Hồ Sơ Phố CổC.1 / 38
Chương 1

Bụi Trên Mặt Kính

Ánh nắng vàng nhạt của một buổi chiều đầu thu lọt qua những chấn song gỗ lim dày dặn của căn gác kho Bảo tàng Tư nhân Vạn Lịch, rọi xiên thành từng luồng sáng rõ rệt, để lộ hàng triệu hạt bụi li ti đang lơ lửng, chao lượn trên những dãy kệ hồ sơ chưa kịp phân loại.

Mùi giấy dó mục ngấm ẩm qua nhiều thập kỷ, mùi gỗ thông hun khói ngâm tẩm hóa chất chống mối mọt xông lên hăng hắc, hòa quyện với hơi ẩm quánh đặc trưng bốc lên từ những bức tường vôi vữa rêu phong của nếp nhà ống phố cổ Hà Nội. Thứ không khí ấy tạo nên một không gian vừa tĩnh mịch đến rợn ngợp, vừa ngột ngạt như bị bọc trong một chiếc kén thời gian đã đóng băng.

Ninh Tường Vi ngồi thẳng lưng bên chiếc bàn gỗ tạp phủ lớp sơn bóng đã mòn vẹt ở bốn mép cạnh, nơi lớp gỗ thịt lộ ra những thớ xơ xám ngoét vì năm tháng cọ xát với tay áo của bao thế hệ văn thư. Cô đeo đôi găng tay cotton trắng mỏng, cẩn trọng lật từng tờ phiếu kiểm kê cũ kỹ viết bằng bút chấm mực màu tím than từ những năm thập niên tám mươi của thế kỷ trước.

Chất giấy xơ bản giòn rụm, bờ rìa ố vàng lốm đốm những vệt nấm mốc hoa mai do những đợt gió nồm ẩm ướt triền miên của xứ Bắc. Mỗi khi chuyển sang một trang mới, hai đầu ngón tay cái và ngón trỏ của Vi lại nắn nhẹ theo đường viền mép giấy, miết thật êm để giữ cho thớ cellulose không bị bẻ gãy, tuyệt đối không tạo thêm bất kỳ nếp gấp cơ học nào.

Ở phía tay phải cô, màn hình chiếc máy tính bảng hiện đại đang mở phần mềm quản lý hiện vật nội bộ. Hai thế giới, hai thực tế nằm song song nhau trên một mặt bàn chật hẹp: một bên là nét chữ nghiêng mực tím bay bổng với những ký hiệu viết tắt theo thói quen cá nhân của lớp người làm bảo tồn thời bao cấp; một bên là những ô nhập liệu kỹ thuật số xám xịt, cứng nhắc, đòi hỏi mã định danh chuẩn hóa mười hai chữ số cùng các trường dữ liệu siêu văn bản khô khốc.

Vi nhúng đầu ngòi chiếc bút máy ngòi thép vào lọ mực đen không phai, chấm nhẹ vào miệng lọ thủy tinh để gạt bớt giọt mực thừa, rồi tỉ mỉ ghi lại số sê-ri vào cuốn sổ bìa vải thô đặt ngay trước mặt. Cuốn sổ dầy cộp, bốn góc bọc kim loại đã trầy xước nước mạ, từng trang giấy kẻ dòng ngang chứa chật ních nét chữ mảnh, đều đặn và chuẩn xác như thể được in ra từ một cỗ máy đo đạc trắc địa.

Ghi chép chi tiết đến từng dấu phẩy, từng milimét xê dịch không còn đơn thuần là một thao tác nghiệp vụ của ngành lưu trữ; đối với Ninh Tường Vi, nó là một cơ chế phòng vệ bản năng, một bức tường thành được dựng lên bằng giấy trắng mực đen để bảo bọc chính mình.

Hai năm trước, một bài báo điều tra dài kỳ mang tên cô và người thầy hướng dẫn – nhà báo kỳ cựu Trần Minh Đạo – đã nổ tung giữa dư luận như một quả bom giữa thanh thiên bạch nhật. Bài viết vạch trần đường dây thất thoát và đánh tráo cổ vật tinh vi thông qua các dự án đội lốt tu bổ di tích lịch sử. Nhưng bi kịch ập đến chỉ bốn mươi tám tiếng sau khi bản in đầu tiên được phát hành rộng rãi. Một trang tài liệu thẩm định then chốt bị chứng minh là văn bản giả mạo mập mờ, được gài gắm vô cùng khéo léo vào kẹp hồ sơ điều tra gốc.

Dư luận lập tức đảo chiều như một cơn cuồng phong. Ban biên tập tờ báo chịu áp lực khủng khiếp từ nhiều phía; thầy Đạo nhận toàn bộ trách nhiệm chuyên môn về mình rồi lặng lẽ nhận quyết định đình chỉ công tác vô thời hạn, còn Vi chọn cách tự nguyện nộp đơn thôi việc trong nỗi cay đắng tột cùng của một kẻ bị biến thành quân cờ.

Ký ức của cô về đêm trước ngày nộp bản thảo cuối cùng chưa từng phai nhạt, nó như một vết sẹo lồi luôn nhức nhối mỗi khi trở trời. Đêm đó, dưới ngọn đèn bàn vàng vọt của tòa soạn vắng tanh, giữa tập tài liệu dày cộp còn nồng mùi mực in, Vi nhớ rất rõ hình ảnh thầy Đạo lật nhanh một góc cuốn sổ tay bìa da cũ kỹ. Trong cuốn sổ ấy có một ký hiệu lạ lùng – một vết mực màu xanh xám có hình xoắn ốc kép – mà lúc đó cô chỉ thoáng nhìn lướt qua trong cơn mệt mỏi rã rời và sự phấn khích mù quáng trước một chiến thắng tưởng như đã cận kề.

Nỗi ân hận vì đã không kiểm tra chéo đến tận chân tơ kẽ tóc từng nguồn văn bản, từng nét mực ký tên đã gặm nhấm tâm can Vi suốt ngần ấy ngày đêm. Kể từ ngày biến cố ấy xảy ra, bộ não với khả năng ghi nhớ thị giác đặc biệt của cô luôn vận hành hết công suất, liên tục chụp lại, phân tích và lưu trữ từng chi tiết nhỏ nhất trong tầm mắt. Nó từ chối mọi sự tin tưởng mù quáng vào trực giác hay lời hứa hẹn bằng miệng. Bất cứ thứ gì không được ghi chép, không để lại dấu vết vật lý rõ ràng để kiểm chứng độc lập, đối với cô đều tiềm ẩn nguy cơ của một cạm bẫy chết người.

Tiếng gót giày cao gót nện dồn dập, gắt gỏng trên các bậc cầu thang gỗ lim dốc đứng phá vỡ khoảng không gian yên ắng của căn gác mái. Cánh cửa kho bọc nỉ cách âm bật mở mạnh bạo, làm làn gió điều hòa khô lạnh từ ngoài hành lang ùa vào, cuốn theo luồng không khí xao động khiến mép tờ giấy xơ bản trên bàn khẽ run lên bần bật.

Nguyễn Hà An bước vào. Cô ôm chặt trước ngực một tập bìa kẹp hồ sơ viền đỏ thẫm. Gương mặt được trang điểm kỹ lưỡng, sắc sảo của người phụ nữ ngoài ba mươi thoáng hiện vẻ căng thẳng pha lẫn sự sốt ruột không buồn che giấu. Là quản lý chuyên môn của Bảo tàng Vạn Lịch, Hà An luôn xuất hiện trước công chúng và giới sưu tầm với vẻ ngoài tự tin, đĩnh đạc và cực kỳ quyết đoán. Nhưng hôm nay, những bước chân vội vã của cô dường như thiếu đi sự ung dung tự tại thường nhật.

"Vi này, em tạm dừng việc nhập mã cho đống giấy chứng nhận niên đại gốm Chu Đậu lại đã," Hà An nói nhanh, giọng sắc gọn và cao vút vang vọng khắp căn gác kho chật hẹp. "Công tác khánh tiết dưới sảnh tầng một đang chạy nước rút rồi. Anh Lịch vừa đi kiểm tra một lượt các tủ trưng bày chính và yêu cầu chúng ta phải ưu tiên tuyệt đối cho tâm điểm của buổi triển lãm sáng mai. Em hoàn tất thẻ hiện vật và lập biên bản bàn giao chiếc đồng hồ quả quýt bạc ngay đi."

Vi chậm rãi đặt chiếc bút máy xuống rãnh khay pha lê, chờ cho giọt mực đen trên trang sổ kịp se lại rồi mới ngẩng đầu nhìn người quản lý: "Ý chị là chiếc đồng hồ quả quýt chạm hoa cúc đại đóa thuộc bộ sưu tập gia bảo phố cổ?"

"Chính nó," Hà An gật đầu, đưa những ngón tay sơn móng đỏ chót gõ nhẹ lên mép bàn gỗ theo một nhịp điệu bồn chồn. "Đó là linh hồn của toàn bộ buổi lễ khai mạc ngày mai. Phóng viên mảng văn hóa, các chuyên gia nghiên cứu di sản và đặc biệt là bên phía tài trợ chiến lược – Công ty Cổ phần Di sản Minh Thành – họ đều chỉ chăm chăm chờ xem món bảo vật này thôi. Anh Lịch muốn đích thân đặt nó vào tủ kính trung tâm ở gian chính trước bốn giờ chiều nay để đội ánh sáng căn chỉnh góc rọi. Em lập thẻ hiện vật xong thì ký biên bản xuất kho nội bộ luôn nhé."

Vi liếc nhìn đồng hồ treo tường, rồi đưa mắt nhìn sang bảng nhật ký trực kho gắn trên vách gỗ: "Chiếc đồng hồ đó nằm trong tủ chống ẩm số ba từ đợt kiểm kê quy chuẩn cách đây ba tháng. Theo đúng quy trình bảo tồn hiện vật kim khí cơ học, em cần ít nhất hai mươi phút để kiểm tra tình trạng vật lý, soi lại đối chiếu vết mòn kim loại và đối chiếu lại các thông số kỹ thuật trước khi ký lệnh xuất kho."

Hà An khẽ thở dài một hơi đầy vẻ sốt ruột, đưa tay vuốt lại nếp áo sơ mi lụa màu be đắt tiền: "Quy trình thì chị hiểu, chị làm bảo tàng này trước em mà. Nhưng hôm nay tình huống đặc biệt lắm Vi ơi. Anh Lịch đang đứng dưới sảnh đốc thúc từng phút một. Mọi người từ lễ tân đến hậu cần đều đang cuống cuồng hết cả lên rồi. Em linh hoạt thao tác nhanh một chút giúp chị, đừng câu nệ từng bước sách vở như thế."

Vi không tranh cãi thêm. Cô hiểu rõ tính khí của Hà An và áp lực từ phía ban giám đốc. Cô đứng dậy, bước vòng qua chiếc bàn làm việc sang góc phòng đối diện, nơi đặt chiếc tủ chống ẩm điện tử chuyên dụng màu đen tuyền mang nhãn hiệu Eureka của Nhật Bản. Chiếc tủ kính dày này được cài đặt cố định ở độ ẩm bốn mươi lăm phần trăm và nhiệt độ luôn duy trì ở mức hai mươi mốt độ C – môi trường lý tưởng tuyệt đối để ngăn chặn quá trình oxy hóa của kim loại quý và giữ cho lớp dầu bôi trơn trong các bộ máy cơ học tinh xảo không bị khô cứng hay biến chất.

Vi rút chùm chìa khóa cơ từ trong túi áo blouse trắng, tra vào ổ khóa dưới đáy tủ, xoay một vòng rồi bấm chuỗi mã số điện tử gồm sáu chữ số trên bảng điều khiển kỹ thuật số. Tiếng khóa từ kêu một tiếng *tách* khô khốc và dứt khoát. Cô khẽ kéo cánh cửa kính dày hai lớp ra. Một luồng không khí khô ráo, thoảng mùi thơm ngai ngái của chất hút ẩm cao cấp phả nhẹ vào mặt.

Chiếc đồng hồ quả quýt nằm ngay ngắn trên chiếc gối nhung màu xanh thẫm, đặt lọt thỏm bên trong một chiếc khay lót xốp định hình màu xám tro. Cầm chiếc khay bằng cả hai tay với sự cẩn trọng cao độ, Vi mang nó lại bàn làm việc, đặt nhẹ nhàng xuống ngay dưới nguồn sáng trung tính của chiếc đèn kính lúp phóng đại công nghiệp.

Chiếc đồng hồ thực sự là một kiệt tác thủ công đỉnh cao của kỹ nghệ chế tác kim hoàn và cơ khí chính xác vào cuối thế kỷ mười chín. Vỏ ngoài bằng bạc nguyên khối dày dặn, qua hơn một trăm năm lưu lạc giữa dòng đời bụi bặm đã kịp phủ lên mình lớp patina xám tro trầm mặc, ấm áp chứ không hề xỉn đen thô ráp như thứ bạc non tuổi. Mặt trước của nắp đồng hồ chạm nổi một đóa cúc đại đóa với từng cánh hoa uốn lượn mềm mại, bung nở tràn trề sức sống; phần nhụy hoa được điểm xuyết bằng những đường vân xoắn ốc cực kỳ tinh vi, mang đậm dấu ấn mỹ thuật giao thời giữa phong cách Art Nouveau phương Tây và nét đài các, thâm trầm của tầng lớp thượng lưu Hà Nội xưa.

Vi ngồi xuống, kéo chiếc thấu kính lúp có gắn đèn led vòng xuống thật sát mặt phẳng của hiện vật. Ngón tay đeo găng trắng nhẹ nhàng nâng mép chiếc đồng hồ lên, xoay nó nghiêng một góc bốn mươi lăm độ so với hướng sáng thẳng đứng để quan sát độ phản xạ của các chi tiết cơ khí.

Ánh mắt Vi đột ngột khựng lại.

Con ngươi cô co thắt lại trong tíc tắc. Cơ chế ghi nhớ hình ảnh thị giác trong não bộ của cô lập tức kích hoạt với tốc độ phi thường, tự động đối chiếu hình ảnh thực tế dưới mắt với bức ảnh tư liệu độ phân giải cực cao được chụp cách đây đúng ba tháng, khi hiện vật này hoàn tất hồ sơ quy chuẩn để niêm phong nhập kho.

Trong bức ảnh lưu trữ lưu trong hệ thống, tại vị trí con ốc vít bằng thép tôi giữ bản lề nắp lưng kim loại, bề mặt con ốc có một lớp màng oxit xám mờ hoàn toàn đồng nhất với toàn bộ kết cấu cơ khí xung quanh; rãnh vặn của ốc vít có một vết cấn nhẹ hình bán nguyệt bên mép trái – một dấu vết hao mòn tự nhiên do thời gian và bàn tay của người chủ cũ sử dụng từ nhiều thập kỷ trước để lại.

Thế nhưng ngay lúc này, dưới vòng sáng trắng lạnh có nhiệt độ màu 5000 Kelvin của chiếc đèn lúp, rãnh xẻ của con ốc vít bản lề lại lộ ra một vệt kim loại sáng bóng đến chói mắt.

Vết xước ấy sắc lẹm, chạy dài từ mép rãnh vít rồi trượt hẳn ra ngoài phần gờ viền bạc bao quanh bản lề. Bề mặt vết cào xước không hề có một hạt bụi nào bám vào, phản chiếu ánh sáng nhân tạo thành một vệt sáng sắc nhọn, gắt gao. Đó là dấu vết cơ học không thể nhầm lẫn của một chiếc tuốc nơ vít bằng thép tôi cứng hiện đại – loại có lưỡi dẹt kích thước chừng hai milimét thường dùng để sửa chữa đồ điện tử gia dụng – đã bị trượt tay khi người thao tác cố tình dùng lực vặn mở con ốc ra trong một tình trạng thiếu dụng cụ gá kẹp chuyên dụng.

Bản lề này chắc chắn đã bị can thiệp. Hơn nữa, nó chỉ mới bị tháo mở trong một khoảng thời gian rất gần đây, hoàn toàn lệch khỏi toàn bộ hồ sơ bảo tồn ban đầu của bảo tàng.

Lồng ngực Vi thắt lại một nhịp quen thuộc. Một luồng khí lạnh buốt chạy dọc sống lưng cô, hệt như cái cảm giác kinh hoàng của hai năm trước, khi cô dùng kính hiển vi soi thấy một vết tẩy xóa cơ học tinh vi trên tờ hóa đơn chuyển giao cổ vật tại tòa soạn. Ký ức về sự sụp đổ của một niềm tin nghề nghiệp lại trỗi dậy, cay xè nơi cuống họng.

"Chị Hà An," Vi cất tiếng. Giọng cô trầm hẳn xuống, phẳng lặng và lạnh tanh – biểu hiện quen thuộc mỗi khi cô rơi vào trạng thái cảnh giác cao độ nhất của một người điều tra. "Chiếc đồng hồ này trong vòng ba tháng qua có ai làm phiếu mượn ra ngoài để vệ sinh, lau dầu hay phục chế lại không?"

Hà An đang cúi đầu lật giở xấp tài liệu trên tay, nghe thấy câu hỏi bất thường liền ngẩng phắt lên. Đôi lông mày kẻ tỉ mỉ của cô ta hơi nhíu lại, lộ vẻ khó hiểu: "Làm gì có chuyện vô lý đó em? Tủ chống ẩm số ba là tủ niêm phong đặc biệt, chỉ có chị và em là hai người duy nhất giữ chìa khóa cơ và mã số bảo mật. Từ ngày nhập kho lưu trữ đến nay, hiện vật được giữ nguyên trạng để chuẩn bị riêng cho triển lãm này. Anh Lịch coi món đồ này như con ngươi của mắt mình, nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa, ai dám tùy tiện đụng vào mà không có lệnh của anh ấy?"

"Con ốc bản lề nắp lưng có một vết xước kim loại hoàn toàn mới," Vi nói, ngón tay trỏ chỉ thẳng vào vị trí con ốc tí hon đang nằm dưới thấu kính lúp. "Vết xước này chưa hề xuất hiện trong ảnh chụp hồ sơ lưu trữ ngày mười lăm tháng sáu. Lớp oxit bạc và màng gỉ thép bảo vệ quanh lỗ vít đã bị cạo bay, làm lộ ra lớp kim loại trần còn nguyên độ sáng bóng cơ học. Có người đã dùng một chiếc tuốc nơ vít sai quy cách để cố tình mở nắp lưng của chiếc đồng hồ này ra."

Hà An bước vội lại gần bàn, chống hai tay lên mép gỗ, cúi sát mặt xuống thấu kính lúp. Cô nheo mắt nhìn thật kỹ vào điểm Vi vừa chỉ, rồi bỗng nhiên khẽ bật cười khan một tiếng, xua xua bàn tay: "Trời đất ơi Vi, em nhạy cảm và đa nghi quá rồi đấy! Đồ cổ có niên đại cả trăm năm, trải qua biết bao nhiêu biến thiên thời cuộc, qua tay không biết bao nhiêu đời chủ nhân, người ta mang ra tiệm cho thợ sửa đồng hồ phố cổ chọc ngoáy vào là chuyện quá đỗi bình thường. Có khi lúc chụp ảnh lưu trữ hồi tháng sáu, góc đặt đèn và bóng đổ của nắp lưng nó che khuất đi vết xước cũ thôi, làm sao mà khẳng định chắc nịch như thế được?"

"Không thể có chuyện bị che khuất do bóng đổ," Vi quả quyết, từng lời nói thốt ra đều đanh thép và dựa trên cơ sở kỹ thuật thực nghiệm thuần túy. "Ảnh hồ sơ lưu trữ đợt tháng sáu là do chính tay em chụp. Em sử dụng ống kính chuyên dụng macro tiêu cự 100mm, khép khẩu độ f/8 để lấy độ sâu trường ảnh tối đa, dùng hai đèn flash đánh tản sáng qua dù phản đối xứng nhau một góc bốn mươi lăm độ. Dưới nguồn sáng chuẩn hóa đó, không có bất kỳ một góc chết hay bóng đổ nào có thể che khuất được rãnh ốc vít."

Vi ngừng lại một nhịp, xoay nhẹ chiếc đồng hồ để ánh sáng quét qua mép vết trầy: "Hơn thế nữa, chị nhìn kỹ rìa vết xước này xem. Nó có một cái gờ kim loại mới tinh bị đùn lên do lực tì trượt của thép carbon, lớp bạc bên dưới đáy rãnh xước chưa hề có dấu hiệu bị lưu huỳnh hóa. Trong bầu không khí có độ ẩm cao và nhiều khí thải của Hà Nội, bạc nguyên chất khi tiếp xúc trực tiếp với không khí tự nhiên sẽ bắt đầu ngả màu vàng xám rồi xỉn đen trong vòng từ bảy đến mười ngày. Vết xước này xuất hiện chưa quá bốn mươi tám tiếng đồng hồ."

Hà An thoáng sững người trước những lập luận kỹ thuật quá đỗi chặt chẽ của Vi. Một tia bối rối lẫn lo ngại lướt qua đáy mắt người quản lý trong một tích tắc ngắn ngủi, nhưng cô ta lập tức lấy lại vẻ cứng rắn, lạnh lùng thường nhật của một cấp trên: "Dù có vết trầy hay không thì đúng bốn giờ chiều nay hiện vật cũng bắt buộc phải nằm yên vị dưới tủ trưng bày tầng một. Chị không thể nào chạy xuống báo với ban giám đốc là hoãn triển lãm chỉ vì một vết xước cơ học nhỏ bằng sợi tóc được! Em có biết sáng mai có bao nhiêu vị khách quý không? Khách VIP của giới sưu tầm cổ vật, các nhà nghiên cứu đầu ngành, rồi cả ban lãnh đạo cấp cao của Công ty Di sản Minh Thành nữa. Chúng ta không thể tự biến mình thành trò cười cho toàn bộ giới nghiên cứu và báo chí truyền thông chỉ vì sự cẩn thận quá mức của em."

Dứt lời, Hà An đặt mạnh một tấm nhãn trưng bày bằng giấy bìa cứng vừa được in bằng máy in phun màu lên mặt bàn làm việc của Vi: "Đây, nhãn thuyết minh hiện vật mới in bổ sung sáng nay đây. Em ký biên bản rồi lồng nó vào đế mica giúp chị, nhanh lên."

Vi cầm tấm nhãn trưng bày lên. Theo quy chuẩn nhận diện hiện vật của Bảo tàng Vạn Lịch do chính tay Vi thiết lập khi về công tác tại đây, tất cả các nhãn trưng bày đều phải tuân thủ nghiêm ngặt hệ thống thiết kế đồ họa thống nhất: tiêu đề hiện vật sử dụng phông chữ có chân cổ điển sang trọng, khoảng cách giữa các ký tự được giãn cách chuẩn xác 1.2pt, lề trái thụt vào đúng mười lăm milimét so với mép cắt của phôi giấy.

Thế nhưng, ngay khi vừa lướt mắt qua tấm nhãn mới này, thị giác nhạy bén của Vi lập tức nhận ra điểm dị thường. Dòng chữ "Đồng hồ quả quýt bạc – Hoa cúc đại đóa" bị lệch chuẩn khoảng cách ký tự một cách thô thiển; các chữ cái co cụm lại với nhau một cách ngột ngạt, và phông chữ được sử dụng lại là Arial – một biến thể phông không chân văn phòng hiện đại thường thấy ở các bản in ấn vội vã, cẩu thả.

Vi kéo chiếc ngăn kéo bàn làm việc, rút tấm thẻ kho lưu trữ cũ bằng bìa cứng màu vàng ngà được lập từ ba tháng trước ra đặt cạnh tấm nhãn mới in. Sự đối lập hiện lên rõ mồn một. Hai mẫu in hoàn toàn khác biệt về cấu trúc hình học lẫn phong cách trình bày. Tấm nhãn mới này không hề xuất phát từ tệp mẫu thiết kế chuẩn của cơ sở dữ liệu số hóa bảo tàng.

"Tấm nhãn mới này do ai in vậy chị?" Vi hỏi, ánh mắt bình thản nhưng xoáy thẳng vào gương mặt Hà An.

Hà An khẽ giật bắn mình, ánh mắt vô thức liếc sang góc phòng khác để né tránh cái nhìn của Vi: "À... sáng nay bên phòng truyền thông họ tự in bổ sung đấy. Mấy bạn bên ấy bảo nhãn cũ để trong hồ sơ bị ố vàng mất một góc, nhìn mất thẩm mỹ nên in lại cho nó đồng bộ với thiết kế của hệ thống pano quảng bá ngoài sảnh. Mấy cái chi tiết hành chính nhỏ nhặt ấy em bận tâm làm gì cho mệt người?"

Vi không trả lời. Những mắt xích sai lệch dù rất nhỏ nhưng đầy tính hệ thống bắt đầu tự động móc nối lại với nhau trong tâm trí cô: Tủ chống ẩm không có dấu hiệu bị cạy phá bằng ngoại lực, nghĩa là kẻ mở tủ phải có chìa khóa hoặc biết mã số. Ốc vít bản lề nắp lưng có vết cào xước mới tinh. Nhãn trưng bày gốc bị tráo đổi bằng một bản in văn phòng vội vã.

Cảm thấy ngột ngạt, Vi đứng dậy, bước chầm chậm ra phía cửa phòng kho. Căn gác kho này nằm hoàn toàn biệt lập ở tầng ba của ngôi nhà cổ, lối tiếp cận duy nhất là một cầu thang gỗ lim hẹp và dốc, dẫn thẳng từ chiếu nghỉ của tầng hai lên. Vì đây là khu vực lưu trữ tài liệu mật và hiện vật quý giá nên rất ít người qua lại. Mặt sàn gỗ lim bóng loáng qua năm tháng luôn được phủ một lớp bụi mịn mỏng tang mà những người tạp vụ chỉ lau dọn mỗi tuần một lần vào sáng thứ Hai.

Hôm nay là chiều thứ Năm.

Vi bước hẳn ra ngoài chiếu nghỉ, khẽ ngồi xổm xuống, cúi sát mắt nhìn dọc theo bề mặt sàn gỗ lim sẫm màu. Dưới ánh sáng le lói hắt ra từ ô cửa thông gió tròn trên vách tường, cô nhận thấy lớp bụi mịn trên bề mặt bậc thang thứ ba và thứ tư không hề đồng nhất. Một vệt bụi mỏng đã bị quệt đứt đoạn một cách bất thường. Dấu vết kéo dài thành một vệt trượt dài khoảng hai mươi xăng-ti-mét, hơi lượn sóng, giống như phần gót của một chiếc giày da đế cao su cứng đã tì miết rất mạnh xuống sàn gỗ khi một ai đó di chuyển vội vã trong bóng tối, hoặc cố tình bước né những điểm tiếp giáp dễ phát ra tiếng kêu cót két.

Chắc chắn đã có một người nào đó lén lút bước lên căn gác kho này ngoài giờ hành chính thông thường.

"Cô Vi! Hà An! Hai cô đã chuẩn bị xong xuôi chưa đấy?"

Một giọng nói trầm ấm, đầy uy quyền và ngập tràn vẻ hồ hởi vang lên từ phía chân cầu thang gỗ. Tiếng bước chân thong thả, đĩnh đạc nhưng dứt khoát bước lên từng bậc. Đỗ Vạn Lịch xuất hiện ở chiếu nghỉ tầng ba.

Người sáng lập và cũng là chủ sở hữu của Bảo tàng Tư nhân Vạn Lịch năm nay đã ngoài sáu mươi tuổi. Ông có một vóc người quắc thước, mái tóc bạc cắt ngắn chải chuốt gọn gàng và luôn khoác lên mình những bộ âu phục bằng vải tweed cắt may chỉn chu theo phong cách cổ điển của người Tràng An gốc. Đôi mắt ông sáng rực vẻ phấn khởi, nụ cười rạng rỡ thường thấy ở một nhà sưu tập kỳ cựu đang chuẩn bị công bố trước công chúng đứa con tinh thần tâm huyết nhất mà mình đã dày công tìm kiếm.

"Chào anh Lịch," Hà An nở nụ cười tươi tắn, đon đả bước ra đón vị giám đốc. "Em và Vi đang tiến hành những khâu kiểm tra đối chiếu cuối cùng để hoàn tất thủ tục bàn giao đây ạ."

Ông Lịch bước vào căn gác kho, đưa mắt nhìn quanh căn phòng đầy ắp tài liệu lưu trữ rồi dừng lại bên chiếc bàn làm việc của Vi, nơi chiếc đồng hồ bạc đang nằm trang trọng trên tấm đệm nhung xanh thẫm. Ánh mắt người đàn ông lớn tuổi lập tức tràn ngập vẻ say mê, thán phục xen lẫn sự tự hào tột bậc.

"Tuyệt tác... thực sự là một tuyệt tác," ông Lịch thốt lên, khẽ cúi người xuống để chiêm ngưỡng từng đường chạm khắc hoa cúc. "Biết bao nhiêu công sức lặn lội tìm kiếm, đàm phán ròng rã suốt nửa năm trời với con cháu của cụ cử làng Cự Đà. Ngày mai, khi chiếc đồng hồ này được đặt trang trọng dưới ánh đèn rọi của gian khánh tiết, giới nghiên cứu và công chúng Hà Nội mới thực sự hiểu được thế nào là đỉnh cao của mỹ thuật chạm bạc thời kỳ giao thời. Phía Công ty Di sản Minh Thành họ cũng đang rất nóng lòng chờ đợi màn ra mắt này để chốt gói tài trợ cho chúng ta."

Vi nhìn nét mặt rạng rỡ, ngập tràn say mê của ông chủ bảo tàng, lòng trĩu nặng sự đắn đo. Cô biết những lời mình sắp nói ra sẽ dập tắt cơn hưng phấn của ông, nhưng nguyên tắc thép của một người làm công tác lưu trữ không cho phép cô nhắm mắt làm ngơ trước sự thật vật lý đang hiển hiện.

"Bác Lịch," Vi cất tiếng, cố gắng giữ cho giọng điệu của mình thật bình tĩnh, mực thước và khách quan. "Cháu vừa tiến hành kiểm tra hiện trạng vật lý của hiện vật. Trên rãnh ốc vít thép giữ bản lề nắp lưng có một vết xước kim loại còn rất mới. Vết xước này hoàn toàn không có trong biên bản giám định gốc và ảnh chụp độ phân giải cao cách đây ba tháng. Cháu e rằng đã có ai đó tự ý mở bộ máy bên trong ra mà không tuân thủ quy trình bảo tồn của bảo tàng."

Nụ cười rạng rỡ trên gương mặt Đỗ Vạn Lịch thoáng ngưng lại trong một tích tắc ngắn ngủi. Ông chớp mắt, quay sang nhìn Hà An với vẻ dò hỏi, rồi lại đưa mắt nhìn sang Vi.

"Vết xước mới ư?" Ông Lịch mỉm cười xòa, đưa bàn tay ấm áp vỗ nhẹ lên vai Vi với vẻ độ lượng, bao dung của một người bề trên từng trải. "Cô Vi à, tôi biết cô là một chuyên viên vô cùng cẩn trọng, tỉ mỉ và có trách nhiệm cao. Đó chính là lý do vì sao tôi đã đích thân mời cô về phụ trách toàn bộ kho tư liệu này sau khi cô rời tòa soạn. Nhưng cô ơi, đồ kim hoàn cơ khí cổ, nhất là những món đồ đã ngót nghét trăm năm, đôi khi việc bảo dưỡng, lau dầu định kỳ từ phía các nghệ nhân phục chế tư nhân họ làm trước khi chuyển giao cho mình có thể để lại vài tì vết nhỏ. Rất có thể thợ của bên bán họ kiểm tra lại độ căng của dây cót lần cuối trước khi giao hàng mà lúc chụp ảnh lưu trữ chúng ta sơ ý không để ý đấy thôi."

"Thưa bác, vết xước này xuất hiện chưa quá bốn mươi tám tiếng đồng hồ," Vi kiên trì giải thích, ngón tay cô chỉ vào bề mặt kim loại sáng bóng dưới thấu kính lúp. "Nếu đây là vết xước cũ từ trước khi nhập kho, bề mặt bạc nguyên chất và thép tôi ở rãnh xước đã phải ngả màu xám đục do phản ứng tự nhiên với các hợp chất lưu huỳnh trong không khí Hà Nội. Hơn thế nữa, việc tháo mở một cỗ máy cơ học cổ phức tạp mà không có sự chứng kiến và lập biên bản của người thủ kho là vi phạm nghiêm trọng quy chế bảo tồn hiện vật."

Hà An lập tức bước lên một bước, cất giọng đỡ lời cho giám đốc: "Anh Lịch nói rất đúng đấy Vi. Sáng mai là lễ khai mạc trọng thể rồi, thiệp mời đích danh đã gửi đi cho hơn một trăm vị khách quý, các báo lớn đều đã lên bài phóng sự giới thiệu về bảo vật này. Bây giờ mà chúng ta dừng lại để lập biên bản nghi vấn, niêm phong kiểm tra thì toàn bộ lịch trình khánh tiết sẽ sụp đổ hoàn toàn. Chiếc đồng hồ này là do đích thân anh Lịch thẩm định giá trị và trực tiếp giao dịch mang về, nguồn gốc gia bảo rõ ràng từ dòng họ lớn, không thể nào có chuyện bất thường hay mờ ám được đâu em."

Đỗ Vạn Lịch gật đầu tán thành lời của Hà An. Ánh mắt ông bắt đầu lộ rõ sự sốt ruột và một thoáng không hài lòng trước thái độ quá đỗi cứng nhắc của cô nhân viên cấp dưới: "Đúng thế đấy cô Vi. Mọi băn khoăn về mặt hồ sơ, thủ tục hành chính hay quy trình lưu trữ, chúng ta sẽ họp rút kinh nghiệm sâu sắc sau khi triển lãm kết thúc tốt đẹp. Bây giờ, việc tối quan trọng là phải đưa hiện vật xuống tủ kính trung tâm ở tầng một ngay lập tức để đội kỹ thuật ánh sáng cân chỉnh góc rọi và đội an ninh niêm phong tủ trước khi trời tối. Cô ký biên bản xuất kho nội bộ giúp tôi đi."

Đứng trước thái độ dứt khoát của Đỗ Vạn Lịch và sự hối thúc liên tục từ phía Hà An, Vi hiểu rằng việc cố chấp ngăn cản việc di chuyển hiện vật vào lúc này chỉ dẫn đến một cuộc đối đầu vô ích và làm tình hình trở nên căng thẳng không cần thiết. Vị thế của cô tại Bảo tàng Vạn Lịch lúc này chỉ là một chuyên viên lưu trữ làm công ăn lương, cô hoàn toàn không có thẩm quyền pháp lý để ra lệnh đình chỉ một quyết định hành chính của người sở hữu bảo tàng.

Thế nhưng, linh cảm nghề nghiệp – thứ trực giác sắc bén đã được tôi luyện qua những cuộc điều tra thực địa đầy hiểm nguy và cạm bẫy – không ngừng cảnh báo cô. Vết xước cơ học kia không đơn thuần là một tai nạn bất cẩn của thợ kim hoàn. Nó là dấu vết vật lý rõ ràng của một sự can thiệp có chủ đích, một sự xâm phạm thô bạo vào tính nguyên bản và sự toàn vẹn của hiện vật.

"Cháu hiểu rồi ạ," Vi hít một hơi thật sâu, nén chặt sự bất an vào lòng, giọng cô dịu xuống nhưng vẫn giữ được sự chừng mực. "Cháu sẽ ký biên bản xuất kho nội bộ theo đúng lệnh điều phối của bác để kịp tiến độ trưng bày."

"Thế có phải tốt không nào!" Ông Lịch thở phào một hơi nhẹ nhõm, nụ cười rạng rỡ lại nở trên gương mặt quắc thước. "Hà An, cô cẩn thận bưng khay hiện vật đi cùng tôi xuống sảnh chính ngay nhé."

"Dạ vâng anh, em làm ngay đây ạ," Hà An nhanh nhảu đón lấy chiếc khay nhung xanh từ tay Vi, cẩn thận đậy chiếc nắp chụp bằng mica trong suốt lên trên để chắn bụi.

"Nhưng thưa bác Lịch," Vi nói thêm, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào mắt Đỗ Vạn Lịch. "Để đảm bảo đúng nguyên tắc trách nhiệm lưu trữ của cá nhân cháu, cháu xin phép được giữ lại bản ghi nhận hiện trạng vật lý này trong hồ sơ kho. Đồng thời, trong lúc dưới sảnh đang hoàn thiện công tác khánh tiết, cháu xin phép mang bản vẽ phác thảo dấu cơ học của con ốc vít và các thông số máy sang Tiệm Đồng Hồ Tư Thời ở ngay đối diện ngõ để nhờ cụ Tư kiểm tra giúp cháu. Cụ Tư là bậc thầy về máy đồng hồ cơ cổ ở đất Hà thành này, cụ chỉ cần nhìn qua dấu vết thao tác cơ học là có thể xác định được cỗ máy bên trong có bị can thiệp sai quy cách hay không. Việc này sẽ hoàn toàn không làm ảnh hưởng đến tiến độ dưới sảnh, nhưng sẽ giúp bảo tàng có thêm căn cứ thẩm định chuyên môn độc lập sau này."

Đỗ Vạn Lịch khi nghe Vi nhắc đến tên cụ Tư Thời thì nét mặt hơi chững lại, rồi dần dần mềm hẳn đi. Ở khắp cái khu phố cổ Hoàn Kiếm này, uy tín và tay nghề của cụ Phạm Tư Thời trong giới cơ khí chính xác và phục chế đồng hồ cổ là một tượng đài không ai có thể phủ nhận. Ngay cả ông Lịch, dù là một nhà sưu tập lão luyện và kiêu hãnh, thỉnh thoảng vẫn phải đích thân mang những chiếc đồng hồ quả lắc từ thời Pháp thuộc sang cậy nhờ đôi tai thính nhạy và bàn tay tài hoa của cụ để "bắt bệnh".

"Được rồi, cô Vi cẩn trọng đến mức ấy thì cũng là điều đáng quý cho bảo tàng," ông Lịch gật đầu đồng ý. "Nhưng nhớ là sang hỏi nhanh một chút rồi về hỗ trợ bộ phận lễ tân đón khách VIP nhé. Tuyệt đối đừng làm to chuyện hay phát ngôn lung tung khiến mọi người hoang mang trước giờ khai mạc đấy."

"Dạ, cháu biết giới hạn nghề nghiệp của mình mà, bác cứ yên tâm."

Khi tiếng bước chân của Đỗ Vạn Lịch và Hà An khuất dần sau khúc ngoặt của cầu thang gỗ, căn gác kho lại chìm vào sự tĩnh mịch, quạnh quẽ ban đầu. Vi không lãng phí một giây phút nào. Cô nhanh chóng lấy chiếc bút chì kỹ thuật ngòi kim 0.3mm, rút một tờ giấy can mỏng tang đặt lên trên bản vẽ sơ đồ cấu tạo kỹ thuật của chiếc đồng hồ đã được in sẵn trong hồ sơ lưu trữ.

Bằng những nét vẽ chuẩn xác, sắc sảo đến từng phần mười milimét của một người từng trải qua các khóa đào tạo đồ họa giám định, cô ghi lại tỉ mỉ góc nghiêng của vết xước kim loại, chiều dài vệt cào trượt, độ mở của miệng rãnh ốc vít và góc vát của cạnh bản lề. Sau đó, cô cẩn thận kẹp tờ giấy can cùng bản ghi chép thông số kỹ thuật của cỗ máy vào giữa cuốn sổ bìa vải thô, khóa kỹ cánh cửa phòng kho bọc nỉ, rồi rảo bước nhanh xuống cầu thang.

Dưới sảnh chính tầng một, không khí chuẩn bị cho lễ khai mạc đang diễn ra vô cùng náo nhiệt và khẩn trương. Những chậu hoa cúc đại đóa màu vàng rực rỡ được bài trí dọc theo lối đi trải thảm đỏ thắm. Tấm pano quảng bá kích thước lớn mang dòng chữ mạ vàng "Triển Lãm Gia Bảo Phố Cổ — Dấu Ấn Thời Gian" nổi bật trên nền lụa màu đỏ đun sang trọng.

Ông Lịch và Hà An đang đứng vây quanh chiếc tủ kính trưng bày trung tâm làm bằng kính cường lực chống phản quang chuyên dụng. Xung quanh họ, hai nhân viên bảo vệ đeo bộ đàm đang cẩn thận kiểm tra lại hệ thống cảm biến rung và chuông báo động ngầm dưới chân bệ trưng bày. Không ai để ý đến sự hiện diện của cô nhân viên lưu trữ.

Vi lẳng lặng lách người qua cánh cửa ngách bên hông bảo tàng, bước nhanh ra ngoài con ngõ nhỏ.

Ngõ Hàng Chỉ buổi chiều đầu thu đón cô bằng một làn gió mát rượi, thoang thoảng mùi hương hoa sữa đầu mùa ngòn ngọt từ một góc phố xa đưa lại, hòa lẫn với mùi nước dùng thơm nồng mùi quế, hồi từ gánh phở bò quen thuộc nơi đầu ngõ. Tiếng xích xe đạp cà tàng rít lên từng hồi của một bà cụ chở đồ gốm sứ dạo, tiếng còi xe máy vội vã vọng lại từ phía phố Hàng Da và tiếng lũ trẻ con nô đùa ríu rít tạo nên một bức tranh âm thanh phố thị vừa thân thương, vừa bình dị đến nao lòng.

Tiệm Đồng Hồ Tư Thời nằm nép mình khiêm nhường ở phía đối diện con ngõ, ngay dưới bóng mát của một cây bàng cổ thụ đã bắt đầu xuất hiện những chiếc lá ngả sang màu huyết dụ.

Đó là một gian nhà ống hẹp đến mức khó tin, chiều ngang chưa đầy hai mét rưỡi và diện tích vỏn vẹn chừng mười lăm mét vuông. Phía trước cửa treo một tấm biển gỗ sơn then đen, bên trên khắc chìm bốn chữ thếp vàng đã bạc phếch và nứt nẻ theo năm tháng: "Tư Thời — Chuyên Sửa Chữa Đồng Hồ Cổ & Cơ Khí Chính Xác".

Bước qua ngưỡng cửa gỗ lim bóng loáng, nhẵn thín vì đã đón nhận hàng vạn bước chân người qua lại suốt hơn nửa thế kỷ, một thế giới âm thanh kỳ ảo và khác biệt hoàn toàn với nhịp sống hối hả ngoài kia lập tức vây bọc lấy Vi.

Hàng chục, có lẽ phải đến hàng trăm chiếc đồng hồ quả lắc Odo, đồng hồ cúc cu vùng Rừng Đen, đồng hồ để bàn bằng đồng mạ vàng kiểu Louis từ thời Pháp thuộc treo kín mít trên bốn bức tường vôi vàng nhạt loang lổ vết ẩm. Tiếng *tích tắc*, tiếng kim loại va chạm lách cách, tiếng búa gõ điểm chuông trầm bổng va đập vào nhau tạo nên một bản giao hưởng cơ khí kỳ lạ, nhịp nhàng nhưng tuyệt nhiên không một chiếc nào điểm chuông trùng khớp giây với chiếc nào. Mỗi cỗ máy dường như đang thở một nhịp thở độc lập, gìn giữ một mảnh ký ức và số phận riêng biệt của những gia đình Hà Nội xưa cũ.

Bên trong quầy gỗ phủ kính dày đã mờ đục vì bụi thời gian, cụ Phạm Tư Thời đang ngồi bất động dưới chụp đèn chao nhôm màu xanh lá cây rọi luồng sáng vàng rực xuống mặt bàn làm việc bừa bộn đồ nghề.

Cụ Tư năm nay đã gần bảy mươi tuổi. Cụ có một vóc người gầy gò, thanh mảnh, mái tóc bạc phơ được búi gọn gàng sau gáy theo phong thái của những bậc túc nho xưa, đôi mắt sáng quắc nhưng trầm tĩnh ẩn sau cặp kính lão trễ xuống tận sống mũi. Cụ đang gắn chặt một chiếc kính lúp đồng hồ một mắt bằng một sợi dây thép mảnh ôm quanh trán. Hai bàn tay khẳng khiu với những ngón tay gầy guộc nhưng chuẩn xác như máy móc đang cầm hai chiếc nhíp chuyên dụng bằng hợp kim titan, khéo léo gắp một chiếc bánh răng gai nhỏ xíu như hạt vừng đặt vào cỗ máy đồng hồ cơ đang mở toang trên đế gá.

"Bác Tư," Vi khẽ cất tiếng chào, cẩn thận bước từng bước thật nhẹ trên nền gạch hoa cũ để không tạo ra rung chấn làm ảnh hưởng đến thao tác của người thợ già.

Cụ Tư không ngẩng lên ngay. Toàn bộ cơ thể cụ dường như nín thở trong vòng ba giây đồng hồ, các cơ bắp trên cánh tay bất động tuyệt đối để đầu nhíp thả chiếc bánh răng vào đúng vị trí của trục ngỗng nạm ngọc bích.

Sau một tiếng *tách* cực nhỏ, êm ái mà có lẽ chỉ có đôi tai nhà nghề được tôi luyện qua hàng chục năm mới có thể cảm nhận được, cụ mới thở hắt ra một hơi dài nhẹ nhõm. Cụ tháo chiếc kính lúp một mắt ra khỏi hốc mắt, tháo cặp kính lão xuống, mỉm cười nhìn lên người khách trẻ:

"Cô Vi đấy à," cụ Tư cất giọng trầm ấm, khàn khàn đặc trưng của một người có thói quen hút thuốc lào lâu năm. "Gió heo may đầu mùa vừa mới chớm thổi hay sao mà mặt mũi cô trông nghiêm trọng, căng thẳng thế kia? Bên bảo tàng nhà ông Lịch sáng mai khai mạc triển lãm lớn lắm cơ mà, sao cô không ở bên đấy mà lại chạy sang cái xó xỉnh nồng nặc mùi dầu máy và bụi bặm này của tôi làm gì?"

Vi kéo chiếc ghế đẩu bằng gỗ mộc ngồi xuống bên cạnh mép bàn làm việc, mở cuốn sổ bìa vải thô, rút tờ giấy can vẽ phác thảo cơ học đặt bên cạnh chiếc đĩa sứ đựng những linh kiện bánh răng li ti của cụ: "Cháu sang làm phiền bác một chút ạ. Thực sự có chuyện này trong bảo tàng khiến cháu không thể an lòng nếu không được nghe ý kiến thẩm định chuyên môn từ bác."

Cụ Tư với tay nhấc chiếc ấm tích bọc trong giỏ ủ bằng tre nan đã lên nước đen bóng, rót một chén trà mạn cúc chi nóng hổi khói bốc nghi ngút rồi đẩy nhẹ về phía Vi: "Uống một ngụm trà cho ấm giọng đã cô gái. Chuyện gì mà khiến một người có đôi mắt tinh tường như cú vọ của làng báo điều tra cũ phải bận tâm đến mức này?"

Vi mỉm cười nhẹ trước cách gọi hóm hỉnh của ông cụ, nhưng ánh mắt cô nhanh chóng trở lại vẻ nghiêm cẩn thường ngày. Cô chỉ tay vào bản vẽ phác thảo: "Bác Tư xem giúp cháu cái này. Bảo tàng vừa làm thủ tục xuất kho chiếc đồng hồ quả quýt vỏ bạc chạm hoa cúc đại đóa để chuẩn bị cho gian trưng bày chính sáng mai. Nhưng khi soi hiện vật dưới đèn lúp, cháu phát hiện trên rãnh ốc vít giữ bản lề nắp lưng có một vết cào xước kim loại hoàn toàn mới. Vết xước trượt dài, để lộ ánh bạc tươi, chưa hề có dấu hiệu oxy hóa bề mặt. Bác nhìn các thông số cơ học và góc trượt mà cháu ghi lại xem, có phải nó bị tháo mở bằng một dụng cụ hoàn toàn không chuyên dụng không ạ?"

Cụ Tư kéo chiếc chao đèn nhôm thấp xuống một chút, cầm tờ giấy can của Vi lên. Cụ đeo lại cặp kính lão, nheo mắt soi từng đường nét tỉ mỉ mà Vi đã ghi lại bằng bút chì kim.

Nụ cười hóm hỉnh trên khóe môi người thợ già dần dần biến mất. Thay vào đó là một nét mặt đăm chiêu, sắc lạnh, ánh mắt ánh lên vẻ nghiêm nghị của một bậc thầy cơ khí chính xác đã dành trọn cả cuộc đời để lắng nghe từng nhịp đập kim khí của đất Hà thành.

"Vết trượt này..." Cụ Tư lẩm bẩm trong miệng, đầu ngón tay trỏ ráp ranh những vết chai sạn vì dầu mỡ và dũa thép khẽ rà dọc theo đường vẽ trên giấy can. "Độ mở của cái rãnh vít này là một chấm tám milimét, góc vát hình nón ngược rất tinh tế – đây là loại ốc vít đặc trưng của dòng máy đồng hồ Thụy Sĩ sản xuất riêng cho thị trường Đông Dương vào cuối thế kỷ mười chín. Thép làm con ốc này là loại thép xanh được tôi trong dầu hỏa, cực kỳ cứng nhưng lại rất giòn. Muốn mở một con ốc như thế này mà không để lại vết tì ố, người thợ bắt buộc phải dùng một chiếc tuốc nơ vít có lưỡi vát được rèn thủ công bằng đồng thau hoặc thép mềm hơn, tra thật khít vào khe hở rồi dùng lực ấn thẳng đứng từ lòng bàn tay xuống trước khi xoay đều."

Cụ Tư ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào mắt Vi với ánh nhìn sắc như dao: "Kẻ vặn con ốc này đã dùng một chiếc tuốc nơ vít đầu dẹt bằng thép carbon công nghiệp thông thường – cái loại đồ nghề rẻ tiền bán đầy ở chợ Trời. Hắn ta thao tác trong một trạng thái rất vội vã. Hắn không hề kê miếng đệm nilon chống trượt, và khi vặn, hắn đã dùng lực giật cục của cổ tay bẻ lệch sang bên phải khiến đầu lưỡi thép trượt khỏi rãnh ốc và cào thẳng vào vỏ bạc. Một người thợ đồng hồ chân chính, dù là thợ học việc non tay nhất của phố cổ này, cũng không bao giờ thao tác như một tên trộm vụng về và thô bạo như thế."

Trái tim Vi đập thắt lại một nhịp mạnh mẽ: "Như vậy nghĩa là cỗ máy bên trong chắc chắn đã bị can thiệp và tháo mở ra rồi, đúng không bác?"

"Nắp lưng chắc chắn đã bị cạy mở," cụ Tư gật đầu dứt khoát, giọng đanh lại. "Và người mở nó ra tuyệt đối không phải vì mục đích bảo dưỡng, tra dầu hay lau chùi máy móc. Bởi vì trong nghề cơ khí đồng hồ cổ, nếu muốn tra dầu hay kiểm tra máy, người ta bắt buộc phải tháo từ núm lên cót và cổ đồng hồ phía trên xuống trước. Không một ai đi cạy bản lề nắp đáy một cách cưỡng bức như thế này cả."

Cụ Tư buông tờ giấy can xuống mặt bàn, tựa lưng vào chiếc ghế mây cũ kỹ. Cụ im lặng một lúc rất lâu, đôi mắt hướng ra khoảng không gian ngập tràn ánh nắng chiều tà trước cửa tiệm. Trong gian phòng chật hẹp, tiếng của hàng trăm con lắc đồng hồ xung quanh dường như gõ vang hơn, dồn dập hơn như đang thúc giục một câu trả lời: *tích, tắc, tích, tắc...*

Bất chợt, cụ Tư ngước mắt nhìn qua khung cửa sổ nhỏ của tiệm, hướng thẳng ánh nhìn sang mặt tiền khang trang, bề thế của Bảo tàng Tư nhân Vạn Lịch ở bên kia ngõ. Ánh mắt người thợ già trĩu nặng những nỗi suy tư sâu kín, phảng phất một nỗi hoài cổ xa xăm:

"Chiếc đồng hồ quả quýt vỏ bạc chạm cúc đại đóa ấy... tôi biết nó rõ lắm cô Vi à. Cách đây đúng năm mươi năm, vào cái dạo chiến tranh phá hoại vừa chấm dứt, khi tôi còn là một thằng bé mười lăm tuổi vừa chập chững bước vào nghề học việc cho ông cụ thân sinh tôi ở hiệu đồng hồ số bốn mươi phố Hàng Bông, chiếc đồng hồ ấy đã từng được người ta mang đến tiệm để thay dây cót chính."

Cụ Tư chớp mắt, ký ức nửa thế kỷ trước dường như sống lại nguyên vẹn trong từng câu chữ: "Cỗ máy nguyên bản của nó là một cỗ máy Longines thượng hạng với mười bảy chân kính bằng hồng ngọc, kết cấu nắp lưng kép cách ẩm tuyệt đối. Nhưng điểm phi thường và độc nhất vô nhị của nó không nằm ở lớp vỏ bạc chạm hoa cúc cầu kỳ bên ngoài, mà nằm ở chính âm thanh chuyển động của hệ thống bánh răng chuyền. Cỗ máy ấy sở hữu một quả lắc phụ cân bằng được chế tác bằng bạch kim nguyên chất. Khi các bánh răng ăn khớp và dao động, nó không hề phát ra tiếng kêu *tích tắc* khô khan, đanh thép như những cỗ máy thông thường, mà phát ra một âm thanh vô cùng êm, trầm và sâu thẳm... hệt như tiếng của những giọt nước mưa rơi tí tách trên một phiến đá hoa cương cổ thụ."

Cụ Tư đứng dậy, bước đến chiếc tủ kính nhỏ khóa kín ở góc trong cùng của tiệm. Cụ rút chiếc chìa khóa đeo lủng lẳng bên hông, mở tủ và lấy ra một chiếc hộp bọc nhung màu mận chín. Từ trong hộp, cụ cẩn thận lấy ra một chiếc kính lúp kiểm định quang học loại cầm tay có độ phóng đại cực lớn – loại kính chuyên dụng mà các chuyên gia giám định đá quý quốc tế hay dùng.

Cụ quay lại bàn, nhìn thẳng vào gương mặt đang căng thẳng của Vi:

"Cô Vi này, ban nãy khi cô kiểm tra chiếc đồng hồ ở bên phòng kho của bảo tàng, cô có thử lên dây cót và áp tai vào để lắng nghe nhịp máy của nó chạy không?"

Vi khẽ giật mình, toàn thân như có một dòng điện chạy qua.

Trong suốt quá trình đối đầu căng thẳng với sự thúc ép của Hà An và quyết định dứt khoát của Đỗ Vạn Lịch, cô đã dồn toàn bộ sự chú ý của mình vào các chi tiết thị giác, các số liệu đo đạc cơ học, sự sai lệch của nhãn mác và vết xước kim loại bên ngoài theo đúng thói quen phân tích tài liệu lưu trữ hình ảnh. Cô đã quá tin vào đôi mắt phân tích của mình mà quên mất rằng một cỗ máy cơ học là một thực thể sống bằng âm thanh. Cô hoàn toàn chưa hề áp tai để lắng nghe nhịp thở bên trong của cỗ máy trăm năm ấy.

"Cháu... cháu thực sự chưa kịp nghe thử nhịp máy của nó ạ," Vi thừa nhận, lòng dâng lên một nỗi bất an tột cùng, một linh cảm u tối đang dần dần biến thành hiện thực rõ nét.

Cụ Tư khẽ thở dài, lắc đầu một cách chậm rãi. Cụ kéo chiếc ngăn kéo nhỏ dưới gầm bàn làm việc, lấy ra một chiếc phiếu nhận sửa đồ cũ kỹ bằng thứ giấy pelure mỏng dính, vàng úa đã ố màu thời gian được kẹp cẩn thận trong một cuốn sổ tay bọc da thuộc:

"Cô có đôi mắt nhìn và khả năng phân tích hồ sơ của một người làm công tác lưu trữ rất giỏi, rất chuẩn mực. Nhưng những món cổ vật của đất Tràng An này, cô Vi à, chúng không chỉ sống bằng những dòng chữ hay con dấu trên những mảnh giấy tờ hành chính. Chúng sống bằng chính cái phần ruột kim khí đang vận động bên trong."

Cụ Tư đưa chiếc kính lúp kiểm định sang cho Vi, những ngón tay gầy guộc của cụ khẽ siết nhẹ lên mu bàn tay đeo găng của cô gái trẻ. Giọng người thợ già chùng xuống, chậm rãi, trầm buồn nhưng dứt khoát như một lời tuyên án:

"Bánh răng truyền động này không thở cùng nhịp với lớp vỏ trăm năm đâu cô Vi à."

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn