Hồ Sơ Phố CổC.2 / 38
Chương 2

Thanh Tra Không Mời

Tiếng chuông đồng hồ điểm mười giờ sáng từ Tiệm Tư Thời còn chưa kịp tan vào những nếp ngói rêu xám của ngõ Hàng Chỉ thì tiếng phanh xe máy dứt khoát, ken két nghiến trên lớp sỏi vụn trước cổng Bảo tàng Vạn Lịch đã cắt ngang bầu không khí trầm mặc muôn thuở của góc phố. Đó là nhịp sống đặc thù của cái ngõ cụt nép mình sau những bức tường gạch thời thuộc địa: một bên là xưởng sửa chữa đồng hồ cổ với những tiếng tíc tắc chậm rãi của thế kỷ trước, một bên là ngôi biệt thự hai tầng quét vôi vàng đã ngả màu mốc xám, nơi lưu giữ hàng ngàn mảnh vỡ của quá khứ dưới lớp kính dày.

Ninh Tường Vi bước qua bậu cửa gỗ lim dày cộp, hai bàn tay vẫn còn vương hơi lạnh buốt từ chiếc kính lúp kiểm định có gọng đồng thau mà cụ Tư vừa trao trả cách đây ít phút. Dưới lớp da ngón tay trỏ của cô, vệt bột than chì mịn dùng để can lại những rãnh kim loại vẫn còn bám đen thành một viền mỏng quanh móng. Lời nói trầm buồn, đùng đục khói thuốc lào của người thợ già như một vệt mực loang trên tờ giấy xuyến ẩm, bám chặt lấy tâm trí cô từng nhịp một: *Bánh răng truyền động này không thở cùng nhịp với lớp vỏ trăm năm đâu cô Vi à. Lớp vỏ thì nín thở đợi người tri kỷ, còn cái ruột bên trong lại đang thở dốc như kẻ vừa chạy trốn.*

Vi không đi thẳng lên căn gác xép – nơi đặt kho lưu trữ tài liệu giấy và các bảng phiếu kiểm kê kỹ thuật mà cô đã gắn bó suốt hai tháng qua. Đôi giày vải đế mềm của cô chuyển hướng dứt khoát, bước đi không tạo ra tiếng động lớn trên nền gạch hoa xi măng mang họa tiết kỷ hà cổ điển của hành lang tầng một. Hướng đi của cô thẳng tắp về phía cánh cửa gỗ sồi có gắn tấm biển đồng khắc bốn chữ: *Phòng Giám đốc*.

Không gian trưng bày chính ở tầng một lúc này đã gần như hoàn tất những khâu chuẩn bị cuối cùng cho buổi lễ khai mạc triển lãm chuyên đề "Dấu ấn cơ khí cận đại trên đất Hà thành", dự kiến sẽ đón khách danh dự và báo giới vào đúng chín giờ sáng ngày mai. Những dãy tủ kính cường lực chuyên dụng sáng loáng dưới hệ thống đèn rọi ánh vàng 3000 Kelvin tiêu chuẩn bảo tàng, tỏa ra mùi sơn acrylic mới quét bổ sung pha lẫn mùi tinh dầu thông the nồng dùng để lau bóng mặt kính.

Ở bục trung tâm hình bát giác – vị trí trang trọng nhất của gian phòng lớn, chiếc đồng hồ quả quýt vỏ bạc chạm nổi đồ án cúc đại đóa đang nằm ngay ngắn trên tấm vải nhung màu đỏ đun. Dưới luồng sáng chiếu xiên bốn mươi lăm độ, lớp vỏ bạc xỉn màu tự nhiên phô diễn những đường chạm lộng tinh xảo của các nghệ nhân kim hoàn cung đình Huế thời Khải Định. Nó nằm đó, tĩnh lặng, uy nghiêm và cô độc, như thể chưa từng có bất kỳ sự xáo trộn, bất kỳ bàn tay trần hay một mũi thép lạ nào chạm vào cơ thể nó trong suốt bốn mươi tám giờ vừa qua.

Vi dừng lại trước cửa phòng giám đốc nửa giây, hít sâu một hơi để ổn định lồng ngực rồi đẩy tấm rèm nhung dày chắn gió bước vào.

Bên trong phòng làm việc, không khí đặc quánh mùi trầm hương đốt trong chiếc lư đồng mắt cua đặt ở góc án thư. Ông Đỗ Vạn Lịch đang đứng tựa lưng vào mép chiếc bàn gỗ gụ khảm ốc xà cừ, hai bàn tay đan vào nhau, ngón tay cái liên tục vê tròn những hạt bồ đề nâu bóng loáng đã mòn nhẵn theo năm tháng. Đứng đối diện với ông, tay cầm một tập hồ sơ bìa da màu xanh đậm, là Nguyễn Hà An. Hà An mặc bộ âu phục màu ghi sáng cắt may sắc sảo, ve áo dựng đứng tôn lên chiếc cổ thon thả, mái tóc uốn lọn lớn vào nếp không một sợi xơ xác. Cô ta đang dùng chiếc bút dạ quang màu vàng gạch dưới từng dòng tên trên danh sách khách mời danh dự, giọng đọc rành rọt, đều đặn như một phát thanh viên đài truyền hình.

"Bác Lịch, cháu cần báo cáo một việc khẩn cấp liên quan đến chiếc đồng hồ quả quýt ở tủ số ba," Vi lên tiếng ngay khi bước hẳn qua ngưỡng cửa.

Giọng cô không cao, giữ ở mức âm lượng vừa đủ nghe trong căn phòng kín, nhưng sự bình thản đến lạnh lùng cùng độ nặng trong từng âm tiết đã khiến nhịp đọc trơn tru của Hà An đứt phựt. Cả hai người trong phòng đồng loạt ngẩng lên.

Hà An thoáng chau mày, sống mũi hơi nhăn lại để lộ vẻ sốt ruột không thèm che giấu. Cô ta hạ tập hồ sơ xuống, chiếc bút dạ quang khẽ gõ nhẹ hai tiếng lên mép bìa da:

"Vi? Tôi tưởng cô đang ở trên gác kho hoàn thiện nốt việc số hóa các phiếu kiểm kê đợt hai theo phân công sáng nay? Tủ trưng bày trung tâm đã được khóa niêm phong phục vụ ghi hình báo chí từ chiều qua rồi. Hợp đồng mượn hiện vật và cam kết bảo hiểm trách nhiệm dân sự với bên Công ty Di sản Minh Thành cũng vừa được chuyển giao bản cứng có đóng dấu đỏ sáng nay. Bây giờ cô còn muốn báo cáo cái gì về tủ số ba nữa?"

Vi không nhìn Hà An. Cô hướng thẳng ánh mắt về phía ông Đỗ Vạn Lịch, người đàn ông ngoài sáu mươi tuổi với mái tóc hoa râm chải ngược và cặp kính lão dày cộp viền đồi mồi:

"Cháu vừa mang bản can vết xước bản lề và đối chiếu cấu trúc cơ học của hiện vật sang tiệm của cụ Tư Thời đối diện ngõ."

Chuỗi hạt bồ đề trên tay ông Lịch khựng lại giữa hai đầu ngón tay. Đôi mắt sau tròng kính lão của người sáng lập bảo tàng khẽ chớp liên hồi, khóe miệng giật nhẹ:

"Cụ Tư? Cụ Tư Thời thợ đồng hồ ấy à? Cô... cô mang sang đó làm gì? Cụ ấy nói sao?"

"Cụ Tư xác nhận vết tì trượt ở rãnh ốc nắp lưng là do tuốc nơ vít thép thông thường cạy mở thô bạo trong vòng chưa đầy hai ngày qua," Vi nói, từng từ ngữ được nhả ra rành rọt, chính xác và khô khốc như đang đọc một biên bản khám nghiệm hiện trường. "Một chiếc tuốc nơ vít không đúng cỡ rãnh, mép thép quá cứng đã làm toét mép ren đồng bên trong. Quan trọng hơn, cụ Tư từng trực tiếp tháo máy, lau dầu và bảo dưỡng cỗ máy Longines mười bảy chân kính nguyên bản của chiếc đồng hồ này vào năm 1972, khi nó còn thuộc sở hữu của gia đình cụ Thượng thư Bộ Lễ ở phố Hàng Bông. Cụ Tư nhớ rất rõ: cỗ máy nguyên bản sử dụng vành tóc cân bằng bằng hợp kim lưỡng kim, quả lắc bạch kim có nhịp dao động 18.000 nhịp mỗi giờ, tiếng gõ trầm và rất êm. Còn chiếc đồng hồ đang nằm ngoài tủ kính kia phát ra nhịp cơ khí khô, đanh, chát chúa và nhanh hơn cấu trúc nguyên gốc ít nhất bốn mươi nhịp mỗi phút. Tần số dao động của nó tương đương với các cỗ máy cơ tiêu chuẩn hiện đại, loại 21.600 nhịp. Đó không phải là cỗ máy Longines của thế kỷ trước. Nó là một bản phục chế chắp vá, hoặc chính xác hơn: ai đó đã nhét một bộ máy cơ rẻ tiền đời mới vào trong lớp vỏ bạc chạm hoa cúc để thế chỗ."

Sắc mặt Đỗ Vạn Lịch lập tức thay đổi. Nước da hồng hào, đẫm vẻ phong nhã của một nhà sưu tập có tiếng đất kinh kỳ bỗng chốc tái xám đi, từng đường gân xanh nơi thái dương giật giật. Bàn tay ông buông lỏng, chuỗi hạt bồ đề trượt khỏi kẽ tay rơi xuống mặt bàn gỗ gụ, phát ra một tiếng *cạch* khô khốc, vang vọng đến chói tai trong không gian kín mít.

"Cô Vi... cô có biết mình đang phát ngôn điều gì trong căn phòng này không?" Giọng ông Lịch run rẩy, hơi thở dồn dập, nửa như kinh ngạc cùng cực, nửa như đang cố sức bấu víu vào một sự phủ nhận trong tuyệt vọng. "Chiếc đồng hồ đó... chiếc đồng hồ đó là linh hồn, là tâm điểm của toàn bộ gian trưng bày đợt này! Báo chí đã lên bài giới thiệu từ tuần trước, truyền hình Hà Nội cũng đã hẹn lịch quay phóng sự chuyên đề vào trưa mai. Công ty Di sản Minh Thành đứng ra bảo trợ toàn bộ hồ sơ pháp lý, chịu trách nhiệm vận chuyển và bảo hiểm hiện vật với mức định giá bảo hiểm lên tới tám trăm triệu đồng. Làm sao... làm sao có thể có chuyện ruột máy bị đánh tráo ngay dưới mái nhà này được? Hệ thống camera an ninh của chúng ta chạy suốt ngày đêm cơ mà!"

"Nó không chỉ bị tráo cỗ máy bên trong, thưa bác," Vi vẫn giữ nguyên sự điềm tĩnh lạnh lùng vốn có. Cô rút từ trong túi áo khoác ra cuốn sổ tay bìa da màu đen đã sờn gáy, lật mở đúng trang giấy có kẹp những mảnh giấy can mỏng manh chi chít nét bút chì 2B và các số liệu đo đạc. "Nhãn trưng bày mới đặt trong tủ kính sáng nay cũng đã bị thay thế. Bản in mới sử dụng phông chữ Arial sai lệch hoàn toàn với quy chuẩn văn thư và hồ sơ lưu trữ thống nhất của bảo tàng vốn dùng phông Times New Roman chuẩn khổ chữ 12. Phần thông tin chi tiết về mã số máy dập chìm trên khung đỡ đã bị xóa sạch, chỉ còn lại dòng mô tả mơ hồ chung chung. Chưa hết, trên chiếu nghỉ cầu thang bằng gỗ dẫn từ tầng một lên kho lưu trữ tầng hai, có một vết trượt cao su mới toanh của loại giày da đế đúc kích cỡ 41, xuất hiện vào khoảng thời gian ngoài giờ hành chính đêm hôm kia."

Hà An bước vội tới hai bước, chiếc kẹp tài liệu bằng da đập mạnh xuống mặt bàn, giọng cô ta the thé lên vì bực bội xen lẫn một thoáng bối rối:

"Vô lý! Hoàn toàn vô căn cứ! Vi, cô đừng có mang cái thói quen suy diễn vô tội vạ và những phỏng đoán cảm tính của nghề phóng viên cũ về đây để áp đặt vào nghiệp vụ bảo tàng! Bác Lịch, bác đừng nghe cô ta làm rối loạn tình hình! Chiều hôm kia, chính cháu và anh Bùi Quang Duy – đại diện pháp lý bên Minh Thành – đã trực tiếp ký biên bản bàn giao tạm thời tại phòng tiếp nhận hiện vật. Mọi niêm phong chì trên hộp nhung lót lụa đều nguyên vẹn một trăm phần trăm trước sự chứng kiến của cả hai bên. Cô Vi mới về làm việc ở vị trí lưu trữ viên thử việc chưa đầy hai tháng, quy trình luân chuyển hiện vật nội bộ còn chưa nắm hết, làm sao cô có thể tùy tiện kết luận một món cổ vật có giá trị lịch sử và tài chính lớn như vậy là đồ giả mạo, đồ đánh tráo? Cô muốn phá nát buổi lễ khai mạc ngày mai của bảo tàng sao?"

"Tôi không nói lớp vỏ bạc là đồ giả," Vi quay sang nhìn thẳng vào mắt Hà An, ánh mắt cô trong trẻo nhưng sâu hoắm và sắc lẹm, không hề né tránh hay chùn bước trước cơn thịnh nộ của người quản lý chuyên môn. "Tôi khẳng định lớp vỏ bạc chạm hoa cúc vẫn là hiện vật gốc thời Nguyễn. Nhưng phần trái tim cơ học bên trong nó – cỗ máy Longines mười bảy chân kính chế tác tại Thụy Sĩ năm 1902 – đã bị ai đó lấy đi. Và nếu bác Lịch cùng chị An không tin vào mắt và tai của một thợ sửa đồng hồ có sáu mươi năm tuổi nghề như cụ Tư, chúng ta có thể bước ra sảnh ngay bây giờ. Mở khóa tủ kính số ba, tháo nắp lưng bằng dụng cụ chuyên dụng, và dùng ống nghe y tế áp vào khung máy để đếm nhịp dao động của balance wheel. Con số cơ học không biết nói dối, và nó cũng không biết nể nang danh tiếng của ai cả."

Đỗ Vạn Lịch đưa bàn tay run rẩy lên xoa trán. Từng giọt mồ hôi lạnh bắt đầu rỉ ra dưới chân tóc của người đàn ông lớn tuổi. Vi biết rất rõ ông đang sợ điều gì. Vụ việc này nếu thực sự bung bét ra ngoài, nó không chỉ đơn thuần là một vụ trộm cắp tài sản. Nó sẽ phá hủy hoàn toàn uy tín cả một đời gây dựng của ông trong giới sưu tầm cổ vật đất Hà Thành; chiếc ghế ủy viên hội đồng giám định di sản mà ông đang nhắm tới sẽ tan thành mây khói; và quan trọng nhất, hợp đồng tài trợ chiến lược trị giá hàng tỷ đồng với Tập đoàn Minh Thành – nguồn kinh phí sống còn để duy trì bảo tàng tư nhân này – sẽ đổ vỡ ngay trước giờ khai mạc.

"Khoan đã... bình tĩnh lại... đóng cửa phòng lại đã," ông Lịch hạ giọng xuống mức thì thào, ánh mắt hoảng hốt đảo quanh như sợ những bức tường cũng có tai. Ông nhìn trừng trừng vào Hà An rồi lại nhìn sang Vi. "Chúng ta phải họp nội bộ trước. Đóng chặt cửa lại! Tuyệt đối không được để một lời nào lọt ra ngoài sảnh lớn, công nhân thi công và mấy phóng viên ảnh đang lảng vảng ngoài đó..."

Lời ông Lịch chưa kịp dứt điểm thì từ phía ngoài hành lang, tiếng gõ cửa đã vang lên.

*Cốc. Cốc. Cốc.*

Không phải tiếng gõ cửa dè dặt, khép nép của đám nhân viên hợp đồng hay tạp vụ bảo tàng. Đó là ba tiếng gõ đanh gọn, dứt khoát, âm thanh nện thẳng vào thớ gỗ sồi dày dặn bằng các đốt ngón tay cứng như thép, mang theo một thứ quyền uy tuyệt đối khiến toàn bộ sự tranh cãi trong phòng lập tức bị bóp nghẹt.

Cánh cửa phòng làm việc không đợi người bên trong lên tiếng cho phép đã từ từ mở ra. Ánh sáng vàng nhạt từ dãy đèn chùm ngoài hành lang hắt vào, in đậm một bóng người cao lớn đứng chắn ngang ngưỡng cửa.

Người đàn ông bước vào trạc ba mươi tuổi, vóc dáng săn chắc, bờ vai rộng và thẳng tắp dưới lớp áo khoác gió chuyên dụng sẫm màu mặc bên ngoài chiếc sơ mi phẳng phiu cài kín cổ. Gương mặt anh vuông vức, góc cạnh với đường quai hàm dứt khoát, sống mũi cao thẳng tắp và đôi mắt đen sâu thẳm, lạnh lẽo như mặt hồ mùa đông. Cả con người anh toát ra thứ phong thái đặc thù của những người đã dành nhiều năm làm việc giữa các văn bản pháp luật, những biên bản hiện trường và những lời khai quanh co của tội phạm kinh tế: sắc bén, kiệm lời và hoàn toàn vô cảm trước mọi áp lực ngoại cảnh.

Người đàn ông thong thả bước vào giữa phòng, không hề liếc nhìn chuỗi hạt bồ đề rơi vãi hay vẻ mặt tái mét của những người có mặt. Anh đưa tay vào túi áo ngực bên trái, rút ra một chiếc bao da nhỏ màu đen, mở ra bằng một thao tác thuần thục để lộ tấm thẻ ngành bọc mica sáng bóng với dải màu đỏ viền vàng quen thuộc:

"Chào ban quản lý Bảo tàng Vạn Lịch. Tôi là Lục Khang, Thanh tra Đội Điều tra Tội phạm về Tham nhũng, Kinh tế và Buôn lậu, Công an quận."

Cả gian phòng làm việc như bị đông cứng lại trong một khoảng lặng chết chóc. Đến cả tiếng khói trầm lượn lờ trong chiếc lư đồng cũng dường như ngưng đọng. Tập tài liệu bọc da dưới nách Hà An khẽ trượt xuống một đoạn, khiến cô ta phải lúng túng dùng cả hai tay đỡ lấy. Đỗ Vạn Lịch giật nảy mình như vừa chạm tay vào dây điện trần, ông vội vã đứng thẳng người dậy, hai bàn tay luống cuống bám chặt vào thành bàn gụ để giữ thăng bằng:

"Thanh... Thanh tra kinh tế? Các đồng chí... công an quận? Có... có sự nhầm lẫn nào ở đây chăng đồng chí cán bộ? Sáng mai... đúng chín giờ sáng mai bảo tàng chúng tôi mới chính thức cắt băng khai mạc triển lãm cổ vật thời kỳ cận đại. Hôm nay hoàn toàn là công tác chuẩn bị hậu cần nội bộ, chúng tôi không hề tổ chức bất kỳ hoạt động mua bán hay giao dịch thương mại nào tại khuôn viên này..."

"Không có nhầm lẫn đâu, thưa ông Đỗ Vạn Lịch," Lục Khang cất giọng. Âm sắc của anh trầm, đều đều, phát âm chuẩn xác từng phụ âm đầu và âm cuối, hoàn toàn không mang chút cảm xúc cá nhân hay sự dao động nào. "Hồi tám giờ ba mươi phút sáng nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận đã chính thức tiếp nhận và thụ lý nguồn tin báo tố giác tội phạm từ công dân, phản ánh về dấu hiệu hành vi gian lận thương mại, vi phạm quy định về bảo vệ di sản văn hóa và tráo đổi tài sản có giá trị đặc biệt lớn đang diễn ra tại cơ sở bảo tàng tư nhân này. Cụ thể theo nội dung tin báo: hiện vật đồng hồ quả quýt vỏ bạc chạm hoa cúc thời Nguyễn nằm trong danh mục mượn trưng bày có hợp đồng bảo trợ tài chính đã bị thay thế cỗ máy cơ học nguyên bản bằng linh kiện giả mạo."

Trái tim Vi khẽ nảy lên một nhịp mạnh sau lồng ngực.

*Tin báo tố giác từ công dân? Ai đã gửi nó? Và gửi vào lúc tám giờ ba mươi phút sáng nay?*

Lúc tám giờ ba mươi phút, cô thậm chí còn chưa bước chân vào tiệm của cụ Tư Thời. Cô chỉ vừa mới phát hiện ra vết trượt bất thường trên chiếu nghỉ cầu thang và sự sai lệch về phông chữ trên nhãn trưng bày. Kẻ nào đã đi trước một bước, nắm rõ sự việc đến từng chi tiết và chủ động kích hoạt cơ quan công an vào cuộc ngay trước thềm khai mạc?

Khi ánh mắt Lục Khang quét một vòng qua các gương mặt trong phòng – từ vẻ hoảng loạn của ông Lịch sang nét mặt căng thẳng của Hà An – tầm nhìn của anh đột ngột dừng lại trên người Ninh Tường Vi.

Khoảnh khắc hai ánh mắt giao nhau giữa khoảng không gian ngột ngạt của căn phòng, Vi nhận thấy một tia sáng rất mỏng, sắc bén và lạnh như lưỡi dao cạo lóe lên trong đáy mắt sâu thẳm của người thanh tra trẻ.

Đó là sự nhận diện. Lục Khang không hề bất ngờ khi thấy cô đứng ở đây, nhưng khóe mắt anh khẽ siết lại trong tích tắc một phần mười giây.

Vi biết rất rõ vì sao anh nhận ra mình. Hai năm trước, khi loạt bài điều tra chấn động về đường dây buôn lậu và làm giả chứng chỉ cổ vật gốm Chu Đậu nổ ra trên trang nhất của tờ báo điều tra hàng đầu thủ đô, cái tên phóng viên Ninh Tường Vi cùng cây bút kỳ cựu Trần Minh Đạo đã từng là tâm điểm của toàn bộ giới truyền thông và các cơ quan tố tụng suốt một tháng ròng. Loạt bài ấy đã từng được kỳ vọng sẽ phanh phui một đường dây tội phạm xuyên quốc gia núp bóng các hội đồng giám định tư nhân.

Nhưng rồi, một cú sốc mang tính hủy diệt đã giáng xuống: một tệp tài liệu nguồn mang tính then chốt – bản trích lục hồ sơ giám định niên đại nhiệt huỳnh quang – bị phát hiện là tài liệu làm giả tinh vi. Cây bút lão thành Trần Minh Đạo bị đình chỉ công tác, đột quỵ phải nằm liệt giường; còn Vi, từ một phóng viên điều tra trẻ tuổi đầy triển vọng, phải cay đắng hứng chịu toàn bộ búa rìu dư luận, chịu kỷ luật nghề nghiệp và cuối cùng phải nộp đơn rời tòa soạn trong cay đắng. Một điều tra viên thuộc Đội Điều tra Kinh tế chuyên phụ trách mảng văn hóa và cổ vật trên địa bàn phố cổ như Lục Khang chắc chắn không thể nào không ghi nhớ gương mặt và cái tên của cô gái từng gây ra cơn địa chấn đó.

Thế nhưng, sự quen biết gián tiếp mang đầy vết thương nghề nghiệp ấy biến mất ngay tức khắc dưới lớp vỏ bọc chuyên nghiệp đến mức tàn nhẫn của Lục Khang. Anh không hề để lộ một cái nhếch mép, không thốt ra một câu hỏi thừa thãi, cũng không có bất kỳ cử chỉ nào thể hiện sự tò mò cá nhân. Anh mở chiếc cặp tài liệu công vụ bằng da đen cứng cáp, rút ra tập biên bản làm việc in sẵn tiêu đề nghiệp vụ của ngành công an, đặt ngay ngắn lên mặt bàn gụ, ngay cạnh chuỗi hạt bồ đề vừa rơi rải rác:

"Căn cứ quy định tại các Điều 145, 146 và 147 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 về việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, tôi yêu cầu ban quản lý bảo tàng giữ nguyên hiện trạng toàn bộ khu vực trưng bày tầng một và kho lưu trữ tầng hai để lực lượng chức năng phối hợp kiểm tra, lập biên bản xác minh bước đầu. Đề nghị người đại diện theo pháp luật của bảo tàng và những cá nhân có trách nhiệm liên quan trực tiếp đến quy trình tiếp nhận, quản lý, bảo quản hiện vật xuất trình giấy tờ tùy thân và văn bản phân công nhiệm vụ."

"Đồng chí thanh tra... chuyện này thực sự là một sự hiểu lầm tai hại! Một sự hiểu lầm vô cùng nghiêm trọng!" Hà An lúc này đã kịp định thần lại sau cú sốc ban đầu. Cô ta bước vội lên phía trước nửa bước, đứng chắn một phần giữa Khang và ông Lịch, cố gắng nặn ra một nụ cười chuyên nghiệp nhưng hai khóe môi cứ giật giật không kiểm soát được. "Bảo tàng Vạn Lịch chúng tôi là một đơn vị văn hóa hoạt động hoàn toàn hợp pháp dưới sự cấp phép và giám sát chuyên môn của Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội. Toàn bộ các hiện vật đưa vào trưng bày đợt này đều có hồ sơ khoa học lưu trữ cực kỳ chặt chẽ. Có thể... có thể nguồn tin báo nặc danh mà các anh nhận được xuất phát từ sự nhầm lẫn nghiệp vụ hoặc ác ý cá nhân của một vài nhân sự mới chưa nắm vững quy trình nội bộ."

Ánh mắt Hà An liếc xéo sang phía Vi, giọng nói cô ta cố tình nhấn nhá từng chữ đầy ẩn ý xoi mói:

"Bảo tàng chúng tôi vừa mới tiếp nhận một nhân viên lưu trữ tài liệu thử việc. Cô Vi đây vốn xuất thân từ ngành báo chí, trước đây từng vướng phải một số lùm xùm nghề nghiệp nên phải chuyển hướng công việc. Cô ấy chưa từng qua đào tạo bài bản về nghiệp vụ bảo quản bảo tàng học. Sáng hôm nay, cô Vi đã tự ý di chuyển tài liệu, mang các bản can và thông tin hiện vật ra khỏi quy trình kiểm kê chuẩn mà không hề có sự phê duyệt của tôi – người phụ trách chuyên môn. Thậm chí cô ấy còn tự ý đưa ra những suy diễn chủ quan về nhãn mác, làm sai lệch hồ sơ đối chiếu ban đầu. Tôi đang định yêu cầu cô ấy làm bản giải trình kỷ luật nội bộ thì đồng chí thanh tra đã có mặt ở đây."

Vi đứng lặng, những ngón tay cô siết chặt lấy chiếc bút chì bấm trong túi áo. Lối đổ lỗi trơn tru, bài bản và đầy ác ý của Hà An hoàn toàn không làm cô bất ngờ. Suốt bốn năm làm phóng viên điều tra các vụ án kinh tế, cô đã chứng kiến quá nhiều thủ thuật chối tội tương tự: khi một mắt xích bị nứt vỡ, kẻ quản lý sẽ luôn tìm cách đẩy toàn bộ sức nặng của sự sụp đổ lên đầu kẻ yếu thế nhất trong hệ thống. Nhưng điều khiến Vi tập trung toàn bộ sự chú ý lúc này lại chính là phản ứng của Lục Khang.

Người thanh tra trẻ tuổi không hề bị cuốn theo những lời trần tình đầy vẻ nạn nhân của Hà An. Anh không gật đầu, cũng chẳng tỏ vẻ nghi ngờ. Khang thong thả rút chiếc bút mực nước màu đen cài trên túi áo ngực, mở nắp bút bằng một tiếng *tách* khô giòn, dứt khoát:

"Ai làm gì, sai phạm ở khâu nào và chịu trách nhiệm pháp lý đến đâu sẽ được cơ quan điều tra kết luận bằng chữ ký trên các văn bản, nhật ký mở kho và chuỗi lưu giữ vật chứng, thưa cô...?"

"Nguyễn Hà An. Tôi là quản lý chuyên môn kiêm phụ trách trưng bày của bảo tàng," Hà An đáp, âm vực chùng hẳn xuống trước sự lạnh lùng đến mức tàn nhẫn của người đối diện.

"Tốt. Cô Nguyễn Hà An, việc nhân viên của cô làm đúng hay sai quy chuẩn nội bộ của bảo tàng là việc xử lý quan hệ lao động nội bộ thuộc thẩm quyền của ông Đỗ Vạn Lịch ở đây," Khang nói, ánh mắt không hề rời khỏi trang biểu mẫu biên bản đang được ngòi bút của anh điền dần những thông tin hành chính. "Còn việc tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm và tiến hành các biện pháp nghiệp vụ để bảo toàn vật chứng có dấu hiệu bị chiếm đoạt, tráo đổi là thẩm quyền và trách nhiệm bắt buộc của cơ quan điều tra hình sự. Hiện vật bị tố giác hiện đang nằm ở vị trí nào trên thực tế?"

"Ở... ở bục trưng bày trung tâm sảnh tầng một," ông Đỗ Vạn Lịch ngập ngừng lên tiếng, trán ông lúc này đã bóng nhẫy mồ hôi, hai bàn tay run rẩy đưa lên kéo lại cổ áo sơ mi cho đỡ ngột ngạt. "Nhưng đồng chí thanh tra... sáng mai là lễ khai mạc lớn của chúng tôi. Có đại diện của Cục Di sản, lãnh đạo Sở Văn hóa, các chuyên gia đầu ngành và hàng chục cơ quan thông tấn báo chí đã nhận giấy mời. Nếu bây giờ các đồng chí tiến hành niêm phong bục trưng bày trung tâm... thì danh dự, thể diện và uy tín mấy mươi năm sưu tầm của bảo tàng chúng tôi coi như bị chôn vùi hoàn toàn..."

"Danh dự của một thiết chế văn hóa được xây dựng trên tính chân thực lịch sử của hiện vật, thưa ông Lịch, không phải được xây dựng dựa trên một buổi lễ khai mạc đúng giờ," Khang ngẩng đầu lên. Ánh mắt anh sắc bén như hai lưỡi thép tôi nguội, găm thẳng vào gương mặt già nua đang tái mét của ông lão. "Nếu hiện vật ngoài kia đúng là nguyên bản, biên bản kiểm tra và niêm phong phục vụ giám định này sẽ là chứng thư pháp lý cao nhất để bảo vệ danh dự cho bảo tàng của ông trước mọi tin đồn ác ý. Ngược lại, nếu bên trong lớp vỏ bạc kia thực sự là một cỗ máy bị đánh tráo nhằm mục đích trục lợi bảo hiểm hoặc che giấu hành vi tẩu tán cổ vật, thì việc các vị cố tình tổ chức khai mạc vào sáng mai sẽ chính thức biến sự việc này thành hành vi lừa dối công chúng và gian lận thương mại có tổ chức."

Từng lời nói của Khang rơi xuống như những nhát búa nện đanh thép, chuẩn xác theo từng điều khoản pháp luật, khiến căn phòng rơi vào một trạng thái câm lặng hoàn toàn. Ngay cả một người vốn quen thuộc với việc mổ xẻ các văn bản hành chính như Vi cũng phải thầm kinh ngạc trước tư duy pháp lý sắt đá của anh. Khang không dùng quyền lực để nạt nộ hay thị uy; anh biến chính các quy tắc tố tụng thành một bức tường thành kiên cố, bít chặt mọi lối thoát hiểm vòng vo hay những mưu mẹo thương lượng mang tính thỏa hiệp thông thường của giới sưu tập.

Đúng lúc bầu không khí ngột ngạt trong phòng tưởng chừng như sắp nổ tung thì từ ngoài hành lang lát gạch hoa lại vang lên tiếng bước chân khoan thai. Đó là tiếng đế giày da cao cấp nện nhịp nhàng trên nền gạch, đi kèm một giọng cười trầm ấm, nhã nhặn và mang đậm vẻ lịch lãm của giới doanh nhân thành đạt:

"Ồ, chưa đến giờ đón khách chính thức mà không khí trong phòng giám đốc của chúng ta đã trang trọng và nghiêm túc thế này rồi sao?"

Cánh cửa gỗ mở rộng thêm một lần nữa. Một người đàn ông khoảng ba mươi lăm tuổi bước vào phòng, phong thái đĩnh đạc và tự tin đến mức dường như luồng không khí căng thẳng nghẹt thở trong phòng cũng phải dạt sang hai bên để nhường lối cho anh ta.

Người đàn ông mặc bộ complet may đo bằng chất liệu dạ mỏng màu xanh navy thượng hạng, ve áo xếch nhẹ theo phong cách cổ điển Ý, chiếc cravat lụa tơ tằm màu mận chín thắt nút kiểu Windsor hoàn hảo không một nếp nhăn lệch. Trên tay anh ta là chiếc cặp táp bằng da bê màu nâu cánh gián có khóa mạ vàng mờ, bên góc phải của cặp đính một kẹp kim loại nhỏ in biểu trưng hình chiếc ấn vuông cách điệu – biểu trưng nhận diện thương hiệu quen thuộc của Công ty Cổ phần Di sản Minh Thành.

Bùi Quang Duy.

Chuyên viên cao cấp phụ trách khối hồ sơ di sản và hậu cần vận chuyển của Minh Thành, người đại diện pháp lý trực tiếp của đơn vị tài trợ lớn nhất cho triển lãm lần này.

Duy lướt ánh mắt nhanh như chớp qua toàn bộ căn phòng. Nụ cười nở trên môi anh ta không hề tắt đi khi nhìn thấy tấm thẻ ngành công an đặt trên bàn hay sắc mặt xám ngoét của Đỗ Vạn Lịch. Sự tự tin của Duy dường như toát ra từ chính từng đường kim mũi chỉ trên bộ trang phục đắt tiền và sự am tường sâu sắc về cách thức vận hành của những mối quan hệ quyền lực trong xã hội thượng lưu.

"Chào bác Lịch, chào chị Hà An," Duy khẽ gật đầu chào hai người quản lý bảo tàng với sự thân tình đúng mực, rồi quay hẳn người sang nhìn Lục Khang. Ánh mắt Duy ánh lên sự dò xét sắc sảo nhưng ngoài mặt vẫn duy trì một thái độ vô cùng lịch sự và hòa nhã: "Và xin chào đồng chí cán bộ. Tôi là Bùi Quang Duy, đại diện ủy quyền của Công ty Cổ phần Di sản Minh Thành – đơn vị tài trợ gói hiện vật và bảo trợ hồ sơ pháp lý cho triển lãm lần này."

Đỗ Vạn Lịch như người sắp chết đuối vớ được cọc gỗ, vội vàng bước vòng qua bàn:

"Anh Duy... may quá anh đến kịp lúc! Có đồng chí thanh tra bên kinh tế... nhận được nguồn tin báo nặc danh gì đó về chiếc đồng hồ quả quýt..."

"Tôi có nghe thoáng qua câu chuyện khi vừa bước qua sảnh chính," Duy mỉm cười điềm đạm ngắt lời người già cả, bước tới mép bàn làm việc đối diện với Khang. Anh ta đặt chiếc cặp da xuống một cách vô cùng nhẹ nhàng, không hề phát ra một tiếng động thô kệch nào trên mặt gỗ. "Thưa đồng chí thanh tra, tôi hoàn toàn hiểu và nhiệt liệt ủng hộ tinh thần trách nhiệm, sự mẫn cán của lực lượng công an trong việc bảo vệ an ninh kinh tế và trật tự xã hội. Tuy nhiên, trong lĩnh vực giám định, bảo tồn và phục chế di sản văn hóa, ranh giới giữa một 'sai sót kỹ thuật đối chiếu nội bộ' và một hành vi 'gian lận có chủ ý' đôi khi cực kỳ mong manh."

Duy mở khóa chiếc cặp da bằng một tiếng *tách* êm ái, rút ra một tập hồ sơ dày cộp được đóng gáy xoắn cẩn thận, bên ngoài dán nhãn niêm phong chuyên nghiệp của công ty:

"Gói hiện vật trưng bày đợt này do phía Minh Thành chúng tôi đứng ra vận động mượn từ các bộ sưu tập tư nhân lâu đời. Quá trình luân chuyển qua nhiều kho bãi, làm vệ sinh cơ học khử ẩm, lập phiếu kiểm định kỹ thuật và hoàn tất các thủ tục chuyển giao thường kéo dài hàng tháng trời. Trong một chuỗi quy trình phức tạp như vậy, việc xuất hiện những sai lệch nhỏ về mặt mã số, cách dùng thuật ngữ miêu tả hoặc ghi chú kỹ thuật giữa bản lưu trữ cũ của chủ sở hữu và bản kiểm kê mới của đơn vị trưng bày là điều khó tránh khỏi trong ngành bảo tàng học. Nếu chỉ vì một vài bất đồng quan điểm chuyên môn nội bộ hay sự suy diễn thiếu cơ sở của một nhân viên kiểm kho mới vào nghề mà chúng ta vội vã hình sự hóa một vấn đề khoa học, lập biên bản niêm phong hiện vật ngay trước thềm một sự kiện văn hóa lớn của thủ đô, thì không chỉ bảo tàng chịu thiệt hại nặng nề về mặt uy tín mà hình ảnh của các nhà tài trợ tâm huyết với di sản như Minh Thành chúng tôi cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng."

Duy nghiêng đầu nhìn Lục Khang, ánh mắt chân thành và đầy sức thuyết phục:

"Vì vậy, tôi xin phép đề xuất một phương án xử lý hài hòa thế này: phía Minh Thành chúng tôi sẵn sàng cử ngay một tổ chuyên gia giám định độc lập có chứng chỉ quốc tế của công ty đến phối hợp cùng ban quản lý bảo tàng để rà soát, đối chiếu lại toàn bộ chuỗi chứng từ gốc và tiến hành kiểm tra kỹ thuật tại chỗ ngay trong trưa nay. Nếu thực sự có bất kỳ sai lệch nào về mặt cơ học hay hư hại linh kiện trong quá trình vận chuyển, chúng tôi sẽ lập tức rút hiện vật về kho bảo quản cấp A để hiệu chỉnh kỹ thuật nội bộ, đồng thời thay thế ngay bằng một hiện vật tương đương có đầy đủ chứng chỉ giám định niên đại. Như vậy, chúng ta vừa đảm bảo được tính chuẩn xác tuyệt đối của khoa học di sản, vừa giữ trọn vẹn thể diện cho bảo tàng và các cơ quan quản lý văn hóa. Đồng chí thanh tra thấy một phương án giải quyết nội bộ mang tính xây dựng như vậy có hợp tình hợp lý không?"

Một bài phát biểu hoàn hảo. Từ ngữ gãy gọn, lập luận chặt chẽ, viện dẫn đầy đủ các yếu tố kỹ thuật để biến một vụ án hình sự nghiêm trọng thành một "vấn đề sai sót hành chính thông thường", đồng thời khéo léo dùng danh nghĩa "thể diện văn hóa thủ đô" để tạo áp lực hòa hoãn.

Đỗ Vạn Lịch khẽ thở phào một hơi dài thườn thượt, nét mặt giãn ra thấy rõ, ánh mắt ông nhìn Duy tràn đầy sự biết ơn như nhìn thấy vị cứu tinh. Hà An cũng nhanh chóng lấy lại vẻ tự tin vốn có, vội vàng phụ họa:

"Đúng đấy ạ! Đây hoàn toàn là vấn đề kỹ thuật lưu trữ và đối chiếu chứng từ nội bộ giữa hai pháp nhân. Chúng tôi hoàn toàn có đủ năng lực chuyên môn để tự rà soát..."

"Một sai sót kỹ thuật đối chiếu nội bộ không thể tự nó làm biến mất một cỗ máy cơ học nguyên bản khỏi lớp vỏ bạc trăm năm được, anh Duy à."

Giọng nói của Ninh Tường Vi vang lên, sắc gọn và lạnh lùng như một nhát kéo cắt phăng tấm màn nhung êm ái mà Bùi Quang Duy vừa dày công giăng ra. Cả căn phòng một lần nữa rơi vào trạng thái chết lặng.

Bùi Quang Duy khẽ xoay người lại. Đôi lông mày được tỉa tót cẩn thận của anh ta hơi nhướng lên một chút. Trong một khoảnh khắc cực ngắn – chỉ chừng một cái chớp mắt – Vi bắt gặp một tia nhìn sắc lạnh, dò xét đầy nguy hiểm lướt qua đáy mắt người đàn ông bảnh bao này. Nhưng bản lĩnh của một kẻ sành sỏi thương trường đã giúp Duy che đậy nó ngay tức khắc bằng một nụ cười hòa nhã, kẻ cả:

"Cô Vi đây chắc hẳn là nhân sự lưu trữ mới mà chị An vừa đề cập? Tôi rất trân trọng sự cẩn trọng và nhiệt huyết của một người làm công tác tài liệu văn thư. Nhưng cô Vi này, việc giám định máy đồng hồ cổ là một phân ngành cơ khí vi mô cực kỳ phức tạp và chuyên biệt. Nó đòi hỏi nhiều năm kinh nghiệm thực tế trên các dòng máy cổ điển của Thụy Sĩ, Pháp, Đức... chứ không thể chỉ dựa vào vài trang giấy tờ hay những cảm nhận âm thanh chủ quan..."

"Tôi không dựa vào cảm nhận chủ quan, anh Duy. Tôi dựa vào chính chữ ký sống của anh trên biên bản giao nhận ban đầu," Vi không hề lùi bước dù chỉ nửa bước chân.

Cô mở cuốn sổ tay bìa da đen, giơ trang giấy có dán bản sao trích lục hồ sơ mà cô đã cẩn thận đối chiếu từng nét bút vào sáng sớm nay:

"Biên bản giao nhận hiện vật số 04, ký ngày mười lăm tháng trước giữa Công ty Di sản Minh Thành và Bảo tàng Vạn Lịch – do chính anh, Bùi Quang Duy, ký với tư cách đại diện bên giao – ghi nhận rất chi tiết: *Đồng hồ quả quýt vỏ bạc chạm cúc đại đóa, máy Longines mười bảy chân kính chế tác đầu thế kỷ XX, số sê-ri máy dập chìm trên khung đỡ cơ học là 289411.* Trong hồ sơ lưu trữ khoa học của bảo tàng, ảnh chụp cận cảnh cỗ máy mang số sê-ri 289411 vẫn còn lưu rõ từng vết xước thời gian trên các cầu máy mạ vàng. Thế nhưng, trên nhãn kiểm kê trưng bày mới mà chị Hà An vừa cho in lại bằng phông chữ Arial sai quy chuẩn sáng nay, toàn bộ phần thông tin về số sê-ri máy 289411 đã bị gạt bỏ hoàn toàn. Nhãn mới chỉ còn vỏn vẹn một dòng chữ mơ hồ: *Đồng hồ cơ khí thế kỷ XIX*."

Vi bước thêm một bước về phía mặt bàn, ánh mắt cô găm thẳng vào đôi mắt đang dần đanh lại của Duy:

"Thứ hai, biên bản ban đầu có chữ ký xác nhận của anh khẳng định nắp lưng đồng hồ khít tuyệt đối, ren ốc bản lề nguyên bản đạt tiêu chuẩn bảo quản hiện vật cấp A. Nhưng vết xước kim loại mới xuất hiện ở rãnh ốc bản lề – rãnh ốc mà tôi vừa can lại bằng than chì sáng nay – là một vết xước cưỡng bức do dùng sai đầu tuốc nơ vít, phát sinh trong vòng bốn mươi tám giờ qua. Khoảng thời gian đó trùng khớp hoàn toàn với nhật ký hệ thống ghi nhận có người mở cửa khu vực tủ chống ẩm số ba vào lúc hai mươi mốt giờ mười lăm phút đêm hôm kia – một khung giờ hoàn toàn ngoài giờ hành chính. Một sai sót đối chiếu giấy tờ thông thường không thể tự nó cầm một chiếc tuốc nơ vít thép dẹt làm toét rãnh ốc kim loại, và nó càng không thể tự ý thay đổi toàn bộ tần số dao động cơ học từ 18.000 nhịp lên 21.600 nhịp mỗi giờ."

Sắc mặt của Hà An lúc này không còn là tái mét nữa mà đã chuyển sang màu trắng bệch như cắt không còn giọt máu. Đôi môi cô ta run rẩy kịch liệt.

Nụ cười trên gương mặt của Bùi Quang Duy hoàn toàn đông cứng lại. Ánh mắt anh ta nhìn Vi lúc này đã mất hẳn vẻ kẻ cả, trịch thượng; thay vào đó là sự kinh ngạc tột độ xen lẫn một tia căm phẫn bị kìm nén. Duy không thể ngờ rằng một nhân viên lưu trữ mới chân ướt chân ráo vào bảo tàng, một người vốn mang danh là kẻ bại trận trong nghề báo, lại có thể phát hiện và xâu chuỗi các chi tiết hành chính, cơ khí và thời gian một cách logic, chặt chẽ và không thể phản bác đến mức này.

"Cô Vi... cô đang ngậm máu phun người! Cô đang ám chỉ điều gì?" Hà An lắp bắp, giọng the thé lên vì hoảng loạn cùng cực. "Chính cô... chính cô là người giữ chìa khóa phụ của kho lưu trữ tầng hai! Cô lấy tư cách gì..."

"Đủ rồi."

Một giọng nói trầm, lạnh, mang theo sức nặng ngàn cân vang lên, lập tức bẻ gãy cơn bộc phát của Hà An.

Lục Khang đặt chiếc bút mực nước xuống mặt bàn gụ. Tiếng kim loại va chạm với mặt gỗ vang lên khô khốc. Anh đứng thẳng dậy. Chiều cao vượt trội cùng ánh mắt nghiêm nghị đến gai người của người thanh tra kinh tế khiến không gian căn phòng dường như chùng hẳn xuống một bậc.

Khang chậm rãi quét ánh mắt qua gương mặt đang thất thần của Hà An, lướt qua vẻ mặt căng thẳng của Bùi Quang Duy, rồi cuối cùng dừng lại trên gương mặt thanh tú nhưng cương nghị của Ninh Tường Vi.

Ánh mắt Khang nhìn Vi lúc này không hề có sự tán thưởng, không có sự đồng tình, và càng không có sự biết ơn của một điều tra viên vừa nhận được những thông tin nghiệp vụ đắt giá. Ngược lại, đó là ánh nhìn nghiêm khắc, lạnh lùng của một người thực thi pháp luật đang vạch ra một lằn ranh đỏ không thể vượt qua giữa hai thế giới: thế giới của những suy đoán nghiệp dư và thế giới của tố tụng tư pháp.

"Cô Ninh Tường Vi," Khang cất giọng đều đều, từng âm tiết rõ ràng, mạch lạc và dứt khoát như những nhát cắt. "Những điều cô vừa trình bày – từ sự chênh lệch phông chữ in ấn, vết xước kim loại trên rãnh ốc cho đến âm thanh cơ khí mà cô nghe lại qua lời kể của một người thợ sửa đồng hồ bên ngoài – xét dưới góc độ tố tụng hình sự, tất cả những thứ đó hiện tại chỉ dừng lại ở mức độ suy luận cá nhân và giả thuyết suy đoán."

Vi khẽ mím chặt môi, hai bàn tay buông thõng bên hông hơi siết lại. Lồng ngực cô nhói lên một cảm giác tức tối quen thuộc. Thói quen nghề nghiệp của những năm tháng làm báo điều tra – sự nhạy bén với các chi tiết phi logic, khát khao truy đuổi sự thật đến tận cùng – đã thôi thúc cô lên tiếng bảo vệ giá trị của hiện vật. Nhưng Lục Khang vừa tạt một gáo nước lạnh buốt vào sự nhiệt huyết đó của cô.

"Một bản can vết xước bằng giấy than chì hay trí nhớ của một người thợ sửa đồng hồ về cỗ máy cách đây năm mươi năm hoàn toàn không có giá trị chứng cứ pháp lý trước tòa để quy kết một hành vi phạm tội," Khang tiếp tục, giọng nói của anh không hề suy suyển hay bị tác động bởi bất kỳ áp lực vô hình nào trong phòng. "Quy trình tố tụng không vận hành dựa trên cơ sở của sự suy diễn logic thông thường hay những đối chiếu tài liệu chưa qua thủ tục giám định tư pháp hợp pháp. Ranh giới giữa một phát hiện mang tính dân sự và một chứng cứ pháp lý có giá trị chứng minh tội phạm chính là tính hợp thức tuyệt đối của chuỗi bảo quản và thu thập vật chứng."

Khang quay sang phía Đỗ Vạn Lịch và Bùi Quang Duy, thái độ của anh chuẩn mực, lạnh lùng đến mức không ai có thể tìm ra một kẽ hở nào để bắt bẻ:

"Thưa ông Đỗ Vạn Lịch và anh Bùi Quang Duy. Tôi ghi nhận toàn bộ ý kiến giải trình của phía ban quản lý bảo tàng và đại diện đơn vị tài trợ. Tuy nhiên, căn cứ vào nguồn tin báo tố giác tội phạm đã được thụ lý theo đúng thẩm quyền, kết hợp với những mâu thuẫn thực tế về mặt hồ sơ lưu trữ và dấu vết cơ học được các bên xác nhận trong buổi làm việc này, Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định có đủ căn cứ pháp lý để tiến hành niêm phong khẩn cấp hiện vật đồng hồ quả quýt số ba cùng toàn bộ tài liệu hồ sơ gốc có liên quan, nhằm phục vụ công tác trưng cầu giám định kỹ thuật hình sự tại Viện Khoa học Hình sự – Bộ Công an."

Bùi Quang Duy khẽ hít một hơi sâu qua kẽ răng. Bàn tay đang đặt trên chiếc cặp táp da bê siết nhẹ lại khiến lớp da nhăn đi một chút, rồi anh ta thong thả buông lỏng ra. Là một người cực kỳ sành sỏi về luật pháp và các mối quan hệ quyền lực, Duy thừa hiểu rằng trước một điều tra viên trẻ tuổi, liêm chính, nắm chắc từng điều luật tố tụng và lạnh lùng như Lục Khang, mọi lời lẽ hoa mỹ, mọi đề xuất hòa giải hay những mối quan hệ xã giao ngầm đều trở nên hoàn toàn vô hiệu. Việc cố tình cản trở lúc này sẽ chỉ tự biến mình thành kẻ tình nghi cản trở hoạt động tư pháp.

"Được thôi," Duy mỉm cười trở lại, một nụ cười chuyên nghiệp, lạnh nhạt và không tì vết. "Nếu đồng chí thanh tra đã quyết định tiến hành các biện pháp nghiệp vụ theo đúng quy trình tố tụng thì phía Công ty Di sản Minh Thành chúng tôi hoàn toàn tôn trọng và sẵn sàng hợp tác tối đa. Chúng tôi sẽ cung cấp toàn bộ hồ sơ lưu trữ gốc và phối hợp làm việc với cơ quan giám định khi có yêu cầu."

"Rất tốt," Khang đáp ngắn gọn.

Anh kéo tập biên bản làm việc về phía mình, cầm chiếc bút mực nước lên và bắt đầu điền những thông tin hành chính cuối cùng vào các mục kiểm tra hiện trường, thời gian và thành phần tham gia trước khi yêu cầu các bên ký tên xác nhận.

Căn phòng làm việc lại một lần nữa rơi vào sự im lặng ngột ngạt đến nghẹt thở. Chỉ còn lại tiếng ngòi bút kim loại của Khang cào nhẹ trên mặt giấy in biểu mẫu: *xoạt... xoạt... xoạt...*

Âm thanh ấy đều đặn, sắc lạnh và đơn điệu như từng nhát đục kiên nhẫn đang nện thẳng vào sự kiên nhẫn và thần kinh căng như dây đàn của những người có mặt. Đỗ Vạn Lịch ngồi phịch xuống chiếc ghế bành bọc da phía sau bàn, hai vai sụp xuống, gương mặt già nua xám xịt như vừa già thêm cả chục tuổi chỉ trong vòng nửa giờ đồng hồ. Hà An đứng nép sát vào góc chiếc tủ tài liệu bằng sắt, ánh mắt cô ta nhìn trừng trừng xuống mũi đôi giày cao gót màu kem, hai bàn tay đan chặt vào nhau sau lưng để che giấu những ngón tay đang run rẩy không ngừng.

Vi bước lùi lại hai bước, đứng lặng bên khung cửa sổ nhìn ra khoảnh sân sau của bảo tàng. Nắng thu Hà Nội đã bắt đầu lên cao, nhuộm một màu vàng hanh hao, buồn bã lên những mái ngói rêu phong của khu phố cổ. Gió heo may thổi qua những chấn song gỗ lim, mang theo mùi hoa sữa đầu mùa ngai ngái, nồng nặc pha lẫn mùi khói bếp lò than tổ ong từ một căn nhà nào đó sâu trong ngõ Hàng Chỉ bốc lên.

Vi nhìn tập biên bản của Khang, nhìn cuốn sổ tay bìa da màu đen chi chít những dòng ghi chép, phác thảo kỹ thuật mà cô đang ôm chặt trước ngực, lòng dâng lên một cảm giác phức tạp vừa cay đắng vừa xa lạ.

Hai năm trước, cô cũng từng đứng trước những xấp tài liệu dày cộp như thế này, từng tràn đầy niềm tin sắt đá rằng chỉ cần mình nắm giữ sự thật khách quan, nắm giữ các chi tiết logic không thể chối cãi thì công lý và lẽ phải sẽ tự khắc được thực thi. Nhưng bài học đắt giá từ vụ án gốm Chu Đậu – cái ngày mà thầy Trần Minh Đạo gục ngã ngay trên bàn làm việc của tòa soạn vì một mắt xích tài liệu nguồn bị đối phương tráo đổi một cách tinh vi mà cô không phát hiện ra – đã dạy cho Vi một bài học tàn nhẫn đến thấu xương: sự thật trần trụi nếu không được bảo vệ bằng một quy trình pháp lý nghiêm ngặt và kín kẽ thì sẽ rất dễ dàng bị bóp méo, bị biến dạng, và cuối cùng sẽ quay ngược trở lại trở thành một thứ vũ khí chết người hủy hoại chính kẻ đã tìm ra nó.

Lục Khang ký nhát bút cuối cùng dứt khoát vào góc dưới bên phải của trang biên bản. Anh gấp tập tài liệu lại, đứng dậy, cài chiếc bút mực vào túi áo ngực một cách cẩn thận. Anh nhìn lướt qua ông Lịch và Hà An, thông báo ngắn gọn về việc yêu cầu họ có mặt tại sảnh lớn để chứng kiến thủ tục dán giấy niêm phong bục trưng bày số ba.

Trước khi quay người bước ra khỏi phòng để thực hiện nhiệm vụ, Khang dừng lại trước mặt Ninh Tường Vi.

Khoảng cách giữa hai người chỉ chừng hai bước chân. Trong khoảng cách ấy, Vi có thể ngửi thấy mùi xà phòng thơm the mát pha lẫn mùi giấy mực in hành chính toát ra từ người đàn ông này. Đôi mắt đen sâu thẳm của người thanh tra trẻ nhìn thẳng vào gương mặt thanh tú nhưng mệt mỏi của cô gái, rồi ánh mắt anh hạ xuống, dừng lại trên cuốn sổ tay bìa da đen mà cô đang ôm chặt trước ngực như một tấm khiên hộ mệnh.

Không còn vẻ căng thẳng nghiệp vụ hay sự đanh thép khi đối thoại với ban quản lý bảo tàng, nhưng giọng Khang khi cất lên vẫn giữ nguyên một độ lạnh lùng, dứt khoát đến gai người:

"Trí nhớ của cô là tài liệu tham khảo, nhưng pháp luật làm việc trên căn cứ có thể niêm phong."

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn