Hồ Sơ Phố CổC.3 / 38
Chương 3

Những Con Số Trong Bóng Tối

Không gian tầng hai của bảo tàng tư nhân Vạn Lịch ngột ngạt mùi giấy mốc, mùi sáp ong đánh bóng đồ gỗ lâu năm và mùi cồn ethanol bảo quản tiêu bản bốc lên nồng nặc khi Lục Khang chính thức yêu cầu niêm phong tạm thời chiếc tủ kính trung tâm.

Tấm băng dính niêm phong chuyên dụng màu đỏ tươi có đóng dấu giáp lai đỏ thẫm của Cơ quan Cảnh sát điều tra dán chéo một góc bốn mươi lăm độ qua mép tấm kính vát cạnh dày mười hai ly, đè chặt lên khe hở của cánh cửa gỗ gụ đã được tra chìa khóa bốn cạnh. Căn phòng trưng bày chính vừa mới đây còn xôn xao những lời cật vấn gay gắt, những tiếng thanh minh nghẹn ứ và cả những cú đập bàn nảy lửa, bỗng chốc rơi tõm vào một khoảng lặng nặng nề, quánh đặc như khối sáp đông.

Ánh sáng vàng nhạt của buổi sớm mùa thu Hà Nội xuyên qua vòm cửa sổ chấn song gỗ kiểu Pháp, rọi thành từng luồng xiên khoét sâu vào bóng tối mờ ảo của gian phòng lớn. Những hạt bụi mịn li ti nhảy múa hỗn loạn trong vệt nắng, lướt qua những bức hoành phi khảm xà cừ xỉn màu và soi rõ từng nét nhăn nheo, sụp xuống đầy cay đắng trên gương mặt của ông Đỗ Vạn Lịch. Nhà sưu tập ngoài lục tuần đứng tựa hẳn nửa thân người già nua vào mép bệ gỗ chiếc tủ trưng bày tiền đồng cổ thời Lê - Trịnh. Hai bàn tay khẳng khiu, mu bàn tay nổi chằng chịt những đường gân xanh tím của ông đan chặt vào nhau run rẩy không sao kìm lại được. Đôi mắt đục mờ sau lớp tròng kính dày cộp nhìn trừng trừng vào dải giấy niêm phong vừa được Lục Khang dùng đầu ngón tay cái miết phẳng phiu từng nếp gấp. Đó không chỉ là sự tổn thương của một người cả đời gom góp cổ vật, mà là sự bẽ bàng cay đắng của một kẻ vừa nhận ra mình bị những người thân cận nhất lừa dối ngay dưới mái nhà của chính mình.

Ninh Tường Vi không để sự im lặng đầy độc hại ấy kéo dài thêm nữa. Bằng trực giác và kinh nghiệm tích lũy sau nhiều năm làm báo điều tra văn hóa và lưu trữ tư liệu cổ, cô hiểu rất rõ quy luật tâm lý của những vụ án chiếm đoạt: mỗi phút trôi qua trong căn nhà cổ đầy ngóc ngách này, nếu không lập tức được neo giữ lại bằng các chỉ số vật lý, bằng trích xuất kỹ thuật và biên bản tại chỗ, sẽ nhanh chóng bị xóa nhòa, bị bẻ cong bởi những lời biện hộ trơn tru của những kẻ lọc lõi vốn thông thuộc từng kẽ hở của luật pháp.

"Thưa anh Khang, thưa bác Lịch," Vi khẽ lên tiếng. Giọng cô trong trẻo, âm vực vừa phải nhưng dứt khoát xé tan bầu không khí ẩm mốc đang đè nặng lên lồng ngực mọi người. "Chiếc vỏ đồng hồ chạm nổi hoa cúc và cỗ máy đã bị tráo đổi bên trong là vật thể hiện hữu tại hiện trường trưng bày, nhưng lịch sử can thiệp vào nó, từng vết tích cơ học và thời điểm ai đó chạm tay vào nó thì nằm ở phía sau cánh cửa kia. Mời mọi người vào phòng lưu trữ."

Lục Khang ngẩng đầu lên khỏi mép tủ kính. Gương mặt vuông chữ điền của người đội phó cảnh sát điều tra vẫn giữ nguyên nét sắc lạnh, điềm tĩnh đến sắt đá. Anh gật đầu tán thành, đưa tay thu lại tập biên bản niêm phong vừa hoàn tất vào chiếc cặp tài liệu da màu đen có khóa số. Không cần nói nhiều, Khang chỉ đưa mắt ra hiệu cho hai cán bộ cấp dưới mặc cảnh phục đang đứng nghiêm cẩn bên mép hành lang. Hai viên cảnh sát trẻ lập tức tiến lại, đứng chốt chặn hai bên cửa phòng trưng bày tầng hai để bảo vệ nguyên trạng tủ kính số ba, tuyệt đối không cho phép bất kỳ nhân viên nào của bảo tàng hay người ngoài tiếp cận khu vực cách ly.

Xong xuôi, Khang quay sang nhìn Vi: "Cô dẫn đường đi."

Cánh cửa gỗ lim dày cộp của Phòng Lưu trữ Vạn Lịch khẽ rít lên một tiếng khô khốc, rợn người khi Vi tra chiếc chìa khóa đồng có ngạnh phức tạp vào ổ. Căn phòng này nằm lùi sâu ở góc phía tây của tầng hai, vốn là gian phòng kín nhất của dinh thự cũ, tách biệt hoàn toàn với khu vực triển lãm náo nhiệt bên ngoài bằng một bức tường gạch đôi dày bốn mươi phân. Nơi đây không có thảm trải sàn dệt hoa văn, không có những ngọn đèn chùm pha lê rực rỡ tỏa hơi ấm màu hổ phách. Không gian hiện ra trần trụi và lạnh lẽo với ba dãy kệ thép sơn tĩnh điện xám xịt chạy dọc từ trần xuống sàn.

Trên các giá thép, hàng trăm chiếc hộp tài liệu bằng bìa cứng không axit chuyên dụng màu xám tro được xếp thẳng tắp theo mã số lưu trữ quốc tế, xen kẽ với những tập hồ sơ bọc vải gai thô và mùi thơm the mát, ngai ngái đặc trưng của tinh dầu gỗ tuyết tùng dùng để xua đuổi gián và mối mọt. Ở góc trong cùng, nơi tránh hoàn toàn ánh sáng tự nhiên từ các ô thoáng trên cao, ba chiếc tủ chống ẩm điện tử chuyên dụng màu đen bóng, cao ngang ngực người lớn, đang đứng sừng sững. Máy nén khí bên trong phát ra tiếng rè rè cực nhỏ, đều đặn như nhịp thở của một sinh vật kim loại. Bảng đèn LED điện tử màu xanh lục trên cánh cửa kính hai lớp của mỗi tủ nhấp nháy liên tục, hiển thị các chỉ số môi trường bên trong khoang chứa: nhiệt độ, độ ẩm tương đối và áp suất khí quyển.

Hà An bước vào sau cùng. Cô quản lý chuyên môn của bảo tàng nép sát nửa thân mình vào mép khung cửa gỗ lim, như muốn tìm kiếm một điểm tựa vô hình để khỏi ngã quỵ. Chiếc áo sơ mi lụa tơ tằm màu be phẳng phiu, vốn tôn lên vẻ thanh lịch của một nữ giám tuyển xuất thân từ trường mỹ thuật, giờ đây dường như không giấu nổi bờ vai gầy guộc đang khẽ co rúm lại sau từng nhịp thở ngắt quãng. Đôi mắt kẻ chì sắc sảo thường ngày đảo quanh các dãy kệ thép một cách vô định, ngón tay sơn móng màu mận chín bấu chặt lấy quai chiếc túi xách đắt tiền. Cô ta tuyệt nhiên không dám đưa mắt nhìn thẳng vào màn hình máy tính đang đặt trên chiếc bàn làm việc bằng gỗ sồi của Vi.

Vi kéo chiếc ghế xoay bọc da, ngồi xuống trước bàn làm việc. Cô vươn tay bấm nút khởi động chiếc máy tính để bàn nối trực tiếp với cảm biến vi khí hậu của tủ chống ẩm số ba – chiếc tủ chuyên dụng vốn được dùng để lưu giữ các hiện vật kim hoàn, tiền vàng và những chiếc đồng hồ bỏ túi có giá trị lịch sử đặc biệt trước khi đưa ra trưng bày trước công chúng.

"Hệ thống tủ chống ẩm này là dòng máy nhập khẩu nguyên chiếc của Đức, do chính bác Lịch đầu tư lắp đặt từ đầu năm ngoái để đáp ứng tiêu chuẩn lưu trữ hiện vật kim khí quý," Vi vừa giải thích vừa thoăn thoắt gõ bàn phím, tiếng lách cách đanh gọn, dứt khoát vang lên rành rọt giữa bốn bức tường tĩnh mịch. "Cảm biến điện tử đặt sâu bên trong khoang tủ không chỉ đơn thuần làm nhiệm vụ đóng ngắt máy nén để kiểm soát độ ẩm cục bộ, mà nó còn tự động trích xuất toàn bộ dữ liệu môi trường ba mươi giây một lần. Mọi biến động nhỏ nhất về nhiệt độ và hơi ẩm đều được vi xử lý vẽ thành biểu đồ biến thiên liên tục, ghi thẳng vào một bộ nhớ flash độc lập. Dữ liệu này được mã hóa bảo mật, không thể can thiệp thủ công từ bên ngoài hay chỉnh sửa bằng các phần mềm văn phòng thông thường."

Màn hình CRT lóe lên một dải sáng màu xanh lam mờ ảo trước khi mở ra giao diện đồ họa chuyên dụng của phần mềm quản lý vi khí hậu. Vi dùng chuột quang kéo thanh trượt thời gian quay ngược về mốc bốn mươi tám giờ gần nhất. Một đồ thị dạng sóng kép hiện ra rõ mồn một trên nền xám: đường biểu đồ màu xanh lam biểu thị độ ẩm tương đối và đường màu đỏ biểu thị nhiệt độ. Suốt hai ngày qua, hai đường chỉ số này trải dài phẳng lặng, mượt mà như mặt nước hồ mùa thu không một gợn sóng. Nhiệt độ bên trong khoang kín duy trì ổn định tuyệt đối ở mức 21 độ C, và độ ẩm luôn dao động trong ngưỡng an toàn nghiêm ngặt từ 45% đến 47% – môi trường lý tưởng để ngăn chặn sự xỉn màu của bạc và sự oxy hóa của các bánh răng thép cực nhỏ trong cỗ máy đồng hồ.

Nhưng rồi, ngón tay trỏ của Vi dừng lại trên con lăn chuột. Mũi tên con trỏ đứng yên tại một điểm cắt sắc nhọn như một mũi kim chọc thủng mặt phẳng.

"Đây là thời điểm đêm hôm qua," Vi chỉ đầu ngón tay vào màn hình, xoay nhẹ góc nhìn về phía Lục Khang.

Đường biểu đồ màu xanh lam đang chạy thẳng tắp bỗng dưng gãy khúc, dựng đứng lên thành một góc gần như vuông vức chín mươi độ. Chỉ số độ ẩm nhảy vọt từ 46% lên tới 68,5% chỉ trong vòng một chu kỳ quét ba mươi giây, trước khi bắt đầu tạo thành một đường cong thoải dần, từ từ bò dốc xuống lại mức cân bằng 46% trong suốt hai tiếng đồng hồ tiếp theo do máy nén phải chạy hết công suất để hút ẩm cưỡng bức.

"Bước nhảy đột ngột này được ghi nhận chính xác vào lúc 23 giờ 15 phút đêm qua," giọng Vi rành rọt, từng câu chữ ghim chặt vào không gian. "Bảo tàng Vạn Lịch nằm sát trục ngõ phố cổ gần hồ Hoàn Kiếm. Mùa thu này, độ ẩm không khí tự nhiên ngoài trời vào ban đêm thường xuyên vượt ngưỡng 75% do hiện tượng sương đêm và gió ẩm ngưng tụ. Chiếc tủ chống ẩm số ba là một không gian kín tuyệt đối với gioăng cao su đôi và khóa từ hít chặt. Độ ẩm bên trong chỉ có thể tăng vọt hơn hai mươi phần trăm trong tích tắc nếu cánh cửa tủ bị mở toang ra môi trường bên ngoài trong khoảng thời gian ít nhất từ ba đến năm phút. Và 23 giờ 15 phút là thời điểm bảo tàng đã bế mạc toàn bộ hoạt động chuẩn bị triển lãm, cửa sắt tầng một đã khóa ngoài bằng khóa móc cơ học, toàn bộ nhân viên tạp vụ, hậu cần và lễ tân đều đã chấm công ra về từ hồi mười chín giờ."

Ông Đỗ Vạn Lịch bước vội lên hai bước, đôi giày da cũ gõ lộp cộp trên nền gạch hoa cổ. Chiếc kính lão viền kim loại tụt xuống tận chóp mũi, nhưng ông dường như không buồn đẩy lên. Ông ghé sát đôi mắt kèm nhèm vào từng con số hiển thị trên biểu đồ, sắc mặt từ tái nhợt chuyển dần sang xám ngoét như màu tro tàn:

"23 giờ 15 phút? Đêm qua... đêm qua tôi nhớ rất rõ cơ mà! Trước khi lên chiếc taxi về nhà lúc chín giờ tối, chính tay tôi đã cầm đèn pin đi kiểm tra từng chiếc then cài cửa chính, từng chốt cửa sổ tầng một và tầng hai. Chìa khóa kho lưu trữ này chỉ có hai chiếc, một chiếc tôi mang bên mình, một chiếc giao cho quản lý kho... Làm sao có ai vào được căn gác này vào cái giờ chết tiệt ấy?"

"Đó chính là câu hỏi cần được đối chiếu trực tiếp trên giấy tờ hành chính, thưa bác," Vi điềm tĩnh nói.

Cô đứng dậy, xoay người sang chiếc kệ thép bên tay phải, nơi lưu trữ các văn bản quản lý thường nhật. Bằng một động tác dứt khoát và thuần thục, Vi nhấc tập sổ bọc bìa da công nghiệp màu xanh đậm dày cộp xuống. Đó là cuốn *Sổ ký trực kho và bàn giao chìa khóa* – tài liệu hành chính mang tính pháp lý cao nhất trong việc kiểm soát an ninh nội bộ của bảo tàng tư nhân Vạn Lịch, nơi ghi lại từng vết tích con người ra vào ranh giới bảo mật này.

Vi mở cuốn sổ dày cộp, lật giở từng trang giấy kẻ dòng caro đã ngả màu ố vàng mép, tìm đến trang ghi chép của ngày hôm qua và sáng hôm nay. Cô đặt cuốn sổ nằm phẳng phiu lên mặt bàn gỗ sồi, ngay dưới vùng sáng tập trung của chiếc đèn bàn chụp kim loại màu xanh cổ vịt.

"Quy chế an ninh nội bộ của Bảo tàng Vạn Lịch do chính bác Lịch ký ban hành vào ngày khánh thành nêu rất rõ tại Điều 8: Bất kỳ ai ra vào khu vực lưu trữ hiện vật ngoài giờ hành chính đều phải ghi rõ họ tên, chức vụ, mục đích công việc, thời gian vào và thời gian ra chính xác đến từng phút, đồng thời bắt buộc phải có chữ ký xác nhận trực tiếp của cán bộ trực ca đêm," ngón tay trỏ của Vi miết dọc theo các dòng kẻ ngang màu tím. "Theo sổ trực, ca chiều hôm qua kết thúc lúc 18 giờ với chữ ký bàn giao của nhân viên văn phòng. Dòng tiếp theo trên biểu mẫu này, theo đúng quy trình tuần tra nghiêm ngặt, đáng lẽ phải là ca tuần tra kiểm tra hiện trường đêm từ 22 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau của nhân viên bảo vệ. Nhưng ở đây, dòng giao ca đêm hoàn toàn bị bỏ trống. Một khoảng trắng không một nét mực."

Lục Khang cúi rạp người xuống, hai bàn tay chống lên mép bàn làm việc. Ánh mắt sắc như dao cạo của người điều tra viên hình sự lướt qua khoảng giấy trắng tinh không một tì vết nằm trơ trọi giữa hai mốc thời gian. Sự im lặng của trang giấy trắng đôi khi lại là bằng chứng tố cáo to lớn nhất.

"Bỏ trống mục giao ca đêm của lực lượng bảo vệ," Khang nhận xét, giọng anh trầm đục, đều đều theo phong cách hỏi cung nghiệp vụ, hoàn toàn triệt tiêu mọi sắc thái cảm xúc cá nhân. "Và dòng tiếp theo ngay sau khoảng trống đó là gì?"

"Dòng tiếp theo là ca mở kho sáng nay, lúc 7 giờ 30 phút," Vi chỉ đầu ngón tay vào dòng chữ nắn nót bằng mực bi xanh ở phía dưới. "Người ký nhận mở kho để chuẩn bị đưa hiện vật ra tủ kính trưng bày là chị Nguyễn Hà An. Nhưng xin anh Khang và bác Lịch hãy nhìn thật kỹ vào phần ghi giờ này."

Vi không nói suông. Cô với tay rút từ trong ống cắm bút bằng đồng trên bàn làm việc ra một chiếc kính lúp kỹ thuật có cán cầm bằng thép bọc cao su. Chiếc kính lúp này là loại dụng cụ quang học chuyên dụng có gắn một dải đèn LED nhỏ viền quanh thấu kính, phóng đại gấp mười lần – vật bất ly thân của Vi từ những năm tháng còn lăn lộn làm phóng viên điều tra các vụ làm giả văn bằng và giả mạo tài liệu cổ. Cô bật công tắc đèn led trên vành kính, đặt mặt thấu kính thủy tinh quang học đè sát lên dòng chữ "07:30" cùng chữ ký uốn lượn quen thuộc của Hà An, rồi khẽ nghiêng nhẹ góc chiếu của luồng ánh sáng trắng lạnh.

Dưới độ phóng đại lớn và góc chiếu xiên khoét sâu vào cấu trúc vật lý của tờ giấy, bề mặt xơ xenlulo lập tức phơi bày toàn bộ sự thật bị che giấu. Nét mực bi xanh của con số "07:30" không hề nằm trên một mặt giấy phẳng mịn nguyên bản. Mực bị nhòe nhẹ và loang răng cưa ở các góc nét do lớp hồ tráng bảo vệ bề mặt giấy đã bị một lực ma sát cơ học bào mòn xơ xác. Và quan trọng hơn cả, đè ngay bên dưới nét móc cong cong của con số 7 viết đè lên là một vệt rãnh lõm sâu màu xám mờ.

Đó là vết hằn vật lý không thể chối cãi của một ngòi bút chì than loại 2B từng ấn rất mạnh xuống mặt giấy, sau đó đã bị ai đó dùng một mẩu gôm cao su chà xát vội vã để tẩy xóa. Dù người tẩy đã cố sức xóa sạch lớp than chì, nhưng lực ấn của ngòi bút đã bẻ gãy các thớ sợi giấy bên dưới, để lại một đường rãnh cơ học vĩnh viễn. Dưới ánh sáng xiên của kính lúp, đáy rãnh giấy vẫn còn sót lại những hạt bụi than chì li ti màu xám đen, nối kết với nhau tạo thành một bóng hình mờ ảo nhưng vô cùng sắc nét: con số nguyên thủy được ghi bằng bút chì chính là "23:15".

"Có người đã dùng bút chì ghi nhận giờ vào kho đêm qua – đúng 23 giờ 15 phút, một con số trùng khớp tuyệt đối, không sai lệch một giây nào so với bước nhảy vọt của độ ẩm trên hệ thống cảm biến điện tử Đức," giọng Vi cất lên, từng từ, từng thanh âm rơi xuống mặt bàn gỗ như những viên sỏi ném vào mặt nước đóng băng. "Nhưng sáng sớm nay, trước khi hội đồng trưng bày tập hợp, vết chì vội vã đó đã bị tẩy đi bằng gôm cao su. Và chữ ký cùng giờ mở kho ban ngày '07:30' được viết đè thẳng lên trên vết hằn cơ học ấy nhằm một mục đích duy nhất: hợp thức hóa rằng kho lưu trữ chỉ được mở vào đầu giờ làm việc bình thường của ngày khai mạc. Nét mực viết đè này sử dụng loại mực bi Parker ngòi 0.7 màu xanh lam đậm – đúng loại bút kim loại mạ vàng mà chị Hà An luôn cài trang trọng ở túi áo vest mỗi khi đi làm."

Không khí bên trong căn phòng lưu trữ như thể vừa bị rút cạn toàn bộ oxy. Đúng lúc đó, chiếc máy nén khí của tủ chống ẩm sau một hồi gầm gừ hút ẩm đã đạt đến ngưỡng an toàn 46%, rơ-le nhiệt ngắt một tiếng *tạch* khô khốc, để lại một khoảng lặng buốt giá bao trùm lấy bốn con người.

Mọi ánh mắt trong phòng – cái nhìn sắc bén như dao mổ của Lục Khang, sự phẫn nộ cùng cực pha lẫn đớn đau của ông Lịch, và vẻ điềm tĩnh lạnh lùng của Ninh Tường Vi – đồng loạt đổ dồn về phía ngưỡng cửa.

Nguyễn Hà An đứng chết trân ở đó. Toàn bộ huyết sắc trên gương mặt cô ta dường như đã bị rút cạn sạch sẽ, để lại một làn da trắng bệch, nhờn nhợt dưới ánh đèn tuýp. Đôi môi tô son màu cánh sen run rẩy bần bật, hai hàm răng va vào nhau lập cập thành tiếng. Bàn tay cô ta siết chặt lấy mép gấu chiếc áo sơ mi lụa đắt tiền đến mức các khớp xương ngón tay nhô lên trắng dã, chiếc túi xách hàng hiệu tuột khỏi bờ vai, rơi bịch xuống nền gạch nhưng cô ta thậm chí không hề nhận biết. Nhìn bộ dạng uy nghiêm, bất động của người đội phó cảnh sát điều tra và ánh mắt vỡ vụn của người thầy, người thủ trưởng già mà cô ta từng xưng tụng là bậc tiền bối đáng kính nhất, phòng tuyến tâm lý mỏng manh cuối cùng của người phụ nữ quản lý chuyên môn hoàn toàn sụp đổ.

"Tôi... tôi không có ý làm hại bảo tàng... tôi thề có trời đất chứng giám là tôi không lấy cắp cái gì của bác Lịch cả!" Hà An bỗng ôm chặt lấy mặt, khuỵu gối xuống sàn, bật khóc nức nở.

Tiếng khóc nghẹn ngào, hoảng loạn xé tan sự tĩnh mịch của căn gác lưu trữ, dội vào những hộp hồ sơ im lìm như một sự thú tội muộn màng.

"Bác Lịch ơi, cháu xin thề với bác là cháu không hề biết chuyện có ai đó tráo đổi máy móc hay ruột đồng hồ gì hết! Cháu... cháu bị người ta dồn vào thế chân tường thôi!"

Lục Khang không hề biến sắc. Anh bước từng bước chậm rãi nhưng dứt khoát về phía người phụ nữ đang ngồi sụp dưới sàn, dừng lại ở khoảng cách hai bước chân. Bóng của anh đổ dài, trùm kín lấy thân hình đang run rẩy của cô ta. Giọng Khang trầm xuống, không hề quát tháo, nhưng mang một sức nặng đè nén khiến đối phương cảm nhận rõ sự uy nghiêm không thể lay chuyển của luật pháp:

"Chị Hà An, tôi yêu cầu chị đứng dậy và giữ bình tĩnh. Đây không còn là chuyện nội bộ gia đình hay tranh cãi chuyên môn bảo tàng. Đây là một cuộc điều tra dấu hiệu tội phạm hình sự về hành vi tráo đổi, chiếm đoạt tài sản văn hóa có giá trị đặc biệt lớn. Tôi nhắc cho chị nhớ: việc khai báo quanh co, gian dối hoặc cố tình che giấu hành vi tiếp tay sẽ trực tiếp cấu thành tội không tố giác tội phạm, hoặc nặng hơn là đồng phạm giúp sức tích cực. Bút lục lời khai sẽ được lập ngay tại bàn làm việc này. Ai là người đã vào kho lưu trữ lúc 23 giờ 15 phút đêm qua cùng với chị?"

"Là... là Duy! Anh Bùi Quang Duy!"

Hà An nấc lên từng chặng, hai bàn tay buông khỏi mặt để lộ đôi mắt đỏ ngầu, mascara đắt tiền bị nước mắt hòa tan chảy thành những vệt đen nhem nhuốc trên gò má.

"Đêm qua, đúng mười một giờ hơn một chút, anh Duy gọi điện cho cháu. Anh ấy không gọi vào số máy bàn mà gọi trực tiếp qua ứng dụng bảo mật vào điện thoại cá nhân của cháu. Anh ấy bảo bên Công ty Cổ phần Di sản Minh Thành vừa nhận được một công điện khẩn cấp từ phía ban giám đốc của tập đoàn tài trợ bên nước ngoài. Họ yêu cầu phải có thêm một bộ ảnh chụp macro độ phân giải cực cao, ghi lại từng chi tiết nhỏ nhất của nắp máy, quả văng và hoa văn bạc chạm nổi của chiếc đồng hồ quả quýt Longines 1902 để kịp nhúng vào bản in báo cáo tài trợ sáng sớm nay gửi cho phái đoàn đối tác chuẩn bị hạ cánh."

"Và chỉ vì một cuộc điện thoại, chị đã tự ý mang chìa khóa đến mở cửa kho lưu trữ cho anh ta?" Khang gặng hỏi, tay rút cuốn sổ tay bọc da công tác và chiếc bút máy chuyên dụng, nhanh chóng ghi lại từng mốc thời gian và danh tính nhân vật vừa được xướng lên.

"Cháu... cháu lúc đầu đã kiên quyết từ chối!" Hà An phân trần trong hoảng loạn tột cùng, hai bàn tay chắp lại trước ngực như van nài sự lượng thứ. "Cháu nói rõ với anh Duy rằng quy chế bảo tàng rất nghiêm, tuyệt đối không ai được phép mở kho đêm nếu không có sự phê duyệt bằng văn bản có chữ ký của bác Lịch. Cháu bảo anh ấy phải đợi đến sáng hôm sau. Nhưng anh Duy gắt lên trong điện thoại, anh ấy bảo chuyến bay của đối tác cất cánh lúc bảy giờ sáng từ Singapore, nếu không có ảnh tư liệu gửi kịp qua thư điện tử trước sáu giờ thì toàn bộ gói tài trợ bảo hiểm tám trăm triệu đồng và toàn bộ kinh phí bảo trợ truyền thông của đợt triển lãm mùa thu này sẽ lập tức bị đình chỉ vô thời hạn để thẩm tra lại tính minh bạch của hiện vật."

Hà An ngước nhìn ông Lịch, giọng nghẹn lại trong cổ họng: "Anh ấy... anh ấy bảo cháu là bác Lịch đang phải chịu áp lực nợ nần rất lớn từ các chủ thầu xây dựng vì chi phí tu bổ căn biệt thự cổ này đã đội vốn quá nhiều... Nếu gói tài trợ bị hủy, bảo tàng sẽ phá sản, thanh danh cả đời của bác Lịch sẽ tiêu tan thành mây khói... Cháu... cháu sợ vì sự cứng nhắc của mình mà làm mất gói tài trợ sống còn ấy thì bảo tàng sẽ sụp đổ, bác Lịch sẽ căm ghét và đuổi việc cháu..."

"Ngu xuẩn! Thật là ngu xuẩn đến tột cùng!"

Ông Đỗ Vạn Lịch không kìm được nữa, ông giáng một cú đấm thình thịch xuống chiếc bàn gỗ sồi, khiến chiếc kính lúp nảy lên một đoạn. Lồng ngực người đàn ông già phập phồng dữ dội sau lớp áo sơ mi bạc màu, gương mặt đỏ bừng lên vì tức giận xen lẫn nỗi đau bị phản bội:

"Hà An! Tôi đã coi cô như con cháu trong nhà suốt năm năm qua! Tôi tin cô có bằng cử nhân loại giỏi, tin cô có chuyên môn thẩm định, có đạo đức nghề nghiệp của người làm di sản nên mới giao chiếc chìa khóa kho sinh mệnh này cho cô quản lý! Quy chế an ninh sinh ra là để bảo vệ hiện vật trước lòng tham của con người, chứ không phải để cho cô đem ra mặc cả với những lời dọa dẫm vu vơ của người ngoài! Sao cô dám tự tiện qua mặt tôi để mở cửa kho lúc nửa đêm?"

"Cháu xin lỗi bác... nghìn lần vạn lần cháu xin lỗi bác Lịch..." Hà An gục đầu xuống sàn gạch, tấm lưng gầy run rẩy theo từng tiếng nấc. "Cháu thực sự chỉ nghĩ đơn giản là anh ấy chụp ảnh tư liệu thôi! Anh Duy mang theo một chiếc túi xách du lịch lớn màu đen và một chiếc thùng carton vuông bảo là chứa hai ngọn đèn chụp studio công suất lớn cùng thiết bị đo sáng chuyên dụng của dân nhiếp ảnh. Anh ấy bảo ánh sáng đèn flash chuyên nghiệp sẽ làm chói mắt người ngoài, bảo cháu cứ ngồi ở bàn trực phía ngoài uống trà gác cửa, để anh ấy tự vào kho chụp cho đúng góc sáng nghệ thuật trong vòng mười lăm phút."

Hà An nuốt nước bọt, giọng thì thào trong sự hổ thẹn tột cùng: "Cháu... cháu sợ anh bảo vệ trực ca đêm nhìn thấy sẽ thắc mắc rồi báo cáo lôi thôi làm phức tạp tình hình, nên cháu đã xuống phòng bảo vệ bảo anh ấy là đêm nay kho không có biến động gì, cứ an tâm đi ngủ sớm để lấy sức mai trực cổng chính. Rồi cháu tự ý cầm bút chì ghi tạm giờ vào kho là 23 giờ 15 phút, tính bụng rằng sáng hôm sau nếu mọi việc êm thấm, ảnh chụp xong xuôi thì cháu sẽ lấy gôm tẩy đi rồi ký bù giờ mở kho ban ngày... Cháu thề danh dự là cháu không thể ngờ được anh ta lại to gan lớn mật mang đồ nghề vào để cạy mở cỗ máy đồng hồ ngay tại chỗ!"

Ninh Tường Vi đứng tựa vào mép bàn làm việc, khoanh hai tay trước ngực. Ánh mắt cô nhìn người quản lý chuyên môn đang khóc lóc thảm hại dưới sàn không hề có một tia đắc thắng của một kẻ vừa vạch trần được một màn kịch vụng về. Trong mắt Vi chỉ có sự lạnh lùng, xót xa và một chút phẫn nộ của một người làm nghề bảo tồn chân chính – một người đã từng chứng kiến quá nhiều sự thỏa hiệp ngớ ngẩn, nhân danh những điều tốt đẹp, nhưng thực chất chỉ là bước mở đường cho lòng tham và tội ác xé nát di sản.

"Chị không chỉ mở kho đêm qua một lần duy nhất này, đúng không chị Hà An?" Vi cất giọng hỏi. Thanh âm của cô không cao, không gắt gỏng, nhưng nó sắc ngọt và trầm tĩnh đến mức tàn nhẫn. "Khi một người làm công tác lưu trữ đã chấp nhận cầm cục gôm để sửa chữa sổ sách một lần, họ hiếm khi dừng lại ở lần đầu tiên. Chữ ký của anh Duy trong biên bản bàn giao số 04 ngày mười lăm tháng trước... ngày nhập kho thực tế của chiếc đồng hồ quả quýt vỏ bạc đó hoàn toàn không phải ngày mười lăm."

Hà An giật bắn người như vừa bị một dòng điện cực mạnh chạy dọc sống lưng. Cô ta ngẩng phắt đầu lên, đôi mắt ướt nhòe trừng trừng nhìn Vi như thể nhìn thấy một bóng ma có khả năng nhìn thấu từng ngóc ngách tăm tối nhất trong tâm can mình. Đôi môi cô ta há hốc ra, lắp bắp không thành lời:

"Sao... sao cô biết được điều đó? Cô... cô đã lục tìm hồ sơ từ bao giờ?"

"Biên bản số 04 có số lưu trữ nhảy cóc hai bậc so với cuốn sổ giao nhận tổng thể của bảo tàng," Vi chậm rãi lật lại một tập kẹp hồ sơ khác đang nằm ngay ngắn trên bàn.

Cô mở trang tài liệu có dán nhãn màu vàng: "Trước văn bản số 04 hai số thứ tự là một biên bản kiểm kê hiện vật định kỳ bị thiếu mất một phụ lục quan trọng: bản ảnh chụp cận cảnh độ phân giải cao của cỗ máy nguyên bản và chứng thư cam kết của đơn vị ký gửi. Chị đã sửa ngày nhập kho trên hệ thống phần mềm lùi lại đúng một tuần lễ để che giấu việc bảo tàng tiếp nhận hiện vật ký gửi từ Công ty Di sản Minh Thành khi hồ sơ pháp lý của nó chưa hề có đầy đủ chứng thư giám định độc lập của Hội đồng Cổ vật, đúng không?"

"Cháu... cháu buộc phải làm thế!"

Hà An ôm chặt lấy đầu, buột miệng thừa nhận tất cả trong cơn hoảng loạn tột cùng khi thấy mọi mắt xích gian dối đều đã bị bóc trần.

"Hôm đó bên Minh Thành chuyển chiếc đồng hồ sang gấp quá. Họ mang thẳng đến phòng giám tuyển, giấy tờ gốc đi kèm bị thiếu mất một trang xác nhận kiểm định cơ học của xưởng phục chế Thụy Sĩ. Anh Duy hứa danh dự với cháu là ngay hôm sau phía đối tác sẽ gửi chuyển phát nhanh bản gốc có công chứng để bổ sung vào hồ sơ lưu trữ. Anh ấy bảo cháu cứ linh động sửa lùi ngày nhập kho trên hệ thống máy tính nội bộ một tuần để kịp khớp với lịch giải ngân giai đoạn một của hợp đồng tài trợ... Anh Duy nói nếu không làm thế, thủ tục hành chính sẽ bị ách lại ở phòng kế toán của tập đoàn, tiền tài trợ sẽ không về tài khoản bảo tàng đúng hạn... Cháu chỉ muốn mọi việc trôi chảy thôi mà! Bác Lịch ơi, cháu thề là cháu không hề biết cỗ máy bên trong đã bị họ toan tính tráo đổi từ trước khi mang đến đây!"

Lục Khang ngừng tay bút. Ngòi bút máy của anh dừng lại ở dòng cuối cùng của trang biên bản, tạo thành một dấu chấm đậm nét mực đen. Anh ngước mắt nhìn Hà An bằng ánh mắt nghiêm nghị tuyệt đối của cơ quan quyền lực nhà nước:

"Toàn bộ những lời thừa nhận này của chị đã được tôi ghi nhận đầy đủ, chi tiết vào biên bản làm việc hiện trường. Mọi hành vi tự ý sửa đổi hồ sơ pháp lý, làm sai lệch hồ sơ di sản văn hóa, vi phạm nghiêm trọng quy chế quản lý tài sản sẽ được cơ quan điều tra xem xét, phân loại hành vi và xử lý nghiêm minh theo quy định của Bộ luật Hình sự. Nhưng đó là câu chuyện của tố tụng sau này. Còn bây giờ, nhiệm vụ cấp bách nhất của chúng ta là phải làm rõ: Bùi Quang Duy đã mang cỗ máy nguyên bản của chiếc đồng hồ rời khỏi căn phòng này bằng cách nào, và hiện vật vô giá đó hiện đang nằm ở đâu trong khu vực bảo tàng."

Khang quay sang nhìn Vi. Ánh mắt của hai con người có cùng tư duy logic sắc bén giao nhau trong một thoáng ngắn ngủi nhưng tràn đầy sự thấu hiểu nghiệp vụ. Khang khẽ gật đầu:

"Đi kiểm tra lối di chuyển."

Vi gật đầu, lập tức dẫn Khang và ông Lịch bước nhanh ra khỏi phòng lưu trữ.

Hành lang tầng hai chìm trong bóng tối mờ mờ dẫn thẳng ra khoảng chiếu nghỉ rộng rãi của chiếc cầu thang gỗ lim nối liền với sảnh chính tầng một. Trong kết cấu kiến trúc của ngôi nhà cổ xây dựng từ thời Pháp thuộc này, đây chính là lối đi nội bộ duy nhất kết nối trực tiếp từ căn gác kho xuống khu vực tầng trệt mà không phải đi qua cửa kính sảnh trước – nơi duy nhất trong bảo tàng có lắp đặt một chiếc camera an ninh độc lập hướng thẳng ra cổng lớn.

Cầu thang gỗ của ngôi nhà cổ đã có tuổi đời xấp xỉ một thế kỷ. Những bậc thang bằng gỗ lim dày dặn, bản rộng gần một mét, mặt gỗ đã lên nước bóng loáng và mòn vẹt ở chính giữa do dấu chân của hàng vạn lượt người qua lại suốt bao năm tháng. Nhưng ngược lại, ở sát mép chân tường quét vôi vàng và góc khuất của khoảng chiếu nghỉ, nơi chổi quét của các nhân viên tạp vụ khó lòng chạm tới một cách triệt để, vẫn luôn đọng lại một lớp bụi gỗ mịn màng, ẩm ẩm của mùa thu.

Vi đi trước một bước, bước chân cô nhẹ tênh, gần như không phát ra tiếng động trên mặt gỗ lim. Nhưng khi vừa bước xuống đến bậc chiếu nghỉ chuyển hướng – nơi cầu thang gãy một góc vuông chín mươi độ giữa tầng hai và tầng một – bước chân cô đột ngột khựng lại.

"Anh Khang, nhìn xuống đây." Vi khom người, ngón tay trỏ chỉ thẳng xuống góc sàn gỗ sát nơi tiếp giáp giữa chân con tiện lan can và mặt sàn chiếu nghỉ.

Ánh nắng mùa thu rọi xiên qua khung cửa sổ chớp lật bên hông cầu thang, hắt một dải sáng vàng vọt lên mặt sàn gỗ bụi bặm, để lộ ra một vết kéo lê dài chừng sáu mươi phân. Đó tuyệt đối không phải là vết quẹt vô tình của một chiếc gót giày da – vết xước do gót chân hôm qua cô phát hiện ở phòng trưng bày chỉ là một dấu trượt cục bộ, ngắn và nông.

Vết tích ở đây là một vệt bụi bị quét sạch một khoảng rộng hình chữ nhật đứt đoạn. Mép ngoài cùng của vệt quét này có hai đường gờ song song thẳng tắp, miết rất mạnh xuống lớp bụi mịn bám trên mặt gỗ, giống hệt như vết tích để lại khi một vật thể có đáy cứng, góc cạnh vuông vức đã bị ai đó đặt tạm xuống sàn trong tích tắc rồi kéo lê đi một đoạn ngắn trong lúc người mang vác phải dừng lại để đổi tay cầm cho đỡ mỏi.

Lục Khang lập tức quỳ một chân xuống sàn gỗ lim. Anh rút từ túi áo ngực ra một chiếc thước dây bọc kim loại nhỏ dạng rút bấm. Bằng thao tác chuẩn xác của một điều tra viên hiện trường, anh đo cẩn thận khoảng cách giữa hai mép đường gờ song song:

"Ba mươi lăm xăng-ti-mét. Cạnh đáy hoàn toàn vuông vức. Ở giữa hai đường rãnh có những vết hằn lượn sóng cực nhỏ – vết hằn cơ học của lớp bìa carton ba lớp dạng sóng E."

Vi đứng thẳng người dậy, ánh mắt sắc sảo của cô hướng qua những chấn song gỗ của khung cửa sổ chiếu nghỉ, nhìn thẳng xuống khoảnh sân trong lát gạch Bát Tràng của bảo tàng.

Phía dưới sân, nơi những bóng cây ngọc lan cổ thụ đang trút lá vàng, chiếc xe tải nhỏ loại 1,25 tấn dán logo màu xanh lam của Công ty Cổ phần Di sản Minh Thành đang đỗ ghé sát vào bậc thềm tam cấp dẫn lên sảnh phụ. Thùng xe bạt phía sau đã được mở toang cả ba bửng. Bên trong thùng xe và rải rác trên mặt bậc thềm tam cấp đang xếp la liệt hàng chục thùng carton màu nâu nhạt giống hệt nhau, trên mặt thùng in dòng chữ ngay ngắn: *Hàng mẫu lưu niệm phục vụ Hội thảo Quốc tế Bảo tồn Di sản*. Kích thước cạnh đáy của những chiếc thùng carton đó hoàn toàn trùng khớp với vết kéo lê rộng ba mươi lăm phân in trên lớp bụi của chiếu nghỉ cầu thang.

"Duy không bao giờ dại dột mang cỗ máy Longines 1902 nguyên bản ra ngoài bằng túi áo vest hay cặp táp cá nhân," Vi khẽ phân tích, giọng cô hạ thấp nhưng từng lập luận logic trong đầu cô lập tức ráp nối lại thành một chuỗi sự kiện hoàn chỉnh, không một kẽ hở. "Túi áo vest hay cặp táp mỏng rất dễ bị nhân viên bảo vệ hoặc người khác vô tình va chạm để ý nếu bên trong có một khối kim loại dày cộm. Hơn nữa, cỗ máy đồng hồ quả quýt nguyên bản năm 1902 của cung đình Huế là một cỗ máy cơ học cực kỳ tinh xảo và nhạy cảm. Nó có quả lắc bạch kim nặng, hệ thống bánh răng truyền động bằng đồng siêu mỏng và các trục thép mảnh như sợi tóc. Nếu tháo rời máy ra khỏi vỏ mà không đặt vào hộp cố định chống sốc chuyên dụng thì chỉ cần một chấn động nhỏ khi bước đi cũng có thể làm cong trục tóc, gãy chân kính hoặc làm xô lệch bánh răng gai. Anh ta bắt buộc phải ngụy trang nó vào một vật chứa có đệm mút dày. Và anh ta đã mang cỗ máy thật ra khỏi căn phòng kho lưu trữ bằng chính một trong những chiếc thùng carton chứa hàng lưu niệm này."

Đúng lúc đó, từ phía cổng ngách thông sang ngõ Hàng Chỉ, một tiếng ho khan quen thuộc vang lên, kèm theo tiếng bước chân lẹp xẹp của một đôi dép quai da cũ kỹ.

"Bác Tư!"

Vi khẽ thốt lên khi nhận ra bóng dáng quen thuộc của cụ Phạm Tư Thời đang thong thả chống gậy bước qua ngưỡng cửa sảnh tầng một.

Người thợ sửa đồng hồ già lừng danh của phố cổ Hà Nội mặc chiếc áo sơ mi cộc tay màu ghi xám đã sờn rách ở mép cổ áo, mái tóc bạc phơ như cước chải ngược ra sau để lộ vầng trán cao đầy những nếp nhăn của một đời trầm luân với thời gian. Cụ một tay chống chiếc gậy bằng gỗ mun đen bóng, tay kia cẩn thận bọc một chiếc hộp thiếc tròn nhỏ trong chiếc khăn mùi xoa kẻ sọc đã ngả màu ố vàng vì thời gian.

"Tôi ngồi bên quán nước đầu ngõ thấy công an các anh kéo vào lùng sục, lại nghe tiếng khóc lóc om sòm vọng ra từ trên gác nên đoán ngay là có biến, phải lật đật chống gậy sang xem sao," cụ Tư Thời cất giọng trầm ấm, âm vang của một người đã chứng kiến bao biến thiên dâu bể của đất Hà thành. Cụ chậm rãi bước lên từng bậc thang gỗ lim, đầu chiếc gậy mun gõ cộc cộc đều đặn trên nền gỗ. Cụ đưa mắt nhìn lướt qua Khang, rồi dừng lại trên gương mặt đang căng thẳng tột độ của Vi: "Sao rồi cô Vi? Đã tìm ra cái cớ vì sao con lắc bạch kim của cụ lớn triều Nguyễn lại không chịu cất lên tiếng mưa rơi chưa?"

"Cụ Tư," Khang chủ động bước xuống ba bậc thang, cúi đầu chào ông lão thợ đồng hồ một cách lễ phép nhưng vẫn giữ đúng khoảng cách của một cán bộ thực thi pháp luật. "Bác mang đến thêm thông tin gì về hiện vật này sao?"

Cụ Tư mỉm cười hóm hỉnh, khóe mắt nhăn lại thành những nếp gấp đôn hậu. Chiếc kính lão viền đồi mồi trễ xuống tận chóp mũi to bè. Cụ không trả lời Khang ngay mà thong thả gỡ từng nếp gấp của chiếc khăn mùi xoa, mở nắp chiếc hộp thiếc tròn – vốn là một chiếc hộp kẹo ho ngậm bằng sắt tây từ thời bao cấp đã gỉ sét bốn góc.

Bên trong lớp bông gòn trắng muốt đã ngả màu cháo lòng là một cụm bánh răng bằng đồng thau nhỏ xíu, kích thước chỉ nhỉnh hơn chiếc cúc áo sơ mi một chút. Cụm cơ học đó gồm một bánh răng gai truyền động nối liền với một trục thép mảnh, phía trên có gắn ba viên chân kính màu đỏ thẫm như những giọt máu khô.

"Sáng nay cô Vi mang sang tiệm cho tôi xem bản vẽ can ren ốc và chỉ số tần số dao động 21.600 nhịp một giờ mà cô ấy đo được bằng ứng dụng âm học," cụ Tư Thời thong thả nói, đưa hai ngón tay khẳng khiu, sạm đen vì dầu máy nhấc bổng cụm bánh răng lên trước luồng ánh sáng mặt trời rọi qua cửa sổ. "Lúc ấy tôi đã ngờ ngợ trong bụng rồi. Vừa nãy quay về tiệm ở ngõ Hàng Chỉ, tôi mới lục tung mấy ngăn kéo tủ gỗ đựng phụ tùng đồng hồ cũ từ cái thời tôi còn mở hiệu đồng hồ Vĩnh Thịnh ở phố Hàng Bông trước năm 1990. Đây, các vị công an và các nhà nghiên cứu hãy nhìn cho thật tỏ tường."

Khang và Vi cùng ghé sát mắt lại gần chiếc hộp thiếc. Cụ Tư rút từ túi áo ra chiếc nhíp gắp chuyên dụng đầu nhọn hoắt, gắp nhẹ vào vành chiếc bánh răng gai, xoay nó một vòng tròn dưới ánh nắng:

"Cỗ máy Longines 1902 thời vua Thành Thái là đỉnh cao cơ khí thủ công của các nghệ nhân vùng Saint-Imier bên Thụy Sĩ, đặt hàng riêng cho các quan lại thượng lưu An Nam theo quy chuẩn hoàng gia. Toàn bộ bánh răng của nó được tiện bằng đồng lạnh nguyên khối, các răng cưa được mài bóng vát góc hoàn toàn bằng tay, mịn màng và sắc sảo như đường viền lụa, và hệ thống chân kính bắt buộc phải là đá hồng ngọc tự nhiên cắt góc hoa hồng, màu đỏ sẫm không một tì vết bọt khí. Còn cái này..."

Cụ Tư gõ nhẹ đầu nhíp kim loại vào vành bánh răng trong hộp thiếc, phát ra một tiếng *tinh* đanh mảnh:

"Đây là chi tiết máy nằm trong cụm truyền động của dòng đồng hồ cơ khí phục chế sản xuất hàng loạt từ thập niên 90 của thế kỷ trước, xuất xứ từ một xưởng gia công lớn ở Hồng Kông. Nhìn bằng mắt thường thì thấy giống, nhưng nếu đưa qua kính lúp kỹ thuật sẽ thấy rõ vết dập khuôn công nghiệp dập nổi hàng loạt, ba-via ở mép răng cưa còn chưa được mài nhẵn, và chân kính chỉ là đá ruby nhân tạo tổng hợp rẻ tiền."

Cụ Tư ngước đôi mắt đục mờ nhìn lên tầng hai, hướng về phía chiếc tủ kính số ba đang bị phong tỏa bằng dải giấy đỏ của cơ quan điều tra, giọng cụ chùng hẳn xuống, đượm vẻ xót xa nhưng vô cùng đanh thép:

"Cỗ máy đang nằm trơ trẽn bên trong lớp vỏ bạc chạm hoa cúc trên kia không phải là đồ cổ dỏm tầm thường trôi nổi ngoài chợ giời, mà chính là ruột của một chiếc đồng hồ phục chế rẻ tiền đời 1995! Cụm bánh răng này là do chính tay tôi tháo ra từ một cỗ máy hỏng cùng lô hàng nhập lậu cách đây đúng ba mươi năm. Chúng giống nhau đến từng bước ren ốc, từng độ dày của cầu máy và từng vết dập cơ khí thô thiển của khuôn ép công nghiệp. Kẻ nào chủ mưu tráo đổi ruột đồng hồ đã tính toán rất kỹ lưỡng: hắn cố tình săn lùng một cỗ máy phục chế có đường kính tương đương 48 milimét để có thể nhét vừa khít vào lớp vỏ bạc cổ thời Nguyễn mà không làm biến dạng lớp viền bên ngoài. Nhưng hắn là kẻ có học mà thiếu tâm, hắn quên mất một điều căn cốt của thuật chế tác: máy móc công nghiệp đời mới chạy với tần số cao, ồn ào và thô kệch, không bao giờ có thể bắt chước được nhịp đập 18.000 nhịp khoan thai, êm ả như tiếng mưa rơi đều trên mái ngói của cỗ máy hơn một trăm năm trước!"

"Chi tiết máy này cùng bản kết luận đối chiếu của cụ sẽ là chứng cứ vật chất cực kỳ quan trọng để Viện Khoa học Hình sự tiến hành giám định cơ học đối chứng khi chúng tôi ra quyết định bóc tách cỗ máy niêm phong," Lục Khang nói, ánh mắt ánh lên sự cảm phục chân thành trước kinh nghiệm của người thợ già. "Thay mặt cơ quan điều tra, tôi chân thành cảm ơn cụ Tư."

Cụ Tư xua xua bàn tay gầy guộc, khẽ thở dài một tiếng não nùng:

"Cảm ơn cái gì cơ chứ... Đồ quý của tiền nhân để lại, mồ hôi nước mắt của bao thế hệ nghệ nhân mà nỡ lòng nào đem xẻ thịt lột ruột, bòn rút từng mẩu kim hoàn đem đi bán chác như thế... Dân già phố cổ chúng tôi nhìn vào mà thấy đau xót cả khúc ruột!"

Bỗng nhiên, từ dưới khoảng sân gạch tầng một vọng lên những âm thanh ồn ào, hỗn tạp và gấp gáp, cắt ngang cuộc trò chuyện trên bậc chiếu nghỉ.

"Nhanh tay lên các chú! Cẩn thận cái góc thùng bên phải kìa! Xếp gọn gàng sát vào vách trong của thùng xe ấy!"

Tiếng quát tháo, thúc giục mang một vẻ sốt ruột và cáu bẳn khác thường vang lên rành rọt, đập vào những bức tường gạch cổ. Vi, Lục Khang và ông Đỗ Vạn Lịch lập tức bước nhanh ra sát lan can gỗ của hành lang tầng hai, nhìn thẳng xuống sân trong.

Dưới khoảng sân lát gạch Bát Tràng, Bùi Quang Duy đang đứng sừng sững cạnh bậc thềm tam cấp. Chiếc áo vest màu xám tro cắt may đo đắt tiền của anh ta đã bị cởi phanh cúc ngực, hai vạt áo bay lòa xòa theo từng bước chân vội vã. Duy liên tục đi đi lại lại trên nền gạch, gót giày da gõ cồm cộp một cách mất kiên nhẫn.

Tay phải Duy cầm chiếc điện thoại thông minh áp chặt vào tai, tay trái liên tục vung vẩy, hối thúc hai người công nhân bốc xếp mặc áo bảo hộ màu xanh đang khom lưng bê từng thùng carton mẫu hàng lưu niệm chất lên thùng chiếc xe tải 1,25 tấn.

"Alo? Vâng, tôi đang trực tiếp giám sát anh em bốc xếp đồ đây!" Duy nói rất to vào ống nghe điện thoại, âm vực của anh ta the thé, căng thẳng, mất hẳn vẻ điềm đạm, lịch thiệp và nhã nhặn như lúc sáng sớm trong phòng làm việc của giám đốc. "Mười lăm phút nữa đoàn xe sẽ xuất phát! Bắt buộc phải cho xe rời khỏi khu vực phố cổ ngay trước 11 giờ trưa! Các anh bên ban tổ chức thừa biết quy định của công an giao thông rồi đấy, sau 11 giờ là phố cấm toàn bộ xe tải hoạt động, chỉ cần chậm chân năm phút bị chốt cảnh sát giao thông Hàng Đậu giữ lại đến chiều muộn thì hỏng bét toàn bộ khâu chuẩn bị hội thảo bên Trung tâm Hội nghị Quốc gia!"

Duy giật phắt chiếc điện thoại khỏi tai, bấm ngắt cuộc gọi rồi đưa cổ tay lên nhìn chằm chằm vào chiếc đồng hồ mạ vàng sáng loáng. Dù ngọn gió thu ngoài sân đang thổi lồng lộng cuốn theo những đám lá khô xào xạc, nhưng trên vầng trán cao và hai bên thái dương của anh ta đã lấm tấm những giọt mồ hôi hột.

Anh ta bước nhanh lại gần đuôi xe tải, không đợi hai người công nhân bốc vác, Duy tự tay vươn người đẩy mạnh một chiếc thùng carton vuông vức vào sâu tận góc tối phía trong sàn xe. Trong lúc làm việc đó, ánh mắt anh ta không ngừng liếc xéo lên các ô cửa sổ của tầng hai – nơi anh ta thừa biết Ninh Tường Vi và đội phó cảnh sát Lục Khang đang tiến hành rà soát dữ liệu lưu trữ.

"Anh ta đang vội một cách bất thường," Lục Khang hạ giọng nói nhỏ bên tai Vi. Bàn tay phải của anh đã khẽ trượt xuống mép thắt lưng da, ngón tay đặt hờ lên chiếc còi hiệu lệnh chuyên dụng. "Cái cớ rời đi trước giờ cấm đường chỉ là bức bình phong để tẩu tán hiện trường."

Ninh Tường Vi không chớp mắt. Toàn bộ sự chú ý của cô dồn thẳng vào chiếc thùng carton mà chính tay Duy vừa tự mình đẩy sâu vào góc trong cùng của thùng xe tải.

Đó là chiếc thùng duy nhất trong số gần ba mươi kiện hàng đang nằm dưới sân không hề được dán lớp băng dính niêm phong in logo màu đỏ của Công ty Minh Thành. Nắp chiếc thùng carton đó chỉ được dán chằng chịt bằng một lớp băng dính trong suốt loại năm phân, quấn vội vã hai vòng quanh mép thùng, để lộ những nếp gấp nhăn nhúm và một góc bìa bị móp nhẹ do va đập cơ học.

Những mảnh ghép điều tra rời rạc, tưởng chừng như ngẫu nhiên xuất hiện trong suốt hai tiếng đồng hồ căng thẳng vừa qua, lập tức bừng sáng và kết nối lại thành một bức tranh hoàn chỉnh trong tâm trí Vi:

Bước nhảy vọt đột ngột của độ ẩm không khí lên 68,5% lúc 23 giờ 15 phút đêm qua bên trong chiếc tủ chống ẩm kín mít; giọt nước mắt hoảng loạn của Hà An cùng lời thú nhận về việc mở cửa kho cho Duy mang theo chiếc thùng carton đựng thiết bị; vệt kéo lê đứt đoạn in hằn trên lớp bụi mịn nơi chiếu nghỉ cầu thang lim với chiều rộng đáy thùng đúng ba mươi lăm xăng-ti-mét; cụm bánh răng phục chế đời 1995 mà cụ Tư Thời vừa đem đến đối chứng; và giờ đây là sự nôn nóng đến mất bình tĩnh của Bùi Quang Duy – một chuyên viên quản lý hồ sơ vốn nổi tiếng là kẻ cẩn trọng, tỉ mỉ đến từng chi tiết nhỏ nhất.

Vi quay phắt sang nhìn Lục Khang, ngón tay cô chỉ thẳng qua chấn song lan can xuống chiếc xe tải đang nổ máy xả khói mù mịt dưới sân, giọng cô dứt khoát và lạnh băng:

"Anh ta không mang đồng hồ ra bằng túi áo, mà giấu nó trong chính thùng đồ lưu niệm sắp được xe kiểm hàng chuyển đi."

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn