Hoa Ban Không TànC.2 / 38
Chương 2

Lời hứa mùa hoa

Tôi nhớ tiếng mẹ gọi tôi từ hiên nhà rõ hơn khuôn mặt mẹ: giọng bà mỏng như khói bếp, vẫn cố vui khi chỉ cho tôi những nụ ban vừa hé trên sườn đồi.

Khi một đứa trẻ năm tuổi lớn lên giữa thung lũng đá tai mèo của Bản Nà Ban, thế giới của nó không được đo bằng thước tấc, bằng những vạch chỉ đường hay những tờ lịch đỏ treo nơi góc tường. Thế giới khi ấy nhỏ bé và chật chội lạ lùng, chỉ vừa vặn gói gọn trong khoảng sân đất nện loang lổ rêu xanh trước căn nhà gỗ chắp vá bằng những thanh ván bìa thừa thãi người ta vứt lại sau vụ xẻ gỗ, trong mùi khói ngô bung nồng ngái quyện chặt vào mái gianh mỗi sớm mai, và nhịp thở dốc nghẹn ngào của mẹ Mai trên chiếc sập nứa ọp ẹp kê sát vách gian trong.

Mùa đông năm ấy buốt giá lạ thường. Cơn gió từ đỉnh Pha Luông cứ chiều buông lại lồng lộn tràn xuống, mang theo cái rét ngọt sắc như từng nhát dao cạo lia qua lớp da non nớt của da thịt. Sương muối phủ trắng xóa các sườn nương như rắc vôi bột, biến những vạt ngô đông khô xác thành những hàng cọc xám tro gục đầu ủ rũ trong giá buốt triền miên. Đất dưới chân nứt toác ra thành những đường rãnh ngoằn ngoèo, khô khốc và lạnh ngắt. Trong căn nhà lộng gió của ba con người nghèo khổ, cái lạnh dường như không chịu tan đi theo ánh nắng ban ngày mà cứ đọng lại, dầy thêm, bám riết lấy từng góc cột. Nó chui qua những khe liếp đan thưa bằng nứa dập, ngấm qua manh chiếu rách đã sờn trơ cả sợi cói khô, luồn sâu vào từng thớ thịt, từng khớp xương tàn tạ của người đàn bà đã mang trong mình chứng bệnh phổi mạn tính suốt bao mùa rẫy.

Có những ngày dài dằng dặc, mẹ tôi tuyệt nhiên không thể rời khỏi chiếc sập nứa. Mẹ nằm đó, trùm kín chiếc chăn chiên sợi thô màu chàm đã sờn rách hết mép viền, để lộ ra những sợi chỉ xơ xơ màu xám đục. Lồng ngực mẹ phập phồng sau từng hơi thở ngắn ngủi, nhọc nhằn và khô khốc như tiếng rựa cùn miết trên thân gỗ mục. Mỗi lần mẹ ho, cả bờ vai gầy guộc lại co rúm lại, hai đầu xương quai xanh nhô cao lên dưới lớp áo nâu vá víu, và tấm vách nứa sau lưng mẹ lại rung lên bần bật như muốn rã ra từng thanh lạt buộc.

Tôi sợ những ngày u ám như thế. Là một đứa trẻ vụng về và nhút nhát, tôi chẳng biết làm gì ngoài việc ngồi thu lu ở bậc cửa sàn, hai cánh tay khẳng khiu vòng qua ôm chặt lấy hai đầu gối kéo sát vào cằm. Tôi nhìn đôi bàn chân tím ngắt vì cước lạnh của mình, những ngón chân nứt nẻ bám đầy đất đỏ nương rẫy, rồi lại len lén đưa mắt nhìn về phía góc tối mịt mùng nơi chiếc sập nứa phát ra những tiếng cọt kẹt yếu ớt.

Trong trí óc non nớt của một đứa trẻ năm tuổi, cái chết chưa mang một định nghĩa tròn trịa về sự chia lìa vĩnh viễn, nhưng tôi đã biết sợ sự bất động. Tôi sợ nhìn thấy đôi mắt mẹ nhắm nghiền hàng giờ liền, sợ thấy mẹ nằm im lìm mặc cho những giọt mồ hôi lạnh toát rỉ ra nơi khóe mi mỗi khi cơn đau tức ngực ập đến xé rách lồng ngực. Những lúc ấy, không gian quánh đặc lại bởi mùi dầu gió rẻ tiền, mùi đờm dãi ủng rỉ rả và mùi của lớp tro bếp ẩm ướt chưa bén lửa. Tôi chỉ dám ngồi nín thở, sợ rằng một tiếng cựa mình của tôi cũng có thể làm đứt gãy sợi dây sống mỏng manh đang giữ mẹ lại với cõi đời.

Nhưng cứ hễ qua được một đêm nguy kịch, hễ lồng ngực vơi bớt cảm giác tắc nghẹn và buồng phổi cho phép mẹ nuốt được một ngụm khí trời tương đối trong trẻo, mẹ Mai lại tìm cách gượng dậy. Mẹ không bao giờ muốn tôi nhìn thấy mẹ như một người sắp bỏ cuộc. Người đàn bà ấy có một lòng kiêu hãnh lặng thầm giấu kín dưới làn da xanh xao của người bệnh.

Buổi chiều hôm đó, khi một vệt nắng hiếm hoi của ngày đông tàn xuyên qua màn sương mù xám đục, chiếu xiên khoai qua khe vách nứa một vệt sáng mỏng le lói đầy bụi bặm, mẹ chống hai bàn tay run rẩy vào mép sập nứa, từ từ ngồi dậy. Tiếng thở của mẹ rít qua kẽ răng, khô rát và nghe xót xa như gió lùa qua ống nứa vỡ. Mẹ với lấy chiếc áo chàm đã bạc phếch ở hai bên khuỷu tay, lần khần cài từng chiếc cúc nhựa màu đen bị sứt mẻ, rồi khẽ cất tiếng gọi tôi.

"Nam ơi... Lại đây với mẹ nào con."

Tiếng gọi ấy mỏng như một làn sương sớm, nhưng đối với tôi lúc đó nó tựa như một phép màu nhiệm xua tan đi cả một ngày dài hoảng loạn. Tôi bật dậy khỏi ngưỡng cửa gỗ mòn nhẵn, chạy ùa vào bên mép giường, hai bàn tay lạnh buốt bám chặt lấy gấu áo mẹ như sợ bà sẽ biến mất nếu tôi buông tay ra. Mẹ vươn bàn tay gầy gò ra, những ngón tay khẳng khiu như những nhánh củi khô chạm nhẹ vào gò má nứt nẻ vì gió rét của tôi. Bàn tay ấy ráp ráp, thô nhám bởi những năm tháng cào xới đất đá tai mèo tìm hạt ngô, hạt sắn, nhưng lại ấm lạ lùng. Hơi ấm của một cơn sốt âm ỉ chưa bao giờ dứt hẳn dưới lớp da mỏng manh, vậy mà đối với đứa con trai bé bỏng của mẹ, đó lại là chỗ dựa vững chãi và an toàn nhất trên cõi đời này.

"Mẹ đỡ mệt rồi," mẹ thì thầm, nở một nụ cười gượng gạo để lộ hàm răng không mấy đều đặn nhưng luôn ánh lên nét hiền từ vô hạn. "Dắt mẹ ra ngoài sân với mẹ một lát. Ngồi mãi trong cái xó tối này, người cứ rũ ra như tàu chuối héo."

Tôi cẩn thận nắm lấy ngón tay trỏ của mẹ, ngón tay xương xẩu đầy những vết nứt sâu hoắm vì bốc vôi và gánh đá. Tôi bước lùi từng bước một cách thận trọng, mắt dán chặt vào đôi chân mẹ dưới gấu quần chàm thụng thình. Mẹ bước rất chậm, từng bước một nặng nề như thể dưới bàn chân bà là cả ngàn cân đá hộc níu lại. Mỗi lần bước qua ngưỡng cửa gỗ mòn vẹt là một lần mẹ phải dừng lại, một tay vịn chặt vào khung cửa, một tay ôm lấy ngực trái, nhắm nghiền mắt hít vào một hơi thật sâu để nén cơn ho chực bùng lên.

Chúng tôi đi ra đến mép sân đất nện, nơi có một bờ ta luy bằng đá hộc xếp chồng lên nhau nhấp nhô do chính tay cha tôi kè suốt bao mùa mưa để giữ cho khoảng sân không bị đất trôi tuột xuống mép vực. Gió từ thung lũng thổi thốc lên mang theo hơi nước lạnh buốt của con suối cạn đáy dưới chân đồi. Và ngay sát mép bờ đá ấy, kiêu hãnh mà cô độc, là cây ban già của nhà tôi.

Cây ban ấy đã cắm rễ ở đó từ trước khi tôi được sinh ra. Thân nó không thẳng thớm, kiêu hãnh như những cây ban mọc tự nhiên trên các vách núi cheo leo phía Pha Luông, mà ngoằn ngoèo, gầy guộc, cành nhánh chìa ra tứ phía khẳng khiu như những cánh tay xương xẩu của một kẻ khốn cùng đang cào vào nền trời chiều ảm đạm. Mùa đông khắc nghiệt đã trút sạch những chiếc lá cuối cùng của nó từ tháng trước. Trông nó xơ xác, xám xịt và trơ trọi đến mức nếu một người lạ đi ngang qua, họ sẽ dễ dàng đinh ninh rằng một đợt sương muối độc địa nào đó đã tước đoạt đi toàn bộ sinh khí bên trong lớp vỏ nứt nẻ mục ruỗng kia.

Mẹ đứng tựa một bên vai gầy vào thân cây sần sùi, hơi thở phả ra thành những làn khói trắng mỏng tang giữa không gian lạnh giá. Gió chiều thổi bay những sợi tóc mai lơ thơ vương trên vầng trán nhăn nheo của mẹ. Đôi mắt mẹ nhìn về phía xa xăm, nơi những triền núi đá nhấp nhô đang dần chìm vào bóng tối đặc quánh của buổi hoàng hôn vùng cao.

"Con nhìn xem," mẹ đưa ngón tay trỏ run rẩy, chỉ lên một cành ban sà thấp ngang tầm mắt tôi, nơi cành cây cong vòng xuống như một cánh cung giương dở. "Nó có chết đâu con."

Tôi ngước đôi mắt tròn xoe nhìn theo ngón tay mẹ. Ban đầu, mắt tôi chỉ thấy những mấu gỗ đen đúa, những đoạn cành khô giòn màu xám mốc tưởng như chỉ cần bẻ khẽ một cái là gãy vụn thành tro bụi. Nhưng khi mẹ kéo cành cây xuống thấp hơn một chút, kề sát vào mặt tôi, tôi mới nhận ra ở các kẽ nách cành cằn cỗi ấy, ẩn mình dưới lớp vỏ khô cứng, là những bọc nụ nhỏ xíu. Chúng có màu xanh phớt xám, được bao bọc bởi một lớp lông tơ mịn màng như nhung. Lớp lông tơ ấy dày dặn và mềm mại, dường như sinh ra là để làm một tấm áo giáp che chở cho sự sống mong manh bên trong khỏi cái buốt giá cắt da của núi rừng Tây Bắc.

"Mùa đông rét mướt thế này, cây cối cũng phải ngủ con ạ," mẹ nói, giọng khàn khàn nhưng tràn đầy một sự nhẫn nại vô bờ bến. "Nó giấu hết nhựa sống vào sâu trong lòng rễ, trong thớ gỗ, đợi cái lạnh tan đi. Cây ban này cũng thế. Trông nó cằn cỗi, xác xơ thế kia thôi, nhưng nó đang gom góp từng chút hơi ấm ít ỏi dưới lòng đất buốt giá để chờ ngày bung nở đấy."

Tôi ngước nhìn những nụ cây bé xíu như hạt ngô non ấy, rồi ngây ngô hỏi một câu mà tôi vẫn hằng thắc mắc trong lòng suốt những ngày ngồi bên bậc cửa:

"Thế cây có bị đau không mẹ? Rét thế này, cây có bị ho như mẹ không?"

Mẹ Mai thoáng ngỡ ngàng trước câu hỏi của tôi. Bàn tay đang giữ cành ban của mẹ khẽ run lên một nhịp, rồi mẹ mỉm cười. Nụ cười ấy làm những nếp nhăn nơi khóe mắt mẹ giãn ra, làm khuôn mặt xanh xao tái mét bỗng bừng lên một vẻ rạng rỡ kỳ lạ, một vẻ đẹp khắc khổ nhưng ấm áp khôn cùng.

"Cây không ho đâu, Nam à," mẹ đưa tay xoa nhẹ đầu tôi, luồn những ngón tay gầy vào mái tóc bết dính bụi đất của đứa con thơ dại. "Nhưng cây biết chịu đựng. Mùa lạnh càng khắc nghiệt, sương muối càng dày thì đến lúc nở, hoa lại càng trắng, càng thơm. Đừng sợ những ngày đông buốt giá này, cũng đừng sợ những lúc thấy mẹ nằm mệt li bì trong buồng tối. Mẹ chỉ đang như cái cây này thôi, đang nằm nghỉ ngơi một chút để gom sức lại."

Tôi ngước nhìn mẹ, tin từng lời mẹ nói như một đứa trẻ ngoan đạo tin vào những câu chuyện cổ tích thần kỳ. Lời dỗ dành của mẹ rót vào lòng đứa trẻ năm tuổi một niềm an ủi vô biên. Kể từ khoảnh khắc ấy, tôi không còn nhìn căn nhà tối tăm và chiếc sập nứa kẽo kẹt kia bằng nỗi sợ hãi tê dại nữa. Tôi ngây thơ nghĩ rằng mẹ tôi thật sự là một cái mầm cây đang giấu mình qua mùa đông, và chỉ cần tôi ngoan ngoãn, chỉ cần mùa lạnh qua đi, mẹ sẽ lại đứng thẳng dậy, khỏe khoắn và dịu dàng như thuở tôi còn nhỏ xíu chưa từng biết đến những cơn ho rút ruột của mẹ.

"Khi nào hoa nở hở mẹ?" tôi hỏi tiếp, lòng nôn nao một sự chờ đợi non nớt và háo hức.

"Sắp rồi," mẹ đáp, ánh mắt hướng về phía sườn đồi xa xăm, nơi những vạt đá xám ngắt đang nhạt nhòa trong sương lạnh. "Độ cuối tháng giêng, sang tháng hai, khi mưa xuân bắt đầu rây hạt lây rây trên mái gianh, hoa sẽ nở trắng khắp các thung lũng. Cây ban này của nhà mình cũng sẽ nở đầy hoa trắng. Lúc ấy trời ấm lên, nắng tràn về bản, ngực mẹ sẽ không còn đau buốt nữa đâu."

Hai mẹ con đứng bên mép ta luy một hồi lâu, cho đến khi sương chiều bắt đầu sa xuống nặng hạt, đọng thành những giọt nước li ti trên vai áo chàm của mẹ. Cái lạnh của buổi hoàng hôn bắt đầu ngấm qua lớp vải thô, mẹ khẽ rùng mình một cái rồi dắt tôi quay vào hiên nhà.

Hiên nhà tôi thực chất chỉ là một khoảng sàn nứa nhô ra phía trước chừng ba bước chân, bên trên che tạm bằng những mảnh phên đan bằng nứa tép đã mục nát, nơi cha tôi đặt một chiếc chõng tre ọp ẹp cùng vài khúc gỗ nghiến tròn xoe dùng làm ghế ngồi. Đây là góc sáng nhất của cả căn nhà, nơi đón nhận chút ánh sáng ban ngày le lói trước khi bóng tối của núi rừng nuốt chửng tất cả.

Mẹ Mai ngồi xuống chiếc ghế gỗ thấp, kéo tôi lại gần lòng mẹ. Mẹ với tay lên chiếc bậu cửa sổ bằng gỗ mộc mạc, lấy xuống một chiếc hộp kim loại đựng bánh quy đã gỉ sét loang lổ – vật báu duy nhất trong nhà cất giữ những gì quý giá nhất của mẹ. Mẹ mở nắp hộp cẩn thận, bên trong không có bánh kẹo hay tiền bạc, mà chỉ có vài mẩu giấy vụn, một chiếc bút chì đã mòn vẹt chỉ còn dài bằng ngón tay trỏ, và vài mẩu than củi được bọc kỹ trong một mảnh vải vụn.

Những mẩu giấy ấy là những mảnh giấy xi măng được cha tôi cẩn thận lột ra từ những bao vỏ rách khi ông đi làm thuê dựng nhà cho người ta dưới bản dưới, đem về dùng đá mài miết phẳng phiu từng nếp gấp; xen lẫn là rìa của những tờ báo cũ ố vàng, lem luốc vết bùn khô. Ở một nơi mà cái ăn từng bữa còn phải đong đếm từng bơ ngô hạt, sách vở đối với một đứa trẻ là một thứ xa xỉ phẩm nằm ngoài sức tưởng tượng của mọi gia đình. Thế nhưng mẹ Mai nhất quyết không để tôi lớn lên như một đứa trẻ mù chữ, chỉ biết bám đuôi con trâu lên nương.

"Lại đây, hôm nay mẹ dạy con chữ mới," mẹ nói, trải phẳng mảnh giấy xi măng thô ráp lên mặt chiếc chõng tre.

Mẹ cầm mẩu than củi, cẩn thận nắn nót viết lên nền giấy vàng đục một chữ cái lớn. Nét chữ của mẹ tròn trịa, dứt khoát và thẳng thớm lạ thường, khác hẳn với vẻ lam lũ, tiều tụy của một người đàn bà quanh năm chỉ biết đến cái cuốc, cái bừa. Sau này tôi mới biết, mẹ từng được học hết cấp một ở trường làng dưới xuôi trước khi theo ông bà ngoại dạt lên vùng kinh tế mới này – một chút học vấn ít ỏi nhưng đủ để biến mẹ thành một người khác biệt giữa những người phụ nữ cả đời không bước ra khỏi thung lũng Nà Ban.

"Chữ này là chữ O," mẹ chỉ tay vào vòng tròn mẹ vừa vẽ, giọng thì thầm bên tai tôi. "Nó tròn như quả trứng gà, dễ nhớ không con?"

"Chữ O!" tôi háo hức nhắc lại, ngón tay nhỏ xíu bắt chước mẹ, cọ cọ lên mặt giấy ráp.

"Phải rồi. Còn đây là chữ Ô... có thêm cái nón che trên đầu, như cái nón lá của mẹ đội đi nương ấy."

Mẹ kiên nhẫn cầm lấy bàn tay phải vụng về của tôi, bọc lấy những ngón tay ngắn củn đang nắm chặt mẩu than đen nhẻm, rồi nắn từng đường cong trên mảnh giấy. Bụi than dính vào ngón tay, lem luốc lên mu bàn tay tôi, nhưng mẹ không mắng. Mẹ chỉ cười, hơi thở ấm nóng của mẹ phả nhẹ vào gáy tôi, đem lại cho tôi một cảm giác bình yên sâu sắc mà suốt những năm tháng bão táp sau này ở chốn thị thành, tôi không bao giờ tìm lại được.

Dạy xong vài chữ cái, mẹ dừng lại, lấy tay phủi nhẹ những hạt bụi than rơi vãi trên trang giấy xi măng. Mẹ gấp mảnh giấy lại một cách nâng niu, miết phẳng từng góc mép bị quăn.

"Nam à," mẹ nhìn thẳng vào mắt tôi, ánh mắt mẹ lúc ấy nghiêm nghị và tha thiết đến mức đứa trẻ năm tuổi là tôi bất giác ngồi ngay ngắn lại. "Nhà mình nghèo, cha mẹ không có nương sâu ruộng tốt để lại cho con. Nhưng con phải nhớ, người ta có thể nghèo cái ăn, cái mặc, chứ không được để mình nghèo cái chữ. Dù đói rách đến đâu cũng phải học lấy cái chữ để biết đường mà sống, biết đâu là đúng, đâu là sai."

Tôi gật đầu lia lịa, dù khi ấy tôi chưa hiểu hết sức nặng của hai chữ "đúng, sai" mà mẹ nói.

Mẹ đưa tay vuốt ve mép một mẩu báo cũ đã ố vàng, giọng mẹ trầm xuống:

"Sau này lớn lên, nếu con có may mắn được cầm trên tay một cuốn sách, một trang vở, thì phải biết giữ cho nó sạch sẽ, phẳng phiu. Đừng bao giờ vò nát, đừng xé rách, cũng đừng để bùn đất hay dầu mỡ vấy bẩn lên con chữ. Sách vở là công sức, là mồ hôi của người ta làm ra để dạy mình khôn lớn. Kẻ nào khinh chữ, làm bẩn sách, thì đời người ấy cũng sẽ lem luốc, tối tăm như đáy nồi vậy. Con nhớ chưa?"

"Con nhớ rồi mẹ ạ," tôi lí nhí đáp. "Con sẽ không làm rách giấy của mẹ đâu."

Mẹ mỉm cười, đôi mắt mẹ long lanh ngấn nước. Mẹ cất mẩu than và những mảnh giấy vào lại chiếc hộp sắt gỉ, đậy nắp thật kín rồi đặt lại lên bậu cửa sổ, nơi cao ráo và tránh được những giọt nước mưa dột từ mái nhà. Hành động nâng niu, kính cẩn của mẹ đối với những mẩu giấy rác rưởi ấy đã găm sâu vào tiềm thức của tôi một bài học đầu đời về sự tôn trọng tri thức – một bài học không bắt đầu từ giảng đường lộng lẫy hay những thư viện nguy nga, mà bắt đầu từ chiếc chõng tre mốc thếch và mẩu than củi lem nhem dưới hiên nhà Bản Nà Ban.

Thế nhưng, những buổi chiều bình yên bên trang giấy xi măng ấy càng lúc càng trở nên hiếm hoi và ngắn ngủi.

Căn bệnh của mẹ không chịu dừng lại trước những lời dỗ dành dịu dàng hay niềm hy vọng ngây thơ của hai mẹ con. Mùa đông càng lùi sâu vào những ngày tháng Chạp, những cơn gió rét càng thổi buốt qua khe vách thì sức khỏe của mẹ càng sụt giảm nghiêm trọng.

Tôi bắt đầu nhận ra những điều bất thường mà sự ngây thơ của một đứa trẻ không thể xua tan đi được.

Những cơn ho của mẹ không còn là tiếng ho húng hắng của người bị cảm lạnh thông thường nữa. Chúng biến thành những đợt co giật dữ dội xé rách lồng ngực. Có những buổi sáng, khi tôi vừa mở mắt thức dậy trên manh chiếu, đã thấy mẹ ngồi gục đầu bên mép giường, hai tay ôm chặt lấy mạn sườn, toàn thân run rẩy theo từng tiếng ho khan khốc, nghẹn ứ. Tiếng ho như phát ra từ một khoảng trống rỗng, mục ruỗng sâu hoắm bên trong cơ thể mẹ. Mẹ ho đến mức không thở nổi, khuôn mặt tím tái lại, hai tròng mắt trợn trừng đỏ ngầu vì thiếu dưỡng khí.

Mỗi lần như thế, mẹ vội vã đưa chiếc khăn vải xô cũ lên che miệng. Mẹ cố giấu không cho tôi thấy những gì bám trên chiếc khăn ấy, nhưng một buổi trưa nọ, khi mẹ ho rũ rượi rồi kiệt sức buông thõng cánh tay xuống mép chiếu, tôi đã nhìn thấy. Trên nền vải xám bạc phếch có những vệt đờm đặc quánh, lấm tấm những chấm màu hồng tươi, và một vệt đỏ sẫm như màu máu của con gà bị cắt tiết.

Tôi hốt hoảng lao tới, nắm lấy ống tay áo mẹ:

"Mẹ ơi, mẹ chảy máu à? Mẹ bị đau ở đâu?"

Mẹ giật mình, nhanh như cắt vo tròn chiếc khăn lại, nhét vội xuống dưới gối. Mẹ cố hít một hơi dài, dù hơi thở ấy nghe rít lên như tiếng gió rít qua khe nứa mục, rồi đưa bàn tay run rẩy xoa đầu tôi. Bàn tay mẹ ướt đẫm mồ hôi lạnh, trơn tuột và nhớp nháp.

"Không có gì đâu con... Mẹ nhai phải bã trầu cay quá thôi. Đừng sợ, mẹ không sao."

Mẹ nói dối. Đứa trẻ năm tuổi trong tôi chưa biết thế nào là lao phổi, chưa biết thế nào là ho ra máu hay sự suy kiệt của các phế nang, nhưng bản năng sinh tồn mách bảo tôi rằng mẹ đang nói dối. Ánh mắt mẹ nhìn tôi khi ấy không có vẻ gì là bình thản cả. Đó là ánh mắt của sự hoảng loạn tột cùng, một nỗi sợ hãi mơ hồ và tuyệt vọng mà mẹ đang cố gắng dùng cả sinh mạng tàn tạ của mình để đè nén xuống, không cho nó tràn ra làm tôi khiếp hãi.

Không chỉ có những cơn ho, sức lực của mẹ cũng đang trôi tuột đi như nước suối mùa lũ chảy qua kẽ tay. Mẹ không còn đi bộ nổi ra tận gốc cây ban ngoài bờ ta luy nữa. Có những lần mẹ đang dạy tôi ghép chữ bên hiên nhà, chỉ vừa mới cầm mẩu than vạch được một nét xiên thì bàn tay mẹ bỗng mềm oặt ra, mẩu than rơi đánh tách xuống nền sàn nứa. Mẹ ngồi sụp xuống, trượt dài từ chiếc ghế gỗ xuống sàn, lưng tựa vào cột nhà, hai mắt nhắm nghiền, ngực phập phồng gấp gáp như một người vừa chạy thục mạng qua mấy quả đồi.

"Mẹ ơi!" Tôi òa khóc, cuống cuồng lay vai mẹ.

Mẹ không mở mắt ra ngay. Mẹ phải ngồi bất động như thế rất lâu, chừng một tàn thuốc lào, để gom góp từng chút hơi tàn còn sót lại trong buồng phổi. Khi mẹ mở mắt ra, đôi môi mẹ đã chuyển sang màu tím ngắt, không còn một chút huyết sắc.

"Mẹ mệt một tí thôi... Nam đừng khóc, mẹ ngồi nghỉ tí là khỏi ngay..." Giọng mẹ mỏng manh đến mức dường như chỉ một cơn gió nhẹ thoảng qua cũng đủ sức thổi bạt nó đi mất.

Tôi ngồi thụp xuống bên cạnh mẹ, vòng hai cánh tay nhỏ thó ôm chặt lấy cánh tay gầy guộc chỉ còn da bọc xương của bà. Tôi không dám khóc to vì sợ làm mẹ mệt thêm, nhưng những giọt nước mắt nóng hổi cứ thế lăn dài trên má, rơi lã chã xuống mu bàn tay nhăn nheo của mẹ.

Bằng một cảm giác mơ hồ nhưng sâu sắc, tôi lờ mờ hiểu được rằng thế giới của người lớn chứa đầy những bí mật đen tối mà họ đang cố che giấu tôi. Tôi cảm nhận được bóng đen của một biến cố khủng khiếp đang lừ lừ tiến lại gần mái nhà tranh xơ xác này. Nó ẩn nấp sau những cơn ho giấu giếm của mẹ, sau những vệt máu vội vã giấu dưới gối, sau những cái thở dài thườn thượt của cha Hòa mỗi đêm khi ông tưởng tôi đã ngủ say. Người lớn nghĩ tôi còn quá nhỏ để hiểu, nhưng họ không biết rằng nỗi sợ hãi của một đứa trẻ trước những điều không được gọi tên còn lớn hơn gấp vạn lần nỗi sợ hãi trước một mối nguy hiện hữu.

Tôi chỉ biết bấu víu vào một điểm tựa duy nhất mà mẹ đã trao cho tôi: lời hứa mùa hoa.

Những buổi chiều mẹ nằm mệt li bì trong nhà, tôi thường lẳng lặng trèo ra ngồi một mình bên bờ đá hộc, dưới gốc cây ban già. Tôi ngồi hàng giờ, giương đôi mắt thơ dại nhìn chằm chằm vào những bọc nụ nhỏ xíu xám tro trên cành cây khẳng khiu. Tôi đếm từng nụ ban một, tự hỏi không biết lớp vỏ nhung mịn màng kia chừng nào mới chịu nứt ra. Tôi cầu mong cho mùa đông trôi qua thật nhanh, cầu cho những đợt sương muối độc địa kia ngừng rơi xuống thung lũng, để những cánh hoa trắng muốt kia bung nở trên cành.

Vì mẹ đã hứa rồi. Mẹ bảo khi hoa nở, trời sẽ ấm lên, và mẹ sẽ khỏe lại. Một đứa trẻ năm tuổi không có cách nào khác ngoài việc đặt cược toàn bộ niềm tin và sự sống của người mẹ vào những nụ hoa đang run rẩy trong giá rét.

Trời nhá nhem tối, sương buông dày quánh như một tấm chăn ướt trùm lấy Bản Nà Ban. Từ phía con dốc đất đỏ trơn trượt dẫn lên nương, tiếng bước chân nặng nhọc của cha Hòa dội vào vách đá. Đôi ủng cao su mòn vẹt quẹt trên sỏi lạo xạo, xen lẫn tiếng thở dốc kéo dài.

Cha bước qua ngưỡng cửa, chiếc gùi tre trên lưng trĩu nặng đặt đánh uỵch xuống sàn nứa. Toàn thân ông ướt đẫm hơi sương và mồ hôi chua nồng. Mảnh áo chàm khoác ngoài rách toạc một đường bên vai, bám đầy bùn đỏ cùng mùn cưa cọ xát từ những thân gỗ nghiến mà ông vừa bửa thuê cho người ta ở bản dưới. Cha đưa mu bàn tay chai sần quệt ngang trán, không buồn lau vệt bùn khô dính trên má, vội vã đưa mắt nhìn về phía chiếc sập nơi mẹ Mai đang nằm.

"Mẹ nó đỡ chưa?" cha hỏi cụt lủn, giọng khàn đặc vì khói thuốc và gió lạnh.

Mẹ khẽ cựa mình, cố nén một cơn ho vừa chực trào lên cổ họng, thì thào đáp:

"Đỡ nhiều rồi... Nhà nó đi cả ngày mệt, vào bếp sưởi lửa đi đã."

Cha không đáp lời, lẳng lặng dỡ từng món đồ trong gùi ra góc chạn gỗ mục. Đồ ăn mang về chẳng có gì ngoài một ống nứa đựng ít gạo nếp nương cha được người ta trả công dôi ra, ba củ mài vần than vội vàng còn dính tro đen, và một nắm rau dớn rừng ngắt vội bên bờ suối. Nhưng dưới đáy gùi, được bọc cẩn thận qua ba lớp lá dong tươi để tránh nước mưa thấm vào, là một gói thuốc bắc đen quánh bốc mùi ngai ngái, nồng nặc vị rễ cây rừng.

Tôi len lén đứng nép bên cột nhà, ngửi thấy mùi thuốc đắng nghét quen thuộc mà lòng thắt lại. Cha cúi xuống, bàn tay gân guốc thô ráp vỗ nhẹ lên đỉnh đầu tôi một cái thật nhanh. Đó là tất cả sự âu yếm mà một người đàn ông cả đời chỉ quen cầm rìu đốn gỗ có thể trao cho đứa con trai năm tuổi.

"Lại thổi bếp giúp cha," cha bảo.

Tôi ngoan ngoãn ngồi thụp xuống bên bếp lửa gian giữa, cầm chiếc ống nứa nhỏ ra sức thổi vào đống than hồng đang lụi dần dưới lớp tro xám. Ngọn lửa bùng lên le lói, hắt ánh đỏ chập chờn lên khuôn mặt gầy guộc, hốc hác của cha. Suốt cả buổi tối hôm ấy, cha Hòa gần như không nói một lời thừa thãi. Ông lặng lẽ vo chỗ gạo nếp ít ỏi, bắc một nồi cháo hoa loãng khói bốc nghi ngút, rồi lấy chiếc ấm đất nứt quai ra sắc thuốc cho mẹ. Tiếng lửa reo lách tách, tiếng nước thuốc sôi ùng ục cùng mùi ngải cứu, phục linh đắng ngắt len lỏi qua từng kẽ vách, đặc quánh cả gian nhà chật hẹp.

Khi bát cháo chín nhừ, cha múc ra một chiếc bát sứt mép, thổi từng thìa nguội bớt rồi bưng lại tận mép sập nứa, đỡ lưng mẹ dậy. Bàn tay thợ mộc vụng về giữ chặt chiếc thìa nhôm méo mó, kiên nhẫn bón từng ngụm cháo cho người đàn bà chỉ nuốt nổi vài ba muỗng là lại lắc đầu kiệt sức.

Đêm ấy, sau khi dỗ tôi nằm xuống manh chiếu rách ở góc buồng, hai người lớn ngồi lại bên bếp lửa tàn. Cơn gió luồn qua khe liếp thổi tạt ngọn đèn dầu lay lắt, hắt bóng hai người lên vách nứa như hai vệt mực đen loang lổ.

Tôi cuộn tròn trong chiếc chăn chiên sợi thô, vờ nhắm nghiền mắt nhưng hai tai căng ra lắng nghe từng tiếng động nhỏ nhất. Trong bóng tối của căn nhà vùng cao, đứa trẻ năm tuổi bắt đầu gom nhặt những mảnh vỡ từ câu chuyện của người lớn.

Tiếng điếu cày rít lên sòng sọc, đốm lửa thuốc lào lóe đỏ trên gương mặt nhăn nheo của cha Hòa rồi tắt lịm. Cha hạ chiếc điếu xuống sàn, giọng chùng xuống như tiếng đá lăn dưới đáy vực:

"Hôm nay... tao ghé qua nhà anh Lương."

Tấm vách nứa im bặt. Mẹ Mai khẽ thở dài, hơi thở mỏng manh như sương sớm:

"Anh ấy lại nhắc món tiền đợt trước à?"

"Ừ," cha đáp, hai tay đan vào nhau bóp chặt đến mức các khớp ngón tay kêu răng rắc. "Anh ấy bảo mùa vụ này giáp hạt, nhà anh ấy cũng túng, lại sắp vào đợt đóng tiền cày cấy. Tao bảo anh ấy thư thả cho ít bữa, để tao nhận nốt việc cưa xẻ đống gỗ bên dốc Ban Nà rồi xoay xở trả sau. Nợ người ta thì phải trả, nhưng thuốc thang của mày không thể đứt quãng được."

Mẹ im lặng một lúc lâu. Tiếng củi nổ lách tách trong bếp than tàn nghe rõ mồn một. Tôi nằm nín thở, mơ hồ nhận ra một gánh nặng vô hình đang đè nghiến lên đôi vai gầy của cha tôi. Tôi chưa hiểu hết giá trị của những đồng tiền lẻ mà cha chắt bóp từng ngày, nhưng tôi hiểu sự cúi đầu của cha trước mặt người khác nhục nhã đến nhường nào.

"Tôi biết nhà nó khổ vì tôi..." Giọng mẹ nghẹn lại, run rẩy theo một cơn tức ngực ngấm ngầm. "Nhưng tôi chẳng trách nhà nó đâu. Đời người làm nương, kiếm được hạt ngô hạt lúa qua ngày đã trầy vi tróc vảy. Chỉ là... tôi nằm đây, nhìn thằng Nam mà ruột gan cứ thắt lại."

"Nó còn bé quá," cha Hòa lẩm bắp, với tay lấy que củi khều đống tro.

"Nó bé, nhưng nó khôn lanh lắm," mẹ Mai thầm thì, giọng chực òa khóc. "Hôm nay tôi dạy nó nhận mặt chữ. Nó nhớ nhanh lắm nhà nó ạ. Tôi chỉ sợ... tôi sợ mai này mình nghèo túng quá, nợ nần đè nặng, thằng Nam lại chẳng có nổi một cuốn sách tử tế mà học. Trẻ con trên bản này không có chữ thì muôn đời chỉ bám đuôi con trâu, cắm mặt xuống đá tai mèo mà sống thôi. Nhà nó có cày cuốc thế nào, cũng phải để dành cho con vài đồng mua sách..."

Cha không đáp lời mẹ. Bóng cha in trên vách nứa bất động như một bức tượng tạc từ gỗ nghiến. Chỉ có tiếng thở dài nặng nề trút ra từ lồng ngực vạm vỡ nhưng bất lực ấy là rơi tõm vào khoảng đêm đen kịt.

Những lời thì thầm đứt quãng của cha mẹ ám ảnh tâm trí tôi suốt cả đêm buốt giá. Sáng hôm sau, khi cha Hòa lại vác chiếc rìu cưa lầm lũi rời nhà từ lúc trời còn chưa tỏ mặt người, tôi rón rén bước lại gần mép sập.

Mẹ Mai đã tỉnh. Mẹ nằm nghiêng người nhìn ra ô cửa sổ nhỏ, nơi sương mù bảng lảng đang tràn vào phòng. Gương mặt mẹ xám ngoét, hai hốc mắt trũng sâu, đôi môi khô nứt toác rớm máu vì những cơn sốt đêm qua chưa kịp hạ.

Tôi níu lấy ngón tay khẳng khiu của mẹ, giọng run run chứa chan nỗi sợ hãi không giấu nổi:

"Mẹ ơi... mẹ có khỏi bệnh được không? Mẹ có chết như con trâu nhà bác Lương không mẹ?"

Mẹ quay đầu lại, đôi mắt đùng đục thoáng chút thảng thốt khi nghe câu hỏi ngây ngô nhưng nhói buốt của tôi. Mẹ vươn bàn tay run rẩy, kéo tôi sát vào lòng mẹ. Hơi thở mẹ phả vào má tôi nghe rít lên nhọc nhằn, nhưng vòng tay mẹ ôm tôi vẫn vẹn nguyên sự chở che bền bỉ nhất trần đời.

"Con dại quá, sao lại nói gở thế," mẹ mỉm cười, một nụ cười yếu ớt nhưng ấm áp lạ kỳ. "Mẹ đã bảo với Nam rồi mà. Mẹ không sao đâu, mẹ chỉ mệt vì cái rét này thôi."

"Thế bao giờ mẹ mới hết mệt?" Tôi vùi đầu vào ngực mẹ, hít hà mùi khói bếp quyện với mùi lá thuốc đắng ngắt bám trên áo chàm của bà.

"Khi nào hoa ban nở," mẹ dịu dàng vuốt ve mái tóc rối bù của tôi, từng ngón tay gầy guộc lần qua từng sợi tóc một cách nâng niu. "Chỉ cần mùa ban nở trắng sườn núi, trời hết sương muối, nắng ấm tràn về thung lũng là ngực mẹ hết đau ngay. Lúc ấy mẹ sẽ khỏe lại, mẹ lại dắt Nam lên nương mót sắn, lại dạy Nam viết thêm nhiều chữ mới nữa. Mẹ hứa đấy."

Lời hứa ấy rơi vào lòng tôi như một hạt mầm xanh tươi rớt xuống mảnh đất khô cằn. Một đứa trẻ năm tuổi cần gì hơn một lời hẹn ước giản đơn như thế? Tôi tin mẹ tuyệt đối. Lời hứa của mẹ biến thành điểm tựa vững chãi nhất, thành ngọn đèn le lói xua tan đi tất cả bóng đen sợ hãi về cái đói, về những món nợ đè nặng vai cha và những vệt máu giấu vội dưới gối nằm.

Kể từ ngày hôm đó, tôi đếm từng ngày trôi qua bằng cách ngước nhìn lên bầu trời.

Những ngày cuối năm chìm trong một màu xám đục nặng nề của mây mù đè thấp sát đỉnh đồi. Tôi quanh quẩn ngoài hiên, chốc chốc lại chạy ra mép bờ kè đá hộc, nghển cổ nhìn lên cành cây ban già trơ trụi. Mỗi buổi sáng thức dậy, khi những vệt sương muối trắng nhờ còn đọng dày trên những viên đá tai mèo sắc nhọn quanh bờ sân, việc đầu tiên tôi làm không phải là chạy vào bếp tìm củ sắn lùi tro, mà là bước ra mép ta luy xem những nụ ban đã lớn thêm được chừng nào.

Lớp lông tơ mịn như nhung bọc ngoài từng chiếc nụ xám tro dường như dày hơn sau mỗi đêm buốt giá, như thể chúng đang dốc hết sức mình để chống chọi lại cái lạnh thấu xương của núi rừng. Tôi đưa ngón tay trỏ nhỏ xíu, khẽ chạm vào lớp vỏ nhung mềm mại ấy. Nụ hoa lạnh ngắt, cứng cỏi và im lìm. Tôi thì thầm với nụ hoa như thì thầm với một người bạn giấu mặt, nài nỉ nó mau chóng thức giấc, giục nó mau bung nở để mẹ tôi không phải oằn mình ho từng cơn mỗi khi gió thốc qua vách nứa.

Tháng Giêng rồi cũng lầm lũi trôi qua, mang theo những ngày giá rét căm căm cuối cùng của mùa đông khắc nghiệt. Những đợt mưa phùn lây rây bắt đầu rây hạt trên những mái nhà tranh xơ xác ở Bản Nà Ban, mang theo hơi thở ẩm ướt, ngai ngái của đất nương và chồi non mùa xuân non nớt.

Gió bớt phần rát bỏng da thịt, không còn gầm rú từng hồi qua khe núi Pha Luông như trước nữa, mà trở nên mềm mại, ẩm ướt, quấn quýt lấy những triền đồi ngập tràn hơi sương. Trên khắp các triền đá tai mèo bao quanh thung lũng, sự sống âm thầm cựa mình sau những tháng ngày dài đằng đẵng vùi mình trong băng giá. Những cành cây khẳng khiu, tưởng chừng đã hóa thành củi khô mục ruỗng suốt mùa đông, bắt đầu nhú ra những chấm xanh non li ti như những giọt ngọc bích tí hon. Đất ẩm dưới chân mềm ra, mùi lá mục ngai ngái bốc lên nồng nàn sau những cơn mưa đầu mùa.

Và rồi, điều kỳ diệu của núi rừng Tây Bắc cũng đến.

Vào một buổi sớm tinh sương, khi màn sương mù mỏng manh bắt đầu tách ra khỏi những hốc đá xám, trên những triền núi xa xăm chênh vênh giữa mây trời, từng vệt trắng đầu tiên bắt đầu xuất hiện. Hoa ban bắt đầu nở. Thoạt đầu chỉ là vài đốm trắng ngần lẻ loi chấm phá giữa nền xanh thẫm của đại ngàn, rồi như một đám cháy lan nhanh trong gió xuân, sắc trắng ấy bùng lên khắp các thung lũng, nhuộm trắng xóa các vách đá cheo leo, phủ một tấm voan mỏng manh tinh khiết lên khắp núi rừng Bản Nà Ban.

Cánh hoa ban rừng trắng muốt pha chút phớt hồng dịu dàng nơi cuống hoa, mỏng manh như cánh bướm chao lượn giữa bầu trời xanh lơ. Ngay trên cây ban già ngoài mép sân nhà tôi, những bọc nụ xám tro cũng đã đồng loạt bung nở từng lớp vỏ bọc bằng nhung. Chúng bung ra những cánh hoa trắng ngần, tinh khiết, rạng ngời và kiêu hãnh đối lập hoàn toàn với vẻ ảm đạm, tiều tụy của căn nhà gỗ xiêu vẹo sau lưng. Từng cánh hoa hứng trọn những giọt sương mai long lanh, rung rinh trong làn gió sớm nhẹ nhàng thoảng qua mép vực.

Mùa hoa ban đang đến thật rồi.

Mùa hoa mà tôi hằng mong mỏi, cồn cào ngóng đợi từng khắc từng giờ suốt những tháng ngày ngồi thu lu bên ngưỡng cửa lạnh buốt, đã thực sự gõ cửa thung lũng này. Tôi đứng ngây người giữa khoảng sân đất nện, hít căng lồng ngực mùi hương hoa ban thanh khiết pha lẫn mùi đất ẩm nồng nàn của buổi ban mai. Trái tim thơ dại của đứa trẻ năm tuổi đập rộn ràng trong lồng ngực gầy guộc. Tôi muốn hét thật to, muốn chạy vụt vào nhà kéo tay mẹ ra ngoài mép đá, muốn chỉ cho mẹ thấy cây ban già đã giữ đúng lời hẹn ước, để mẹ có thể cười thật tươi và đứng thẳng dậy như mẹ đã từng hứa.

Thế nhưng, một nghịch lý tàn nhẫn và cay đắng bắt đầu phơi bày trước mắt tôi, xé toạc mọi niềm tin ngây thơ mà tôi đã gom góp bấy lâu.

Cánh ban trên sườn núi càng trắng, hoa trên cây ban trước sân càng bung nở rực rỡ và lộng lẫy bao nhiêu, thì bệnh tình của mẹ tôi lại càng trở nên nguy kịch và tăm tối bấy nhiêu.

Trời đã ấm lên thật, sương muối độc địa đã tan biến vào lòng đất, nắng xuân bắt đầu rọi xuống thung lũng từng vạt vàng ươm dịu ngọt, nhưng lồng ngực mẹ không hề bớt đau buốt như lời mẹ hứa. Mẹ không thể gượng dậy được nữa. Những cơn ho xé ruột xé gan kéo đến dồn dập hơn, dữ dội hơn, biến thành những đợt co giật kinh hoàng vắt kiệt chút sinh lực cuối cùng bên trong cơ thể tàn tạ. Tiếng ho của mẹ khản đặc, nghẹn ứ nơi cổ họng, rít lên từng tràng dài như tiếng gió bão gầm rú qua khe đá hẹp.

Mẹ không còn ngồi dậy nổi để với tay lấy chiếc hộp sắt gỉ trên bậu cửa sổ, không còn cầm nổi mẩu than củi đen nhẻm để nắn nót viết cho tôi từng chữ cái tròn trịa lên mảnh giấy xi măng thô ráp nữa. Chiếc hộp bánh quy gỉ sét nằm im lìm trên bậu gỗ phủ đầy bụi mờ, mẩu than củi lạnh ngắt lăn lóc bên mép chõng tre như một tàn tích của những ngày tháng bình yên ngắn ngủi đã vĩnh viễn trôi xa.

Cả ngày lẫn đêm, mẹ chỉ nằm thiếp đi trên manh chiếu rách nát, mê man trong những cơn sốt hầm hập. Da thịt mẹ nóng như hòn than đang đỏ rực dưới lớp tro bếp, nhưng hai bàn tay và hai bàn chân lại lạnh ngắt như đá suối mùa đông. Chốc chốc, một cơn co giật lại đánh thức mẹ dậy giữa cơn mê sảng. Mẹ giật nảy mình, gập đôi người lại ho rũ rượi, hai bàn tay gầy guộc chỉ còn da bọc xương bấu chặt lấy mép chiếu cói đến mức các đầu ngón tay bật máu. Và rồi, những ngụm máu tươi đỏ thẫm đặc quánh ộc ra từ khóe miệng tím tái, trào qua kẽ răng, nhuộm ướt đẫm cả chiếc khăn xô xám bạc phếch mà mẹ vẫn thường giấu dưới gối.

Máu thấm qua lớp vải xô, rỉ xuống manh chiếu rách, nhỏ từng giọt xuống sàn nứa bên dưới. Mùi tanh nồng của máu tươi quyện với mùi thuốc bắc đắng nghét và mùi ẩm mốc của góc nhà tăm tối tạo thành một thứ tử khí ngột ngạt, đè nặng lên từng nhịp thở của căn nhà tranh xiêu vẹo.

Cha tôi không còn đi làm thuê được nữa. Chiếc cưa tay và cây rìu đốn củi sắc lẹm của ông bị vứt chỏng chơ nơi góc bếp, bám đầy mạng nhện và bụi xám. Cha bỏ cả việc nương rẫy, bỏ mặc những hốc ngô đang chờ người tra hạt trên sườn dốc trơn trượt. Suốt những ngày ấy, cha túc trực ngày đêm bên mép sập nứa, đôi mắt trũng sâu đỏ hoe vì mất ngủ triền miên và nỗi tuyệt vọng cùng cực đang gặm nhấm tâm can.

Người đàn ông vạm vỡ từng một mình gánh cả súc gỗ nghiến nặng hàng tạ vượt qua ba con dốc đứng giờ đây trông như một cái bóng rũ rượi. Cha ngồi bất động bên cạnh mẹ, bàn tay to bè nứt nẻ vụng về nắm lấy bàn tay khẳng khiu của vợ, chốc chốc lại đưa mu bàn tay quệt ngang khóe mắt sâu hoắm ngấn nước. Căn nhà gỗ lúc nào cũng sực nức mùi lá ngải cứu, mùi phục linh sắc đặc quánh bốc lên từ chiếc ấm đất nứt quai, nhưng dường như tất cả mọi thứ rễ cây rừng đắng chát ấy đều đã hoàn toàn bất lực trước lưỡi hái vô hình đang lơ lửng trên đầu mẹ.

Tôi đứng chôn chân bên bậu cửa sàn nứa, hai bàn tay nhỏ thó bám chặt vào then gỗ mòn vẹt. Tôi nhìn ra ngoài sân, nơi những cánh hoa ban trắng muốt tinh khiết đang kiêu hãnh rung rinh trong làn gió xuân ấm áp, rực rỡ và lộng lẫy dưới ánh mặt trời rạng rỡ của núi rừng. Rồi tôi lại ngoảnh đầu nhìn vào gian buồng tăm tối, nơi mẹ tôi đang kiệt quệ từng hơi thở ngắn ngủi trên chiếc sập nứa mục nát, nơi bóng tối dường như đang từ từ nuốt chửng lấy thân hình gầy guộc của người đàn bà đã sinh ra tôi.

Một nỗi sợ hãi lạnh ngắt, khổng lồ và không thể gọi tên bắt đầu trườn bò vào tâm can non nớt của đứa trẻ năm tuổi. Điểm tựa ngây thơ duy nhất mà tôi đã bấu víu suốt cả mùa đông buốt giá bỗng nhiên rạn nứt thành từng mảnh vụn vỡ. Sự thật tàn khốc của cuộc đời giáng một đòn chí mạng vào niềm tin thơ dại của tôi.

Tôi bắt đầu sợ nhìn thấy những cánh hoa trắng ấy. Mỗi một nụ ban bung nở ngoài kia không hề mang lại sự sống hay xua tan đi cơn đau buốt cho mẹ như lời bà đã từng hứa. Ngược lại, từng cánh hoa trắng muốt bung ra trong nắng xuân dường như đang gián tiếp giật đứt từng sợi tơ sinh mệnh mong manh còn sót lại trong buồng phổi tàn tạ của mẹ. Màu hoa trắng tinh khôi mà tôi từng mong mỏi bấy lâu bỗng chốc biến thành một thứ sắc màu tang tóc, lạnh lẽo và tàn nhẫn đến thấu xương.

Mùa hoa ban rực rỡ nhất của đất trời Tây Bắc đã thực sự về đến đầu hiên nhà, nở trắng khắp các thung lũng đá tai mèo của Bản Nà Ban, nhưng mẹ tôi – người đàn bà đã thề thốt sẽ đứng dậy khi hoa bung nở – lại đang trôi dần về phía bên kia của sự sống, bỏ lại tôi bơ vơ giữa thung lũng đá ngập tràn sắc trắng tang thương.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn