Hoa Ban Không TànC.7 / 38
Chương 7

Những trang giấy giấu kín

Quyển vở mỏng đến mức tôi có thể giấu gọn nó trong ngực áo, áp sát vào làn da xương xẩu bên dưới tấm áo chàm rách mép, nhưng mỗi lần lén lút lật mở từng trang ra, tôi lại ngỡ như mình đang run rẩy ôm giữ cả một nếp nhà cũ trong hai bàn tay năm tuổi gầy gò.

Đó là một tập vở học trò loại bốn mươi tám trang đã ố vàng theo năm tháng, giấy đã đục màu và ngả sang sắc vàng xỉn của bã mía phơi qua nhiều độ nắng mưa. Mép ngoài của từng tờ giấy xơ tưa, sờ vào ram ráp như những sợi xơ mướp khô sót lại nơi giàn bếp sau trận lũ quét đầu nguồn. Mặt bìa bên ngoài được người ta tận dụng từ một mảnh bao giấy xi măng thô nháp, loại giấy dai màu xám tro nhặt về từ những công trình dở dang trên phố huyện, được bàn tay người lớn khéo léo bọc lại, rồi dùng sợi chỉ dù màu đen vuốt qua muội bồ hóng để khâu ghém thủ công từng mũi một. Những mũi kim luồn qua gáy thô dày nhưng vô cùng ngay ngắn, nút thắt giấu kín mít ở góc mép dưới đáy, hệt như cái cách một người đàn bà nết na, cẩn trọng vùng xuôi từng cố gắng thu vén cả cuộc đời nghèo khó của mình lại, tuyệt đối không muốn bất cứ thứ gì bị bung tróc hay rách nát trước phong ba của số phận.

Tôi ngồi thu lu trên mép chiếc chõng tre ọp ẹp kê sát vách đá taluy ẩm ướt ở gian chái phụ. Cứ mỗi bận gió núi từ thung lũng Nà Ban thốc qua khe nứa, tôi lại vội vã co hai đầu gối kéo sát vào lồng ngực, dùng chính hơi ấm còm cõi của cơ thể để ngăn lại những cơn run bần bật chạy dọc sống lưng. Dưới dải sáng trắng đục lờ mờ lọt qua những kẽ hở chắp vá từ khoảng trời đêm lạnh ngắt của đỉnh Pha Luông, tôi nâng niu lật giở từng tờ giấy mỏng. Tôi nín thở, thậm chí không dám thở mạnh bằng mũi, bởi sâu trong tâm khảm ngây thơ của một đứa trẻ, tôi luôn sợ làn hơi nóng ẩm phả ra từ cuống họng non nớt của mình sẽ vô tình làm mủn rách lớp giấy vốn đã chịu quá nhiều đợt sương muối và hơi ẩm ngấm qua bao mùa đông khắc nghiệt nơi xó núi này.

Nửa đầu quyển vở chật kín những dòng chữ ngay ngắn viết bằng thứ mực tím học trò đã phai màu. Những con chữ uốn lượn, mềm mại ở nét thanh và dứt khoát ở nét đậm, nghiêng một góc chuẩn mực như được nắn nót dưới thước kẻ. Đó là nét chữ của mẹ Mai.

Thời con gái còn ở trường làng dưới vùng đồng bằng trù phú bên kia sông Đáy, mẹ từng là đứa con gái viết chữ đẹp nức tiếng cả một vùng tổng. Mẹ thuộc làu làu từng bài ca dao, từng câu đồng dao về bờ xôi ruộng mật, về những luống khoai rẫy đỗ, trước khi cuộc đời xô dạt gia đình ông bà ngoại lên vùng đất kinh tế mới hoang vu, mù mịt mây trời mang tên Nà Ban này. Dù cho sau này sương gió rẻo cao làm da mẹ sạm đen, dù đôi bàn tay thon thả của người con gái vùng xuôi phải chai sạn, nứt toác từng kẽ máu vì những buổi sớm nhổ cỏ gianh trên triền đồi dốc đứng hay những trưa hè vần từng khúc gỗ dẻ gai nặng trịch, thì mỗi khi mẹ cầm que củi vạch xuống nền đất hay nắn nót viết trên trang giấy, nét chữ của mẹ vẫn phẳng phiu, thẳng tắp như những luống ngô non mới vun sau cơn mưa rào.

Màu mực tím qua hơn chục năm trời ẩm mốc đã ngả dần sang màu cánh gián pha ánh nâu sẫm của vỏ hạt dẻ rừng. Thế nhưng, ở từng con chữ *O*, từng con chữ *Ô*, từng chiếc móc câu uốn cong mềm mại hay những nét khuyết trên vươn dài đầy kiêu hãnh, tôi đều nhìn thấy trọn vẹn hình bóng mẹ tôi ở đó: nhẫn nại đến nghẹn ngào, dịu dàng khôn xiết và chan chứa một lòng kiêu hãnh câm lặng giữa muôn vàn cơ cực.

Đầu ngón tay nứt nẻ, thâm sì vì nhựa cây và giá rét của tôi run run chạm nhẹ lên mép giấy. Một mùi hương cũ kỹ lập tức bốc lên, ngai ngái mà thân thương đến nhói lòng. Đó là thứ mùi tổng hòa của bột giấy ẩm lâu ngày bị nhốt kín trong bóng tối, mùi mùn cưa mục rữa của gian chái xẻ gỗ hòa quyện với thứ hương hoa ban khô thanh khiết, trầm mặc mà mẹ đã cẩn thận ép phẳng vào trang bìa lót từ mùa xuân năm trước — mùa xuân cuối cùng mẹ còn thở chung bầu không khí với tôi trên cõi đời này.

Ký ức về một buổi chiều mùa đông hiu hắt bỗng chốc dội về, cuồn cuộn tràn ngập trong buồng phổi tôi như một làn khói lam chiều quánh đặc.

Hôm ấy, bên bờ ta luy sau chái hiên của ngôi nhà gỗ cũ, mẹ Mai ngồi tựa lưng vào vách nứa, chiếc áo chàm đã sờn rách hai bên vai để lộ những mảng vá bằng chỉ thô. Người mẹ gầy rộc đi, chỉ còn là một nắm xương bọc da, từng cơn ho khan rút ruột rút gan thỉnh thoảng lại bẻ gập thân hình mỏng manh của mẹ xuống sát đất. Gió bấc từ hẻm núi Pha Luông thổi thốc qua lòng thung lũng, rít từng hồi dài qua rặng nứa già trơ trụi. Giữa cơn lạnh buốt thấu xương tủy ấy, mẹ run rẩy dắt tôi lại gần phiến đá phẳng nằm dưới gốc ban cằn cỗi.

Mẹ khom lưng nhặt một mẩu than củi sót lại từ đống tro bếp nguội ngắt ban sáng, rồi bằng tất cả sự kiên nhẫn còn sót lại trong hơi thở dốc dác, mẹ cẩn thận vạch lên mặt đá phẳng lì những nét vòng tròn đầu tiên.

— Chữ O tròn như quả trứng gà, con nhìn xem này Nam… — Giọng mẹ khàn đặc, lẫn vào tiếng gió xào xạc của rừng tre bên sườn dốc. — Rồi thêm một cái mũ ngược be bé lên đầu, nó sẽ thành chữ Ô… Nam của mẹ phải nhìn cho kỹ, phải nhớ cho sâu vào ruột gan mình. Người vùng cao mình chịu khổ cực quen rồi con ạ. Cái bụng có đói thì nhịn một bữa sắn lùi, uống một ngụm nước suối trong rồi cũng qua được cơn thắt ruột. Nhưng cái đầu mà không có con chữ soi đường thì cả đời con sẽ chỉ như con trâu mộng ngoài chuồng, quanh năm suốt tháng cắm mặt xuống vũng bùn lầy thụt mà kéo cày cho người ta thôi con ạ… Dẫu sau này có nghèo đói đến đâu, có khốn cùng rách rưới thế nào, con cũng tuyệt đối không được để nghèo cái chữ, nghe con…

Mẹ vừa dứt câu thì một cơn ho dữ dội lại ập đến, dữ dội đến mức ngực áo chàm của mẹ phập phồng đau đớn, bàn tay mẹ ôm chặt lấy xương sườn, mặt mẹ tím tái đi vì ngạt khí. Nhưng khi cơn ho vừa dứt, mẹ ngẩng đầu lên nhìn tôi, đôi mắt trũng sâu vì bệnh tật của mẹ lại bừng sáng lên một thứ ánh sáng lạ lùng, lấp lánh và kiên định như ngọn đèn bấc le lói giữa đêm sương mờ mịt.

Bây giờ, mẹ đã nằm yên dưới nấm mồ đất đỏ ẩm ướt bên sườn đồi đầy cỏ gianh gió thổi. Rồi chỉ ít lâu sau, cha tôi — người đàn ông vạm vỡ như cây nghiến rừng — cũng bị những ngày đêm xẻ gỗ nghiến trên dốc đá vắt kiệt chút tàn lực cuối cùng, ho ra từng ngụm máu rồi trút hơi thở cuối cùng trên chiếc giường lạnh cóng trong căn nhà rách nát. Cha mẹ đi rồi, bỏ lại tôi trơ trọi một mình giữa cõi đời rộng lớn mà chật chội, như một cánh chim non rớt xuống lòng vực thẳm.

Tôi bị đưa về gian chái phụ tối tăm, lạnh lẽo này của nhà bác Lương, sống kiếp ăn nhờ ở đậu, hằng đêm ngồi đối diện với bốn trang giấy trắng tinh khôi còn sót lại ở phần cuối quyển vở của mẹ. Bốn trang giấy kẻ ô ly màu xanh nhạt chưa từng có một vết mực nào chạm tới, phẳng phiu, sạch sẽ và thanh khiết như một cõi trú ngụ thiêng liêng mà sự đày đọa, hắt hủi của số phận cay đắng chưa thể vấy bẩn vào.

Tôi đưa ngón tay miết nhẹ lên những đường kẻ ô ly mờ nhạt ấy, cảm nhận từng thớ giấy ráp cọ xát vào da thịt. Một cảm giác run rẩy quen thuộc lại chạy dọc sống lưng tôi. Tôi hiểu, bốn trang giấy trắng này không đơn thuần là một cuốn sổ cũ của người đã khuất. Nó là một món nợ danh dự của kiếp người, là lời trăn trối bằng máu và nước mắt mà mẹ cha đã đánh đổi cả sinh mạng tàn tạ để gieo vào tâm khảm tôi trước khi nhắm mắt xuôi tay trút hơi thở cuối cùng.

***

Nhưng ở dưới mái nhà gỗ lợp tấm fibro xi măng nặng trịch này, chữ nghĩa lại là thứ tội lỗi xa xỉ và đắt đỏ nhất.

Bác Lương và bác dâu Sương nhận tôi về nuôi không phải để biến tôi thành một đứa học trò cắp sách tới trường. Bác Lương nhận tôi về trước hết là vì cái danh dự mặt mũi của người đứng đầu nhánh họ Nguyễn dưới chân Pha Luông, sợ bà con trong bản Nà Ban dị nghị rằng người cùng dòng máu mà để cháu mình chết đói bờ chết rét bụi. Nhưng lý do sâu kín hơn, là bởi mảnh nương ngô rộng trên đồi Ban Nà mà cha tôi khai hoang vỡ đất thuở trước, cùng với cây gỗ xẻ tích cóp làm nhà dở dang, vừa vặn đủ để cấn trừ vào những khoản nợ tiền thuốc men thang chén lúc mẹ ốm liệt giường, nợ tiền ván áo quan mà cha tôi chưa kịp trả xong đã vội lìa đời.

Để đổi lấy chỗ nằm ẩm thấp trên chiếc chõng tre ọp ẹp kê tạm bằng ba hòn đá hộc gồ ghề, cùng với những bát cơm mèn mén ngô xay độn sắn sượng đắng ngắt nuốt không trôi cổ họng, tôi phải trả giá bằng từng giọt mồ hôi, từng đường gân non nớt của một đứa trẻ vừa tròn năm tuổi.

Một ngày sống của tôi bao giờ cũng bắt đầu từ khi sương mù còn đặc quánh như cháo loãng, trườn qua những bờ rào nứa bao trùm cả thung lũng. Khi bầu trời phía đỉnh núi đá còn đen kịt như lòng chảo, tiếng đập cửa huỳnh huỵch như muốn phá tung cánh liếp nứa của bác Lương đã giáng xuống, cắt đứt cơn ngái ngủ chập chờn của tôi:

— Thằng Nam! Dậy ngay! Mày chết trương mắt ra đấy à? Dắt trâu ra bờ suối cho nó gặm cỏ mau, rồi về mà gánh nước cho đầy chum! Mặt trời ráo sương là trên nương phải xong hai gùi củi khô đấy, đừng có nằm ườn ra như cục thịt thối ăn bám nhà tao!

Tôi giật bắn mình, cuống cuồng vùng dậy trong bóng tối lạnh buốt. Hai mắt tôi cay xè vì hơi đất ẩm và khói bếp từ tối hôm qua còn tích tụ lại dưới xà nhà. Không kịp xỏ đôi dép tổ ong rách mũi, tôi lập tức lao ra ngoài trời rét căm căm, chạy xuống chuồng trâu dắt con trâu mộng to lừng lững như một khối đá đen trũi ra bãi cỏ ven suối Nà Ban. Bàn tay nhỏ thó của tôi phải nắm chặt lấy sợi dây thừng xỏ mũi trâu ráp bỏng, vừa đi vừa run rẩy gồng mình kiềm giữ, mắt không dám rời bờ ruộng vì chỉ sợ con trâu háu ăn lấn sang đám ngô non mới nhú của nhà lão Thào bên xóm Mo. Nếu để nó dẫm nát một góc ngô non, lão Thào sẽ vác gậy sang tận nhà bác Lương chửi rủa, và khi ấy trận đòn roi mây quất ngang lưng sẽ xé toạc da thịt tôi ra từng mảng.

Chăn trâu xong, trời vừa hửng sáng mờ đục, tôi lại phải còng lưng đeo đôi thùng gỗ xuống mó nước sâu dưới chân đồi. Từng gánh nước nặng trĩu oằn cong chiếc đòn gánh tre già, mỗi bước chân leo dốc là một lần đòn gánh cọ xát, nghiến ngấu qua lớp áo chàm mỏng dính, làm bật máu và để lại những vệt tím bầm chai cứng trên đôi vai non nớt. Tôi phải đổ cho đầy hai cái chum da lươn khổng lồ đặt ở góc sân trước khi bác dâu thức dậy.

Rồi sau đó là hàng núi việc không tên cứ trút xuống như đất lở: nhổ cỏ ranh bén rễ sâu trên triền nương dốc đứng, dùng cào sắt dọn từng đống phân trâu nhão nhoét dưới gầm sàn, bê từng thau quần áo bết bùn đất của cả nhà ra bờ suối vò bằng tro bếp… Cả một ngày dài trôi qua như một cái cối xay đá khổng lồ, nghiền nát từng thớ thịt, vắt kiệt chút sức tàn của một đứa trẻ mồ côi.

Sau sự cố bó củi vướng vào cột hiên khiến tôi sơ ý làm đổ thúng ngô giống răng ngựa quý giá xuống vũng bùn trước sân chiều hôm qua, cái nhìn của bác dâu Sương đối với tôi lại càng thêm phần cay độc. Bác không đánh tôi một roi nào trước mặt chồng, nhưng mỗi bữa cơm, khi tôi rụt rè bưng bát mèn mén nguội ngắt ngồi ở bậc cửa, ánh mắt lạnh lẽo như lưỡi dao cạo của bác lại quét ngang đỉnh đầu tôi. Đi kèm với ánh nhìn ấy là những tiếng thở dài sườn sượt đầy hằn học, những lời mắng chó chửi mèo về việc thóc cao gạo kém, rằng cái nhà này phúc mỏng nên mới rước của nợ về đày ải, người làm thì ít mà mồm ăn chực thì chẳng chịu bớt đi miếng nào.

Chính vì thế, tôi chỉ dám lén lút lấy quyển vở của mẹ ra khi cả gian nhà chính đã hoàn toàn tắt lịm ánh lửa.

Đó là khoảng thời gian vào độ canh ba, khi tiếng mọt nghiến gỗ rào rạo trong những khúc xà gồ mục bắt đầu cất lên rên rỉ giữa đêm khuya. Tiếng ngáy phì phò nặng nhọc của bác Lương sau một ngày leo dốc, tiếng cựa mình cọt kẹt của bác dâu trên chiếc giường gỗ pơ mu gian giữa đã chìm sâu vào nhịp thở đều đặn. Cả bản Nà Ban như chết lặng dưới bóng đen khổng lồ, ma quái của rặng núi đá vôi sừng sững.

Trong góc chái phụ mịt mùng, tôi quỳ gối trên nền đất nện ẩm ướt, khẽ khàng luồn sâu cánh tay vào khe hẹp dưới giát chõng tre sát vách đá. Nơi ấy, giấu kỹ dưới một mảnh bao tải dứa rách mục ngụy trang bằng mấy que củi vụn, là quyển vở thiêng liêng của mẹ và một mẩu bút chì chỉ dài chừng hai đốt ngón tay. Mẩu bút chì ngắn ngủn, cùn gỉ, sứt sẹo ấy là thứ tôi đã liều mạng nhặt lén dưới đáy chiếc hòm gỗ đựng đục bào của cha Hòa trước khi ngôi nhà cũ bên bờ suối bị người ta kéo đến dỡ bung ra lấy gỗ trừ nợ.

Tôi tuyệt đối không dám thắp một que diêm hay châm một ngọn đèn dầu. Ở căn nhà này, một giọt dầu hỏa cũng quý như máu chảy trong huyết quản. Chiều nào bác dâu Sương cũng dùng chiếc thìa con đong từng ngấn dầu cẩn thận trước khi rót vào chiếc đèn hạt đỗ gian trên; chỉ cần sớm mai thấy mực dầu vơi đi chừng nửa đốt ngón tay, bác dâu sẽ lồng lộn lục tung cả chái nhà lên mà trút cơn thịnh nộ.

Thứ ánh sáng duy nhất tôi có thể nương tựa vào là ánh trăng muộn xuyên qua kẽ nứa nứt nẻ trên vách liếp, hoặc vào những đêm mây mù che khuất mặt trăng, là một mẩu bấc vụn tự chế. Tôi đã gom nhặt những sợi chỉ dù rơi vãi, bện chặt lại rồi dùng ngón tay quết lấy chút mỡ lợn cặn bám đen sì nơi đáy chiếc chảo gang mà tôi lén cạo được trong lúc rửa bát ngoài cầu ao ban chiều. Chiếc bấc con ấy chỉ cháy bằng hạt đỗ xanh, lập lòe bên trong một mảnh vỏ ốc suối vỡ nhặt ngoài bờ đá. Nó tỏa ra một thứ ánh sáng vàng vọt, tù mù và yếu ớt, chỉ vừa đủ soi rõ một khoảng giấy nhỏ bằng nửa lòng bàn tay đứa trẻ, phảng phất mùi mỡ cháy khen khét hòa lẫn mùi đất mùn.

Tôi nhẹ nhàng kéo một tấm ván gỗ bào dở của cha để lại nơi xó chái, đặt ngang lên đùi làm bàn viết.

Bàn tay tôi run lẩy bẩy khi cầm mẩu bút chì ngắn ngủn. Những ngón tay thô ráp đầy những vết cứa sắc lẹm của lá gianh, những móng tay cáu bẩn bùn đất suối không thể cọ sạch, và các khớp ngón sưng đỏ, tê dại vì cái lạnh thấu xương của đá núi khiến việc giữ chặt mẩu chì trở thành một cực hình. Nhưng tôi vẫn cắn chặt môi dưới đến hằn sâu vết răng, ấn đầu ngòi chì xám xịt xuống góc trang giấy trắng đầu tiên.

Nét chữ đầu tiên tôi nắn nót viết ra không phải là những chữ cái xa lạ trong sách vở.

Tôi viết tên mình.

*N-A-M.*

*Nguyễn Văn Nam.*

Từng con chữ hiện ra run rẩy, nguệch ngoạc và xiêu vẹo trên nền ô ly mờ nhạt. Chữ *N* hơi nghiêng ngả vì cổ tay tôi quá cóng, nét sổ thẳng không chịu đi theo đường kẻ; chữ *A* lại có nét móc dưới kéo dài vụng về; còn chữ *M* thì tù túng, méo mó như bị dồn ép trong một không gian chật hẹp.

Tôi nín thở ngắm nhìn ba chữ cái ấy dưới ánh sáng leo lét của ngọn lửa mỡ lợn. Trong khoảnh khắc lặng ngắt như tờ ấy, nước mắt tôi bỗng ứa ra ràn rụa, từng giọt nóng hổi rơi lộp độp xuống mu bàn tay chai sần.

Tôi sợ. Một nỗi sợ hãi nguyên thủy, đen đặc và dữ dội luôn chực chờ bóp nghẹt lồng ngực tôi mỗi khi bóng đêm trùm xuống chái phụ này. Tôi sợ rằng nếu tôi không viết tên mình ra, nếu tôi không tự tay nắn nót từng nét chì để khắc ghi cái tên này vào trí nhớ mỗi đêm, thì chỉ cần qua vài mùa nương ngô nữa, qua vài trăm gùi củi trĩu nặng trên dốc đá trơn trượt, tôi sẽ quên mất mình là ai giữa cõi đời này.

Tôi sợ cái thân phận ăn nhờ ở đậu, sợ những lời chửi rủa chì chiết “thằng của nợ”, “thằng ăn bám”, “đồ chết dấp” của bác dâu và anh Tùng sẽ dần dà gặm nhấm, tẩy xóa sạch sẽ mọi ký ức về cha mẹ tôi. Tôi sợ một mai thức dậy, gương mặt hiền từ đầy những vết nhăn nheo vì cơn ho ra máu của mẹ Mai, ánh mắt quầng thâm nhẫn nhịn và mùi mùn cưa thân thương trên manh áo chàm của cha Hòa cũng sẽ phai nhạt dần, rồi biến mất vĩnh viễn như những nét than củi bị nước mưa rừng gột sạch trên phiến đá rêu phong.

Nghĩ đến đó, ngực tôi thắt lại trong một cơn đau đớn dữ dội. Tôi lại tì mạnh đầu bút chì xuống mặt giấy.

Tôi viết lại. Lần thứ hai. Rồi lần thứ ba.

*Nguyễn Văn Nam.*

*Nguyễn Văn Nam.*

Từng dòng chữ nối đuôi nhau, vụng về nhưng kiên quyết chiếm lĩnh lấy khoảng trống ở mép dưới cùng của trang giấy. Mỗi một lần ngòi chì miết mạnh xuống mặt giấy xơ tưa, tạo nên những tiếng sột soạt rất khẽ, là một lần tôi như tự tay đóng thêm một chiếc đinh sắt, neo chặt linh hồn non nớt của mình lại với cội nguồn, với ngôi nhà gỗ cũ có cây hoa ban trổ bông trắng muốt bên bờ suối, nơi cha mẹ tôi từng sống, từng yêu thương tôi và chết đi trong sự sạch trong của một kiếp người nghèo khổ.

Nét chì mềm rất dễ bị nhòe nếu chẳng may ngón tay chạm phải. Bởi vậy, sau mỗi chữ viết xong, tôi lại cẩn thận đưa bàn tay lên miệng, khẽ phà hơi ấm thổi bay lớp bột chì thừa, rồi mở to đôi mắt cay xè nhìn trừng trừng vào từng nét uốn, khắc sâu từng góc cạnh vào tận đáy tâm can.

***

— Anh Nam… anh đang làm cái trò gì đấy?

Một tiếng thì thào khe khẽ như tiếng lá rụng bất thần cất lên từ khoảng tối của chiếc cửa ngách thông sang gian nhà chính, phá toang bầu không khí tĩnh mịch.

Cả người tôi giật nảy lên như bị chạm phải thanh sắt nung đỏ. Tim tôi bắn ngược lên tận cuống họng, đập thình thịch những nhịp điên loạn, một luồng khí lạnh buốt từ gót chân xông thẳng lên đỉnh đầu làm da gà tôi nổi rộp khắp hai cánh tay.

Theo bản năng sinh tồn hốt hoảng của một con thú nhỏ quen bị rình rập và đánh đòn, tôi vội vã dùng cả hai bàn tay ụp chặt lên quyển vở, đồng thời chồm cả lồng ngực gầy guộc đè nghiến lên mặt tấm ván gỗ để che khuất mảnh vỏ ốc đựng ngọn lửa bấc tí hon. Luồng gió từ người tôi lao tới làm ngọn lửa mỡ lợn chao đảo dữ dội, lắt lay như muốn lịm tắt, phả ra một vệt khói đen ngòm, cay nồng và khét lẹt mùi mỡ cháy dở.

Cánh liếp nứa nơi cửa ngách khẽ lay động kêu sột soạt. Một bóng người nhỏ thó, gầy còm lách qua khe hẹp bước vào. Dưới dải sáng mờ mờ của ánh trăng lọt qua khe liếp, tôi nhận ra mái tóc ngắn xơ xác buộc túm lại bằng một sợi dây chuối khô, cùng với đôi mắt to tròn, đen láy đang nhìn tôi đầy vẻ hoảng hốt.

Là Lan.

Con bé mặc chiếc áo bông cũ kỹ vá chằng vá đụp bằng những mảnh vải hoa xanh đỏ của mẹ nó để lại. Đôi bàn chân trần tím tái vì rét bước đi nhẹ bẫng trên nền đất nện ẩm ướt, không phát ra một tiếng động nhỏ nào. Nhìn thấy tôi đang nằm sấp trên chõng tre, cả người co rúm lại và thở dốc như một kẻ vừa trốn thoát khỏi lưỡi hái tử thần, Lan trố mắt nhìn, vẻ kinh ngạc ban đầu nhanh chóng nhường chỗ cho nỗi sợ hãi tột cùng hiện rõ trên gương mặt non nớt.

— Suỵt… Em đây mà! Làm cái gì mà giật thót người lên như ma đuổi thế? — Lan rón rén bước lại gần, ngồi thụp xuống bên mép chõng tre, giọng nói ghìm xuống thấp nhất có thể, chỉ vừa đủ để hai đứa nghe thấy hơi thở của nhau.

Tôi vẫn chưa hoàn hồn, lồng ngực phập phồng kịch liệt sau lớp áo rách, hai cánh tay vẫn ghì chặt lấy tấm ván dưới bụng:

— Sao… sao mày chưa ngủ? Nửa đêm mò sang đây làm gì? Bác Lương mà thức giấc thì chết cả lũ bây giờ!

— Em buồn đái, tỉnh giấc đi ra ngoài ngách sau hè, — Lan ngó dáo dác nhìn quanh quất gian chái phụ tối om, rồi ánh mắt con bé dừng lại nơi vạt áo tôi đang đè chặt lên tấm ván. — Em nhìn qua khe nứa thấy có đốm lửa đỏ đỏ lập lòe như con đom đóm, tưởng chuột cắp đóm hoa làm cháy chái phụ nên em mới mò sang xem thử… Anh Nam giấu cái gì dưới bụng đấy? Lại lén ăn vụng sắn sống của mẹ em à?

Tôi ngập ngừng nhìn con bé. Trong bóng tối nhờ nhờ, đôi mắt của Lan trong veo, không một chút gợn của sự gian manh hay toan tính ác ý. Đêm hôm trước, cũng chính đôi mắt này đã len lén nhìn quanh rồi nhét vội vào túi áo tôi một nắm cơm nguội độn sắn bọc trong manh lá dong rách, cứu tôi thoát khỏi cơn đói cào xé ruột gan sau một ngày bị phạt nhịn cơm vì bó củi mắc cột hiên làm đổ thúng ngô giống xuống vũng bùn. Sự tử tế câm lặng, ngây thơ của đứa em họ kém tôi vài tháng tuổi này là thứ ánh sáng ấm áp duy nhất trong căn nhà gỗ ngột ngạt này, nhắc tôi nhớ rằng mình vẫn là một con người bằng xương bằng thịt.

Chậm rãi và cẩn trọng, tôi nhổm người dậy, hé mở lồng ngực để lộ quyển vở ố vàng cùng mẩu vỏ ốc đang le lói chút tàn lửa mỡ lợn.

Mắt Lan mở to hết cỡ. Con bé cúi rạp người xuống, dí sát mặt vào trang giấy, nhìn chằm chằm vào những dòng chữ bằng nét chì xám xịt đang nằm ngay ngắn trên từng dòng kẻ:

— Vở… Vở của ai thế này hở anh? Anh… anh biết viết chữ thật đấy à?

— Vở của mẹ Mai để lại cho anh, — tôi thì thào, cổ họng nghẹn ắng lại vì xúc động lẫn sợ hãi. — Mẩu bút chì này anh nhặt được dưới đáy hòm đồ mộc của cha Hòa. Anh… anh tập viết tên anh thôi.

Lan nhìn trân trân vào ba chữ *Nguyễn Văn Nam* được nắn nót vụng về nhưng thẳng thớm trên trang giấy, rồi ngước lên nhìn tôi bằng một ánh mắt vừa kinh ngạc, vừa ngưỡng mộ khôn xiết.

Ở cái bản Nà Ban hẻo lánh này, trẻ con sàn sàn tuổi chúng tôi có mấy đứa được biết đến mặt con chữ bao giờ. Trường tiểu học xã nằm tít ngoài trung tâm, muốn ra đến đó phải cuốc bộ qua ba con dốc đá dựng đứng và một khúc suối sâu mùa lũ chảy xiết như thác đổ. Người lớn trong bản chỉ mong con cái lớn lên có sức khỏe như con trâu rừng, biết cầm cái cuốc bổ xuống gốc ngô, biết phân biệt hạt thóc chắc với hạt thóc lép để nuôi cái miệng là phúc bảy đời rồi. Đến như anh Tùng, con trai cưng của bác Lương, năm nay đã tám tuổi đầu mà suốt ngày chỉ biết tụ tập chửi bậy, đẽo cù gỗ rồi lùa gà chọi chó khắp bản, chứ bảo cầm viên phấn hay mẩu than viết một chữ bẻ đôi cũng chịu chết.

Lan không hỏi thêm tôi một câu nào nữa. Con bé không gặng hỏi tại sao tôi phải học, hay học những con chữ này để làm gì giữa nơi xó núi cùng cốc. Bằng sự nhạy cảm sớm già dặn của một đứa trẻ lớn lên dưới bóng râm của một người cha cục cằn, độc đoán và một người mẹ luôn cay nghiệt, chì chiết, Lan hiểu ngay mối nguy hiểm chết người đang lơ lửng ngay trên đầu tôi.

Nó bật dậy thoăn thoắt, quay lưng về phía tôi, đưa mắt nhìn đăm đăm ra khe cửa liếp thông sang gian nhà trên. Qua khe nứa hở chỉ chừng một ngón tay, bếp lửa tàn ở gian giữa thi thoảng lại lóe lên một đốm than đỏ quắt queo, soi lờ mờ những cột nhà bằng gỗ nghiến to bản.

— Đèn sáng thế này nguy hiểm lắm, đứng từ bên gian nhà trên nhìn nghiêng qua khe nứa là thấy ngay đấy! — Lan thì thào, giọng con bé run rẩy vì căng thẳng. — Bố mà thức giấc dậy đi đái đêm, thấy có ánh lửa lập lòe là bố vác đòn gánh sang đây nện chết tươi đấy anh có biết không!

Dứt lời, chẳng đợi tôi kịp mở miệng, con bé đã nhanh nhẹn với tay giật phắt manh bao tải dứa rách đang treo vắt vẻo trên vách đá xuống. Lan cẩn thận chèn manh bao tải vào khe liếp nứa, nơi ánh sáng từ mảnh vỏ ốc dễ dàng lọt qua nhất. Con bé còn nhặt một mẩu nứa gãy dưới đất, nêm chặt góc bao tải lại để không một kẽ hở nào có thể làm rò rỉ chút ánh sáng nào sang phía gian chính.

Làm xong mọi việc một cách thuần thục, Lan mới thở phào một cái thật khẽ, rồi quay lại ngồi xổm xuống đất ngay cạnh chiếc chõng tre của tôi, đưa hai bàn tay gầy kéo vạt áo bông túm chặt lấy cổ cho đỡ rét.

— Anh muốn học thì học nhanh nhanh lên, đừng có để bấc cháy to quá khói nó bốc lên xà nhà, mẹ mà ngửi thấy mùi mỡ khét là mẹ dậy mẹ túm tóc đấy! — Lan dặn dò, mắt vẫn không ngừng liếc ra phía cửa ngách nghe ngóng. — Mà này, anh phải dỏng cái tai lên mà nghe. Anh Tùng ngủ hay mộng du với trở mình dữ dội lắm. Hễ nghe tiếng ván sàn bên kia kêu cót két hay tiếng anh Tùng ho hèm là phải vùi ngay lửa vào bát đất, nhét quyển vở này xuống dưới giát chõng ngay lập tức nghe chưa? Anh ấy mà bắt được, anh ấy mách bố thì bố lôi cả sách cả vở của anh ném vào bếp lò đốt ra tro đấy!

Lời cảnh báo sắc lạnh của Lan như một gáo nước suối buốt giá dội thẳng vào tâm can tôi, giật phắt tôi trở về với cái thực tại trần trụi và tàn nhẫn. Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt cay đắng, gật đầu thật mạnh:

— Anh biết rồi… Cảm ơn mày nhé, Lan.

Lan nhìn tôi thêm một thoáng. Trong đôi mắt đen lay láy của con bé phảng phất một nỗi buồn xa xăm, dường như nó muốn nói thêm điều gì đó để an ủi người anh họ khốn khổ của mình, nhưng rồi lại thôi. Nó khẽ buông một tiếng thở dài não nuột — một tiếng thở dài quá đỗi già nua và cam chịu trên gương mặt của một đứa trẻ mới lên năm tuổi. Rồi con bé lại rón rén nhấc từng bước chân trần không một tiếng động, lách qua khe liếp nứa mỏng manh, biến mất vào màn đêm đen đặc của gian nhà chính.

Căn chái phụ lại lập tức rơi vào sự tĩnh lặng tuyệt đối, một sự tĩnh mịch cô quạnh đến rợn ngợp. Chỉ còn lại tôi ngồi trơ trọi giữa đêm đông, đối diện với ngọn lửa bấc mỡ lợn leo lét trong mảnh vỏ ốc vỡ, và những trang giấy thơm ngái mùi kỷ vật của mẹ.

***

Sau khi bóng Lan khuất hẳn sau tấm liếp, sự tĩnh lặng dường như càng trở nên nặng nề, ngột ngạt nhưng lại mang một vẻ thiêng liêng đến kỳ lạ. Tôi biết từng phút trôi qua lúc này đều quý như vàng ngọc. Đêm vùng cao trôi nhanh như một cái chớp mắt; chỉ cần sương muối bắt đầu kết hạt trắng xóa trên những ngọn cỏ voi ngoài bờ rào, tiếng gà rừng cất tiếng gáy le te bên vách núi là một ngày đày ải, khổ sai mới lại chụp xuống đầu tôi.

Tôi cẩn thận thò tay sâu hơn nữa vào gầm chõng tre, nơi khe giát nứa sát vách đá ẩm mốc, rút ra một cuốn sách mỏng đã long tróc gần hết phần gáy.

Đó là cuốn sách tập đọc lớp một bìa màu xanh xám của mẹ Mai thuở trước.

Cuốn sách rách nát này là báu vật sống còn duy nhất mà tôi đã quyết liệt ôm giữ lại sau cái ngày định mệnh mẹ tôi nhắm mắt xuôi tay. Khi ấy, giữa lúc người lớn chuẩn bị phát tang trong căn nhà cũ, bác dâu Sương toan giằng lấy cuốn sách đã sờn rách trên tay tôi để vứt bỏ vì cho rằng giữ lại thứ giấy mục ấy chỉ thêm xú quế, ám vận vào nhà. Nhưng trước sự chống cự dữ dội và ánh mắt phản kháng lì lợm của một đứa trẻ năm tuổi đang ôm chặt kỷ vật vào lồng ngực sống chết không buông, bác dâu đã phải chùn bước, tặc lưỡi bỏ mặc tôi. Nhờ thế, tôi mới giữ trọn được nó bên mình, lén giấu vào bụng áo chàm mang theo sang nhà bác Lương.

Bìa cuốn sách đã bị gián cắn nham nhở ở góc dưới, những trang đầu đã sút chỉ, long rời từng mảnh, nhưng những hàng chữ in màu đen rõ ràng, ngay ngắn trên nền giấy vàng xỉn đối với tôi lúc bấy giờ chẳng khác nào một kho báu vô tận của đất trời.

Tôi nâng niu lật từng trang giấy một cách run rẩy, ngón tay dè dặt giữ chặt lấy cành hoa ban khô đã ép dẹp lép kẹp bên trong trang lót. Dưới ánh sáng vàng vọt, chập chờn của ngọn bấc mỡ lợn, những chữ cái in hoa và in thường lần lượt hiện ra trước mắt tôi: *A, B, C, D, Đ, E, Ê...*

Tôi mở to hai mắt, dán chặt ánh nhìn vào từng mặt chữ in đen thẫm ấy. Trí óc non nớt của tôi căng ra như một sợi dây nỏ, cố công lần tìm lại từng âm thanh xa xăm, từng lời giảng giải dịu dàng trong miền ký ức ngắn ngủi ngày mẹ còn sống. Từng buổi chiều đông hiu hắt bên hiên nhà cũ, giọng nói ấm áp xen lẫn tiếng ho sù sụ của mẹ Mai lại văng vẳng dội về bên tai tôi như một khúc hát ru:

*“Đây là chữ B, Nam nhớ kỹ nhé con. Nét sổ thẳng đứng vững chãi như cây cột cái bằng gỗ nghiến trong nhà của cha, còn cái bụng tròn xoe quay sang bên phải… Còn đây là con chữ C, cong cong mềm mại như vành trăng non đầu tháng treo lơ lửng trên đỉnh Pha Luông…”*

Tôi mấp máy đôi môi khô khốc nứt nẻ, lẩm nhẩm đọc theo trí nhớ. Tôi không dám cất lên thành tiếng, chỉ có luồng hơi khẽ khàng luồn qua kẽ răng. Những con chữ ban đầu còn rời rạc, xa lạ và vô hồn, dần dần kết nối lại với nhau trong đầu tôi như những mắt xích kỳ diệu của một cỗ máy bí mật.

Ánh mắt tôi dừng lại ở một từ ngắn ngủi nằm ngay phía dưới bức tranh vẽ một ngôi nhà gỗ nhỏ nép mình dưới rặng cây xanh: *N-H-À*.

*Nhà.*

Bàn tay tôi run bắn lên. Ngón tay siết chặt lấy mẩu bút chì cùn gỉ, tôi cẩn thận đặt đầu ngòi xám ngoét lên trang giấy trắng muốt còn lại của quyển vở, bắt đầu chép lại con chữ thiêng liêng ấy.

Từng nét chữ in cứng cáp trong sách giáo khoa được bàn tay vụng về của tôi chuyển hóa thành những nét chữ viết tay xiêu vẹo. Nét sổ thẳng của chữ *N* ban đầu bị tôi run tay vạch lệch hẳn sang bên trái. Vì không có cục tẩy cao su như học trò dưới xuôi, tôi đành phải dùng đầu móng tay cái cạo nhẹ, miết từng chút một lên mặt giấy ẩm để làm mờ đi vệt than chì thừa thãi, rồi cắn răng nắn nót tô đè lên một nét khác cho thẳng thớm hơn. Chữ *H* tiếp theo lại có cái lưng còng gập xuống quá mức, trông xơ xác và thảm hại hệt như bóng dáng một người già đang còng lưng gùi củi trèo lên dốc đứng.

Nhìn con chữ méo mó ấy, tự dưng một nỗi xấu hổ trào dâng trong lòng, tôi thấy mình có lỗi với mẹ vô cùng. Tôi cắn chặt môi, dứt khoát gạch một đường ngang mảnh gạt bỏ nó đi, rồi lùi sang bên cạnh một ô ly, cặm cụi viết lại một chữ *H* khác ngay ngắn hơn, ngẩng cao đầu hơn.

Tôi không có một người thầy nào bằng xương bằng thịt đứng bên cạnh để uốn nắn từng ngón tay cầm bút sao cho đúng điệu. Tôi không có bảng đen, phấn trắng, không có bạn bè cùng trang lứa ngồi quanh, càng không có những lời khen ngợi hay những điểm mười đỏ chói. Tôi chỉ có một cuốn sách rách nát của người mẹ đã nằm sâu dưới lòng đất lạnh, một quyển vở chỉ còn vỏn vẹn bốn trang giấy trắng tinh và một mẩu vỏ ốc le lói chút tàn lửa từ mỡ cặn.

Những con chữ chắp vá ấy lúc này chưa thể coi là tri thức sâu rộng, chưa thể giúp một đứa bé năm tuổi hiểu được những điều to tát ngoài thế giới bao la bên kia rặng núi Pha Luông. Thế nhưng, đối với riêng tôi trong đêm đông buốt giá này, mỗi một con chữ được chép trọn vẹn vào trang giấy trắng là một trận chiến thầm lặng mà tôi đã kiên cường giành phần thắng trước sự lãng quên tàn nhẫn và cái đói nghèo đang bủa vây lấy số phận mình.

Trong không gian chật chội, ẩm thấp nồng nặc mùi phân trâu khô từ gầm sàn bốc lên, vây quanh bởi những lưỡi cuốc rỉ sét, những chiếc xẻng cùn trơ cán và đống bao tải dứa mục nát, việc ngồi nắn nót từng chữ cái đã đem lại cho tôi một khoảng lặng vô giá. Đó là khoảng thời gian duy nhất trong suốt hai mươi tư tiếng đồng hồ của một ngày đày ải mà tôi không bị bất kỳ ai sai khiến, không phải nơm nớp lo sợ những cái tát trời giáng, không phải cúi gằm mặt né tránh những cái lườm nguýt sắc như dao cạo của bác dâu.

Ở góc chái phụ tối tăm này, bên ngọn lửa mỡ lợn leo lét, không một ai có quyền định giá tôi bằng số gùi củi tôi vác được từ rừng sâu về. Không một ai có thể đo đếm giá trị sự tồn tại của tôi bằng việc tôi gánh được bao nhiêu thùng nước từ mó sâu lên đỉnh đồi, hay tôi có xứng đáng được ban phát một mẩu sắn luộc sượng đắng cho bữa tối hay không.

Khi ngòi bút chì ấn xuống mặt giấy trắng, tôi không còn là một đứa trẻ mồ côi ăn nhờ ở đậu, không còn là món nợ truyền kiếp mà người ta phải miễn cưỡng cưu mang.

Tôi là Nguyễn Văn Nam. Tôi có một cái tên trọn vẹn, tôi có một bàn tay biết cầm bút, và tôi đang từng ngày, từng đêm kiên nhẫn viết lại sự tồn tại đầy kiêu hãnh của chính mình giữa cuộc đời cay đắng này.

Gió lạnh từ đỉnh Pha Luông lại thốc xuống thung lũng từng đợt dữ dội, rít từng hồi u u qua những vạt rừng nứa xào xạc ngoài xa. Hơi rét buốt nhói len lỏi qua từng thớ áo chàm mỏng tang, làm các đầu ngón chân, ngón tay tôi tím tái, tê buốt đi như không còn cảm giác của da thịt. Nhưng ngọn lửa hạt đỗ trong mảnh vỏ ốc vẫn kiên cường cháy, hắt cái bóng còng còng, nhỏ thó của tôi lên vách đá taluy gồ ghề — một cái bóng sừng sững, lặng lẽ và nhẫn nại như một mầm cây ban non nớt đang bặm môi cắm những chiếc rễ đầu tiên vào kẽ đá cằn cỗi, kiên trì chờ đợi ngày đâm chồi nảy lộc đón ánh mặt trời.

***

Nhưng sự thức trắng đêm ấy đã đòi hỏi một cái giá vô cùng đắt đỏ ngay vào buổi sáng ngày hôm sau.

Khi tiếng gà rừng vừa cất lên những tiếng gáy le te đầu tiên từ phía bìa rừng xa, sương muối vẫn còn phủ một lớp màng xám xịt, lạnh ngắt lên những bụi mâm xôi quanh bờ rào, tôi đã phải lảo đảo bò dậy khỏi chiếc chõng tre. Cơn buồn ngủ khủng khiếp ập đến, mi mắt tôi trĩu nặng như có ai đeo vào đó hai tảng đá hộc, hai con mắt cay xè, nhức buốt vì khói mỡ lợn và sự thiếu ngủ triền miên.

Cả ngày hôm đó, thể xác tôi như một cỗ máy rệu rã sắp sửa bung từng chiếc ốc vít. Khi gập người gánh đôi thùng nước đầy ắp từ mó sâu leo lên dốc đá trơn như đổ mỡ, hai đầu gối tôi run rẩy dữ dội, từng thớ cơ ở bắp chân căng cứng và chực quỵ sụp xuống đất đá bất cứ lúc nào.

Đến chiều muộn, khi ngồi bên góc hiên nhà bửa những khúc củi dẻ gai khô khốc, cánh tay tôi mỏi rã rời đến mức chiếc rìu sắt nặng trịch tuột khỏi tầm tay trơn trượt, lưỡi rìu sắc lẹm bổ sạt qua một bên, suýt chút nữa thì phạt thẳng vào mu bàn chân cáu bẩn bùn đất của tôi. Hoảng hồn, tôi ngồi thụp xuống đống dăm bào, không kìm nén được nữa mà há hốc mồm ngáp một cái thật dài, nước mắt nước mũi ứa ra ràn rụa vì kiệt sức.

Đúng lúc ấy, Tùng từ trên cầu thang gỗ bước thong thả xuống sân.

Nó mặc chiếc áo len đỏ dày dặn mà bác Lương mua cho từ hội chợ huyện, hai tay khoanh trước ngực, đứng dựa lưng vào chiếc cột hiên bằng gỗ nghiến to bản. Đôi mắt ti hí, hẹp dài của nó liếc xéo nhìn tôi với một vẻ soi mói đầy ác cảm. Nó nhổ toẹt một bãi nước bọt đặc quánh xuống rãnh thoát nước ngay cạnh chỗ tôi ngồi, rồi bước lại gần, giọng the thé đầy vẻ hằn học:

— Mới sáng ra mà đã ngáp ngắn ngáp dài rũ rượi như thằng nghiện thuốc phiện thế kia hả mày? Ăn hại thì nhanh mồm nhanh miệng chứ làm lụng thì như mèo mửa! Đêm qua mày làm cái giống gì ở bên chái phụ mà mắt trũng sâu hoắm ra thế kia, không ngủ à?

Tim tôi thót lại một cái, mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm sống lưng. Tôi vội vàng cúi gằm mặt xuống đống củi vụn, hai bàn tay thoăn thoắt nhặt lấy một que củi khô vót lia lịa để né tránh ánh mắt dò xét sắc như dao của nó:

— Em… em không… Đêm qua gió bấc lùa qua vách đá lạnh quá, em trằn trọc mãi không chợp mắt được thôi anh…

Tùng khịt mũi một cái thật mạnh, vẻ mặt đầy vẻ nghi ngờ không tin. Nó đá mạnh một hòn đá hộc lăn lông lốc vào góc sân, không nói thêm câu nào nhưng ánh mắt ti hí của nó vẫn lởn vởn quanh vẻ lúng túng, sợ sệt của tôi.

Sự nghi ngờ của một đứa trẻ tám tuổi vốn được nuông chiều, ích kỷ và luôn khao khát khẳng định quyền lực cai trị đối với một đứa em họ ăn nhờ ở đậu nguy hiểm hơn tôi tưởng tượng rất nhiều. Tùng không hề quên cái ngáp rũ rượi và gương mặt thất thần vì mất ngủ của tôi.

Và nó đã âm thầm rình rập.

Đêm hôm sau, khi tiếng ngáy phì phò nặng nhọc quen thuộc của bác Lương lại đều đặn cất lên từ gian nhà trên, tôi cứ ngỡ mọi sự nghi ngờ của ban ngày đã chìm sâu vào quên lãng cùng với bóng tối mịt mùng của bản làng.

Cơn thèm chữ, nỗi sợ hãi tột cùng về việc một ngày nào đó mình sẽ quên mất cái tên cha sinh mẹ đẻ, quên mất hình bóng mẹ cha nơi suối vàng lại thôi thúc, cào xé tâm can tôi. Tôi lại lén lút luồn tay xuống gầm chõng tre, rút quyển vở mỏng manh của mẹ ra khỏi lớp bao tải dứa. Mẩu bấc mỡ lợn tí hon lại được châm lên trong lòng mảnh vỏ ốc suối, tỏa ra một vệt sáng yếu ớt, chập chờn như hạt đỗ xanh giữa khoảng tối mịt mùng của gian chái phụ.

Tôi cắn chặt môi dưới, tì ngực lên tấm ván gỗ, nắn nót đặt ngòi bút chì xuống để tô lại từng nét chữ *Nam* trên trang giấy ô ly. Tôi mải mê đến mức không nhận ra một cơn gió lạ vừa thổi qua khe liếp.

Bất thần, một tiếng *kẹt* khô khốc và sắc nhọn vang lên ngay bên cánh cửa ngách.

Gió lạnh từ gian nhà chính thốc mạnh vào làm ngọn lửa hạt đỗ chao đảo ngả nghiêng. Một bóng đen lừng lững trườn nhanh tới, chắn ngang toàn bộ luồng ánh sáng mờ đục của đêm trăng.

Tôi chưa kịp hoàn hồn để giấu quyển vở đi thì một bàn tay thô bạo, nặng trịch đã giáng mạnh xuống cổ tay tôi, đè bẹp dí bàn tay cầm bút chì xuống mặt ván.

— A! Bắt quả tang nhé! — Tiếng Tùng rít the thé qua kẽ răng, vang lên đanh gọn và hung hãn giữa bóng đêm tĩnh mịch.

Tôi thảng thốt ngẩng phắt đầu lên.

Tùng đứng sừng sững ngay bên mép chõng tre, gương mặt nó nhăn nhúm lại trong một nụ cười đắc thắng tột cùng và đầy vẻ man rợ. Đôi mắt ti hí của nó dán chặt vào trang giấy ngả vàng đang mở toang trên phiến ván, rồi nó nhanh như chớp giật phắt lấy mẩu bút chì ngắn ngủn đang lăn lóc trên nền đất nện ẩm ướt.

— Thảo nào sáng ngày ra cứ ngáp rũ ngáp rượi như thằng phải vía! Hóa ra nửa đêm nửa hôm mày dám thắp đèn làm cái trò này sau lưng bố mẹ tao à?

Nói rồi, không một chút do dự, Tùng khom người xuống, vươn bàn tay thô kệch chộp lấy mép quyển vở giật mạnh về phía mình:

— Đưa ngay đây cho tao!

— Không! — Một âm thanh nghẹn ứ, khàn đặc nhưng đanh thép như một nhát búa đập vào đá bất thần bật ra từ cuống họng tôi.

Theo một phản xạ sinh tồn dữ dội và tuyệt vọng nhất mà một đứa bé năm tuổi có thể bộc lộ khi báu vật duy nhất của đời mình bị cướp đoạt, tôi chồm cả thân mình tới. Tôi quăng cả cơ thể gầy guộc đè nghiến lên quyển vở. Hai cánh tay tôi co quắp lại, vòng chặt lấy tập giấy ố vàng, áp chặt nó vào lồng ngực trơ xương sườn của mình.

Cú giật thô bạo của Tùng không giằng được quyển vở ra khỏi vòng tay tôi, nhưng lực kéo quá mạnh đã khiến mép giấy xơ tưa rách toạc một tiếng *xoẹt* buốt nhói, xé toạc màn đêm tĩnh mịch của gian chái phụ.

Tiếng rách ấy như cứa thẳng vào tim tôi, làm máu trong người tôi sôi sục lên. Nhưng nó cũng đồng thời thổi bùng lên cơn thịnh nộ điên cuồng trong mắt Tùng. Thấy đứa em họ ăn nhờ ở đậu dám cả gan chống cự lại mệnh lệnh của mình, mặt Tùng đỏ gay lên trong bóng tối, nó nghiến răng trét trét, túm lấy cổ áo chàm rách tả tơi của tôi mà giằng giật điên cuồng:

— Mày buông ra! Mày có buông tay ra không hả thằng chó con này? Đồ ăn nhờ ở đậu, một hạt ngô nhét vào mồm còn phải ngửa tay xin nhà tao mà cũng bày đặt học đòi làm trò chữ nghĩa à? Mày định học để làm quan, làm thầy thiên hạ chắc? Một thằng nợ đời, một thằng mồ côi rách rưới như mày mà cũng đòi viết chữ à? Mày buông ra không tao xé tan xác cả người lẫn vở của mày bây giờ!

Tùng vừa gầm gừ vừa dùng cả đầu gối thúc mạnh vào mạn sườn tôi. Cú thúc trời giáng vào những dẻ xương sườn mỏng manh khiến tôi đau điếng, buồng phổi như nghẹt thở, trời đất trước mắt đảo lộn tối tăm mặt mũi.

Nhưng tôi không buông. Tôi tuyệt đối không buông!

Tôi cuộn tròn người lại như một con nhím găm chặt những chiếc gai nhọn hoắt vào đất đá để bảo vệ phần ruột mềm yếu nhất của mình. Tôi vùi chặt mặt mình vào những trang giấy thơm mùi hoa ban khô của mẹ, cắn chặt môi dưới đến mức máu tươi ứa ra, mằn mặn và nóng hổi nơi đầu lưỡi rồi thấm đẫm vào mép vải áo chàm rách nát.

Tôi không van xin. Tôi không kêu la lấy một lời.

Sự câm lặng lì lợm và quyết liệt đến tột cùng của tôi khiến Tùng càng lúc càng điên tiết. Nó quắc mắt, giơ nắm đấm gân guốc lên cao, chuẩn bị nện thẳng xuống gáy tôi thì một bàn tay mảnh khảnh đột ngột lao tới, níu chặt lấy vạt áo chàm của nó giật mạnh lùi về phía sau.

— Anh Tùng! Dừng lại ngay!

Là Lan. Con bé thở hổn hển, gương mặt nhỏ nhắn cắt không còn giọt máu, hai bàn tay run rẩy bám riết lấy cánh tay Tùng, dùng hết sức bình sinh kéo giật anh trai nó ra khỏi mép chõng tre:

— Anh điên rồi à? Đánh nhau ầm ĩ thế này, bố thức dậy bây giờ! Bố mà thấy anh nửa đêm mò sang đây quậy phá, bố lôi cả hai đứa ra giữa sân quất bằng roi mây đấy!

Tiếng thì thào gay gắt nhưng ngập tràn nỗi sợ hãi của Lan như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào cơn bốc đồng hung hãn của Tùng. Nắm đấm của nó khựng lại giữa không trung, lưng nó cứng đờ, hai tai dỏng lên nghe ngóng động tĩnh. Phía gian nhà trên, tiếng dát giường gỗ pơ mu khẽ cọt kẹt một tiếng dài rợn người, kèm theo tiếng đằng hắng đùng đục, khô khốc của bác Lương truyền qua vách nứa.

Không gian trong gian chái phụ ẩm mốc bỗng chốc đông cứng lại trong vài giây nghẹt thở. Cả ba đứa chúng tôi nín bặt, dán chặt chân xuống nền đất lạnh buốt, đến việc hít thở cũng không dám phát ra tiếng động. Xung quanh chỉ còn nghe thấy tiếng tim đập thình thịch loạn xạ trong lồng ngực và tiếng gió bấc gầm gừ, rít từng hồi buốt giá qua những khe nứa nứt nẻ nơi vách buồng.

May thay, sau một hồi trằn trọc trở mình cọt kẹt, tiếng thở dài nặng nhọc cùng nhịp ngáy đều đặn của bác Lương lại chìm sâu vào giấc ngủ đêm đông.

Biết hiểm họa tạm thời trôi qua, Lan liền vội vã đẩy mạnh Tùng về phía cánh cửa liếp còn hé mở, giọng nó khẽ khàng van nài nhưng dứt khoát:

— Về phòng mau, nhanh lên! Anh muốn cả nhà này thức dậy hết hay sao?

Tôi vẫn nằm cuộn tròn, co quắp trên chiếc chõng tre ọp ẹp, hai cánh tay ghì chặt lấy quyển vở rách mép vào ngực áo rách, toàn thân run rẩy từng chặp bởi cơn đau nhói buốt nơi mạn sườn và vì nỗi kinh hoàng vừa quét qua thể xác. Nhưng trong bóng tối lờ mờ của gian chái nát, tôi cay đắng nhận ra một sự thật lạnh lùng đến tê dại: bí mật duy nhất, chốn dung thân tinh thần cuối cùng của tôi đã hoàn toàn vỡ lở. Nơi này không còn an toàn cho những con chữ của mẹ nữa.

Tùng vùng vằng giật phắt cánh tay ra khỏi sự kìm kẹp của Lan, nhưng nỗi sợ đòn roi của bác Lương khiến nó không dám nhào tới giằng quyển vở thêm lần nào nữa. Nó xoay ngoắt đầu lại, đôi mắt một mí hẹp dài lóe lên những tia nhìn độc địa và tàn nhẫn, trỏ thẳng ngón tay cáu bẩn vào giữa mặt tôi. Nó ghé sát mặt xuống, hạ giọng gằn từng tiếng sắc lạnh như một mũi dao đá:

— Mày nhớ mặt tao đấy, thằng Nam. Sức mày sinh ra là để làm nương làm rẫy trả nợ cho nhà tao, không phải để mày thức đêm thức hôm tốn dầu tốn mỡ cho ba cái thứ vô ích này. Mày mà còn lén lút học đòi một lần nào nữa, tao sẽ nói với bố để bố cho mày một trận nhừ tử, rồi ném cả cái đống giẻ rách này vào bếp lửa!

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn