Hẹn Nhau Ở Phiên Chợ TớiC.9 / 12
Chương 9

Bếp tạm sau chợ Tả Vìn

Khói củi ướt cay xè phả ra từ dãy bếp lò đắp bằng đất sau chợ Tả Vìn, nơi tiếng dao thớt băm chặt chan chát hòa lẫn tiếng xối nước của những người phụ nữ làm việc trong bóng tối trước giờ chợ mở.

Gió rít qua từng khe nứa đan thưa của vách chái dựng tạm. Sương muối chưa tan, đọng thành từng hạt nặng trĩu trên mép bạt dứa ba màu đã ố vàng vì bùn đất và muội than tích tụ qua bao mùa chợ phiên. Ở góc sâu nhất của gian bếp hậu cần, bà Đinh Thị Hảo đứng chống hai bàn tay xương xẩu, thô ráp lên chiếc bàn gỗ ghép mấp mô bám đầy vết dầu mỡ đóng bánh. Đôi mắt bà đỏ hoe, bờ mi sưng mọng vì làn khói xám đặc quẹt không tìm được lối thoát qua mái bạt thấp tè, cứ luẩn quẩn quấn lấy sàn đất nện nhớp nháp. Trước mặt bà không phải là một nồi gang đại bản đầy ắp xương lợn đen đang sủi tăm lục bục như dự tính từ chiều hôm trước, mà là hai chiếc xô nhựa màu cam rỗng không, nằm chỏng chơ bên rãnh thoát nước, đáy xô chỉ láng một lớp váng đất đỏ quạch như gạch non hòa nước.

— Tắc rồi! — Một người đàn bà quẩy đôi thùng tôn rỗng từ triền dốc sau chợ bước vội vào, hơi thở phì phò hòa vào làn sương giá buốt xám xịt. Đôi ủng cao su của bà bê bết đất sét vàng, mỗi bước đi phát ra tiếng lép nhép nặng nề. — Nước mó trên đồi Thung Lũng Cạn tắc tiệt từ nửa đêm rồi bà Hảo ơi. Đất sạt trên đầu nguồn lấp trọn đoạn ống bương dẫn nước qua khe đá. Mấy thằng cu bản bên đào bới cả tiếng đồng hồ trong bóng tối mới mót được nửa gàu lắng đầy cát sỏi, đến trưa may ra mới khơi thông được dòng chính.

Bà Hảo không thở dài, cũng chẳng hề chửi đổng như thói thường của cánh làm bếp chợ búa. Bà chỉ khẽ mím chặt bờ môi dưới nứt nẻ vì gió bấc, cơ hàm bạnh ra gồ ghề dưới làn da bánh mật. Bàn tay thô ráp với những khớp ngón to bè thoăn thoắt xắn cao hai ống tay chiếc áo chàm đã sờn chỉ lên tận bắp tay vạm vỡ. Bà quay ngoắt người, sải những bước chân vững chãi bước ra góc sau chái bếp, nơi đống củi sa mộc dự trữ cho cả tuần phiên được chất cao quá đầu người sát vách núi.

Đêm qua, một trận mưa rào trái mùa kèm gió lốc đã giật tung góc bạt phủ góc sau chái. Nửa đống củi sa mộc phía ngoài đã ngậm no nước mưa, thớ gỗ xám xịt, vỏ bóc tróc ra từng mảng nham nhở, nhớp nháp một mùi hơi ẩm ngai ngái trộn lẫn mùi mục nát của mùn rừng. Bà Hảo rút phắt con dao bài giắt bên hông tạp dề, dùng sống dao gõ mạnh vào một thanh củi to bằng bắp chân người lớn. Âm thanh phát ra đục ngầu, nặng trịch, không hề có cái tiếng vang thanh giòn, đanh sắc của thớ củi khô nỏ thường ngày.

— Đổi hết! — Giọng bà Hảo đanh gọn, dứt khoát như nhát dao bổ xuống thớt gỗ nghiến. Tiếng bà át cả tiếng gió rít qua rãnh nứa. — Dẹp ngay cái nồi ninh xương ống với măng củ đi. Nước không có thì lấy đâu ra ba chục gàu để đổ ngập nồi hầm với đứng hớt bọt suốt năm tiếng đồng hồ? Củi ngậm nước thế này, có nhồi cả bọc bùi nhùi vào lò thì cũng chỉ tổ sặc khói cay mù mắt cả buổi sáng, khói ám đen cả thịt chứ đừng hòng làm nước sôi bùng lên nổi. Đổi sang xào khô toàn bộ. Nhóm lò chảo, lấy mỡ phi thơm, đảo lửa lớn mà giữ lấy nhiệt!

Mấy người phụ tá xung quanh không một ai thắc mắc hay bàn lùi, tất cả lập tức chuyển động theo khẩu lệnh như một cỗ máy đã quen vào guồng giữa hiểm cảnh. Chiếc nồi gang khổng lồ đường kính gần một mét được hai thanh niên lực lưỡng xốc nách khiêng sang góc bể cạn, úp sấp xuống nền đất. Từng tảng thịt lợn ba chỉ treo lủng lẳng trên giàn nứa hun khói lập tức được hạ xuống mặt phản gỗ, lưỡi dao bài sắc lẹm xẻ dọc thớ thịt thành từng con chì dày dặn, mỡ nạc đan xen đều đặn; những tảng măng chua ngâm kiệu trong chiếc chum sành da lươn góc bếp được vớt vội ra rổ tre, lắc mạnh tay cho róc sạch nước chua; những bó cải mèo non xanh mướt, lá còn lấm tấm sương đêm chưa kịp rửa trôi được xếp tràn ra mép phản, chờ những nhát dao vát chéo chuẩn xác dằn xuống.

Đúng lúc đó, Đỗ Hải Yến bước vào mép chái bếp. Vai cô đeo chiếc túi vải bạt đựng bộ cọ và hộp sắt màu nước, tay trái ôm khư khư cuốn sổ ký họa bìa cứng khổ lớn ép chặt vào trước ngực để chắn gió. Vừa bước qua tấm rèm bao tải gai ngăn cách gian bếp với lối đi bùn lầy ngoài chợ, cảnh tượng củi lửa lục đục, tiếng người giục giã và mùi khói ẩm nồng nặc lập tức xộc vào khứu giác khiến cô khựng lại. Đôi mắt Yến mở to ngỡ ngàng khi nhìn thấy chiếc chảo gang đáy sâu to bản đang được người ta chèn đá cố định lên bệ lò đất nện, thay vì chiếc nồi hầm đại bản mà chiều hôm qua cô đã nghe cánh xe ôm và người bán rau kháo nhau bằng tất cả sự thèm thuồng.

— Bà Hảo ơi, — Yến dè dặt bước qua rãnh thoát nước nhớp nháp bám đầy rác rau và váng mỡ đông, khẽ cất lời, cố giữ cho giọng mình không run rẩy trước cái lạnh căm căm. — Cháu nghe các chị dưới bến xe nói sáng nay chợ Tả Vìn nổi tiếng nhất là món xương ống lợn đen hầm măng vầu thảo quả… Cháu định xin phép bà cho cháu ngồi ghé vào góc cột nứa này để phác thảo bố cục nồi hầm bốc khói sớm. Anh An bên nhà xuất bản dưới Hà Nội vừa nhắn tin giục cháu gửi gấp bản vẽ món canh ấm nóng đặc trưng của phiên chợ vùng cao để kịp duyệt trang bìa phụ…

Bà Hảo quay ngoắt lại. Chiếc muôi sắt to bản bằng bắp tay đang cầm trên tay bà chỉ thẳng tắp vào góc bể cạn:

— Cô nhìn cái xô kia đi! Mở to mắt ra mà nhìn! Nước mó cạn khô đến tận đáy, củi ướt sũng như vớt từ dưới lòng suối lên, lấy cái gì mà nhóm lửa ninh xương suốt năm tiếng đồng hồ cho cô ngắm? Bếp chợ chứ có phải cái sân khấu ngoài thị trấn đâu mà đòi người ta diễn lại món cũ cho cô lấy cảm hứng vẽ vời? Giờ này tôi chỉ có thịt xào măng cay với lòng xào tỏi xém chảo. Bán cho người đi chợ ăn chắc bụng, dằn cái đói xuống để người ta còn vác ngô gánh củi leo dốc cả ngày, không có thì giờ đâu mà đứng canh nồi hầm giả vờ khói nghi ngút cho cô lấy góc đẹp chụp hình với vẽ tranh!

Từng lời thốt ra từ miệng người đàn bà làm bếp đanh thép, trần trụi và không chừa lại một chút nhượng bộ nào. Yến sững sờ, cảm giác máu nóng dồn lên hai má rồi nhanh chóng bị cái rét của sương muối làm cho buốt lạnh. Cô đứng chôn chân giữa luồng khói cay xè đang quẩn quanh mặt đất, chiếc bút chì bấm kẹp chặt giữa những ngón tay cóng buốt đến mất cảm giác. Bên cạnh, Trần Mai khẽ tiến lên nửa bước, kín đáo giật nhẹ gấu chiếc áo phao màu rêu của bạn mình. Bằng một cái lắc đầu khẽ khàng và ánh mắt nghiêm nghị, Mai ra hiệu: ở cái chái bếp đang oằn mình chống chọi với sự thiếu thốn cùng cực này, không có chỗ cho những đòi hỏi thẩm mỹ vô can của kẻ đứng ngoài quan sát.

***

Yến nuốt khan một ngụm nước bọt đắng ngắt nơi cuống họng. Cô nhìn chiếc muôi sắt cáu cặn muội than trong tay bà Hảo, nhìn những giọt mồ hôi đang túa ra trên vầng trán lấm lem tàn tro của người phụ nữ vùng cao giữa tiết trời dưới mười độ. Chậm rãi và cẩn trọng, Yến cài chiếc bút chì vào gáy xoắn của cuốn sổ vẽ, đặt nó ngay ngắn lên mặt một chiếc thùng gỗ đựng gạo khô ráo bên cạnh. Cô cởi chiếc áo khoác phao dày cộm vướng víu bên ngoài, móc lên chiếc đinh gỉ cắm sâu vào thân cột nứa cái.

— Cháu không vẽ nữa đâu ạ, — Yến nói, giọng mềm mỏng nhưng từng chữ rành rọt, mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt nghiêm nghị của bà Hảo. — Cháu xin phép được ngồi lại góc bếp nhặt rau với rửa bát phụ các chị. Cho cháu làm cùng để biết việc với ạ. Có gì nặng cứ bảo cháu.

Bà Hảo liếc mắt nhìn đôi bàn tay trắng trẻo, những ngón tay thon dài chỉ quen cầm cọ và lật trang giấy của cô họa sĩ trẻ đến từ thành phố. Chân mày rậm của bà nhíu chặt lại, nét mặt thoáng vẻ nghi ngại, nhưng rồi trước thái độ dứt khoát không hề nề hà của Yến, bà không xua đuổi nữa. Bà hất cằm về phía chiếc chậu nhôm tráng men sứt sẹo đặt cạnh góc bể cạn:

— Muốn phụ thì vào đấy. Nhưng nhớ lấy một điều: đừng có phí phạm một giọt nước nào ra ngoài rãnh đất. Nước ở cái chợ này sáng nay đắt hơn mỡ đấy!

Đó là khoảnh khắc Yến thực sự bước chân qua ranh giới của một người quan sát vô can để nếm trải trọn vẹn sức nặng của thứ lao động vô hình — những đầu việc lặng lẽ, nhọc nhằn, nhớp nháp diễn ra sau bức màn thơm lừng của dãy hàng quán, nơi chẳng bao giờ lọt vào những khung hình rực rỡ sắc màu trên mạng xã hội hay các trang sách ảnh du lịch lãng mạn.

Để có được ngọn lửa đỏ rực đủ sức nung nóng chiếc chảo gang dày cộp, người ta không thể đốt củi theo cách thông thường. Người phụ tá lớn tuổi phải dùng con dao quắm chẻ những thanh nứa khô cất kỹ trên gác bếp thành từng nan mỏng dính như sợi miến để làm mồi. Yến ngồi chồm hổm bên chiếc ghế đẩu gỗ mục nát, cúi rạp người xuống cửa lò đất khoét sâu dưới nền, kiên nhẫn dùng ống nứa thổi từng luồng hơi dài vào đống củi ẩm.

Khói trắng đục ngầu lập tức bùng lên cuồn cuộn, không bay lên cao mà quẩn lại sát mặt đất, xộc thẳng vào mũi, vào mắt cô. Vị cay xè của khói sa mộc ngậm nước buốt rát tận óc, nước mắt nước mũi trào ra giàn giụa làm nhòe nhoẹt cả tầm nhìn. Từng thanh củi ẩm xèo xèo rỉ ra những giọt nhựa đen kịt như hắc ín, bốc mùi khét lẹt, kêu lép bép rồi chực tắt ngấm nếu người cời than lơ là chỉ trong nửa phút ngắn ngủi. Hai đầu gối Yến mỏi nhừ, lồng ngực thắt lại vì ho sặc sụa, hai bàn tay nhanh chóng phủ đầy một lớp bồ hóng đen nhánh, nhờn nhẫy.

Ở phía bên kia, Mai đã thoăn thoắt xắn cao ống quần, cùng một phụ nữ người Mông trong bản quẩy đôi thùng sắt bước nhanh xuống con đường mòn dẫn về phía thung lũng để tìm mó nước phụ. Đoạn đường dốc đứng trơn như đổ mỡ, lởm chởm những rễ cây ngoằn ngoèo và đá tai mèo sắc nhọn dài gần nửa cây số. Mỗi chuyến đi về kéo dài gần hai mươi phút đồng hồ. Đôi thùng sắt trĩu nặng từng gàu nước đục ngầu phù sa khiến chiếc đòn gánh bằng tre đực cong vút lại, kẽo kẹt nghiến chặt vào xương vai Mai qua lớp áo len mỏng manh. Đôi ủng cao su ngập sâu trong bùn nhão, trượt đi từng bước đầy nguy hiểm. Khi gánh được nước về đến chái bếp, hai bờ vai Mai đã đỏ ửng, run rẩy vì quá sức, nhưng cô không dừng lại nghỉ ngơi mà lập tức bắt tay vào việc lọc cặn qua lớp vải màn thưa.

Từng gàu nước mang về được bà Hảo chắt chiu, phân chia rành rọt như người ta chia từng lạng vàng mười. Nước vo gạo đầu tiên được giữ lại trong một chiếc chậu sứt để ngâm rửa rau cải mèo nước đầu; nước luộc măng chua còn nóng hổi được tận dụng đổ vào máng sắt ngâm những chiếc vỉ nướng cáu bẩn; còn nước rửa chén bát bẩn thì tuyệt đối không được dùng xà phòng hóa chất làm hỏng nguồn đất xung quanh. Thay vào đó, người ta xúc từng bát tro bếp mịn như phấn, rải đều lên mặt bát đĩa bám đầy mỡ lợn đông đặc, dùng xơ mướp khô chà xát cật lực để chất kiềm trong tro bếp đánh tan lớp mỡ béo ngậy trước khi tráng qua một lớp nước sạch mỏng manh duy nhất được đong đếm từng gáo dừa.

Trời sáng rõ dần qua từng mảng sương tan. Tiếng còi xe tải chở hàng gầm rú ngoài đường cái, tiếng vó ngựa lọc cọc gõ móng trên nền đá hộc và tiếng bước chân rậm rịch của hàng trăm người đổ về bãi chợ Tả Vìn bắt đầu dội vào gian bếp tạm. Không khí tĩnh lặng của buổi sớm bị phá tan hoàn toàn. Khách ăn sáng bắt đầu ùa vào dãy bàn dài ghép bằng gỗ thông phía trước hiên bạt.

Bà Hảo đứng sừng sững bên chiếc chảo gang khổng lồ đặt trên bệ lò đất nện rực lửa. Mỡ lợn thả vào chảo sôi xèo xèo vang dội, mùi ớt nướng cay nồng, mùi tỏi giã dập phi thơm và mùi măng chua xào đậm vị bốc lên ngùn ngụt, át hẳn mùi khói ẩm khó chịu lúc ban mai. Đôi cánh tay gân guốc của bà vung chiếc muôi sắt liên hồi kỳ trận, đảo đều hàng chục cân thịt và rau trong tiếng lửa táp phần phật dưới đáy chảo gang.

Bên cạnh bà, từng đĩa thức ăn được chia phần răm rắp, chuẩn xác như một bài toán chia khẩu phần đã được tôi luyện qua hàng chục năm: một đĩa ba chỉ xào măng đầy đặn nhiều mỡ cho cánh lái xe đường dài cần tích trữ năng lượng chống chọi với những khúc cua tay áo buốt giá; một đĩa lòng xào dưa chua ghém thêm thật nhiều ớt bột đỏ rực cho những người cửu vạn gùi ngô leo dốc đang rét run cầm cập sau chặng đường rừng dài mười mấy cây số. Mỗi đĩa ăn bốc khói ngùn ngụt đều được tính toán sao cho đủ độ đậm, đủ độ mặn mòi để người ăn có thể nuốt trôi hai bát cơm ngô đầy có ngọn, giữ cho cái bụng chắc nịch đến tận lúc mặt trời khuất bóng sau rặng núi Tây Côn Lĩnh.

Yến ngồi bệt bên chiếc chậu nhôm tráng men sứt sẹo, hai bàn tay buốt cóng đến mức tê dại vì ngâm liên tục trong nước lạnh pha tro bếp. Mỡ lợn bám chặt vào từng kẽ móng tay, rát buốt vì dính nước vôi măng và ớt bột cay xè từ những chiếc đĩa ăn dở gửi lại. Bát đĩa bẩn từ phía ngoài dãy bàn ùa về dồn dập như nước lũ tràn bờ. Cô rửa, cọ ráp bằng xơ mướp, tráng vội rồi xếp chồng lên nhau thành từng cây cao ngất ngưởng để người phụ tá kịp bưng ra bàn cho đợt khách mới đang đứng chờ chực bên ngoài mép bạt. Không có lấy một giây nào để cô thở dốc, càng không có lấy một milimet khoảng trống nào trong tâm trí cho một nét vẽ lãng mạn hay một bố cục nghệ thuật thanh tao. Đôi bàn tay họa sĩ của cô giờ đây chỉ còn biết vận động theo nhịp điệu của sự sinh tồn cơ bản nhất.

Đến hơn chín giờ sáng, khi tiếng mặc cả của phiên chợ gia súc ngoài bãi đất trống bắt đầu loãng dần và những đoàn khách ăn sáng lục tục kéo nhau đi sâu vào trong lồng chợ để mua sắm nông sản khô, dãy bàn dài trước chái bếp mới tạm thời thưa thớt bóng người.

Gian bếp hậu cần rơi vào một khoảng lặng mệt mỏi, nặng nề đến nghẹt thở. Nền đất nện nhầy nhụa nước rửa bát pha tro xám và những cọng rau cải mèo dập nát. Tro than trong ba chiếc lò đất đã tàn dần, xám ngoét và tỏa ra một luồng hơi nóng khô khốc, ngột ngạt. Yến tựa lưng vào cây cột nứa cái, hai bắp chân run rẩy không ngừng sau ba tiếng đồng hồ ngồi xổm liên tục, đôi mắt mờ đi vì cay khói và mệt mỏi.

***

Bà Hảo lẳng lặng rót một bát nước chè xanh đặc quánh, thổi nhẹ lớp bọt trắng nổi trên bề mặt rồi chìa ra trước mặt Yến. Ánh mắt người đàn bà vùng cao sắc lẹm quét qua dáng vẻ mệt lử, chiếc tạp dề lấm lem bùn đất và đôi bàn tay đỏ ửng của cô họa sĩ trẻ. Không nói một lời khen ngợi thừa thãi, bà chỉ gật nhẹ đầu, rồi quay sang nhìn Trần Mai đang ngồi cặm cụi ghi chép trên chiếc hòm gỗ đựng muối hạt góc chái bếp.

Từ sáng sớm tới giờ, ngoài việc thoăn thoắt gánh nước từ mó phụ và phụ bưng bê những đĩa thịt xào nóng rực, Mai luôn mang theo bên mình cuốn sổ tay bìa bọc da đã sờn rách bốn góc. Cứ mỗi khi dứt một đợt khách, cô lại rút chiếc bút bi cài bên mép sổ ra ghi chép tỉ mỉ: số lượng cân măng chua tiêu thụ thực tế trong ba tiếng ban sáng; lượng mỡ lợn hao hụt vượt mức dự kiến khi phải nhóm lửa từ củi ẩm; chi phí phát sinh bất ngờ khi phải trả tiền tươi mua thêm hai bó nứa khô chẻ mỏng từ bản xa gánh sang với giá đắt gấp rưỡi ngày thường; và cả khoảng thời gian trễ nải gần bốn mươi phút khi toàn bộ bếp phải đảo lộn thực đơn từ món hầm sang món xào khô.

— Con bé này, — bà Hảo kéo chiếc ghế gỗ ba chân ngồi xuống đối diện Mai, giọng bà khàn đặc vì khói bếp và hơi nóng của chảo gang. — Mày ghi chép cái gì mà cặm cụi suốt từ tờ mờ sáng đến giờ thế? Mắt cứ dán chặt vào mấy con số ruồi bâu ấy không thấy mỏi à?

Mai ngẩng đầu lên, khẽ mỉm cười kín đáo, quệt vội giọt mồ hôi đọng bên cánh mũi:

— Cháu ghi lại mấy khoản hao hụt do thời tiết với thiếu nước bà ạ. Đợt này cháu đang nhận gom thêm mối mộc nhĩ với nấm hương khô từ mấy bà con quen trong chợ Tả Vìn gửi theo xe khách về xuôi. Cháu ngồi tính xem nếu đường đèo sạt lở chậm xe hoặc hàng bị ngấm hơi ẩm của sương muối thì đội thêm bao nhiêu chi phí sấy lại và đóng gói màng co.

Bà Hảo liếc mắt nhìn vào trang giấy chi chít những con số cộng trừ, những mũi tên điều phối hàng hóa và các mốc thời gian biểu được kẻ ô ngay ngắn của Mai. Đôi bàn tay nứt nẻ với những móng tay cáu bẩn muội than của bà bỗng chỉ thẳng tắp vào một dòng chữ Mai ghi chú bằng mực đỏ bên lề dưới trang giấy: *“Hỗ trợ bà Sương chuyển 2 bao măng sang xe anh Bình — hẹn 11h”*, kèm theo một dấu tích tròn trĩnh nhưng hoàn toàn bỏ trống cột tiền công dịch vụ.

— Mày làm cái việc này không công à? — Bà Hảo hỏi xẵng giọng, hai hàng lông mày nhíu chặt lại.

Mai hơi ngớ người ra trước câu hỏi đường đột, ngập ngừng đáp:

— Dạ… chỗ người quen biết cả mà bà. Anh Bình chở hàng nấm chuyến trước cho nhà cháu rất cẩn thận, còn bà Sương thì vụ nào cũng để dành mối măng nương loại một ngon nhất cho cháu gom hàng. Mình tiện chuyến thì đỡ họ một tay vác bao tải với dặn dò giờ xe chạy đón ở ngã ba đèo thôi, chứ tính toán vài đồng bạc tiền công làm gì chỗ người nhà thân tình hở bà.

Bà Hảo đập mạnh lòng bàn tay xuống mặt bàn gỗ ghép mấp mô. Tiếng đập vang lên khô khốc, làm chiếc bát sành đựng nước chè xanh nảy nhẹ trên mặt bàn:

— Sai! Mày buôn bán cái kiểu cả nể ấy thì muôn đời đi gánh nợ thay cho thiên hạ thôi con ạ! Mày nghĩ cái công mày đứng chôn chân chờ xe ở ngã ba đèo buốt giá trong sương muối không phải là tiền à? Mày nghĩ việc mày bỏ ra hai tiếng đồng hồ quý báu chạy ngược chạy xuôi giục xe tải, kiểm tra từng mép bạt phủ, trông chừng hai bao măng không bị nước mưa ngấm vào làm chua thối là chuyện đương nhiên quả đất phải thế hả?

Mai im bặt, ngón tay cái vô thức mân mê mép bìa da sờn rách của cuốn sổ. Lời nói cay nghiệt mà chuẩn xác của bà Hảo đụng trúng ngay vào nỗi đau nhức nhối bấy lâu nay trong lòng cô: món nợ mười lăm triệu đồng từ vụ kẹt xe chết đứng trên đỉnh đèo Khau Co mùa đông năm ngoái đến nay vẫn chưa trả dứt; khoản tiền thuốc chữa bệnh viêm khớp mãn tính hàng tháng của mẹ ở quê cứ đến hẹn ngày rằm lại đè nặng lên vai như một tảng đá hộc; và biết bao nhiêu lần nhận lời “giúp hộ một tay”, “tiện đường trông giùm” cho bạn bè, người quen khiến cho lịch trình buôn bán nấm hương của chính bản thân cô luôn bị chậm trễ, dồn ứ và đẩy xuống hàng thứ yếu.

— Ở cái chợ Tả Vìn này, — bà Hảo tiếp tục, giọng rành rọt từng tiếng như người ta gõ nhịp đếm than đỏ trong lòng lò, — người ăn chỉ nhìn thấy cái bát canh bưng ra bàn bốc khói thơm lừng, nhìn thấy đĩa thịt xào đậm đà bóng mỡ, rồi họ móc ví trả tiền đĩa thịt. Chẳng có đứa nào thèm trả tiền cho cái công tao phải thức trắng mắt từ ba giờ sáng lội suối đi thông ống nứa dẫn nước mó. Chẳng có ai trả tiền cho cái công mấy đứa nhỏ phải còng lưng gánh từng thùng nước qua con dốc trơn như mỡ gà, hay công tao ngồi cời từng cục than ẩm đỏ cả hai con mắt cay xè buốt óc. Mày làm nghề điều phối hàng hóa, mày nhớ giờ xe chạy, mày giữ uy tín giữ mối cho người ta — đấy chính là sức lực, là thời gian, là dịch khớp xương của mày bỏ ra chứ ở đâu trên trời rơi xuống? Mày không biết tự tính cái sự hao mòn thể xác của chính mình vào bảng giá dịch vụ, thì đến cái lúc mày ốm bẹp dí ra đấy, xe hàng người ta vẫn chạy, tiền người ta vẫn đút túi, và tuyệt nhiên chẳng có đứa người quen nào đứng ra gánh nợ giùm cho mày đâu!

Yến ngồi bên cạnh, nghe từng lời răn dạy thô ráp của bà Hảo mà lồng ngực thắt nghẹn lại. Từng câu chữ như một tấm gương phản chiếu trần trụi những gì cô từng chứng kiến. Cô nhớ lại chuyến xe trễ ở bến Nậm Vài cách đây không lâu, nhớ đến chiếc mắt cá chân sưng vù tấy đỏ của Mai khi phải ôm thùng hàng nấm khô chạy thục mạng đuổi theo chiếc xe khách qua bãi bùn lầy lội — chỉ vì bản thân Yến khi ấy nấn ná đòi dừng lại bên bờ suối thêm hai mươi phút để vẽ cho xong một nắm hạt ngô đỏ phơi trên bờ rào. Sự hào phóng thời gian và công sức của Mai bấy lâu nay, hóa ra lại chính là thứ mà những người xung quanh — trong đó có cả bản thân Yến dưới danh nghĩa một người bạn nghệ sĩ mộng mơ — đã vô tình bòn rút nhiều nhất mà không hề hay biết.

Mai cúi gục đầu nhìn chằm chằm vào trang sổ tay mở rộng, chiếc bút bi kẹp giữa hai ngón tay cô khẽ run rẩy. Cô hít một hơi thật sâu, luồng không khí lạnh buốt tràn vào buồng phổi như giúp cô tỉnh táo lại. Chậm rãi và dứt khoát, Mai cầm bút vạch thêm một cột kẻ dọc mới toanh bên cạnh bảng lịch trình điều phối xe hàng: *Chi phí thời gian chờ và quản lý rủi ro.*

***

Bầu không khí trầm mặc, nặng trĩu suy tư trong góc chái bếp bỗng nhiên bị xé toạc bởi một chuỗi âm thanh chói tai, dồn dập.

Chiếc điện thoại Nokia phím bấm cũ kỹ, vỏ bọc đã tróc sơn đặt trên bậu cửa sổ bằng nứa của bà Hảo bỗng rung lên bần bật, trượt dài trên mặt gỗ phủ đầy bụi than mịn. Bà Hảo lấy mép tạp dề lau vội hai bàn tay còn dính vệt mỡ lợn nguội, bước tới với lấy chiếc máy, bấm nút nghe rồi tiện tay bật luôn loa ngoài vì thính lực của bà đã hơi lãng sau bao năm đứng cạnh tiếng dầu mỡ sôi gầm gào:

— A lô! Ai gọi vào giờ này đấy?

Đầu dây bên kia lập tức phát ra tiếng nói ồn ào, xôn xao của một người đàn ông mang ngữ điệu thị trấn trơn tru, xen lẫn tiếng rồ ga của động cơ xe du lịch mười sáu chỗ đang gầm gừ leo dốc:

— A lô, có phải chị Hảo đứng bếp chợ phiên Tả Vìn không đấy? Đoàn chúng tôi gồm mười hai người vừa mới tới ngã ba đường cái rẽ vào chợ đây! Xem trên mạng xã hội thấy trang dự án đăng bài rầm rộ bảo bếp nhà chị hôm nay có nồi canh hầm xương ống đại bản ninh thảo quả với măng vầu tươi ngon lắm, hình vẽ chụp lên nom nghi ngút khói nhìn mê quá thể! Chị giữ chỗ danh dự cho đoàn chúng tôi nhé, múc sẵn ra ba cái nồi đất lớn nhiều nước để chan bún ngô, tầm hai mươi phút nữa xe chúng tôi vào tới tận cửa chợ đấy!

Bà Hảo trợn trừng hai mắt nhìn chiếc điện thoại đen trùi trũi trên tay, gân cổ bà nổi lên bạnh trướng:

— Canh hầm nào? Xương ống nào? Tôi đã bảo hôm nay đầu nguồn đứt ống nước mó, củi dự trữ ướt sũng đổi sang xào khô hết sạch từ sáu giờ sáng rồi! Ai bảo với các ông là có canh hầm thảo quả ở đây?

— Kìa, chị nói buồn cười thế nhờ! — Giọng người đàn ông bên kia lập tức đổi tông, trở nên the thé, bực bội và gay gắt ra mặt. — Bài viết quảng bá của dự án lịch văn hóa ẩm thực vùng cao đăng rành rành trên mạng xã hội từ sáng sớm kia kìa! Có cả hình vẽ phác thảo bút sắt đề rõ mồn một: ‘Bếp bà Hảo — chợ Tả Vìn’, vẽ cái nồi gang to tướng sôi sùng sục giữa sương sớm, lại còn chú thích là món ngon độc nhất vô nhị chỉ nấu vào sáng phiên chợ này! Chúng tôi từ thị trấn lặn lội thuê xe chạy bốn mươi cây số đường đèo vào đây chỉ cốt để húp bát canh hầm ấy, giờ chị lại bảo không có là thế nào? Hay là chị giấu hàng ngon lại để dành bán giá đắt cho mối khách quen dưới xuôi lên hả?

— Tôi đã bảo không có là không có! — Bà Hảo quát thẳng vào ống nghe rồi dằn mạnh chiếc điện thoại xuống mặt bàn gỗ nghe một tiếng “cốp” vang dội.

Thế nhưng, chiếc máy vừa chạm mặt gỗ chưa đầy năm giây thì lại tiếp tục réo lên từng hồi inh ỏi. Lần này là cuộc gọi từ một nhóm khách phượt trẻ đi xe máy từ thành phố Lào Cai sang, họ cũng nằng nặc đòi đặt trước nồi canh hầm xương ống thảo quả theo đúng “hình ảnh giới thiệu trên trang chính thức của ban biên tập”.

Căn bếp hậu cần vừa mới lắng xuống được đôi chút lập tức rơi vào một cảnh hỗn loạn trớ trêu giữa ban trưa. Tiếng bước chân rầm rập vang lên ngoài chái bếp. Vài ba vị khách nam mặc áo gió đắt tiền bước xuống từ một chiếc xe bán tải hai cầu đã xăm xăm đi thẳng vào tận cửa ngách. Họ ngó nghiêng những đôi mắt tò mò và soi mói vào lòng gian bếp nhem nhuốc, nhìn chiếc chảo gang xào khô đã cạn đáy và đống xô chậu cáu bẩn với vẻ mặt thất vọng, bĩu môi khó chịu:

— Ơ kìa, trên mạng vẽ đẹp như tranh cổ tích, khói bốc nghi ngút huyền ảo thế mà vào tận nơi chỉ thấy xào với rán thế này à? Nhìn bếp núc bẩn thỉu, nhớp nháp thế này mà dám quảng cáo là không gian văn hóa ẩm thực đỉnh đèo. Đúng là cái đồ treo đầu dê bán thịt chó, lừa đảo khách du lịch!

Từng lời phán xét cạn cợt, từng tiếng cằn nhằn xoi mói như những gáo nước bẩn hắt thẳng vào mặt những con người vừa vắt kiệt sức lực suốt bốn tiếng đồng hồ để duy trì sự sống cho gian bếp. Hai người phụ nữ phụ tá trong bản đứng nép vào góc cột, đưa mắt nhìn bà Hảo đầy ái ngại và tủi thân. Còn bà Hảo, khuôn mặt sạm nắng của bà đỏ bừng lên vì uất ức, chiếc muôi sắt trên tay bà run lên bần bật, các thớ cơ siết chặt lại đến trắng bệch cả mu bàn tay.

Yến đứng chết lặng bên chậu rửa bát nhôm sứt sẹo. Tim cô đập thình thịch từng hồi đau nhói nơi lồng ngực. Một linh cảm tồi tệ, sắc lạnh như lưỡi dao cạo vụt lóe lên trong tâm trí. Cô vội vã thọc tay vào túi quần bò ướt sũng, rút chiếc điện thoại thông minh ra rồi gạt ngón tay bật mạng dữ liệu di động.

Màn hình điện thoại vừa sáng lên, hàng loạt thông báo từ ứng dụng mạng xã hội lập tức nhảy ra dồn dập như mưa rào.

Trên trang truyền thông chính thức của dự án lịch nghệ thuật ẩm thực di sản — trang do chính đơn vị xuất bản của Vũ Minh An trực tiếp nắm quyền quản trị — một bài viết nổi bật vừa được đẩy lên từ sáu giờ sáng với tiêu đề in hoa giật gân, tô đậm:

> *“HỒI ỨC KHÓI BẾP TẢ VÌN: NỒI CANH HẦM THẢO QUẢ ẤM NỒNG NƠI ĐỈNH ĐÈO”.*

Đính kèm bên dưới bài viết là một bức ảnh chụp lại bức tranh phác thảo sơ khởi bằng bút sắt mà chính tay Yến đã vẽ nháp vào cuốn sổ cá nhân trong chuyến đi thực địa khảo sát hồi tháng trước. Đó là một bức vẽ mang tính ước lệ thuần túy: một chiếc nồi gang khổng lồ ngự trên bệ đá, khói bốc lên cuồn cuộn thành những dải mây bồng bềnh uốn lượn, bên cạnh là ngọn lửa sa mộc đỏ rực ấm cúng mang đầy màu sắc lãng mạn hóa.

Thế nhưng, điều khiến toàn thân Yến lạnh toát chính là phần lề trang giấy. Toàn bộ dòng ghi chú thực tế bằng mực đen mà cô đã cẩn thận ghi chú ngay dưới góc chân bức vẽ — *“Món ăn phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nước mó tự nhiên trên đỉnh Thung Lũng Cạn và củi sa mộc khô nỏ mùa nắng; tuyệt đối không thể nấu vào những ngày mưa lũ sạt lở hoặc tắc ống dẫn nước cục bộ”* — đã bị ai đó cắt cúp một cách tàn nhẫn và có chủ đích ra khỏi khung hình đăng tải!

Bên dưới bài viết, hàng trăm lượt chia sẻ và hàng nghìn bình luận đang tung hô “vẻ đẹp nguyên bản thiêng liêng chưa bị vẩn đục”, kèm theo hàng chục lời hẹn hò rủ rê nhau phóng xe lên Tả Vìn ngay trong ngày hôm nay để “thưởng thức nồi canh di sản”.

***

Một luồng máu nóng xông thẳng từ ngực lên hai bên thái dương Yến. Cô không còn cảm nhận thấy cái buốt giá cắt da cắt thịt của sương núi Tả Vìn, cũng không còn thấy sự rã rời của đôi bàn tay ngâm tro bếp hay đôi chân mỏi nhừ sau một buổi sáng quần quật. Nỗi xấu hổ tột cùng hòa lẫn với một cơn thịnh nộ dữ dội bùng lên trong huyết quản.

Chính sự tùy tiện, thói làm việc cẩu thả, vô trách nhiệm và tư duy truyền thông chụp giật nơi phòng máy lạnh của Vũ Minh An đã biến sức lao động nhọc nhằn, biến những nỗ lực xoay xở sinh tồn trước sự nghiệt ngã của thiên tai của bà Hảo thành một trò lừa dối rẻ tiền trong mắt khách thập phương. Họ đã biến giọt mồ hôi thật thành một món hàng ảo để câu lấy vài nghìn lượt tương tác vô nghĩa.

Yến không chần chừ thêm một tích tắc nào. Cô quay ngoắt người, rảo bước lao thẳng ra khỏi chái bếp ẩm thấp mù mịt khói. Đôi giày vải bạt dẫm phầm phập trên lớp bùn lầy của bãi chợ, cô leo thoăn thoắt lên một gò đất cao mọc đầy cỏ tranh phía sau chợ — nơi duy nhất trong thung lũng Tả Vìn có thể bắt được hai vạch sóng điện thoại di động ổn định nhờ một trạm phát sóng xa xa trên đỉnh đèo.

Gió trên gò đất rít từng hồi buốt nhói bên tai. Yến bấm thẳng số máy cá nhân của Vũ Minh An.

Đầu dây bên kia đổ chuông ba hồi dài rồi nhấc máy. Tiếng thở thong thả của An vang lên, xen lẫn tiếng gõ bàn phím lách cách đều đặn trong căn phòng làm việc ấm áp ở thủ đô:

— A lô, Yến à? Ba bản phác thảo của ba phiên chợ tuần sau chuẩn bị đến đâu rồi? Tôi vừa nhận được định vị cô đang ở Tả Vìn. Nhớ lấy thêm tư liệu về màu sắc trang phục…

— Anh An! — Yến ngắt lời, âm lượng không quá lớn nhưng đanh thép, run rẩy vì cơn giận đang kìm nén đến cực điểm. — Ai cho phép anh tự tiện cắt xén bức vẽ nháp của tôi rồi đăng lên mạng xã hội làm truyền thông câu view như thế hả?

Tiếng gõ bàn phím ở đầu dây bên kia lập tức dừng bặt. An khẽ tặc lưỡi một tiếng, giọng anh ta chuyển sang vẻ kẻ cả, khó chịu của một người bề trên bị cấp dưới chất vấn:

— Cô làm sao thế Yến? Ăn nói cho cẩn thận. Tôi là biên tập viên phụ trách toàn bộ mỹ thuật và nội dung của dự án này, tôi có toàn quyền sử dụng các tư liệu thực địa do họa sĩ cung cấp để làm truyền thông hâm nóng dư luận. Bên nhà tài trợ của anh Huy đang cần đẩy mạnh chỉ số tiếp cận để chuẩn bị mở bán đợt lịch đầu tiên vào tháng sau. Bức vẽ nồi hầm của cô rất có hồn, bố cục cổ điển rất đắt giá. Vừa đưa lên một cái là mạng xã hội bùng nổ ngay, người ta khen nức nở kia kìa. Cô phải thấy mừng vì hiệu ứng mỹ thuật của mình thành công ngoài mong đợi chứ?

— Mừng cái gì? Anh bảo tôi phải mừng cái gì hả anh An? — Yến hét lên qua ống nghe, mặc kệ những cơn gió núi thốc vào miệng làm môi cô khô khốc. — Anh có biết vì cái bức vẽ bị cắt cúp vô trách nhiệm của anh mà từ sáng đến giờ cả cái bếp của bà Hảo đang náo loạn lên không? Nước mó trên đồi Thung Lũng Cạn bị sạt lở lấp sạch ống dẫn từ nửa đêm! Củi sa mộc dự trữ bị mưa tạt ướt sũng như vớt dưới suối! Người ta phải bỏ cả nồi hầm, xoay xở đến kiệt sức sang xào khô để kịp có cơm cho bà con đi chợ ăn lấy sức vác ngô!

Yến thở dốc, từng lời tuôn ra như nhát búa nện:

— Anh cắt bỏ sạch sành sanh dòng ghi chú thực tế của tôi! Anh vẽ ra một ảo tưởng về một nồi canh hầm ấm áp không có thật trong cái rét căm căm này, để rồi khách du lịch kéo xe ầm ầm vào tận chái bếp chỉ trỏ vào mặt bà Hảo, chửi bà ấy là quân lừa đảo giấu hàng! Đó là cái thứ văn hóa mà anh muốn bảo tồn đấy à? Đó là cách các anh ngồi máy lạnh làm truyền thông nghệ thuật đấy hả?

Đầu dây bên kia chìm vào một khoảng im lặng kéo dài vài giây. Khi An cất lời trở lại, giọng anh ta đã hoàn toàn mất đi vẻ thân thiện giả tạo ban đầu, thay vào đó là sự lạnh lùng, sắt bén của một kẻ nắm quyền sinh sát hợp đồng:

— Đỗ Hải Yến, cô hạ giọng xuống và bình tĩnh lại ngay. Mạng xã hội và thị trường nó vận hành theo quy luật của nó. Công chúng người ta chỉ cần một hình ảnh biểu tượng ấm cúng, đậm chất thi vị vùng cao để nuôi dưỡng cảm xúc. Cái việc bếp thiếu nước hay củi ướt là chuyện hậu cần vặt vãnh nội bộ của cái chợ ấy, cô lôi mấy cái chi tiết nhem nhuốc nhớp nháp ấy lên làm gì cho nó phá nát tính thẩm mỹ của bức tranh ra? Khách đến nơi không có món hầm thì họ ăn món xào, có chết đói ai đâu mà cô phải làm ầm ĩ lên như cháy nhà thế? Đừng quên cô vẫn chưa nộp đủ ba bản vẽ hoàn thiện cho tuần này đâu. Khoản tiền phạt vi phạm tiến độ hợp đồng không hề nhỏ đâu nhé!

— Anh nghe cho rõ đây, Vũ Minh An! — Yến cắt ngang lời đe dọa, giọng cô bình thản đến lạ lùng, một sự bình thản được tôi luyện từ chính những giờ phút cọ rửa dầu mỡ và hít trọn khói bếp ẩm sáng nay. — Tôi không cần biết anh với bên anh Huy ký hợp đồng tài trợ bao nhiêu tiền. Nhưng nếu trước mười hai giờ trưa nay, anh không gỡ ngay lập tức bức ảnh bị cắt xén đó xuống, và không đăng một bài đính chính công khai giải thích rõ ràng rằng thực đơn của chợ Tả Vìn hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn nước tự nhiên và củi khô thực tế của núi rừng, tôi sẽ lập tức chấm dứt hợp đồng vẽ bộ lịch này!

— Cô… cô dám đem hợp đồng ra đe dọa tôi? — Giọng An gằn xuống đầy vẻ kinh ngạc.

— Tôi không đe dọa ai cả! Tôi đang bảo vệ danh dự của những con người làm việc bằng xương máu, bằng từng gàu nước gánh bộ trên dốc đá ở đây! Và tôi bảo vệ cả tư cách làm nghề của chính tôi! — Yến nói, từng chữ rành rọt như khắc vào đá. — Anh muốn một bộ lịch ghi lại sự thật của đời sống hay một cuốn catalogue quảng cáo lừa bịp? Nếu anh không gỡ bài, tôi sẽ dùng chính trang cá nhân của mình công bố toàn bộ bức vẽ gốc kèm theo nhật ký thực địa ghi rõ từng giờ, chỉ rõ sự cắt xén có chủ đích của ban biên tập. Lúc đó để xem dự án văn hóa của anh Huy còn giữ nổi cái danh nghĩa nhân văn hay không!

Một khoảng im lặng nghẹt thở đè nặng lên hai đầu dây. Tiếng gió núi rít qua từng bụi cỏ tranh rát buốt. Yến không hề chớp mắt, ngón tay cô giữ chặt mép điện thoại.

Cuối cùng, một tiếng thở hắt ra đầy cay cú và bực dọc của An vang lên:

— Được rồi! Mười phút nữa tôi sẽ cho ẩn bài viết đó xuống. Và tôi sẽ cho đăng lại một thông báo đính chính về điều kiện nguồn nước thực địa theo đúng nội dung ghi chú của cô. Nhưng Đỗ Hải Yến, nghe cho kỹ đây: sau vụ này, ba bản thảo tiếp theo cô phải nộp đúng từng ngày từng giờ. Từng nét vẽ phải được duyệt qua bàn tôi trước khi cô hé răng nửa lời với bất kỳ ai bên ngoài!

Cuộc gọi ngắt phụt bằng một tiếng tút dài lạnh lẽo. Yến từ từ hạ cánh tay xuống, đứng trơ trọi giữa gò đất lộng gió. Lồng ngực cô phập phồng dữ dội, chiếc áo len mỏng bên trong ướt đẫm mồ hôi lạnh, nhưng trong huyết quản, một cảm giác giải thoát mãnh liệt và nhẹ nhõm vô bờ đang lan tỏa khắp cơ thể. Cô quay bước, bước từng bước vững vàng đi xuống con dốc trơn trượt dẫn về gian bếp tạm.

Mười lăm phút sau, chiếc điện thoại của Yến rung nhẹ thông báo. Trên trang dự án, bài viết cũ giật gân đã hoàn toàn biến mất. Thay vào đó là một thông cáo ngắn gọn, chuẩn xác, trích dẫn nguyên văn ghi chú thực tế của Yến về tình trạng sạt lở mó nước và củi ẩm tại Tả Vìn, kèm theo lời cáo lỗi chân thành gửi tới thực khách và bếp ăn của bà Hảo.

Những vị khách tò mò ngoài cửa ngách lẳng lặng tản đi. Những cuộc điện thoại hách dịch gọi vào máy bà Hảo thưa dần rồi dứt hẳn.

***

Đầu giờ chiều, phiên chợ Tả Vìn chính thức vãn hẳn. Những hàng quán phía trước đã hạ bạt, tiếng người thưa thớt nhường chỗ cho tiếng gió xào xạc thổi qua những thân nứa trơ trọi. Không gian sau chái bếp chỉ còn lại sự ngổn ngang của tàn tro nguội ngắt và rác thải nông sản vương vãi trên nền đất.

Yến, Mai, bà Hảo cùng hai người phụ nữ trong bản bắt tay vào công việc dọn dẹp bãi chiến trường. Không ai cần ai phải lên tiếng nhắc nhở, mỗi người tự động bắt vào một phần việc nặng nhọc nhất. Mai dùng chiếc xẻng sắt xúc từng mảng tro than ướt sũng, xỉn màu cho vào sọt tre rồi quẩy ra hố rác phía bìa rừng xa; bà Hảo cầm chổi đót cán dài quét sạch từng vệt dầu mỡ cháy đen vương vãi quanh bệ lò đất; còn Yến, không một chút ngần ngại, quẩy đôi thùng sắt bước thoăn thoắt xuống triền dốc, gánh thêm hai chuyến nước từ mó phụ vừa được người dân khơi thông về đổ đầy ắp chiếc bể cạn, chuẩn bị sẵn sàng cho phiên chợ tuần sau.

Bàn tay Yến trầy xước vài vết rớm máu do cọ xát vào quai thùng sắt han gỉ, hai khớp vai mỏi nhừ như muốn rụng rời. Thế nhưng, chưa bao giờ cô cảm thấy ánh mắt mình trong trẻo và tâm trí mình thanh thản, vững chãi như lúc này.

Khi bãi bếp đã được dọn sạch bong, nền đất nện ẩm ướt được rải đều một lớp tro củi khô ráo để hút ẩm, bà Hảo lẳng lặng bưng ra một chiếc mẹt tre nhỏ đặt lên mặt bàn gỗ. Trên mẹt là một đĩa cơm cháy giòn rụm xém vàng cậy ra từ đáy chảo gang, một bát thịt lợn ba chỉ xào măng cay còn sót lại từ mẻ trưa nghi ngút khói và một ấm nước vối nóng hổi thơm nồng.

— Ngồi xuống mà ăn đi, — bà Hảo đẩy chiếc đĩa cơm cháy về phía hai cô gái, giọng bà đã dịu lại rất nhiều, ánh mắt nhìn Yến ánh lên một tia nể phục kín đáo mà ấm áp. — Đánh nhau với mấy cái máy chữ của người dưới xuôi mệt hơn gánh nước leo dốc nhiều, đúng không con?

Yến mỉm cười, khẽ bẻ một miếng cơm cháy vàng giòn, chấm ngập vào bát nước sốt thịt xào đậm đà mùi hạt dổi nướng và ớt bột cay xè. Miếng cơm giòn tan trong miệng, ngậy béo vị mỡ lợn bản, thơm lừng mùi khói bếp sa mộc — một hương vị mộc mạc, chân thật đến nao lòng mà không một nhà hàng sang trọng nào nơi phố thị có thể tái hiện nổi.

Bà Hảo nhấp một ngụm nước vối nóng, ánh mắt nhìn đăm đăm ra rặng núi xa xôi đang mờ dần trong sương chiều:

— Ngày mai chúng mày đi tiếp sang chợ Mỏ Keng phải không? Nghe bà già này dặn dò một câu đây: cái chợ Mỏ Keng ấy nó không hiền lành, cục mịch như cái đất Tả Vìn hay Lùng Tủng này đâu. Ở đấy toàn là dân buôn lọc lõi từ các thị trấn lớn kéo về, toàn những người như cái thằng cha Huy gì mà chúng mày vừa nhắc tới ban nãy đấy. Hàng hóa ở đấy cái gì người ta cũng muốn đóng hộp thật đẹp, in nhãn thật bóng bẩy, đẩy giá lên thật cao ngất ngưởng. Cái gì người ta cũng vẽ hươu vẽ vượn thành đặc sản gia truyền trăm năm để móc túi người dưới phố. Con Mai đi sang đấy buôn hàng phải giữ cho cái đầu thật lạnh, tính cho kỹ từng đồng cước xe, từng giờ hàng nằm chờ ở bãi bạt. Còn cô Yến… vẽ cái gì thì vẽ, tuyệt đối đừng để bọn chúng nó lấy mất cái thau rỉ, cái xô rỗng của người lao động ra khỏi trang giấy của mình, nghe chưa!

Yến gật đầu thật mạnh, lòng dâng lên một niềm xúc động khó tả. Cô đặt bát nước vối xuống mặt bàn, với tay lấy cuốn sổ vẽ bìa cứng từ chiếc túi bạt ra ngoài.

Lần này, cô không còn đi tìm một bố cục ước lệ hay những dải khói mây bồng bềnh giả tạo nữa. Trang giấy trắng tinh mở ra trước mắt Yến dưới ánh sáng nhập nhoạng của buổi chiều tà. Bằng những nét bút sắt sắc bén, dứt khoát, gai góc và chân thực đến từng milimet, cô bắt đầu đặc tả cận cảnh dáng lưng còng gập xuống của người phụ nữ quẩy đôi thùng nước trèo lên con dốc đá trơn trượt; cô vẽ đôi bàn tay chai sạn nứt nẻ của bà Hảo đang dùng chiếc que sắt cời từng cục than hồng ướt sũng trong lòng lò đất; và cô dành trọn một góc lớn để vẽ hai chiếc xô nhựa màu cam rỗng không đứng chơ vơ bên rãnh bùn đỏ quạch.

Bên cạnh bức vẽ, Mai kéo chiếc ghế lại gần, ngồi sát bên bạn mình. Hai cô gái chụm đầu vào nhau dưới ánh đèn dầu le lói vừa được bà Hảo thắp lên, cùng nhau thảo ra một biểu mẫu hoàn toàn mới mà họ quyết định đặt tên là **“Bảng kiểm chứng lao động”** — một phụ lục mang tính ràng buộc bắt buộc phải đính kèm dưới từng trang ký họa gửi về cho ban biên tập:

> *1. Điều kiện nhiên liệu và nguồn nước thực tế tại thời điểm nấu.* > *2. Thời gian nhóm bếp, chuẩn bị sơ chế và công vận chuyển hậu cần (tính bằng giờ).* > *3. Mức độ hao mòn dụng cụ và chi phí phát sinh do thời tiết bất khả kháng.* > *4. Sự chấp thuận bằng lời của người trực tiếp đứng bếp về tên gọi món ăn và cách giới thiệu công việc.*

Viết xong dòng chữ cuối cùng, nét mực vẫn còn chưa kịp khô, Yến trân trọng đưa trang sổ sang cho bà Hảo xem.

Người đàn bà vùng cao cả đời chỉ quen cầm muôi sắt, cúi sát khuôn mặt sạm đen vì tàn tro xuống trang giấy trắng. Bà nhìn thật lâu vào bức vẽ đôi bàn tay nứt nẻ đang cời than của chính mình. Bà không khen tranh đẹp hay xấu, chỉ đưa ngón tay cái thô ráp còn dính đầy muội than đen xoa nhẹ lên góc trang giấy, để lại một vệt bồ hóng sẫm màu như một con dấu bảo chứng, rồi khẽ buông một câu:

— Đúng cái nết làm việc của cái chái bếp này rồi đấy.

***

Chiều muộn buông xuống thung lũng Tả Vìn nhanh như một cái chớp mắt. Chợ phiên đã tan hẳn từ lâu, chỉ còn lại những đống rác lá dong héo úa và tiếng gió bấc thổi hun hút qua những mái bạt rách nát bị bỏ trống. Màn sương mù dày đặc bắt đầu sà xuống thấp, nuốt trọn lấy những con đường mòn ngoằn ngoèo dẫn ngược lên đỉnh đèo.

Yến và Mai khoác ba lô lên vai, bước ra mép đường liên xã lầy lội để chờ chuyến xe ôm đi nhờ sang trạm nghỉ chuẩn bị cho chặng đường tới Mỏ Keng vào sáng mai.

Đi được một đoạn ngắn bên rãnh đá, Mai bỗng bước chậm dần lại, tụt lại phía sau lưng Yến vài bước chân. Chiếc điện thoại phím bấm để sâu trong túi áo khoác của cô rung lên từng hồi khe khẽ, ngắt quãng.

Mai rút máy ra xem. Màn hình đen trắng cũ kỹ nhấp nháy hiện lên số điện thoại bàn ở quê nhà miền xuôi. Bước chân cô khựng lại bên một gốc cây sa mộc cổ thụ sừng sững ven đường. Mai khẽ áp chiếc điện thoại vào tai, giọng cô nghẹn lại:

— A lô… Mẹ ạ?

Đầu dây bên kia không có tiếng người trả lời ngay lập tức. Chỉ có tiếng thở dốc nhọc nhằn, đứt quãng, kéo theo từng tràng ho khan kéo dài, khô khốc và đau đớn, xen lẫn với tiếng gió mùa đông bắc đầu tiên đang rít từng hồi u u qua khe cửa sổ căn nhà cấp bốn lợp ngói xi măng ở vùng đồng bằng xa xôi.

— Mẹ… mẹ lại bị đau khớp lại phải không? Mẹ đã uống thuốc đợt trước con gửi về chưa? — Giọng Mai run rẩy dữ dội, bàn tay trái của cô nắm chặt lấy quai đeo chiếc ba lô vải bạt đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra vì dùng sức.

Tiếng bà Lan ngắt quãng qua ống nghe rè đặc, bà cố nén một cơn ho sặc sụa để nói cho tròn vành rõ chữ, che giấu sự kiệt sức của mình:

— Mẹ… mẹ không sao đâu con… Mấy hôm nay trời dưới này trở gió mùa… hơi buốt tí xương khớp thôi… Con cứ… cứ yên tâm mà lo công việc trên đấy đi… Đừng có lo cho mẹ…

Tín hiệu cuộc gọi chập chờn rồi ngắt phụt bởi tiếng tút dài tàn nhẫn do sóng núi quá yếu ớt.

Mai đứng chết lặng dưới bóng cây sa mộc sừng sững giữa chiều tà bảng lảng. Đôi mắt cô nhìn đăm đăm vào màn sương mù xám xịt đang cuộn trào qua từng khe núi đá, trong khi ở ngay phía trước mặt, con đường mòn dẫn sang phiên chợ buôn bán khốc liệt Mỏ Keng vẫn đang chìm dần, chìm dần vào bóng tối mịt mùng của màn đêm vùng cao.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn