Hẹn Nhau Ở Phiên Chợ TớiC.10 / 12
Chương 10

Cuộc mặc cả ở chợ phiên Mỏ Keng

Chợ phiên Mỏ Keng mở ra giữa lòng thung lũng đá như một cái phễu hứng trọn mọi âm thanh huyên náo của miền biên viễn đang rùng rùng chuyển mình. Không còn cái vẻ tĩnh mịch chìm sâu trong những dải sương luồn bảng lảng của Pả Lùng, cũng chẳng còn những chái bếp nồng đượm mùi muội than bám dày trên vách nứa ngột ngạt ở Tả Vìn, Mỏ Keng phơi trần lồng ngực đón nhận hơi thở cuồn cuộn của kinh tế thị trường. Mặt đường trục chính được thảm một lớp bê tông lồi lõm đá dăm, hai bên mép rãnh thoát nước ken đặc những chiếc xe bán tải hai cầu bám đầy bụi đỏ quạch, tiếng ống xả gầm gừ nhả khói hòa lẫn vào tiếng còi hơi inh ỏi xé toạc không gian buổi sớm. Dọc theo triền đất thoải dẫn xuống bến bãi, những khung sắt dựng vội căng đầy bạt nhựa xanh đỏ, trên in nổi logo sắc nét của các chuỗi cung ứng thực phẩm sạch, các công ty xuất nhập khẩu nông sản dưới xuôi mới cắm chốt tại ngã ba huyện lỵ.

Mùi hăng nồng của vỏ quế tươi mới bóc, mùi hôi nồng của phân gia súc bốc lên từ góc chợ trâu, quyện chặt với mùi xăng dầu khét lẹt và hơi ẩm đọng lại sau những trận mưa đêm tạo nên một thứ bầu không khí đặc quánh, bồn chồn. Nơi đây, nông sản vùng cao không còn giữ vẻ e ấp nơi góc bếp hay giàn phơi sương gió; từng gùi măng, từng bó củi, từng bao thảo quả đều lập tức bị kéo lên bàn cân sắt, bị bóc tách phẩm cấp dưới những cặp mắt săm soi và những ngón tay tính toán sát sao của đám lái buôn sành sỏi.

Tại sạp măng nương khô lớn nhất nằm chiếm trọn một góc cua đắc địa sát mặt đường bê tông, Nguyễn Quang Huy đang đứng dạng hai chân vững chãi như một cột mốc. Chiếc áo gile dã chiến bằng vải dù màu cỏ úa của anh ta phồng căng lên ở hai túi ngực, nơi nhét chặt hai cọc tiền mặt mệnh giá năm trăm nghìn đồng mới cứng, buộc dây thun kép đỏ chót. Đứng vây quanh Huy là ba người đàn ông trung niên bệ vệ đến từ các thành phố lớn — hai tiểu thương đánh xe từ Lào Cai sang và một chủ chuỗi thực phẩm khô từ Hà Nội lặn lội lên gom hàng đầu vụ. Huy cầm trên tay một bó măng búp màu vàng sậm, lớp xơ đã se lại thành những đường gân chìm rắn đanh, giơ cao lên ngang tầm mắt dưới ánh mặt trời buổi sớm. Bàn tay to bè với những đốt ngón tay thô ráp của anh ta gõ nhịp chan chát vào thớ măng đã được xẻ vảy cá đều tăm tắp:

— Các bác cứ ghé mắt nhìn cho kỹ chất măng nương bản Pú Chao này xem! Bốn nắng giòn trên giàn nứa, lớp phấn đường măng tự nhiên kết tinh trắng mờ như sương muối thế này thì rải tiền khắp chợ tỉnh dưới xuôi cũng chẳng bới đâu ra được một lạng. Em nói thật lòng, các bác làm ăn lớn, có chuỗi cửa hàng mặt phố, việc gì phải đi nhặt nhạnh dăm ba cái gùi lẻ mười cân, mười lăm cân của mấy bà con ngồi co ro dưới mép rãnh chợ cho nhọc xác? Hàng ấy lẫn lộn gốc già, luộc chưa tới lửa, mang về chỉ tổ thối ruột. Toàn bộ sạp măng nương này, cộng thêm năm tạ măng búp tuyển chọn đang ủ trong kho bảo quản trên bản Pú Chao, em thâu trọn gói từ chân nương. Em ký cam kết bằng văn bản với chuỗi các bác: mỗi tháng giao đều đặn ba tạ, đủ cả mười hai tháng trong năm, giá giữ cố định không nhích lên dù chỉ một cắc.

Người đàn ông béo nhất trong nhóm khách, khoác chiếc áo gió màu ghi xám, tay lăm lăm cuốn sổ da mở sẵn trang ghi chép và cây bút kim loại, ngập ngừng đưa tay bẻ thử một đầu măng. Ông ta nheo mắt nhìn vết gãy vàng ươm, rồi ngước lên nhìn Huy với vẻ nghi ngại lộ rõ trên từng nếp nhăn khóe mắt:

— Nghe thì bùi tai lắm chú Huy ạ. Nhưng tôi làm hàng khô đất này ngót hai chục năm, măng nương trên đỉnh dốc rộ nhất cũng chỉ từ tháng Bảy đến cuối tháng Chín âm lịch là cùng. Sang đến tháng Chạp giáp hạt, rét cắt da cắt thịt, cây vầu cây nứa khép bẹ trơ gốc, đào đâu ra măng búp tươi mới mà chú đòi cấp đều đặn ba tạ một tháng cho chuỗi của tôi? Năm ngoái tôi tin lời một đầu mối gom hàng mạn Sa Pa, ký hợp đồng cung cấp quanh năm, đến cạn vụ mùa đông họ tống toàn măng vầu già ngâm lưu huỳnh khét lẹt với gốc nứa thối rữa dưới đáy bao, khách sành ăn dưới phố họ ném trả lại tận mặt, chửi cho rát cả tai, mất đứt mấy mối khách sỉ ruột thịt.

Huy phá lên cười khà khà, bàn tay hộ pháp vỗ đét vào đùi nghe một tiếng bốp giòn tan, giọng nói sang sảng át cả tiếng gầm rú của chiếc xe chở lợn vừa lùi vào bãi:

— Bác lại lo bò trắng răng rồi! Đấy là bác làm việc với mấy tay buôn chụp giật thời xưa, cái thời còn phơi măng trên bạt rách ngoài bờ suối. Bây giờ công nghệ bảo quản kho lạnh ngoài thị trấn nó đã bước sang trang khác rồi bác ơi. Bên tụi em có quy trình sấy nhiệt kín buồng than hoạt tính, có công nghệ ủ màng nhôm đa lớp hút chân không ba cấp độ. Măng rừng hay măng nương thì bản chất của nó khi đưa vào thương mại hóa cũng chỉ là bài toán điều phối dòng hàng và chuẩn hóa tồn kho thôi! Miễn là các bác chịu đặt bút ký hợp đồng bao tiêu độc quyền với bên em, cộng thêm sự bảo trợ truyền thông từ đơn vị tạp chí lớn dưới thủ đô mà em đang hợp tác, thì đừng nói là tháng Giêng hay tháng Sáu giữa mùa hạ, lúc nào em cũng có măng nương non mềm, vàng ruộm như tranh vẽ giao đều tăm tắp tận kho của các bác. Thiên nhiên thì có chu kỳ của thiên nhiên, nhưng làm kinh tế thị trường là phải biết làm chủ chu kỳ ấy để giữ chữ tín quanh năm. Đúng không các bác?

Đứng cách sạp hàng của Huy một con đường rải đá dăm nham nhở bùn nước, Trần Mai kéo thấp vành chiếc mũ vải bạc màu, đôi mắt sắc lạnh và bình thản nhìn lướt qua ba chiếc bao tải dứa màu xanh dựng sát vách gỗ sạp hàng. Đôi tai cô không bỏ sót một từ nào trong màn chào hàng trơn tru như bôi mỡ của Huy. Bàn tay phải của Mai thọc sâu vào túi chiếc áo khoác gió bốn túi, những đầu ngón tay khẽ miết lên góc bìa da sờn rách của cuốn sổ tay nghiệp vụ — nơi ghi chép rành rọt từng con số thống kê thực địa mà cô đã tự tay đo đạc tại xưởng măng của bà Lò Thị Sương: sản lượng măng búp tươi cả vụ thu hoạch được bao nhiêu tạ, tỷ lệ hao hụt sau chu kỳ luộc sáu tiếng liên tục trong chảo gang đỏ lửa, và mức độ khô đạt chuẩn mười hai phần trăm độ ẩm khắt khe sau bốn nắng giòn giã.

Mai biết tỏng tòng tong thực tế phũ phàng đằng sau lời chém gió của Huy. Cô biết xưởng Pú Chao năm nay do ảnh hưởng của đợt hạn hán đầu hè chỉ còn dư đúng một tạ rưỡi măng loại một đủ tiêu chuẩn xuất bán, và cái gọi là "năm tạ ủ trong kho bảo quản" của Huy thực chất chỉ là măng vầu già gom vội từ ba xã vùng thấp, được sấy diêm sinh để giữ màu vàng giả tạo chờ ngày tuồn vào trộn lẫn. Nếu Mai bước qua con đường đá dăm kia, mở cuốn sổ thực địa ra và công bố sự thật trước mặt ba vị khách thành phố, cô thừa sức bẻ gãy hoàn toàn cái bẫy cam kết trọn gói của Huy, giật ngay ba hợp đồng béo bở về tay mình chỉ trong vòng một cái chớp mắt.

Nhưng Mai không nhấc chân bước sang. Cô đứng yên, hơi thở đều đặn phả ra làn khói mỏng manh giữa cái lạnh miền sơn cước.

Cô quay gót, bước chậm rãi về phía sạp hàng khiêm nhường của gia đình chị Chẻo — một hộ dân người Dao quen biết từ đợt khảo sát trước, vừa từ đỉnh núi cao lầm lũi gùi hàng xuống chợ từ lúc trời còn chưa tỏ mặt người. Chị Chẻo ngồi lọt thỏm trên chiếc đòn gỗ thấp sát mép rãnh nước, chiếc áo chàm đã sờn chỉ ở hai bên nách, đôi bàn tay đen nhẻm vì nhựa vỏ cây rừng và giá rét run rẩy mân mê từng túm nấm hương xâu lạt giang treo lủng lẳng trên thanh tre nhỏ. Bên cạnh chị là nửa bao măng lưỡi lợn phơi khói thơm lừng, những búp măng dày cui, mập mạp bám một lớp bụi bồ hóng mịn màng.

— Chị Chẻo, mẻ nấm hương này chị hái từ đợt sương muối tuần trước trên cánh rừng vầu giáp ranh đỉnh đèo phải không? — Mai ngồi xổm xuống trước mặt người phụ nữ vùng cao, bàn tay cô nhẹ nhàng nâng một xâu nấm hương khô lên sát mũi. Mùi thơm ngai ngái, the nồng ngấm sâu vào từng thớ nấm dày dặn xộc thẳng vào khứu giác, một mùi hương thanh khiết của gỗ mục và rêu đá tự nhiên, hoàn toàn đối lập với cái mùi chua nồng, khét lẹt của nấm sấy bằng than bùn hay hóa chất trôi nổi ngoài các bến gom hàng tạp nham.

— Đúng rồi cô Mai đấy, — chị Chẻo ngẩng lên, nụ cười rụt rè để lộ hàm răng nhuộm đen bóng, nhưng trong đáy mắt lại trĩu nặng âu lo. — Năm nay trên núi rét muộn, mầm nấm nở không đều, mọc ít lắm. Cả nhà tao với hai đứa nhỏ phải đi bộ ròng rã ba ngày đường rừng mới mót được ngần này nấm búp, mang về treo giàn bếp sấy khô cong rồi đấy. Chú Huy đằng kia… chú ấy vừa sang đây lúc sớm, đòi mua đứt sạch cả gùi nấm lẫn bao măng này với giá ba trăm nghìn một cân. Nhưng mà… chú ấy bắt tao phải ký vào cái tờ giấy in sẵn chữ, bắt tao phải thề là tháng nào cũng có nấm rừng như thế này mang xuống kho cho chú ấy, không được bán lẻ ra ngoài một xâu nào. Tao sợ lắm cô Mai à. Tao sợ mùa đông tuyết phủ, rừng cạn kiệt thì lấy đâu ra nấm cho người ta? Tao không dám nhận tiền cọc của chú ấy đâu…

Mai rút tập phiếu xuất nhập hàng bìa cứng trong túi ngực ra, ngón tay thoăn thoắt lật tìm bảng định giá vụ thu đông đã được đối chiếu với biến động thị trường tại các chợ đầu mối:

— Chị làm thế là đúng, đừng bán non bán dại cho người ta ép giá. Nấm hương tự nhiên mọc trên thân cây gỗ mục cuối vụ hiếm lắm, chất lượng lại đậm đà nhất trong năm. Em trả chị đúng giá thực tế hôm nay: ba trăm bốn mươi nghìn một cân nấm khô, và măng lưỡi lợn là hai trăm tám mươi nghìn. Nhưng em nói trước để chị em mình rõ ràng với nhau: em chỉ cân đúng mười tám cân nấm hương này và mười lăm cân măng nương dư thừa sau khi nhà chị đã để lại đủ phần ăn cho những ngày Tết. Chị phải giữ lại trong gùi ít nhất năm cân măng ngon với hai cân nấm búp mang về cho tụi nhỏ và gia đình dùng. Nông sản đúng mùa vụ thì giá trị thật của nó nằm ở sự chừng mực đó; em mua hàng để bán cho người cần, chứ em không gom kiệt quệ từng cọng nấm búp măng để rồi sang tháng giêng giáp hạt, nhà chị lại phải còng lưng đi vay mượn gạo dưới phố huyện đâu.

Chị Chẻo mở to đôi mắt đục mờ vì sương khói nhìn Mai, rồi nhìn sang chiếc cân đòn bằng đồng cũ kỹ đang nằm trên tấm bạt rách, giọng ngập ngừng không tin nổi:

— Thật thế à cô Mai? Cô… cô không bắt tao ký giấy cam kết tháng sau phải gùi nấm xuống giao tiếp cho cô à?

— Không chị, tuyệt đối không. Tháng sau trên núi gió bấc thổi mạnh, hết sạch mùa nấm hương tự nhiên rồi, trên thân cây gỗ mục làm gì còn mầm nào nhú lên được nữa mà hái? Ai ép chị hứa cung ứng quanh năm là người ta đang xui chị đi mua nấm trồng bằng mùn cưa pha hóa chất dưới xuôi về trộn vào để lừa người tiêu dùng đấy. Em gom lô này về giao thẳng cho các mối ẩm thực quen ở Hà Nội, em lập biên bản ghi rõ ràng mẻ này là mẻ vét cuối vụ của rừng Tả Reng. Hết vụ là thôi, nghỉ ngơi chờ sang mùa mưa năm sau cây rừng đâm chồi nảy lộc lại tính tiếp.

Đứng ngay cạnh sạp nấm, Đỗ Hải Yến nãy giờ vẫn im lặng. Cô tựa lưng vào một cột gỗ dựng lán chợ, tay giữ chặt chiếc bảng vẽ bằng gỗ ép kẹp tập giấy Canson dày cộm. Đầu ngòi bút chì 2B sắc nhọn của cô đang lướt đi thoăn thoắt, tạo ra những tiếng sột soạt gấp gáp nhưng chuẩn xác trên mặt giấy nhám. Bằng vài nét dựng hình chắc khỏe, Yến đã tóm gọn được cái bóng dáng còng còng, nhẫn nại của chị Chẻo, chiếc cân đòn bằng đồng có quả cân tiện rãnh mòn nhẵn thấu quang, và đôi bàn tay gân guốc của người phụ nữ Dao đang cẩn thận lần từng túm nấm rừng. Yến khẽ liếc mắt sang Mai, ngón tay giữ bút hơi ghì chặt lại, cất giọng thì thầm đủ hai người nghe:

— Này Mai, cậu không tính sang bên kia vạch trần lô măng của gã Huy thật đấy à? Tớ đứng đây nghe gã chém gió mà gai cả người. Gã đang ép mấy ông khách thành phố vào tròng bằng cái cam kết giao hàng quanh năm hoang đường ấy. Cậu chỉ cần rút tờ bảng kiểm chứng công suất thực tế của xưởng bà Sương ra, đưa vài con số độ ẩm mười hai phần trăm với chu kỳ luộc măng sáu tiếng vào là Huy hết đường bịa đặt. Sao cậu lại bỏ qua dễ dàng thế?

Mai không ngẩng đầu lên, đôi bàn tay tháo vát của cô vẫn thoăn thoắt nhấc từng xâu nấm hương khô, kiểm tra kỹ phần cuống xem có bị ẩm mốc hay bám sạn đất hay không rồi xếp gọn gàng vào chiếc thùng các-tông đã lót sẵn hai lớp giấy báo khô:

— Dữ liệu mà tớ với cậu trèo đèo lội suối để thu thập suốt hai tuần qua là để phục vụ cho sự thật của bộ lịch, để bảo vệ giá trị lao động chân chính của bà con bản địa, chứ không phải là thứ vũ khí bẩn thỉu để tớ mang ra đâm sau lưng đối thủ thương trường. Làm ăn ở chợ thì phải đàng hoàng: cạnh tranh bằng giá thu mua minh bạch, bằng chất lượng hàng thực tế và sự sòng phẳng giữa người bán với người mua. Tớ hạ bệ Huy bằng thông tin riêng tư của xưởng măng thì hôm nay tớ thắng được ba mối khách, nhưng ngày mai bà con Pú Chao sẽ nhìn tớ như một con buôn cơ hội chuyên đi rình mò sơ hở của người khác. Và quan trọng nhất, Yến ạ: tớ buôn bán nông sản, tớ tuyệt đối không bao giờ hứa hẹn với người tiêu dùng những thứ mà đất trời vùng cao này không thể sản sinh ra được.

Lời của Mai vừa dứt thì một tiếng rít chói tai vang lên xé toạc không khí phiên chợ. Chiếc xe khách liên tỉnh tuyến Hà Nội – Mỏ Keng mang biển số thủ đô cũ kỹ, cồng kềnh trườn tới mép đường bê tông rồi phanh dúi dụi, phun ra một luồng khói đen đặc quánh, khét lẹt tạt thẳng vào sạp hàng ven đường. Cánh cửa xe bằng sắt rỉ sét bật mở với một tiếng "cạch" khô khốc, và từ trên bậc lên xuống, một bóng người vội vã lảo đảo nhảy phắt xuống bãi sỏi lầy lội, suýt chút nữa trượt chân ngã dúi dụi vào vũng nước đọng.

Đó chính là Vũ Minh An.

Vị biên tập viên mỹ thuật đầy quyền lực của đơn vị xuất bản đặt hàng bộ lịch xuất hiện giữa lòng chợ phiên vùng cao trong một bộ dạng không thể thảm hại hơn. Anh ta vẫn mặc chiếc áo khoác gió công sở mỏng dính màu xám quen thuộc, chiếc quần tây ủi ly thẳng tắp nay đã bắn đầy những vệt bùn đất đỏ quạch cao đến tận đầu gối, đôi giày da hàng hiệu đắt tiền bóng lộn ngày nào giờ bết chặt một lớp đất sét nhão nhoét của đèo Mã Pì. Dưới nách An cắp chặt một chiếc cặp da đen cỡ lớn có khóa số mạ đồng, khuôn mặt dài ngoẵng của anh ta xám ngoét vì say xe và thiếu ngủ sau chuyến xe đêm lắc lư vượt đèo, nhưng trong đôi mắt sau cặp kính cận dày cộp lại ngùn ngụt một ngọn lửa sốt ruột, tức tối và áp lực đè nặng.

— Yến! Mai! — An thở dốc từng cơn, chiếc lồng ngực phập phồng sau làn áo mỏng. Anh ta vừa bước vội qua những vũng bùn lầy vừa giơ tay vẫy loạn xạ, đôi chân bước xăm xăm về phía góc sạp hàng của chị Chẻo nơi hai cô gái đang đứng. — May quá… lạy trời lạy phật hai cô vẫn chưa rời khỏi cái chợ Mỏ Keng chết tiệt này! Tôi gọi điện thoại cho hai người suốt từ bảy giờ tối qua đến tận sáng nay, mà cái mạng viễn thông trên cái xó rừng rú này nó bị làm sao ấy, toàn tút dài vô vọng hoặc báo thuê bao ngoài vùng phủ sóng!

Yến tròn mắt kinh ngạc, vội vã buông cây bút chì 2B xuống mặt bảng vẽ:

— Anh An? Sao anh lại mò lên tận đây một mình thế này? Có chuyện gì hệ trọng đến mức anh không thể đợi chúng tôi hoàn thiện nốt ba bản phác thảo cuối cùng để nộp vào chiều thứ Sáu theo đúng tiến độ hợp đồng à?

An không buồn trả lời ngay. Anh ta đưa mắt nhìn quanh quất khắp khu chợ phiên ồn ã, ánh mắt va phải nụ cười khẩy đầy tò mò của Huy đang đứng ngóng sang từ sạp măng nương đối diện. An khẽ nghiến răng, kéo phéc-mơ-tuya chiếc cặp da cái "xoẹt", rút ra một tập bản in thử nghiệm khổ lớn được in trên chất liệu giấy couché bóng loáng dày cộp, rồi đập mạnh tập tài liệu xuống mép chiếc hòm gỗ đựng nấm của chị Chẻo khiến bụi tro bay lên mù mịt:

— Đợi đến thứ Sáu thì mọi chuyện hỏng bét, vỡ nợ hết cả lũ với nhau rồi! Ban Giám đốc vừa ký xong phụ lục hợp đồng tài trợ và phân phối độc quyền với hệ thống chuỗi siêu thị quà tặng nông sản sạch và bên công ty của anh Huy chiều hôm qua. Đây, hai cô mở to mắt ra mà nhìn cho tường tận đi: bản bông in thử nghiệm trang tháng Mười và tháng Mười Một của bộ lịch đây này!

Yến và Mai cùng khựng lại, đồng loạt cúi đầu nhìn xuống tập giấy in vừa được lật mở.

Trước mắt Yến là bức tranh vẽ chõ bánh ngô truyền thống của bà Duyên ở Pả Lùng và giàn phơi măng nương Pú Chao — hai tác phẩm mà cô đã dành hàng chục đêm thức trắng bên ánh đèn dầu leo lét, tỉ mẩn pha từng vệt màu nước, trau chuốt từng nét bút sắt sắc sảo để lột tả cái hồn cốt chân thực của đời sống lao động rẻo cao. Nhưng giờ đây, đứa con tinh thần của cô đã bị bàn tay của đội ngũ đồ họa dưới tòa soạn thọc vào xâu xé một cách thô bạo, tàn nhẫn.

Toàn bộ những mảng màu trầm ấm thực tế của làn khói bếp bảng lảng, những thớ gỗ thông nứt nẻ vì thời gian và lớp muội than xám xịt bám chặt trên thành chõ bánh ngô đều đã bị đẩy bão hòa màu lên mức cực hạn. Màu vàng của ngô xay bị biến thành một thứ sắc vàng chóe lóa, chói gắt như phẩm màu công nghiệp; nền trời u ám phủ đầy sương muối đặc trưng của mùa đông miền núi bị xóa sạch không thương tiếc, thay thế vào đó là một mảng trời xanh lơ phẳng lì, bóng bẩy như một bức tranh cổ động tuyên truyền rẻ tiền.

Nhưng điều khiến tim Yến thắt nghẽn lại, từng mạch máu trên thái dương giật giật chính là góc dưới bên phải của trang lịch. Nơi đó, Yến đã cẩn thận dùng nét bút sắt kẻ một khung viền trang nhã để ghi chép toàn bộ nhật ký khảo sát thực tế: những dòng chữ nắn nót về rủi ro thời tiết khi gặp sương muối bất thường, quy trình dọn rửa hậu cần nhọc nhằn, hình ảnh chiếc thau nhôm méo mó han gỉ của bà Duyên sau mỗi mẻ bánh, và cảnh báo nghiêm ngặt về chu kỳ măng nương chỉ kéo dài vỏn vẹn từ tháng Bảy đến tháng Chín âm lịch cùng tiêu chuẩn bốn nắng giòn của xưởng bà Sương.

Tất cả đã bị xóa sạch bong. Không còn một dấu vết, không còn một con số.

Đè bẹp lên vị trí trang trọng ấy là một khối đồ họa hình thoi mạ nhũ vàng kim bóng loáng, lòe loẹt, bên trong in đậm những dòng chữ quảng cáo thương mại bằng phông chữ hiện đại không chân: *“Măng Nương Thượng Hạng Pú Chao — Tinh hoa ngàn năm của đại ngàn, cung ứng độc quyền quanh năm tại hệ thống Nông Sản Xanh Quang Huy”*.

Một ngọn lửa giận dữ bốc thẳng lên ngực Yến, khiến bàn tay cô run lên bần bật khi chỉ thẳng ngón tay vào mảng đồ họa kim loại sắc lạnh kia:

— Anh An… rốt cuộc chuyện này là thế nào? Ai cho phép các anh ở dưới xuôi tự ý đè bẹp, bôi bẩn lên bản vẽ của tôi như thế này? Cái thau nhôm rửa bát méo mó của bà Duyên đâu rồi? Những dòng ghi chú về rủi ro thời tiết, về độ ẩm mười hai phần trăm và chu kỳ sinh trưởng của măng nương mà tôi đã mất bao công sức phỏng vấn người dân đâu rồi?

An đưa hai ngón tay lên day mạnh hai bên thái dương, giọng nói hạ thấp xuống nhưng căng như dây đàn, lộ rõ vẻ sốt ruột và tính toán thực dụng của một người làm kinh doanh ấn phẩm:

— Yến à, tôi xin cô, cô bớt mơ mộng hão huyền giùm tôi một chút đi! Cô phải nhìn vào thực tế thị trường xem ai là người bỏ tiền ra mua lịch! Người thành phố bỏ ra hai trăm năm mươi nghìn đồng để mua một cuốn lịch bloc treo tường dịp Tết là để họ ngắm nhìn sự thi vị, cảm giác trong lành, an yên của rẻo cao, chứ chẳng có ma nào bỏ tiền ra để cả năm trời phải nhìn trừng trừng vào một cái thau nhôm móp rỉ sét đầy dầu mỡ hay mấy cái dòng cảnh báo khô khan là nếu trời mưa bão thì măng bị mốc hỏng cả! Khách hàng dưới xuôi cần một hình ảnh rực rỡ, no ấm, kích thích thị giác để họ thấy nông sản vùng cao này trù phú vô tận, lúc nào họ thích đặt mua ăn là có hàng giao tận cửa. Cô gạt phăng mấy cái ô chú thích lặt vặt về chuyện dọn rửa với rủi ro thời tiết ấy đi. Nhìn nó bôi bác, vụn vặt và nhem nhuốc y hệt như một cuốn sổ tay kiểm kho của công nhân vệ sinh, làm thế nào mà đẩy mạnh chiến dịch truyền thông và cam kết doanh số phát hành mùa Tết này được hở cô?

— Bôi bác ư? — Yến bật ra một tiếng cười chua chát, nơi khóe mắt cô cay xè vì tức giận lẫn thất vọng tột cùng. Trong đầu cô vụt hiện về ký ức của hai năm về trước — cái ngày cô còn là một chuyên viên thiết kế bao bì ngồi trong căn phòng máy lạnh tiện nghi ở quận Đống Đa, chính cái tư duy "hình ảnh rực rỡ bắt mắt", cái thói quen bôi son trát phấn cho thực tế của cô đã tạo ra một mẫu bao bì sai lệch nghiêm trọng, khiến xưởng măng của bà Lò Thị Sương bị chuỗi siêu thị trả về gần bốn tạ hàng hỏng và mất trắng uy tín gầy dựng suốt mười năm ròng rã. — Anh An, anh có biết vì sao người ta gọi đây là măng nương không? Vì nó là máu thịt của rừng, nó chỉ mọc lên sau những trận mưa rào đầu hạ và kết thúc khi gió bấc tràn về! Nó đòi hỏi người nông dân phải thức trắng sáu tiếng bên chảo gang đỏ lửa để luộc cho nhả hết độc tố, phải phơi qua bốn cái nắng giòn rát bỏng cả lưng trên giàn tre. Nếu anh xóa sạch những dòng chú thích đó để nhét vào cái dòng chữ "cung ứng quanh năm" dối trá kia, anh đang biến toàn bộ cuốn lịch này thành một tấm áp-phích quảng cáo lừa đảo người tiêu dùng! Tôi từng làm thiết kế bao bì nông sản ba năm trời, tôi hiểu quá rõ cái cạm bẫy này: các anh tưởng rằng vẽ nên một bức tranh no đủ giả tạo là đang nâng tầm nông sản, nhưng thực chất các anh đang tước đoạt đi chính phẩm giá và sự nhọc nhằn của người lao động vùng cao!

An biến sắc, mặt đỏ bừng lên vì bị chạm tự ái, anh ta giật phắt lấy tập bản in thử, giọng gắt gỏng gay gắt:

— Tôi là biên tập viên chịu trách nhiệm trực tiếp về doanh thu của cả dự án này trước Hội đồng Quản trị! Ban Giám đốc đã chốt xong xuôi phương án tài trợ với bên anh Huy rồi, tiền cọc truyền thông cũng đã giải ngân một nửa. Bây giờ tôi cho cô hai con đường: hoặc là cô lập tức chỉnh sửa lại ba bản thảo còn lại theo đúng phong cách tươi sáng, rực rỡ này, cắt bỏ toàn bộ mấy cái khung chú thích lôi thôi bôi bác kia đi; hoặc là chúng ta thanh lý hợp đồng hợp tác ngay tại phiên chợ này, cô tự bỏ tiền túi ra bồi thường toàn bộ chi phí in ấn thử nghiệm và thiệt hại truyền thông đợt một!

— Anh đừng mang cái hợp đồng in thử ấy ra để dọa dẫm cô ấy, anh An.

Một giọng nói cất lên, không hề cao giọng, không một chút giận dữ, nhưng lạnh tanh và sắc bén như lưỡi dao cạo. Trần Mai bước lên một bước, thân hình mảnh dẻ nhưng vững chãi chắn ngang khoảng không gian giữa Yến và An. Đôi mắt đen láy của cô nhìn thẳng vào đôi mắt đang vằn đỏ vì áp lực của vị biên tập viên thủ đô.

Không một động tác thừa, Mai kéo khóa chiếc cặp tài liệu bằng vải bạt của mình, rút ra một tệp hồ sơ khổ A4 được bấm ghim cẩn thận, phẳng phiu đến từng mép giấy. Đó chính là tập **“Bảng kiểm chứng lao động”** mà cô và Yến đã cùng nhau ngồi chong đèn xây dựng từng dòng bên chái bếp nồng mùi khói của bà Hảo ở bản Tả Vìn. Bên trong tập hồ sơ là những biên bản ghi nhớ khảo sát thực địa chi tiết đến kinh ngạc: chữ ký ngoằn ngoèo bằng bút bi xanh của bác Vàng A Sính xác nhận chu kỳ thu hoạch ngô bao tử, vết điểm chỉ bằng muội than đen kịt, thô ráp của bà Đinh Thị Hảo chứng thực số giờ quay sợi dệt lanh, và quan trọng nhất là con dấu mộc đỏ tươi của hợp tác xã nông sản bản Pú Chao xác nhận sản lượng măng nương thực tế của xưởng bà Sương.

Mai giơ tệp tài liệu có con dấu mộc đỏ ra ngay trước tầm mắt của An, ngón tay trỏ của cô gõ mạnh vào từng dòng số liệu:

— Anh An, anh là dân làm chữ nghĩa, anh nhìn cho thật kỹ vào những con số pháp lý này đi. Đây là bảng kiểm chứng nguồn gốc thực tế và nhật ký mùa vụ mà tôi với Yến đã lập tại từng điểm bản, có sự xác nhận của chính quyền cơ sở và đại diện các tổ hợp tác. Bản cam kết của bà Lò Thị Sương ghi rất rành mạch: măng nương Pú Chao loại một chỉ có thể xuất kho tối đa đến hết tháng Mười Một âm lịch, tuyệt đối không có hạt măng nào vào mùa xuân hay mùa hạ. Nếu nhà xuất bản của anh và hệ thống phân phối của anh Huy cố tình in ấn cuốn lịch này với dòng chữ cam kết cung ứng đều đặn mười hai tháng trong năm, bất chấp quy luật sinh trưởng tự nhiên của cây trồng, thì chuyện gì sẽ xảy ra?

Mai tiến thêm nửa bước, giọng nói đanh thép từng chữ một ghim thẳng vào tâm trí An:

— Chỉ cần sang tháng Giêng năm sau, khách hàng dưới Hà Nội mua phải một túi măng vầu già ngâm hóa chất được dán nhãn "Măng nương Pú Chao", rồi họ cầm cuốn lịch này đối chiếu với thực tế và gửi đơn khiếu nại lên Cục Quản lý Thị trường cùng Hội Bảo vệ Quyền lợi Người tiêu dùng, thì ai sẽ là người đứng ra chịu trách nhiệm hình sự và dân sự trước pháp luật?

An khựng lại, đồng tử co rút, ánh mắt dán chặt vào vết mực đỏ tươi và chữ ký sắc nét trên tờ biên bản, môi mấp máy:

— Việc đó… việc chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường là do bên phân phối của anh Huy chịu trách nhiệm chứ… Tòa soạn chúng tôi chỉ… chỉ chịu trách nhiệm về nội dung văn hóa…

— Trên bìa cuốn lịch in to tướng logo, tên thương hiệu và mã số giấy phép xuất bản của cơ quan các anh! — Mai ngắt lời An không chút kiêng nể. — Một khi đã có dấu hiệu quảng cáo sai sự thật, gian lận thông tin mùa vụ nhằm lừa dối người tiêu dùng về chỉ dẫn địa lý nông sản, đơn vị xuất bản sẽ là đối tượng đầu tiên bị đoàn thanh tra liên ngành "sờ gáy", bị xử phạt hành chính hàng trăm triệu đồng và buộc phải thu hồi, tiêu hủy toàn bộ ấn phẩm lịch Tết trên toàn quốc. Lúc đó thiệt hại không phải là vài triệu bạc tiền in thử nghiệm của anh đâu, mà là toàn bộ uy tín thương hiệu nửa thế kỷ của nhà xuất bản các anh đấy! Anh nghĩ xem, lúc vụ việc vỡ lở trên mặt báo, Ban Giám đốc sẽ đứng ra bảo vệ một biên tập viên như anh, hay họ sẽ biến anh thành kẻ giơ đầu chịu báng vì tội tự ý cắt xén dữ liệu thực địa để trục lợi từ nhà tài trợ?

Từng câu, từng chữ của Mai như những nhát búa nện thẳng vào sự tự tin mong manh của An. Khuôn mặt người đàn ông thủ đô từ đỏ gắt chuyển dần sang tái mét, rồi xám ngắt như tro tàn. Là một người làm việc lâu năm trong ngành xuất bản và truyền thông, An thừa hiểu những quy định pháp lý ngặt nghèo về sở hữu trí tuệ và bảo hộ chỉ dẫn địa lý nông sản đang được siết chặt gắt gao trong những năm gần đây. Nhìn vết điểm chỉ muội than đen nhánh của bà Hảo trên trang giấy — một bằng chứng sống động, thô mộc nhưng đầy sức nặng pháp lý — mồ hôi hột bắt đầu rịn ra trên trán An, lăn dài xuống gò má dù gió núi Mỏ Keng đang thổi từng cơn buốt giá.

Thấy An đứng chôn chân bất động, thần sắc hoảng loạn, Huy từ sạp hàng đối diện dường như đã đánh hơi thấy nguy cơ đổ bể của thương vụ làm ăn lớn. Anh ta vội vã nhét vội xấp tiền vào túi áo gile, sải những bước chân dài vượt qua con đường lầy lội chạy sang, trên mặt nở một nụ cười xòa đầy vẻ hòa giải:

— Ấy kìa, anh An, cô Mai, cô Yến! Việc gì mà phải căng thẳng đến mức lôi cả thanh tra với pháp luật ra giữa chốn chợ búa đông người thế này! Chúng ta đều là người làm ăn, ngồi chung một thuyền cả mà. Nào, có chuyện gì chưa thông thì anh em mình kéo nhau vào cái quán trà góc chợ đằng kia, làm chén nước chè xanh nóng hổi rồi ngồi xuống bàn bạc cho ra ngô ra khoai. Đứng giữa thanh thiên bạch nhật cãi cọ thế này, bà con người ta nhìn vào lại tưởng phường buôn lậu cắn xé nhau, coi sao tiện!

***

Quán trà chợ phiên Mỏ Keng thực chất chỉ là một dãy lán tạm bợ lợp tôn xi măng thấp lè tè nép mình bên sườn đồi dốc đứng. Bên trong, không khí mù mịt khói thuốc lào quyện chặt với mùi nước chè xanh nấu bằng lá tươi chát đắng và mùi mồ hôi của đám cửu vạn ngồi nghỉ chân. Chiếc bàn gỗ thông mộc mạc, mặt bàn chằng chịt những vết dao gọt mía và những vòng tròn ố vàng của đáy bát nước chè, bỗng chốc biến thành chiến trường căng thẳng của cuộc đàm phán tay tư định đoạt số phận của bộ lịch.

Bà chủ quán người Tày lẳng lặng bưng ra bốn chiếc bát sành cáu bẩn bốc khói nghi ngút cùng một đĩa kẹo lạc phủ đầy vừng trắng ngọt lịm. Bốn người ngồi vây quanh bàn, khoảng không gian giữa họ ngột ngạt và nặng nề như một bầu khí quyển bị rút cạn dưỡng khí trước cơn dông lốc.

Huy rút bao thuốc lá năm số năm ra, gõ gõ vào đầu lọc định chìa sang mời An, nhưng An đưa tay gạt phắt đi với vẻ mặt khó chịu. Vị biên tập viên ngả lưng vào chiếc ghế băng ọp ẹp, hai ngón tay gõ nhịp dồn dập xuống mặt bàn gỗ, ánh mắt phức tạp nhìn xoáy vào Yến:

— Được rồi. Tôi thừa nhận Mai phân tích rất đúng về rủi ro pháp lý nếu chúng ta cố tình đưa thông tin sai lệch về mùa vụ vào cam kết thương mại. Nhà xuất bản không thể mạo hiểm uy tín của mình vì một phụ lục tài trợ. Nhưng Yến, cô cũng phải đặt mình vào vị trí của tôi mà hiểu cho cái khó của người làm thị trường: trang bìa và hai trang mở đầu không thể biến thành một mớ bòng bong chữ nghĩa lỉnh kỉnh, rối rắm như một cuốn nhật ký hiện trường của đội khảo sát địa chất được! Các hệ thống nhà sách lớn dưới xuôi, họ chỉ liếc nhìn trang đầu tiên trong vòng năm giây để quyết định xem có nhập hàng nghìn bản hay không. Bố cục hiện tại của cô… tôi phải nói thẳng là nó quá nặng nề, quá nhiều mảng tối u ám, quá nhiều chi tiết vụn vặt làm phân tán thị giác người mua!

Yến hít một hơi thật sâu, cảm nhận vị chát đắng của ngụm chè xanh trôi qua cuống họng làm dịu đi cơn giận dữ ban nãy. Cô không còn là người nghệ sĩ trẻ tuổi ngơ ngác, dễ dàng dao động hay chùn bước trước những lời đe nẹt thương mại như những ngày đầu mới đặt chân lên đỉnh đèo Pả Lùng nữa. Những ngày tháng cùng ăn, cùng ở, cùng chứng kiến đôi bàn tay nứt nẻ vì giá rét của bà Duyên bên chõ bánh, những giọt mồ hôi bỏng rát của bà Sương bên giàn măng đã trui rèn cho cô một bản lĩnh vững vàng.

Yến mở chiếc ba lô vải dù, rút cuốn sổ ký họa khổ vuông quen thuộc đặt lên bàn trà. Cô lật đến trang vẽ chái bếp Tả Vìn và giàn phơi Pú Chao, cầm cây bút chì phác thảo một sơ đồ phân chia bố cục thị giác theo tỷ lệ vàng ngay mép trang giấy trắng bằng những đường kẻ dứt khoát, chuẩn xác:

— Tôi chưa bao giờ yêu cầu anh phải hy sinh tính thẩm mỹ thương mại hay sự bắt mắt của ấn phẩm, anh An. Anh nhìn vào sơ đồ này đi: tôi từng làm ba năm trong ngành thiết kế bao bì thương mại, tôi thừa hiểu quy luật dẫn dắt thị giác của người tiêu dùng vận hành như thế nào. Chúng ta hoàn toàn có thể giải quyết bài toán này một cách khoa học: chia trang lịch theo tỷ lệ vàng hai phần ba và một phần ba. Toàn bộ phần không gian hai phần ba phía trên, tôi sẽ dành trọn cho hình ảnh giàn phơi măng nương bừng sáng trong ánh nắng sớm tinh khôi của rẻo cao, hoặc hình ảnh chõ bánh ngô bốc khói nghi ngút ấm cúng. Tôi cam kết sẽ tối ưu hóa lại bảng màu: nâng độ tương phản, xử lý lại sắc độ ánh sáng để tranh đạt được độ ấm áp, tươi tắn và bắt mắt nhất khi trưng bày trên kệ sách mà không làm biến dạng bản chất thực tế của đời sống lao động.

Ngón tay Yến trượt xuống phần dưới của bản vẽ:

— Còn toàn bộ một phần ba không gian phía dưới, chúng ta sẽ gom toàn bộ phần ghi chú mùa vụ, rủi ro thời tiết, tiêu chuẩn độ ẩm và nhật ký dọn rửa hậu trường vào một khung viền trang trí giả chất liệu nan tre đan tay truyền thống. Cái khung thông tin ấy không hề làm "bẩn" hay làm vụn bức tranh như anh nghĩ; ngược lại, nó sẽ đóng vai trò như một chiếc "chứng chỉ xuất xứ thủ công", một lời khẳng định đanh thép về tính xác thực của sản phẩm. Người tiêu dùng hiện đại dưới thành phố bây giờ họ thông minh lắm: họ mua một bức tranh có thông tin mùa vụ minh bạch, họ sẽ trân trọng nó gấp mười lần một bức tranh vẽ cảnh no đủ ảo tưởng được tạo ra từ phần mềm máy tính!

Yến ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào mắt An, giọng nói rành rẽ từng lời:

— Tôi đồng ý vẽ lại toàn bộ bố cục thị giác của ba chặng còn lại theo tỷ lệ này, tự tay hoàn thiện từng chi tiết đồ họa mà không đòi hỏi thêm một đồng thù lao nào từ tòa soạn. Nhưng đổi lại, anh phải chấp nhận giữ nguyên vẹn khung thông tin kiểm chứng mùa vụ bắt buộc, không được cắt bỏ một chữ nào về điều kiện lao động thực tế và tuyệt đối không được tự ý biên tập, bóp méo lời nói của những người nông dân đã ký tên vào bản khảo sát của chúng tôi!

An nheo mắt nhìn bản phác thảo bố cục tỷ lệ vàng của Yến. Những nét vẽ mực đen sắc sảo, sự cân đối tuyệt đối giữa mảng tranh nghệ thuật phóng khoáng bên trên và chiếc khung nan tre thanh nhã chứa đựng dữ liệu bên dưới thực sự tạo ra một ấn tượng thị giác mạnh mẽ, sang trọng và đáng tin cậy hơn hẳn cái mảng nhũ vàng kim chóe lóa, thô kệch mà phòng đồ họa dưới xuôi ghép ẩu vào. Là một người có chuyên môn mỹ thuật, An không thể không thừa nhận phương án của Yến đã giải quyết trọn vẹn cả hai yêu cầu: vừa đảm bảo tính thương mại bắt mắt, vừa giữ được chiều sâu văn hóa độc bản.

Huy ngồi bên cạnh, nghe đến đây thì bắt đầu nhấp nhổm không yên, anh ta sốt ruột chồm người qua bàn, hai tay đập xuống mặt gỗ:

— Ấy chết, cô Yến ơi, anh An ơi! Các vị bàn chuyện nghệ thuật với tỷ lệ vàng thì hay lắm, nhưng còn cái hợp đồng cung ứng của chuỗi bên em thì sao? Nếu trên cuốn lịch ghi rành rành cái khung thông tin là măng nương Pú Chao chỉ có từ tháng Bảy đến tháng Chín âm lịch, sang đông là hết hàng, thì cái cam kết giao hàng quanh năm mười hai tháng của bên em với mấy chuỗi siêu thị lớn dưới Hà Nội tính thế nào đây? Tụi em đã lỡ chào hàng, nhận cọc giữ mối của người ta rồi!

Mai lập tức quay ngoắt sang nhìn Huy, ánh mắt cô lạnh buốt như băng tuyết trên đỉnh đèo:

— Anh Huy, anh chào hàng thế nào, anh xoay xở dòng tiền ra sao là chuyện kinh doanh của cá nhân anh, nhưng anh không thể dùng uy tín của bộ lịch văn hóa này để hợp thức hóa cho sự dối trá của anh được. Xưởng của bà Sương không thể luộc măng giữa mùa đông cạn kiệt nguồn nước, và chị Chẻo cũng không thể đào đâu ra nấm hương giữa mùa hè nắng cháy trên rừng vầu. Anh muốn bán hàng quanh năm, anh cứ việc bán dòng măng vầu già sấy lạnh công nghiệp của anh, nhưng trên bao bì anh phải dán nhãn rõ ràng là măng sấy công nghiệp vùng thấp. Một khi anh đã muốn gắn cái danh xưng "Măng nương Pú Chao" hay "Nấm hương rừng Tả Vìn" vào một ấn phẩm văn hóa được phát hành toàn quốc, thì anh bắt buộc phải tuân theo quy luật của đất trời. Người tiêu dùng bỏ tiền ra để mua sự thật, chứ không ai trả tiền để mua sự dối trá được đóng gói tinh vi của anh cả!

Huy nghẹn ứ nơi cổ họng, hai tai đỏ ửng lên vì tức tối. Anh ta trừng mắt nhìn Mai, nhưng trước ánh mắt không chút dao động của cô cùng tệp hồ sơ kiểm chứng có dấu đỏ chót đang nằm sờ sờ trên bàn, tay buôn lão luyện nhận ra mình đã hoàn toàn rơi vào thế hạ phong. Bất kỳ một hành vi chối bỏ nào lúc này cũng chỉ đẩy anh ta vào nguy cơ bị thanh tra thị trường truy xét nguồn gốc hàng hóa trong kho.

Không khí trong quán trà lại rơi vào sự im lặng nghẹt thở. Chỉ có tiếng nước chè xanh sôi lục bục trên bếp than tổ ong của bà chủ quán là đều đặn vang lên từng nhịp.

An ngồi bất động, đôi mắt nhìn chằm chằm vào bản vẽ phác thảo của Yến suốt hai phút dài đằng đẵng. Bàn tay anh ta cầm chiếc bút bi kim loại bấm "tách" một tiếng giòn tan, phá vỡ bầu không khí ngột ngạt. An thở hắt ra một hơi dài, kéo tập bản in thử nghiệm về phía mình, cất giọng mệt mỏi nhưng dứt khoát:

— Được rồi. Chúng ta thống nhất giải pháp như cô Yến đề xuất. Yến, cô chịu trách nhiệm vẽ lại toàn bộ bố cục thị giác của ba chặng còn lại theo đúng tỷ lệ vàng này. Cô phải scan file kỹ thuật số độ phân giải cao gửi thẳng vào hòm thư điện tử của tôi trước mười hai giờ trưa ngày mai để tôi kịp chuyển cho xưởng in kẽm. Tôi sẽ trực tiếp làm việc với Ban Giám đốc và bộ phận chế bản đồ họa để khóa chết khung thông tin kiểm chứng mùa vụ, cam kết giữ nguyên từng câu chữ về điều kiện lao động của người dân, không cắt xén một chữ nào. Đổi lại, cô phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về tiến độ bàn giao toàn bộ bản thảo hoàn chỉnh, không được phép chậm trễ dù chỉ một giờ đồng hồ.

— Tôi xin cam kết, — Yến trả lời dứt khoát, ánh mắt ánh lên một vẻ kiên định vững vàng như bàn thạch.

An quay sang nhìn Huy, giọng nói chuyển sang vẻ lạnh lùng của người nắm quyền quyết định hợp đồng:

— Anh Huy, gói hợp đồng truyền thông giữa tạp chí và chuỗi của anh vẫn được giữ nguyên hiệu lực, nhưng bên anh bắt buộc phải điều chỉnh lại thông điệp quảng bá trên các kênh bán lẻ: chỉ cam kết cung ứng măng nương chuẩn Pú Chao theo hạn mức mùa vụ thực tế mà xưởng bà Sương có thể đáp ứng. Hết mùa, anh phải thông báo rõ là chuyển sang dòng măng thường. Tuyệt đối không được gắn dòng chữ "cung ứng quanh năm" vào tên sản phẩm măng nương nữa. Đừng để lòng tham làm dính án phạt quảng cáo sai sự thật rồi kéo cả tòa soạn chúng tôi xuống vũng bùn pháp lý với anh.

Huy nghiến răng kèn kẹt, những thớ thịt trên gò má giật giật. Nhưng nhìn thái độ cứng rắn của An và xấp tài liệu kiểm chứng sắc bén của Mai, anh ta biết mình không còn bất kỳ kẽ hở nào để luồn lách nếu không muốn mất trắng hợp đồng tài trợ lớn này. Huy buông một tiếng thở dài thườn thượt, giơ hai tay lên trời như một kẻ đầu hàng:

— Thôi được rồi! Coi như chuyến này tôi chịu lùi một bước, chia sẻ nguồn hàng theo hạn mức thực tế của bản làng vậy. Có bao nhiêu măng nương chuẩn xưởng bà Sương thì bán bấy nhiêu theo mùa, hết mùa thì treo biển thông báo hết hàng. Làm ăn với hai cô gái trẻ này còn mệt mỏi và đau đầu hơn cả đối phó với đoàn thanh tra liên ngành của tỉnh!

Cuộc đàm phán kết thúc chóng vánh sau cái bắt tay gượng gạo giữa các bên. An vội vã nhét tập tài liệu vào cặp da, đứng dậy bước nhanh ra bến bãi để kịp bắt chuyến xe khách ngược về xuôi ngay trong buổi trưa, mang theo phương án bố cục mới để cứu vãn tiến độ in ấn của bộ lịch.

Rời khỏi quán trà lá lợp tôn ngột ngạt, Mai và Yến quay trở lại sạp hàng của chị Chẻo giữa tiếng ồn ào của chợ phiên đang bước vào giờ tan chợ. Mai nhanh chóng trải chiếc bạt sạch ra đất, móc chiếc cân đòn vào quai bao tải, cân nốt số nấm hương khô và măng nương còn lại. Cô rút từ túi ngực ra những tờ tiền mặt phẳng phiu, đếm đủ ba trăm bốn mươi nghìn một cân nấm và hai trăm tám mươi nghìn một cân măng, trao tận tay chị Chẻo không thiếu một đồng lẻ. Đồng thời, Mai lấy chiếc bút bi, cùng đại diện các hộ dân Pú Chao và Tả Reng có mặt tại phiên chợ ký vào một biên bản thỏa thuận thu mua công bằng, minh bạch, bảo đảm mức giá bao tiêu ổn định cho những vụ mùa tiếp theo.

Đứng cách đó không xa, Huy lẳng lặng nhìn sang. Dù trong lòng vẫn còn ấm ức, tay buôn này cũng đành phải tiến lại, cúi đầu ký tên vào biên bản chia sẻ hạn mức thu mua thực tế để có thể đường đường chính chính gom đủ số măng nương loại một giao cho đợt hàng đầu tiên của chuỗi phân phối.

Cầm tờ thỏa thuận có đầy đủ chữ ký của các bên trong tay, Mai khẽ thở phào một hơi nhẹ nhõm. Đôi vai gầy guộc của cô như vừa trút bỏ được một tảng đá ngàn cân sau những chuỗi ngày dài căng như dây đàn, nơi cô phải quay cuồng giữa những bài toán chi phí vận chuyển, biến động giá cả và áp lực bảo toàn phẩm giá cho hạt nông sản vùng cao.

— Cậu làm tốt lắm, Yến, — Mai khẽ nghiêng đầu sang bạn mình, khóe môi thoáng nở một nụ cười hiếm hoi, trong trẻo giữa bụi bặm chợ phiên. — Tranh của cậu hôm nay không chỉ là nghệ thuật đơn thuần đâu. Nó đã bảo vệ được uy tín và sự thật cho cả cái chợ phiên này đấy.

— Là nhờ có bảng kiểm chứng lao động và sự cứng rắn của cậu đấy chứ, — Yến mỉm cười đáp lại, cẩn thận gấp cuốn sổ ký họa lồng vào túi chống nước trước khi nhét sâu vào ba lô. — Nếu ban nãy không có cậu đứng ra chìa mớ chứng cứ pháp lý và con số thực địa ấy đập vào mặt anh An, chắc tớ đã bị mấy cái lý lẽ đao to búa lớn về doanh thu của anh ta đè bẹp dí từ lâu rồi.

Mai cười trừ, toan cất lời đáp lại thì chiếc điện thoại cục gạch cũ kỹ trong túi áo khoác của cô bỗng rung lên bần bật từng hồi gấp gáp. Nụ cười trên môi Mai chợt tắt lịm. Cô rút máy ra, liếc nhìn dãy số hiển thị trên màn hình đen trắng, gương mặt bỗng chốc biến sắc. Không kịp nói với Yến một lời, Mai vội vã quay mặt đi, bước thoăn thoắt về phía bờ rào đá phủ rêu xanh rì ven mép chợ để bấm nút nghe máy.

Yến đứng sững lại giữa bãi đất, ánh mắt dõi theo bóng lưng gầy guộc của bạn mình. Cô thấy Mai tựa cả nửa thân người vào phiến đá lạnh lẽo, một tay ôm chặt lấy vầng trán đang run rẩy, bờ vai khẽ rung lên theo từng nhịp thở gấp gáp. Giọng nói của Mai nghẹn ngào, ngắt quãng, chìm nghỉm giữa tiếng ầm ĩ của còi xe và tiếng người mặc cả:

— Vâng… mẹ ơi… mẹ ráng uống thuốc đều đặn nhé… Con gom xong chuyến hàng này gửi xe khách trưa nay về cho mối quen rồi… Con… con tính toán xong việc ở trên này rồi sẽ tìm chuyến xe khách sớm nhất để về xuôi chăm sóc mẹ ngay thôi… Mẹ đừng lo tiền nong… con lo được mà…

Trái tim Yến thắt lại một nỗi xót xa tê tái. Nhìn Mai đứng cô độc bên vách đá, Yến thấu hiểu sâu sắc rằng sau chặng dừng chân Mỏ Keng này, gánh nặng gia đình và cơn bạo bệnh đang từng ngày bào mòn sức khỏe của bà Lan đang kéo Mai về lại miền xuôi một cách gấp gáp, đau đớn hơn bao giờ hết. Sự đồng hành bền bỉ, nhịp nhàng suốt bao nẻo đường đèo dốc gập ghềnh của hai người họ bấy lâu nay có lẽ sắp sửa phải đối mặt với một khoảng trống chia cách nghiệt ngã — một sự đứt gãy mà cả hai đều chưa kịp chuẩn bị tâm thế để đón nhận.

Bất chợt, một luồng gió lạnh buốt từ khe núi sâu hoắm thốc mạnh tới, cuốn theo những đám bụi rác và lá khô bay mù mịt khắp mặt đất. Luồng gió thổi tung những mép bạt nhựa xanh đỏ của các quầy hàng xung quanh, giật phần phật trên các thanh giằng sắt phát ra những tiếng kêu ken két rợn người.

Bầu không khí chợ phiên bỗng chốc trở nên đặc quánh lại, nặng nề, oi nồng và ẩm ướt đến mức ngột ngạt khó thở.

Yến giật mình ngẩng đầu nhìn lên. Bầu trời Mỏ Keng mới ban trưa còn hanh hao một chút nắng nhạt bỗng chốc tối sầm lại như có ai vừa trút một mảng mực đen khổng lồ lên vòm trời. Từ phía đỉnh đèo cao vút giáp biên giới, những dải mây dông đen kịt, khổng lồ như những dãy núi đá úp ngược đang cuồn cuộn tràn xuống thung lũng với một tốc độ kinh hoàng. Bóng tối lạnh lẽo nhanh chóng nuốt chửng những triền nương, bao trùm toàn bộ khu chợ trong một sắc xám xịt đến rợn người.

Một tia chớp ngoằn ngoèo xé toạc nền trời mù mịt, kéo theo tiếng sấm rền vang trầm đục dội thẳng xuống mặt hồ Nà Pao phía xa xa, báo trước một trận lũ quét cục bộ hung hãn sắp giáng xuống đại ngàn, đe dọa cắt đứt hoàn toàn tuyến đường đồng hành duy nhất của hai người phụ nữ giữa lưng chừng dốc núi.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn