để lộ những búi bông xơ cứng ngắc. Cứ mỗi lần mẹ trở mình, khung giát nứa lại kêu lên những tiếng cót két khô khốc, như thể chính chiếc giường cũng đang rên xiết cùng cơn đau quằn quại trong lồng ngực người đàn bà.
Chính vào những ngày ngột ngạt ấy, ông Thào bên bản Mo gùi một can rượu ngô men lá sang nhà tôi.
Mặt trời khi ấy vừa đứng bóng, nhưng cái nắng vùng cao không làm tan bớt hơi lạnh ẩm ướt đọng lại dưới những hốc đá. Ông Thào đứng ở mép sân, nơi bóng mát của cây ban già đổ dài trên nền đất nện lồi lõm. Chiếc gùi mây trên lưng ông kêu lách cách theo từng nhịp thở dốc vì vừa leo qua con dốc dài nối giữa hai thung lũng. Chiếc can nhựa đựng đầy rượu ngô men lá sánh lên từng vệt vàng óng ả dưới nắng, tỏa ra thứ mùi men nồng nặc, cay xè cả sống mũi. Ông đặt gùi xuống đất, tháo chiếc khăn bông ngả màu cháo lòng quấn trên trán xuống lau mồ hôi trán, để lộ khuôn mặt vuông vức đầy những nếp nhăn sâu hoắm như vết chém của lưỡi rựa trên thân cây nghiến.
Ông mang đến tin tức về một công trình dựng xưởng gỗ lớn tít tận mỏ đá bên Mai Châu. Người ta đang cần thợ xẻ khỏe tay, biết pha gỗ nghiến, gỗ táu thành khối vuông vức để dựng khung nhà. Tiền công tính theo ngày, cao hơn gấp ba lần số tiền ít ỏi mà cha tôi kiếm được khi đi đốn củi thuê hay vần đá lát đường trong bản. Chưa kể, nếu làm tròn ba tháng không nghỉ buổi nào, chủ xưởng sẽ thưởng thêm một khoản đủ để mua mấy tạ gạo trắng và trả bớt một phần nợ nần đã chồng chất từ vụ giáp hạt năm ngoái.
"Hòa à, mày đi với tao," ông Thào bảo, giọng rổn rảng nhưng đầy vẻ giục giã, bàn tay thô kệch vỗ mạnh lên bả vai cha tôi làm lớp bụi gỗ bám trên áo chàm bay mù lên. "Tay cưa của mày trong vùng này hiếm người bì kịp. Mày đi ba tháng thôi, có tiền về là đong được gạo ngon, dứt được nợ với anh Lương, lại thừa tiền mua thêm mấy thang thuốc bắc loại tốt gửi dưới xuôi lên cho thím ấy. Mày ở nhà ôm lấy cái bóng đàn bà ốm thì lấy gì mà nhét vào mồm? Nợ không trả, người ta đến siết cả nương sắn thì cả ba bố con ra đường mà đứng."
Tôi nấp sau cánh liếp nứa rách, thò nửa khuôn mặt lấm lem ra nhìn. Trong tâm trí non nớt của một đứa trẻ năm tuổi, số tiền mà ông Thào nói giống như một phép màu có thể kéo mẹ tôi ngồi dậy, có thể mang lại những bữa cơm không phải độn củ mài chát xít, và trên hết, có thể làm cho ánh mắt nặng trĩu của cha tôi bớt đi những vệt đỏ hoe vì thức trắng đêm. Tôi nín thở chờ cha gật đầu. Tôi tưởng tượng đến cảnh cha mang về một bọc giấy báo đựng đầy những thang thuốc thơm mùi cam thảo, những hạt gạo dẻo trắng tinh không lẫn một hạt sạn hay mảnh trấu, và mẹ tôi sẽ mở mắt ra, mỉm cười xoa đầu tôi như những ngày mùa cũ.
Cha tôi đứng lặng giữa khoảng sân ngập nắng. Chiếc bóng của ông đổ dài xuống nền đất, gầy guộc và bất động như một cột mốc ranh giới bị bỏ quên giữa rừng. Ông mặc chiếc áo chàm đã sờn rách ở hai bên vai, gấu áo lem luốc những vệt nhựa thông khô cứng lại thành màu đen bóng, cọ vào lớp da thịt rắn rỏi phát ra những tiếng sột soạt khẽ khàng. Đôi bàn tay to bè, thô ráp với những khớp ngón sưng to vì lao lực buông thõng bên hông, khẽ run lên một nhịp rất nhẹ. Đôi bàn chân trần nứt nẻ bám chặt vào lớp đất nện lạnh ngắt, các kẽ ngón chân còn dính đầy bùn đỏ từ mảnh nương sắn ven suối mà sáng sớm ông vừa tranh thủ cuốc dở.
Cha nhìn sang vò rượu ngô của ông Thào, nhìn những giọt nước bốc hơi lấp lánh trên miệng can nhựa, rồi chầm chậm đưa mắt nhìn về phía cánh cửa gỗ khép hờ của gian buồng tối tăm. Từ bên trong, tiếng mẹ ho lại vừa dội lên một tràng khô khốc, nghẹn ngào, dứt ra từng cơn như muốn cào xé lồng ngực mỏng manh. Tiếng ho ấy vang vọng vào khoảng sân vắng, làm chao đảo cả những bông ban trắng đang khẽ run rẩy trên cành cao.
"Tôi không đi được đâu, bác Thào," giọng cha tôi cất lên, trầm và đục ngầu, như có cát sạn cọ xát trong cuống họng.
Ông Thào trố mắt, gằn giọng, đôi lông mày rậm rạp giật giật: "Mày lú lẫn rồi à Hòa? Mày ở nhà thì kiếm được mấy đồng bạc lẻ? Mày định để vợ mày chết rũ trên cái sập nứa đó à? Người sống thì phải lo cái ăn, lo trả nợ, chứ mày ngồi đây nhìn thì thím nó sống lại được chắc?"
"Tôi đi xa ba tháng, nhỡ nhà có chuyện gì..." Cha tôi ngập ngừng, ngực phập phồng sau lớp áo chàm mỏng dính rách toạc một đường bên nách. Ông nuốt khan một ngụm nước bọt cay đắng rồi lắc đầu dứt khoát hơn, hai nắm đấm siết chặt lại. "Nhà có chuyện gì, thằng Nam nó mới năm tuổi, nó biết kêu ai? Thím nó không còn sống được bao lâu nữa đâu bác ơi. Tôi biết chứ. Tôi mà đi, ngộ nhỡ ngày thím nó nhắm mắt xuôi tay... tôi không kịp về vuốt mắt cho vợ thì tôi làm kiếp người để làm gì? Tiền nợ thì tôi cày cuốc trả dần. Anh Lương có chửi mắng, có bắt phạt thì tôi chịu. Nhưng lúc này, tôi phải ở lại."
Khoảng sân bỗng chìm vào một sự im lặng buốt giá. Tiếng chim rừng hót vẳng lại từ bên kia vách đá rặng Pha Luông càng làm cho sự thinh lặng giữa hai người đàn ông thêm phần nặng nề. Gió thổi qua tán cây ban già, làm rụng xuống vài cánh hoa mỏng manh, chao liệng rồi đáp nhẹ lên mu bàn chân trần nứt nẻ của cha tôi.
Ông Thào thở dài sườn sượt, một tiếng thở dài mang theo cả mùi rượu ngô nồng cay và sự bất lực ngao ngán. Ông chửi thề một tiếng trong cổ họng rồi nhổ toẹt bãi nước bọt xuống gốc cây ban. Ông biết tính cha tôi quá rõ. Bao nhiêu năm cùng nhau đi rừng, cùng nhau vật lộn với những súc gỗ ngã ngang đèo, ông biết một khi người đàn ông này đã nói bằng cái giọng trầm đục, dằn từng tiếng như đóng đinh vào đá ấy, thì dù trời có sập xuống cũng không tài nào lay chuyển nổi.
Người hàng xóm cúi xuống luồn hai tay vào quai gùi, dùng sức nhấc chiếc gùi nặng lên lưng. Bóng ông Thào lắc lư theo từng nhịp bước dốc xuống bản, tiếng bước chân lạo xạo trên sỏi đá nhỏ dần rồi mất hút sau khúc quanh đầy bụi rậm. Cha tôi vẫn đứng trơ trọi giữa khoảng sân đất nện, chiếc áo chàm bạc phếch bay phần phật theo từng cơn gió xuân buốt lạnh, đối diện với cái nghèo đói trần trụi và bản án tử hình vô hình đang lơ lửng trên nóc nhà mình.
Từ chối món tiền công lớn đồng nghĩa với việc cha tôi tự khép lại cánh cửa dễ dàng nhất để thoát khỏi cảnh túng quẫn trước mắt. Nhưng đó là cách của cha tôi — một người đàn ông miền núi vụng về, cộc lốc, không bao giờ biết nói những lời âu yếm vỗ về, chỉ biết dùng sự hiện diện câm lặng của thân xác mình để che chắn cho những gì còn sót lại của tổ ấm đang rệu rã từng ngày.
Kể từ ngày hôm đó, tôi thấy cha tôi không chịu ngồi yên một khoảnh khắc nào. Những lúc không phải sắc thuốc, không phải bón từng thìa cháo loãng vào khóe môi tái nhợt của mẹ, ông lại lao vào làm lụng quanh nhà như một kẻ cuồng dại. Dường như ông sợ rằng chỉ cần hai bàn tay mình ngơi nghỉ dù chỉ trong chốc lát, nỗi sợ hãi tột cùng trong lòng sẽ lập tức trỗi dậy, xé toạc sự bình thản gượng gạo mà ông đang cố dựng lên.
Căn nhà tranh của chúng tôi vốn đã cũ kỹ, vách nứa xiêu vẹo sau nhiều mùa mưa bão. Mái gianh trên nóc đã mục nát qua bao mùa sương muối, để lộ ra những mảng trời trống hoác nhìn thấy cả mây xám trôi lang thang. Cha tôi bắc một chiếc thang tre ọp ẹp lên chái nhà. Chiếc thang cũ kỹ rung bần bật sau mỗi bước chân của ông, những nấc thang ken két kêu lên như muốn gãy đôi. Cha mang theo những bó cỏ tranh khô vàng óng mà ông tranh thủ đi cắt từ sớm tinh sương trên những triền đồi xa tít tắp, lúc sương đêm còn đọng ướt đẫm gấu quần.
Đôi bàn chân trần nứt nẻ, gót chân chai sạn như da trâu bám chặt vào từng gióng tre trơn trượt. Gió xuân thổi lồng lộng qua thung lũng, mang theo hơi lạnh từ vách đá hắt từng cơn buốt rát vào khuôn mặt xám xịt của ông. Nhưng cha tôi chỉ cắn chặt môi, đôi mắt đăm đăm nhìn vào những lỗ thủng trên mái. Đôi bàn tay thoăn thoắt dỡ từng mảng rạ mục đen sì, bốc mùi ẩm mốc vứt xuống sân, rồi chèn lớp cỏ tranh mới vào. Ông dùng những sợi lạt giang ngâm nước dẻo quạnh, kéo căng rồi thắt nút thật chặt, cẩn thận miết từng nếp cỏ cho thật khít khao để nước mưa không thể len lỏi qua.
"Vá lại cho kín cái mái, gió nó đỡ thốc vào buồng mẹ mày," cha tôi lẩm bẩm một mình khi tụt từ trên thang xuống đất.
Người ông đẫm mồ hôi, những giọt mồ hôi mặn chát chảy ròng ròng qua thái dương hốc hác, cuốn theo bụi bặm và vụn cỏ khô bết chặt vào râu ria lởm chởm. Dù trời bên ngoài còn rất lạnh, hơi thở của cha vẫn phả ra từng luồng khói trắng mờ ảo giữa không gian ẩm ướt.
Sau mái nhà, cha quay sang vách buồng. Vách gỗ ghép sơ sài qua năm tháng nắng nỏ mưa dầm đã co ngót lại, tạo thành những khe hở rộng bằng cả ngón tay cái. Mỗi đêm, gió lạnh từ thung lũng cứ rít qua khe nứa, thổi vào tận mép sập nơi mẹ nằm, rít lên từng hồi u u u uất nghẹn như tiếng than vãn của núi rừng.
Cha tôi vác rựa ra bãi đất sau nhà, chọn những cây tre già nhất, thân tre bóng loáng màu xanh xám và dày ruột. Ông dùng rựa chẻ đôi từng gióng tre, tỉ mẩn róc sạch từng mắt gai sắc nhọn rồi đem vót phẳng mép. Đôi bàn tay thô ráp của ông đầy những vết nứt sâu hoắm vì sương muối và nhựa cây rừng, máu tươi rỉ ra ở các kẽ móng tay cáu bẩn, bết dính với mùn cưa và đất sét ướt. Cha đem những mảnh tre ấy chèn khít vào từng khe hở trên vách buồng. Ông lấy búa gỗ gõ cùm cụp, nêm chặt từng miếng nêm nhỏ để vách nứa không còn một kẽ hở nào cho gió lọt qua. Mỗi lần cha đóng một chiếc đinh tre hay gõ mạnh cán búa gỗ, cả khung nhà tranh lại rung lên khe khẽ, bụi bồ hóng trên xà nhà rơi lả tả xuống sàn đất.
Tôi ngồi thu lu bên bậu cửa, hai đầu gối kéo sát vào ngực, chăm chú nhìn từng cử động thô ráp nhưng kiên nhẫn lạ thường của cha. Có một buổi chiều, khi ánh hoàng hôn đỏ quạch bắt đầu nhuộm thẫm những vách đá Pha Luông, tôi thấy cha cặm cụi ngồi bên chiếc đòn kê ở góc sân, hí hoáy sửa lại chiếc ghế gỗ thấp.
Đó là chiếc ghế con đóng bằng gỗ xoan mà mẹ tôi vẫn thường ngồi trước hiên nhà vào những ngày nắng ấm. Ngày trước, khi mẹ chưa đổ bệnh nằm liệt giường, mẹ vẫn ngồi trên chiếc ghế ấy để nhặt rau dớn, chải mái tóc dài óng ả thoảng mùi bồ kết, hoặc cúi xuống cầm bàn tay nhỏ bé của tôi, dùng mẩu củi khô dạy tôi viết từng nét chữ nguệch ngoạc trên mặt đất nện. Một bên chân chiếc ghế ấy đã bị mối mọt gặm nham nhở, lung lay từ mùa đông năm ngoái, khiến mỗi lần ngồi xuống đều cập kênh chực ngã.
Cha tôi cẩn thận dùng chiếc cưa tay đã mòn răng cưa bỏ đoạn gỗ mục hỏng. Ông lấy thước đo đạc tỉ mỉ, rồi lấy một mẩu gỗ nghiến thừa từ đợt đốn củi trước, dùng đục đẽo gọt thành một chiếc chân ghế mới thật chắc chắn để chắp vào. Ông ngồi bệt xuống đất, kẹp chân ghế vào giữa hai đùi, cẩn thận dùng mảnh kính vỡ cạo từng góc cạnh cho thật nhẵn nhụi. Ông dùng lòng bàn tay xoa đi xoa lại trên bề mặt gỗ, tỉ mẩn rà từng dằm gỗ nhỏ xíu, sợ những dằm gỗ sắc nhọn ấy có thể làm xước gót chân mẹ nếu một ngày kia mẹ bước chân xuống hiên nhà.
Bằng đôi mắt của một đứa trẻ lên năm, tôi chỉ thấy cha bận rộn lạ thường, tưởng như cha làm những việc đó chỉ vì căn nhà đang hư hỏng. Nhưng rất nhiều năm sau này, khi chính tôi cũng phải nằm trên giường bệnh trắng toát, trơ trọi đối diện với sự tàn khốc của số phận và cái chết chực chờ, tôi mới hiểu thấu hành động của cha tôi ngày ấy.
Những việc sửa sang vụn vặt đó — vá một lỗ thủng trên mái rạ, chèn một mảnh tre vào vách buồng, gọt lại một góc chân ghế mục — thực chất là tấm khiên mỏng manh cuối cùng mà ông dựng lên để chống lại cảm giác bất lực đến nghẹt thở đang bóp nghẹt lấy lồng ngực mình. Ông không thể ngăn được những búng máu tươi ngừng ộc ra từ cuống họng của người vợ đầu gối tay ấp. Ông không có tiền bạc để mua thứ thuốc thần tiên nào dưới xuôi nhằm kéo dài sự sống đang lụi tàn từng khắc của mẹ tôi. Nhưng ông có thể làm cho căn buồng tối tăm bớt đi một ngọn gió độc lùa vào ban đêm, có thể làm cho mái nhà không bị dột nát nếu bất chợt có một cơn mưa rào mùa xuân đổ xuống, và có thể giữ cho chiếc ghế thấp kia đứng vững chãi bên hiên, như một bằng chứng kiên cường rằng người đàn bà của căn nhà này vẫn có một chỗ để quay về ngồi nghỉ.
Sự bất lực của một người đàn ông nghèo miền núi thường không bao giờ phát ra thành tiếng gào khóc hay những giọt nước mắt ủy mị. Nó chuyển hóa thành từng nhát búa nện chan chát xuống thớ gỗ nghiến, thành những vệt máu khô cứng trên khớp tay nứt nẻ, và thành sự câm lặng đến rợn người giữa bóng chiều buông.
Giữa khoảng sân nhỏ hẹp ấy, ngoài căn nhà mục nát, còn có một thứ khác níu giữ tâm trí của cha tôi: cây hoa ban già mọc sát bờ ta luy bằng đá xếp.
Cây ban ấy đã đứng đó từ rất lâu, từ trước khi cha tôi mang rìu lên đồi phạt cây dựng ngôi nhà tranh này. Thân cây cong queo, vỏ nứt nẻ từng mảng lớn và mốc thếch một màu trắng xám của rêu phong bám chặt qua năm tháng. Mùa này, cây bung nở một màu trắng xóa, những vòm hoa ken đặc vào nhau, trắng lóa cả một góc trời chiều, đối nghịch hoàn toàn với vẻ tàn tạ, ảm đạm của túp lều tranh xiêu vẹo ngay bên cạnh.
Sau những giờ lao động quần quật không ngơi nghỉ, khi bóng tối bắt đầu bò từ mép suối lên sườn đồi, cha tôi thường xách một thùng gỗ xuống mương nước dưới chân dốc. Đôi thùng nước nặng trĩu kéo trĩu hai vai ông, nước suối lạnh ngắt sánh ra ngoài ướt đẫm hai bên ống quần chàm. Ông cẩn thận tưới từng gáo nước thật đẫm vào quanh gốc cây ban già. Rồi ông lấy chiếc cuốc chim nhỏ, tỉ mỉ xới từng tảng đất cằn cỗi quanh bờ rễ, nhặt sạch từng ngọn cỏ dại hay những viên đá dăm sắc nhọn đang chèn ép rễ cây.
Tôi lẫm chẫm bước ra mép sân, đứng nép bên bờ đá nhìn bóng cha in sẫm màu dưới tán hoa trắng muốt. Gió lay cành ban xào xạc, rải xuống mái tóc bù xù của cha những cánh hoa trắng mỏng manh như cánh bướm.
"Sao cha lại tưới nước cho cây?" tôi hỏi, giọng ngây ngô non nớt. "Mẹ bảo cây ban rừng tự lớn trên đá, tự uống sương trời, không cần ai chăm mà cha."
Cha tôi dừng tay cuốc. Lưỡi cuốc cắm sâu vào lớp đất ẩm. Ông chống cằm lên cán gỗ mòn bóng, đứng lặng hồi lâu như đang lắng nghe tiếng nhựa cây chảy âm thầm bên trong lớp vỏ xù xì. Rồi ông ngẩng đầu lên nhìn những chùm hoa trắng muốt đang đung đưa trong gió xuân, những cánh hoa mỏng manh khẽ cọ vào nhau tạo nên những âm thanh êm dịu. Ánh mắt ông dại đi, mờ đục và trũng sâu sau những đêm dài thức trắng ngồi canh bên sập nứa.
"Phải chăm chứ con," cha tôi khẽ nói, giọng ông khản đặc, trầm đục như thể câu nói ấy phải trèo qua một dốc đá dựng đứng đầy gai góc mới thoát ra được khỏi lồng ngực. "Cây này phải còn đó. Phải giữ cho nó tươi, hoa nó nở cho thật dày, thật lâu rụng. Mai này... mẹ mày khỏe lại, mẹ mày bước ra hiên, mẹ mày nhìn thấy hoa nở thì mẹ mày mới vui, mới mau lại sức được."
Tôi nhìn cha, rồi lại ngước nhìn lên những vòm hoa trắng lóa mắt trên nền trời chiều xám xịt. Lòng tôi bỗng dâng lên một nỗi hoang mang mơ hồ, lạnh buốt. Mẹ tôi đã mê man suốt mấy ngày đêm liền, người sốt nóng ran như một hòn than củi vùi trong tro bếp. Mẹ thậm chí còn không nuốt nổi một hớp nước cháo loãng, đến mức cha phải dùng chiếc lông gà nhúng vào bát cháo rồi quét từng giọt qua khóe môi nứt nẻ rớm máu của mẹ. Liệu cha có thực sự tin vào lời ông vừa nói không?
Hay chính cha cũng đang nói dối tôi, nói dối chính bản thân mình, giống như cách mà mẹ tôi từng dịu dàng lừa tôi vào một buổi chiều mùa đông lạnh giá năm ngoái, rằng khi mùa hoa ban nở trắng các sườn đồi thì mẹ sẽ khỏi bệnh và lại dắt tôi lên nương bẻ bắp?
Nhìn vào đôi mắt đỏ ngầu chằng chịt những tia máu và đôi gò má hốc hác của cha, tôi không tìm thấy câu trả lời. Tôi chỉ thấy trong đáy mắt ấy một nỗi sợ hãi thăm thẳm, một sự bấu víu tuyệt vọng vào một mầm sống mong manh ngoài trời đất, để ông không phải hoàn toàn gục ngã trước bóng tối đang từ từ nuốt trọn gian buồng phía sau lưng. Cây ban già trước sân, đối với cha tôi lúc bấy giờ, giống như chiếc cọc cuối cùng cắm bên bờ vực thẳm. Chừng nào cây còn xanh, chừng nào hoa còn nở trắng tinh khôi, thì dường như sự sống bên trong căn nhà tranh kia vẫn chưa hoàn toàn bị dập tắt, vẫn còn một tia hy vọng mong manh níu giữ người đàn bà ở lại với trần gian.
Một buổi trưa, trời hửng nắng ấm sau nhiều ngày âm u sương muối, nhưng không khí trong căn nhà lại nặng trĩu như chì. Tiếng búa gõ của cha tôi ngoài sân bỗng tạm ngưng. Ông bưng một bát nước màu nâu sẫm, sắc từ rễ cây rừng mà ông nhờ người kiếm được, chầm chậm bước vào buồng của mẹ. Mùi thuốc đắng nghét bốc lên nghi ngút, xộc thẳng vào mũi làm cay xè cả mắt.
Tôi lẻn bước theo sau gót cha, rón rén bước từng bước chân trần trên nền đất lạnh, đứng lấp ló bên khung cửa gỗ nứa vừa được chèn kín những gióng tre mới. Trong góc tối sâu nhất của gian buồng, mẹ tôi nằm đó, thân hình gầy guộc chìm nghỉm dưới tấm chăn chiên hoa xơ xác. Mẹ vừa trải qua một cơn co giật dữ dội lúc rạng sáng, khóe môi nhợt nhạt vẫn còn vương lại vệt máu khô thẫm màu nâu đen bết dính. Nghe tiếng bước chân thân thuộc của cha con tôi, đôi mi mắt nhăn nheo, thâm quầng của mẹ khẽ run rẩy rồi từ từ hé mở. Đôi tròng mắt mẹ đục mờ, vô hồn, dường như phải mất một lúc lâu mới định hình được bóng dáng người đứng trước mặt.
Cha tôi quỳ một chân xuống bên mép sập nứa ọp ẹp. Một tay ông nhẹ nhàng luồn xuống dưới gáy, đỡ lấy bờ vai gầy guộc chỉ toàn xương xẩu của mẹ nâng lên một chút, tay kia cẩn thận đưa bát thuốc nóng lại gần khóe môi bà.
"Uống một ngụm đi mình," cha tôi thì thầm, giọng dịu dàng đến mức tôi khó lòng nhận ra đó là người đàn ông cộc cằn, lầm lũi vừa nện búa chan chát ngoài sân. "Rễ cây này tôi nhờ ông Thào lấy tận đỉnh núi cao bên bản Mo đấy, uống vào nó mát phổi, nó hạ cơn sốt ngay thôi."
Mẹ tôi không nhìn vào bát thuốc đang bốc khói. Đôi mắt đục mờ của bà khẽ đảo quanh căn phòng chật chội, dừng lại thật lâu trên khuôn mặt hốc hác, râu ria lởm chởm và đôi mắt đỏ hoe của cha, rồi trượt xuống góc cửa nứa nơi tôi đang đứng bám chặt lấy then gỗ mòn vẹt. Mẹ gắng gượng thở, từng nhịp thở nhọc nhằn làm lồng ngực gầy guộc nhô lên thụt xuống sau lớp áo nâu sờn rách. Mẹ run rẩy đưa bàn tay lên, những ngón tay khẳng khiu như những nhánh củi khô gãy vụn trong mùa đông, khẽ chạm vào mu bàn tay nứt nẻ đầy những vết cứa rớm máu của cha tôi.
"Anh Hòa..." giọng mẹ thều thào, mỏng manh như một sợi khói bếp sắp tan biến vào vách nứa. "Thằng... thằng Nam đâu rồi?"
"Nó đứng kia kìa. Nó ngoan lắm, nó đứng nhìn mẹ đấy, nó không quấy đâu," cha tôi vội đáp, giọng nghẹn lại nơi cổ họng. "Mình cứ uống hớp nước thuốc đi đã, cho nó ấm người."
Mẹ tôi khẽ lắc đầu, một cử động yếu ớt đến mức gần như không thể nhận ra. Từ khóe mắt trũng sâu hoắm của bà, một giọt nước mắt đùng đục từ từ ứa ra, lăn dài qua gò má nhô cao chỉ còn lớp da vàng vọt bọc lấy xương xẩu.
"Thuốc men... làm gì nữa cho tốn kém... Tôi biết cái sức của tôi rồi..." Mẹ thốt ra từng từ một cách đứt quãng, mỗi hơi thở bật ra đều như phải cào rách cuống họng khô khốc. "Tôi chỉ lo... cho thằng Nam thôi. Anh Hòa à... anh phải nhớ... phải nhớ lời tôi dặn đấy..."
Cha tôi siết nhẹ bàn tay khô khốc của mẹ, đầu cúi gằm xuống sát mép chăn để giấu đi đôi mắt đang tràn ngập nước: "Tôi nhớ mà. Tôi nhớ hết. Mình đừng nói nữa, mệt người ra, để dành sức mà thở."
"Không... tôi phải nói... không nói thì không kịp nữa..." Mẹ tôi bỗng siết lấy ngón tay cái thô ráp của cha. Dường như người đàn bà đang dùng hết chút tàn lực cuối cùng còn sót lại trong cơ thể kiệt quệ để níu giữ lấy ý thức của mình. "Dù có đói khổ... dù có phải bán hết mảnh nương rẫy trên đồi... anh cũng đừng để thằng Nam nó bỏ học... Anh phải cho nó đi học... học lâu hơn... học dài hơn cái đời của vợ chồng mình... Đừng để nó... đừng để nó lại như anh... lại cưa xẻ gỗ thuê, lại vác đá hộc... rồi vùi đời trong cái xó núi mù chữ này..."
"Tôi biết rồi. Tôi thề với mình, tôi hứa trước mặt trời đất với mình mà," cha tôi nghẹn ngào, hai bờ vai vạm vỡ run lên bần bật dưới lớp áo chàm bạc phếch. Một giọt nước mắt nóng hổi từ khóe mắt ông rơi xuống, rớt trúng mu bàn tay khô khốc của mẹ. "Tôi còn sống ngày nào, tôi cày cuốc ngày ấy. Tôi không để nó thất học đâu. Mình cứ yên tâm mà nghỉ ngơi, mình phải sống để nhìn nó đi học cái chữ chứ..."
Mẹ tôi mỉm cười. Đó là một nụ cười yếu ớt, méo mó và thê lương đến buốt nhói tâm can, làm co rúm cả khuôn mặt hốc hác. Rồi dường như chút sức lực cuối cùng vừa tiêu tán hết theo nụ cười ấy, mẹ mệt mỏi nhắm nghiền mắt lại. Đôi bàn tay buông lỏng ra khỏi ngón tay cha, rơi thõng xuống mặt chiếu cói. Hơi thở của mẹ lại trở về với nhịp rít khàn đục, ngắt quãng quen thuộc.
Tôi đứng chôn chân bên bậu cửa nứa, hai bàn tay nhỏ bé siết chặt vào dải áo sờn rách của mình, ngực áo ướt lạnh mồ hôi. Lời thì thào đứt quãng của mẹ cứ luẩn quẩn, dội đi dội lại trong đầu tôi như một chuỗi âm thanh đầy bí ẩn và xa lạ.
Vào cái tuổi lên năm ấy, tôi đã được mẹ kiên nhẫn dạy cho cách nhận mặt con chữ O, chữ Ô tròn trịa bằng những mẩu than củi vẽ trên mảnh giấy bao xi măng nhặt được ngoài bãi đá. Nhưng tôi hoàn toàn chưa thể hiểu được hai chữ “học lâu hơn” mà mẹ vừa trăn trối mang sức nặng khủng khiếp đến nhường nào.
Đối với một đứa trẻ lớn lên giữa thung lũng đá Bản Nà Ban, nơi bốn bề chân trời bị vây bọc bởi những vách đá vôi cao ngút ngàn của rặng Pha Luông và con đường mòn duy nhất chỉ dẫn lên nương ngô cằn cỗi hay bãi đốn gỗ nghiến, việc “đi học” vốn dĩ chỉ là một khái niệm ngắn ngủi, mờ nhạt như vài tháng học chữ ở lớp mẫu giáo dựng tạm bằng tranh tre của bản. Lên sáu, lên bảy tuổi, những đứa trẻ cùng lứa với tôi đã bắt đầu phải đeo gùi lên lưng, cầm chiếc rựa nhỏ theo cha mẹ lên rẫy tra hạt ngô, tỉa củ sắn, hoặc đi mót củi khô ven rừng. Tôi không thể nào hình dung nổi việc học ấy có thể kéo dài qua nhiều năm tháng, có thể đưa một đứa con của núi rừng vượt ra khỏi bóng tối của thung lũng đá này, vượt ra khỏi số phận đã được đóng đinh bởi nghèo đói và những nhát cuốc nhọc nhằn suốt bao đời qua.
Tôi chỉ thấy cha tôi gục đầu bên sập nứa, đôi vai vạm vỡ run lên từng đợt câm lặng, và lời hứa của ông nghe như một gánh nặng ngàn cân vừa được đặt lên một đôi vai đã quá đỗi mỏi mòn vì lao lực.
Buổi chiều hôm ấy, sau khi mẹ tôi đã chìm vào một giấc ngủ chập chờn đầy những cơn mê sảng, cha tôi lẳng lặng bước lại góc buồng tối tăm. Ông cúi người mở chiếc hòm gỗ cũ kỹ đặt sát vách nứa, chiếc hòm gỗ dổi đã lên nước đen bóng mà ông bà nội để lại. Chiếc hòm ấy trước đây vốn đựng vài bộ quần áo lành lặn nhất của cả nhà, dành riêng cho những dịp lễ tết xuống chợ phiên, và mớ đồ nghề đục chạm gỗ của cha.
Cha lần giở dưới đáy hòm, bên dưới những tấm áo chàm cũ, cẩn thận rút ra một tờ giấy gấp làm tư đã ố vàng theo thời gian. Mép giấy quăn queo, sờn rách và mủn dần vì hơi ẩm miền núi quanh năm ngấm vào. Đó là tờ giấy nhận nợ từ vụ giáp hạt năm ngoái, khoản tiền cha tôi phải cắn răng vay của bác Lương để mua mấy thang thuốc bắc đầu tiên cho mẹ và đong mấy yến gạo ăn cầm cự qua mùa đói kém.
Cha ngồi thụp xuống bậu cửa, cẩn thận vuốt phẳng từng nếp gấp của tờ giấy lên mặt đùi quần chàm thô ráp. Ánh mắt ông dán chặt vào những dòng chữ viết vội bằng mực tím đã phai màu, bên dưới có dấu điểm chỉ bằng mực đỏ đã chuyển sang màu máu khô. Rồi ông khẽ thở dài, cẩn thận gấp nó lại làm tư như cũ, nhét sâu vào túi áo ngực, nơi lớp vải chàm dày nhất áp sát vào da thịt nóng hổi của lồng ngực mình.
Ông quay lại nhìn tôi, người vẫn đang nép mình bên bậu cửa nứa nhìn ông trừng trừng. Cha bước lại gần, đưa bàn tay thô ráp, sần sùi nắm lấy cổ tay nhỏ thó của tôi.
"Đi với cha," ông khẽ bảo, giọng trầm đặc và dứt khoát. "Sang bên nhà bác Lương."
Tôi không dám hỏi thêm nửa lời, chỉ biết ngoan ngoãn rảo bước theo bóng lưng cao lớn nhưng còng rạp của cha.
Hai cha con đi men theo con đường mòn lởm chởm những phiến đá tai mèo sắc nhọn, nối từ chái đồi hoang vu nhà tôi sang bên sườn dốc phía đông của Bản Nà Ban. Gió chiều thổi qua các thung sâu hun hút, mang theo cái lạnh se sắt của sương núi bắt đầu buông dày đặc trên các ngọn cây. Con đường dốc ngược, đá lở lạo xạo dưới những bước chân trần của hai cha con.
Căn nhà của bác Lương hiện ra phía sau những rặng tre ngà rậm rạp. Đó là một ngôi nhà gỗ ba gian bề thế hơn hẳn túp lều tranh xiêu vẹo của chúng tôi. Mái nhà lợp bằng những tấm fibro xi măng màu xám tro vững chãi, khói bếp từ gian sau bốc lên nghi ngút, mang theo mùi thơm béo ngậy của mỡ lợn và mùi cơm mới nấu. Bên hông nhà, những đống củi nghiến được chẻ sẵn vuông vức, xếp thành hàng thành lối ngay ngắn, cao vượt quá đầu người, như một bức tường thành kiên cố che chắn cho sự ấm no của gia đình bác.
Bác Lương đang ngồi trên một chiếc đòn gỗ trước hiên nhà, cặm cụi mài chiếc lưỡi rựa trên một phiến đá bùn ướt sũng. Tiếng kim loại cọ xát ken két vào mặt đá phát ra chói tai, rợn người giữa khoảng không gian tĩnh mịch của buổi hoàng hôn vùng cao.
Nghe tiếng bước chân lạo xạo trên sỏi đá trước sân, bác tôi dừng tay mài. Bác ngước mắt lên nhìn. Khuôn mặt bác vuông vức, sạm đen vì nắng gió, đôi gò má nhô cao và ánh mắt sắc lạnh, nghiêm nghị đến mức khiến một đứa trẻ năm tuổi như tôi vừa chạm phải đã vội vàng rụt người lại, nép chặt vào sau bắp chân săn chắc của cha.
"Anh Lương," cha tôi cất tiếng chào trước, giọng chùng xuống đầy vẻ nhún nhường và e dè.
Bác Lương không đáp lời ngay. Bác thong thả đặt chiếc rựa sắc lẹm xuống mép phiến đá mài, với lấy chiếc giẻ rách vắt trên hàng rào lau sạch bùn đất bám trên đôi bàn tay gân guốc. Xong xuôi, bác mới đứng thẳng dậy, đưa mắt nhìn lướt từ ngực áo chàm lem luốc của cha tôi xuống đến manh áo rách vai của tôi. Một thoáng căng thẳng buốt giá lập tức trùm lên khoảng sân hẹp, xua tan đi cả hơi ấm le lói của ráng chiều.
Là một đứa trẻ con lên năm, tôi chưa thể nào biết hết những trầm tích u uất, những chuyện cũ sâu cay chất chứa giữa hai người anh em ruột thịt ấy. Mãi sau này tôi mới nghe người trong bản kể lại, chuyện thuở xưa ông bà nội chắt bóp từng hạt thóc, củ sắn cho người em là cha tôi đi học cái chữ dưới trường nội trú của huyện, với hy vọng sau này đổi đời; trong khi người anh cả là bác Lương phải ở lại nhà, cắn răng cày nương xẻ gỗ từ năm mười hai tuổi để nuôi em. Rồi đến chuyện chia đất, chia nương khi tách hộ, những tranh chấp, tị hiềm âm ỉ đã kéo dài qua hàng chục mùa rẫy mà không bên nào chịu nhường bên nào.
Lúc này, tôi chỉ có thể cảm nhận bằng trực giác non nớt của mình rằng giữa hai người đàn ông ruột thịt này dường như có một bức tường đá vô hình chắn ngang, lạnh lẽo và không thể xô đổ. Không khí quánh đặc lại, căng cứng đến mức ngay cả tiếng mấy con gà đang lục cục nhặt thóc dưới gầm sàn gỗ cũng như muốn nghẹn lại trong cổ họng.
"Vào nhà đi," bác Lương buông một câu cộc lốc, giọng khô khan như tiếng củi gãy, rồi xoay người bước lên những bậc cầu thang gỗ bóng loáng.
Cha tôi dắt tay tôi bước theo sau. Gian chính nhà bác Lương thơm lừng mùi ngô mới phơi trên gác xép quyện với mùi khói bếp ấm cúng. Những chiếc bắp ngô vàng óng ả treo thành từng chùm dầy đặc dưới xà nhà, phản chiếu ánh lửa bập bùng từ gian bếp trong.
Trên chiếc bàn mộc thô ráp đặt giữa nhà, cha tôi chỉ dám ngồi ghé một mép ghế đòn dài, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt ngay ngắn trên đầu gối như một đứa trẻ phạm lỗi. Bác Lương ngồi đối diện, với lấy chiếc ấm tích ủ trong giành mây, rót một bát nước chè xanh chát xít đẩy mạnh về phía cha tôi. Nước chè sóng ra mặt bàn gỗ một vài giọt, nhưng mắt bác thì vẫn dán chặt vào phần túi áo ngực đang cộm lên của người em trai.
Cha tôi ngập ngừng một thoáng, hơi thở nặng nề phập phồng sau làn áo mỏng. Rồi ông thò tay vào ngực áo, cẩn thận móc tờ giấy nợ đã gấp tư đặt lên mặt bàn gỗ. Mép giấy hơi rung lên theo từng nhịp run rẩy kín đáo của những ngón tay nứt nẻ cáu bẩn.
"Anh Lương... tôi sang gửi anh cái giấy này," cha tôi mở lời, ánh mắt nhìn dán xuống vạt áo chàm của mình, không dám đối diện thẳng với ánh nhìn sắc như dao cạo của người anh cả. "Cái món nợ mua thuốc cho thím nó từ vụ trước... tôi tính sang xin anh cho khất thêm một dạo nữa. Đống gỗ nghiến bên dốc Ban Nà tôi xẻ dở cho người ta, đợi mấy hôm nữa thím nó dứt cơn sốt, tôi ra xẻ nốt giao nốt cho chủ lấy tiền công rồi mang sang trả anh đủ cả gốc lẫn lãi..."
Bác Lương không thèm cầm tờ giấy lên xem. Bác đặt ngón tay trỏ gân guốc xuống mặt bàn, gõ nhẹ từng nhịp thành những tiếng cộc cộc khô khốc, đều đặn đến ghê người. Giọng bác lạnh băng, không gợn chút cảm xúc xót thương:
"Khất? Mày khất từ vụ lúa sang vụ ngô, giờ sang tận mùa hoa ban nở rồi đấy Hòa ạ. Mày tính khất đến bao giờ nữa? Tao đã bảo với mày từ hôm thằng Thào rủ đi Mai Châu xẻ gỗ lớn, mày bỏ việc xưởng người ta, bỏ tiền công bạc triệu để ở nhà ôm lấy cái sập nứa, giờ mày lấy cái gì mà khất? Lấy cái miệng mày ra để trả nợ cho tao chắc?"
"Tôi biết lỗi với anh..." Cha tôi nghẹn lời, hai bờ vai vạm vỡ chùng hẳn xuống như đang phải gánh một tảng đá hộc ngàn cân. "Nhưng thím nó yếu quá rồi, nằm đấy thở hắt ra từng cơn, tôi đi xa ba tháng không đành lòng anh ơi. Anh em ruột thịt cùng một mẹ sinh ra, anh thương lấy hoàn cảnh ngặt nghèo của nhà tôi lúc này..."
"Ruột thịt thì ruột thịt, nhưng cái nợ nó không tự mất đi được đâu!" Bác Lương cắt ngang lời cha, giọng gằn từng tiếng rành rọt, đanh thép như đá nện vào đá.
Bác nghiêng người tới trước, nhìn trừng trừng vào khuôn mặt hốc hác, xám xịt của cha tôi: "Ở cái đất Nà Ban này, đất cằn đá sỏi, hạt ngô tra xuống đất còn phải đổi bằng ba giọt mồ hôi mới nảy được mầm. Người sống muốn có cái ăn nhét vào mồm, muốn trả được nợ nần cho người khác thì chỉ có lấy sức lao động cơ bắp ra mà cày cuốc. Mày không cày được thì sau này ai gánh nợ cho mày? Người chết rồi thì hết nợ trần gian, nhưng người còn sống thì phải trả bằng mồ hôi, bằng xương bằng máu. Mày liệu mà tính, cái nợ này tao không xóa được đâu. Mai này mày có nằm xuống, tao cũng không thể nuôi không ai một bữa nào."
Từng lời từng chữ của bác Lương nện xuống gian nhà gỗ như những nhát búa sắt giáng thẳng vào màng nhĩ. Tôi co rúm cả người lại, sợ hãi nép sát vào mạn sườn cha, nghe rõ từng nhịp tim đập thình thịch, gấp gáp và nghẹn ngào của ông sau lớp áo chàm.
Bác Lương đang nói đến tương lai, đến một ngày nào đó không xa mà đầu óc non nớt của một đứa trẻ năm tuổi chưa thể mường tượng trọn vẹn, nhưng hai chữ "sức lao động" và "trả nợ" đã cắm một vết hằn sâu hoắm, đau nhói vào tâm trí tôi. Tôi lờ mờ nhận ra rằng, ở chốn rừng sâu núi thẳm này, sự sống của con người chỉ được đo đếm bằng những nhát cuốc, đường cưa, và một khi sức cùng lực kiệt, cái nghèo đói sẽ lập tức nghiền nát tất cả mà không có chỗ cho lòng thương hại.
Cha tôi ngồi im chịu trận dưới những lời lẽ đay nghiến, cay nghiệt ấy. Ông cúi gằm mặt xuống, hai bàn tay siết chặt lấy nhau đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra, những đường gân xanh ngoằn ngoèo nổi cộm lên trên mu bàn tay như những sợi rễ cây già bám vào vách đá.
Tôi thấy một thớ thịt bên má cha giật giật liên hồi. Ông cắn răng nuốt cay đắng vào tận đáy họng, im lặng nhẫn nhục. Nhưng khi nghe bác Lương liếc nhìn tôi bằng ánh mắt lạnh lùng rồi buông thêm một câu: "Liệu mà bảo thằng Nam lớn nhanh lên, học hành vớ vẩn làm gì cho tốn của tốn công, sớm biết cầm cái cuốc, cái rựa mà lên nương làm lụng phụ trả nợ", cha tôi bỗng ngẩng phắt đầu lên.
Ánh mắt cha tôi lúc ấy lóe lên một tia sáng kỳ lạ — một ánh nhìn vừa bướng bỉnh, vừa đau đớn đến quặn thắt, nhưng tuyệt đối không chịu khuất phục trước uy quyền của người anh cả.
"Nợ của anh, tôi còn hai bàn tay này, tôi còn thở ngày nào tôi sẽ trả anh sòng phẳng ngày ấy, không thiếu của anh một xu một hào," giọng cha tôi đanh lại, trầm xuống nhưng vang lên kiên định lạ thường giữa gian nhà ba gian yên ắng. "Còn thằng Nam... nó phải được đi học. Đời tôi với anh đã chôn chân ở cái xó rừng này, mù chữ, chỉ biết bạt cây vác đá đổi lấy bát cơm qua ngày. Mẹ nó dặn rồi, tôi đã thề với thím nó, thằng Nam phải được đi học lâu hơn thế hệ của chúng ta. Nó phải học cho dài, cho xa hơn cái nương sắn cằn cỗi này. Tôi có chết mục xương trên rừng nứa, tôi cũng không bao giờ bắt nó phải bỏ học để đi làm thuê gán nợ đâu anh Lương."
Bác Lương sững sờ trong giây lát trước sự phản kháng dữ dội và bất ngờ của người em trai vốn luôn nhẫn nhục, câm nín. Đôi lông mày rậm rạp của bác nhíu chặt lại thành một đường thẳng, ánh mắt thoáng qua một vẻ phức tạp khôn cùng — có sự giận dữ vì bị xúc phạm, có sự khó chịu trước thói ương bướng của em mình, nhưng dường như sâu thẳm trong đáy mắt ấy cũng có cả một sự cay đắng xót xa của kẻ từng phải vứt bỏ bút mực sách vở từ thuở thiếu thời để lao mình vào công cuộc mưu sinh tàn khốc.
Bác hừ lạnh một tiếng qua kẽ răng, vươn tay chộp lấy tờ giấy nợ trên mặt bàn gỗ, vo nhẹ rồi nhét ngược lại vào túi áo ngực của cha tôi.
"Được, mày nhớ lấy cái mồm mày vừa nói đấy," bác Lương đứng phắt dậy, quay lưng về phía bàn thờ tổ tiên nghi ngút khói trầm. "Mày muốn cho nó học thành ông nọ bà kia thì liệu mà sống mà nuôi lấy nó. Còn đống gỗ bên dốc, xẻ cho xong xuôi trước rằm tháng sau rồi mang tiền sang đây trả nợ cho tao."
Cuộc nói chuyện kết thúc bằng một sự câm lặng nặng nề như chì. Cha tôi không nói thêm lời nào, lẳng lặng đứng dậy, nắm chặt lấy bàn tay nhỏ bé của tôi rồi dắt tôi bước lầm lũi ra khỏi căn nhà ba gian bề thế.
Bóng chiều đã sụp xuống hoàn toàn trên thung lũng Bản Nà Ban khi hai cha con bước ra đường. Màn đêm vùng cao buông xuống nhanh như một tấm màn đen khổng lồ trùm chụp lấy vạn vật, nuốt chửng những triền đồi ngô khô xác xơ và phả ra từng luồng gió lạnh buốt thấu tận xương tủy.
Con đường dốc lổn nhổn sỏi đá dưới chân hai cha con tối đen như mực, chỉ có những tảng đá tai mèo trắng nhờ nhờ hiện ra mờ ảo ven đường. Cha tôi đi trước một bước, tấm lưng gầy guộc hơi còng xuống chắn gió cho tôi. Bàn tay to bè, ram ráp đầy vết sẹo của ông vẫn nắm chặt lấy những ngón tay run rẩy của tôi không rời một khắc. Thấy tôi cứ bước líu ríu sau lưng, đôi chân ngắn cũn thỉnh thoảng lại vấp phải đá dăm và cả người run lên bần bật vì cái rét cắt da cắt thịt của sương muối, cha bỗng dừng bước lại bên một tảng đá lớn nhô ra sát mép vực thẳm.
Ông quỳ một chân xuống nền đất lạnh buốt, kéo tôi lại sát trước ngực mình. Cha đưa hai bàn tay ấm sực vì những vết chai dày áp chặt vào hai bên má tôi, khẽ xoa nhẹ từng vòng tròn để truyền hơi ấm sang khuôn mặt đang tái ngắt của đứa con thơ.
"Nam à," cha tôi gọi, giọng ông vụng về, khàn đặc và run rẩy như đang cố gom nhặt từng mảnh ngôn từ vụn vặt để chắp vá lại nỗi an lòng cho con trẻ. "Đừng sợ nghe con. Bác Lương bác ấy nóng tính thì nói thế thôi. Cha còn ở đây, cha còn sức vác gỗ cưa cây... Không có ai bắt con phải nghỉ học đâu. Cứ ngoan, chăm chỉ nghe lời mẹ dạy chữ, rồi cha cày cuốc nuôi con ăn học bằng người ta... Nhé con?"
Đó là một lời hứa mộc mạc, chất phác và vụng về nhất mà một người đàn ông miền núi ít học có thể thốt ra trong cuộc đời mình. Nó không có những từ ngữ hoa mỹ, chỉ có hơi ấm từ đôi bàn tay chai sạn và mùi nhựa thông khen khét phả ra từ lồng ngực áo chàm.
Nhưng ngay khoảnh khắc ông vừa dứt câu, một cơn gió quẩn từ dưới hẻm núi sâu bất ngờ thốc mạnh lên, quất thẳng từng luồng buốt giá vào mặt hai cha con.
Cha tôi bỗng khựng lại. Toàn thân ông cứng đờ như một khúc gỗ. Lồng ngực ông giật nảy lên sau lớp áo chàm mỏng manh rách rưới. Ông vội vàng quay mặt sang hướng vực thẳm, một tay buông má tôi ra, bịt chặt lấy miệng, nhưng không thể nào ngăn được tràng ho dữ dội bất ngờ ập đến xé toạc cuống họng.
Tiếng ho của cha khô khốc, trầm đục và kéo dài trằn trọc giữa màn đêm tĩnh mịch, làm cả cơ thể hộ pháp của ông gập cong lại như một thân tre già bị bão dập gãy ngang lưng. Cha ho rũ rượi, từng cơn co thắt dồn dập khiến lồng ngực gồ ghề nhấp nhô dữ dội, từng thớ thịt trên lưng giật bắn lên theo từng tiếng khạc đờm nghẹn ứ. Bàn tay đang nắm lấy cổ tay tôi run lên bần bật, run rẩy và dần dần lạnh ngắt như đá suối mùa đông.
Tôi đứng trơ trọi giữa màn sương đêm đen kịt, giương đôi mắt thơ dại nhìn cha trong nỗi bàng hoàng tột độ.
Lần đầu tiên trong đời, tôi bàng hoàng nhận ra một sự thật tàn nhẫn và đau xót: người cha vạm vỡ như cây nghiến ngàn năm trên đỉnh dốc, người đàn ông mà tôi hằng ngỡ là bất khả chiến bại trước mọi giông bão cuộc đời, người có thể một mình vần những súc gỗ nặng hàng tạ qua khe suối, giờ đây cũng đang kiệt sức.
Dưới ánh trăng mờ đục vừa hé ra sau đám mây xám, tôi nhìn rõ đôi mắt cha trũng sâu hoắm, quầng thâm đen sì vì hàng chục đêm thức trắng bón từng thìa cháo, lau từng bãi đờm lẫn máu tươi cho mẹ. Đôi gò má cha hóp lại, làn da sạm đen đi vì những bữa cơm nhịn đói để nhường phần cháo loãng cho vợ và mẩu sắn nướng cho tôi.
Cha tôi cũng đang ho — một tiếng ho âm ỉ, mệt mỏi và rách rưới của một cơ thể đang bị vắt kiệt đến những giọt sinh lực cuối cùng. Lời hứa cha vừa thốt ra với tôi vài giây trước nghe sao mà mong manh, chênh vênh đến nghẹn lòng, như một ngọn cỏ tranh khô run rẩy trước cơn gió hú giữa hẻm đá.
Hai cha con lại lầm lũi dìu dắt nhau đi trong bóng tối, về đến căn nhà tranh bên sườn đồi khi cả bản làng đã chìm sâu vào sự tĩnh mịch đặc quánh. Ánh đèn dầu từ gian buồng hắt ra một vệt sáng vàng vọt, tù mù qua khe liếp nứa nứt nẻ, in một vệt dài run rẩy trên nền sân đất.
Tối hôm đó, có tiếng chân người đi lại khẽ khàng ngoài hiên nhà. Bác dâu Sương cùng một vài người bà con họ hàng gần trong bản mang sang cho nhà tôi một bát ngô bung nóng hổi và một bó lá thuốc rừng khô khốc, mùi hăng hắc bốc lên ngột ngạt. Mẹ tôi đã lịm đi từ lúc chiều tà, trán nóng rực như một hòn than mới gắp ra từ bếp, hơi thở khè khè đứt quãng, mỏng manh như một sợi chỉ mục chực đứt bất cứ lúc nào.
Cha tôi bưng bát nước sắc vào buồng cho mẹ, rồi lại lặng lẽ bước ra góc sân trước hiên để tiếp chuyện người lớn, để tôi nằm lại một mình trên chiếc phản nứa nhỏ kê sát vách ngăn giữa hai gian nhà.
Tôi kéo manh chiếu rách lên ngang ngực, rúc đầu vào mép chăn cũ nhưng không tài nào chợp mắt nổi. Bóng tối bên trong căn nhà gỗ dường như đặc quánh lại, dày hơn mọi đêm, ngột ngạt và lạnh lẽo đến rợn gáy. Qua những kẽ nứa hở mà cha ban chiều chưa kịp chèn hết tre già, những tiếng thì thầm to nhỏ ngoài hiên lọt vào tai tôi rõ mồn một từng câu từng chữ. Tiếng gió rít qua rặng ban già hòa lẫn với giọng nói xót xa, trầm đục của những người lớn tuổi trong họ.
"Khổ quá chú Hòa ơi... Nhìn thím ấy thế kia thì không qua nổi con trăng này đâu," tiếng bác Sương thở dài sườn sượt, giọng the thé chìm trong tiếng nổ lách tách của tàn củi ngoài hè. "Phổi thím ấy rữa hết cả ra rồi, ngày nào cũng ộc máu đen máu tươi thế kia thì có tiên dưới xuôi lên cũng chẳng thuốc nào mà vá víu cho lại được. Hôm nay tôi sang đỡ thím ấy dậy thay manh áo chàm, người nhẹ bẫng như một nắm xương khô, mắt thì dại đi rồi, chẳng còn thần sắc của người sống nữa..."
"Bữa trước con Mai nó còn bảo với thằng Nam là hoa ban nở thì nó khỏi bệnh," giọng một người đàn ông lớn tuổi khác trong họ chép miệng cay đắng, tiếng rít thuốc lào khét lẹt xen vào giữa những câu nói. "Dối đứa trẻ con cho nó đỡ tủi thân thôi chứ cái chứng bệnh lao tổn ấy từ xưa đến nay làm gì có mùa nào cứu nổi. Giờ hoa ban nở trắng đồi trắng bãi rồi đấy, nở đến lóa cả mắt ra, mà người thì đang rũ ra như tàu lá chuối héo rũ bên bờ suối... Khéo mà hoa trên cây chưa kịp rụng hết cánh thì đất mùn đã phủ kín lên người rồi."
Tiếng cha tôi im lặng hồi lâu giữa màn đêm. Không có tiếng đáp lại, chỉ có một tiếng thở dài nghe nặng trĩu như tiếng một tảng đá lớn lở từ trên đỉnh núi lăn xuống vực sâu, đầy vẻ tuyệt vọng và bất lực cùng cực.
"Nhưng mà chú cũng phải liệu lấy cái thân mình nữa chú Hòa à," tiếng bác Sương lại thì thầm dồn dập hơn, sắc lạnh và chân thật đến tàn nhẫn. "Nhìn chú xem, người ngợm rộc rạc như cái bóng ma dưới suối. Cứ thức trắng đêm ngày rồi nhịn đói nhịn khát thế này, khéo vợ chưa đi thì chồng đã gục trước rồi. Món nợ bên nhà tôi còn sờ sờ ra đấy, rồi thằng Nam nó mới năm tuổi đầu, nó biết nương tựa vào ai giữa cái đất Nà Ban này? Chú mà ngã xuống thì cái nhà này coi như tan nát hết, chẳng còn lại cái gì đâu..."
Tôi nằm co ro trên chiếc phản nứa ọp ẹp, hai bàn tay nhỏ thó bấu chặt vào mép chiếu cói mục nát đến mức đầu ngón tay đau nhức. Tôi cắn chặt môi dưới, cắn đến bật máu để không bật ra tiếng khóc nấc nghẹn ngào.
Gió ngoài sân vẫn thổi từng cơn rào rạt qua tàn lá ban già. Từng cánh hoa ban trắng muốt, tinh khôi chao liệng trong gió rồi rụng lả tả xuống nền đất ẩm ướt trong đêm tối mù mịt.
Trong những lời thì thầm của người lớn, tôi hiểu bệnh của mẹ đã không còn hy vọng như lời hứa mùa ban.