Hẹn Nhau Ở Phiên Chợ TớiC.8 / 12
Chương 8

Mẻ bánh mới ở phiên Lùng Tủng

Phiên chợ Lùng Tủng họp khiêm nhường dưới bóng những rặng tre già ken dày, nơi hàng hóa không bày trên sạp gỗ cao hay phản ván kê gạch như dưới phố huyện, mà trải đều trên từng tấm chiếu cói ngả màu thời gian, đặt sát sạt xuống nền đất nện ẩm lạnh.

Nắng sớm vùng cao mùa này nhọc nhằn lắm mới lọt qua nổi tầng tầng kẽ lá tre rậm rạp. Những tia sáng mỏng mảnh, vàng vọt rớt xuống mặt đất thành từng đốm tròn loang lổ như những đồng xu cổ bị vùi quên dưới lớp lá mục. Ở cái xóm núi heo hút này, người ta không nghe thấy tiếng còi xe tải gầm rú xé tai, không có tiếng động cơ xe máy chở hàng nổ giòn giã, cũng chẳng có tiếng loa phóng thanh rao hàng lanh lảnh váng vất như dưới bến Nậm Vài hay mạn ngã ba Mỏ Keng. Tiếng người mua kẻ bán ở Lùng Tủng chìm, trầm và nhỏ nhẹ đến lạ lùng. Nó lẫn vào tiếng những thân tre già cọ vào nhau kẽ kẹt theo từng cơn gió núi thốc từ hẻm vực lên, lẫn vào tiếng củi tre nổ lách tách khô khốc từ những chiếc hố đất khoét sâu ngay bên mép lối đi để làm bếp lò dã chiến.

Mùi khói ở Lùng Tủng cũng mang một phong vị khác hẳn khói rơm rạ đồng bằng hay khói than đá nồng nặc phố thị. Đó là thứ khói đượm ngái, khen khét của củ tre khô mục lẫn trong tinh dầu ngai ngái của vỏ nứa tươi, quấn quýt lấy hương thơm ngọt dịu, nồng đượm của nếp nương đồ vừa tới và mùi đậu đỏ ninh nhừ đang sôi lục bục trong chõ. Thứ mùi hương của đời sống lam lũ, mộc mạc mà cồn cào gan ruột, đủ sức đánh thức cái dạ dày lép kẹp của bất cứ kẻ lữ hành nào vừa trải qua một chặng đường rừng dài dằng dặc.

Đỗ Hải Yến quỳ một bên gối trên bờ cỏ khô ven lối mòn dẫn vào lòng chợ, run rẩy mở chiếc cặp vẽ bằng bìa ép cứng đã sờn rách bốn góc. Đầu ngón tay cô tím tái, tê buốt và vẫn còn hơi run rẩy sau một đêm dài co ro vì lạnh tại trạm dừng chân Bản Phủ bên kia đèo Dốc Mù Sương. Cái lạnh thấu xương của vùng núi cao vào cữ cuối năm như ngấm qua lớp áo phao mỏng, găm sâu vào từng khớp xương thịt. Thế nhưng, bao nhiêu mệt mỏi đường trường dường như lập tức tan biến khi đôi mắt mỏi mệt của cô chạm vào khung cảnh nơi góc chiếu mé đông chợ.

Ở đó, bà Triệu Thị Hạnh — một phụ nữ trạc ngũ tuần với gương mặt vuông chữ điền sạm màu sương gió, đuôi mắt chằng chịt những vết chân chim sâu hoắm của người cả đời bám nương bám rẫy — đang ngồi xếp bằng bên bếp lửa khoét ngầm. Mái tóc hoa râm của bà được vấn gọn ghẽ, giấu kỹ sau chiếc khăn chàm viền chỉ đỏ thêu hoa văn hình móc câu truyền thống của người vùng cao. Đôi bàn tay chai sần, ngón tay thô ráp với những khớp xương to bè vì bốc đất bửa củi thoăn thoắt cầm chiếc kẹp tre vót mỏng, lật từng chiếc bánh tròn trịa trắng ngần trên mặt chiếc chõ đất nung đang phả hơi nghi ngút.

Ngồi sát bên cạnh bà là một cô gái trẻ trạc mười chín, đôi mươi. Cô có đôi lông mày rậm đen nhánh, sống mũi thẳng và ánh nhìn kiên định đến bướng bỉnh, toát lên vẻ cứng cỏi của cây cỏ mọc chen giữa kẽ đá tai mèo. Cô mặc chiếc áo phông cộc tay đã giặt đến bạc phếch màu chàm, phủ ngoài bằng chiếc tạp dề may bằng vải thô kẻ sọc lam trắng có hai túi vuông to bản trước bụng. Hai người phụ nữ, một già một trẻ, ngồi lọt thỏm giữa bốn góc của hai tấm chiếu cói dệt tay đã tưa rách mép lòi cả sợi đay. Xung quanh họ, không gian chật chội được vây bọc bởi những nông cụ quen thuộc: ba chiếc thúng tre đựng bột ủ đậy vải màn trắng, hai chiếc nia lớn lót đầy lá dong bánh tẻ xanh mướt đã rửa sạch hong khô, và những cuộn lạt giang chẻ mỏng trắng ngà nằm cuộn tròn bên chiếc ghế gỗ con.

Trái tim người làm mỹ thuật trong lồng ngực Yến khẽ rộn lên từng nhịp đập gấp gáp. Cảnh tượng ấy hiện ra trước mắt cô tĩnh tại, cân đối và hoàn hảo đến mức ngỡ như bước ra từ một tấm bưu thiếp văn hóa dân gian hay một bức ảnh chụp sắp đặt công phu trên các tạp chí du lịch cao cấp dưới xuôi. Một bố cục hình kim tự tháp vững chãi không thể chê vào đâu được: người mẹ già ngồi nghiêng làm bệ đỡ, người con gái cúi đầu kế thừa, bếp lửa đỏ rực làm tâm điểm tỏa sáng, từng nhịp tay nhào bột nặn bánh đan cài nhịp nhàng như một nghi thức truyền thừa linh thiêng qua bao thế hệ. Đây chính là thứ chất liệu "nguyên bản", thứ "hồn cốt dân tộc" mà biên tập viên Vũ Minh An ở tòa soạn luôn ra rả đòi hỏi cô phải tìm kiếm bằng được trong chuyến đi thực địa này để hoàn thiện bộ lịch Tết.

Không chần chừ một giây, Yến vội vã rút thỏi than chì mềm và cây bút sắt ngòi kim từ ống đựng họa cụ. Đặt xấp giấy ép lạnh định lượng ba trăm gam lên mặt bìa cứng, cô tì cùi chỏ lên đầu gối, bắt đầu dựng những nét phác thảo đầu tiên với một sự hào hứng gần như say mê. Ngòi than lướt nhanh trên mặt giấy xốp: bà Hạnh với nét mặt trầm tư, nhân hậu, ánh mắt bao dung dõi theo từng cử chỉ của con gái; cô gái trẻ rủ hàng mi cong, hai bàn tay khum khum đón lấy chiếc bánh nóng hổi bốc khói từ tay mẹ như đón nhận một ngọn lửa nghề bất diệt được trao truyền từ cội nguồn.

Cảm xúc thẩm mỹ dâng trào khiến ngòi bút sắt của Yến thêm phần bay bướm. Phía trên góc trang giấy trắng muốt, cô cẩn thận nắn nót viết từng nét chữ nghiêng hoa mỹ, đặt sẵn hàng tiêu đề dự kiến cho bản thảo tháng Mười Hai chuẩn bị gửi về cho Vũ Minh An: *“Người con gái giữ lửa nghề truyền thống”*.

Yến đắm mình trong thế giới đường nét và bóng đổ, mải miết nhấn đậm vệt khói lam chiều quẩn quanh chân váy chàm, đắc ý với cảm giác mình vừa bắt trọn được một “khoảnh khắc vàng”, một câu chuyện nhân văn đẫm chất thơ để cứu vãn tiến độ dự án đang bị đe dọa.

— Đẹp đấy, nhưng cái thứ lửa trong tranh của chị có nuôi nổi cái bụng đói của người ta qua mùa giáp hạt không thì chưa biết đâu.

Một giọng nói khô khốc, đanh gọn vang lên ngay sát đỉnh đầu khiến Yến giật thót tim. Suýt chút nữa cô đã đánh rơi thỏi than chì xuống lớp cỏ ướt sương.

Cô gái trẻ — Triệu Thanh Vi — đã đứng dậy từ lúc nào, bước tới sau lưng Yến mà bước chân không hề phát ra tiếng động. Vi xách trên tay chiếc rổ tre rỗng thủng đáy để chuẩn bị đi sang góc chợ bên kia lấy thêm lá chuối khô. Cô hơi nghiêng người, đôi mắt sắc lẻm như dao cau quét thẳng qua trang giấy vẽ của Yến. Ánh nhìn của cô gái vùng cao dừng lại thật lâu, xoáy sâu vào dòng chữ tiêu đề hoa mỹ được nắn nót bằng mực đen góc trên cùng.

Gương mặt Vi lập tức đanh lại, đôi gò má ửng đỏ vì lạnh bỗng giật nhẹ. Hai hàng lông mày rậm chau chặt vào nhau, tạo thành một nếp hằn sâu hoắm, đầy vẻ bất mãn nơi vầng trán bướng bỉnh.

— Chị viết cái giống gì thế này? — Vi cất giọng hỏi, âm lượng không hề lớn nhưng gắt gao và sắc lẹm, nghe tựa như tiếng một thanh nứa khô bị bẻ gãy đôi giữa rừng vắng. — “Người con gái giữ lửa nghề truyền thống” á? Chị đã mở mồm ra hỏi em nửa lời nào chưa mà dám tự tiện phong cho em cái danh hão đấy?

Yến sững sờ. Bàn tay đang cầm bút sắt khựng lại giữa thinh không, làm rớt xuống góc trang giấy một chấm mực đen tròn xoe, loang lổ. Cô ngơ ngác ngẩng đầu lên nhìn Vi, lúng túng giải thích bằng giọng nói ngập ngừng của một kẻ vừa bị bắt quả tang đang làm điều gì mờ ám:

— Chị... chị quan sát từ sáng đến giờ, thấy em ngồi phụ mẹ làm bánh khéo quá. Hai mẹ con ngồi cạnh nhau bên bếp lửa phiên chợ sớm thế này, góc nhìn rất đẹp, rất đúng với tinh thần bảo tồn và gìn giữ nét văn hóa ẩm thực bản địa mà bộ lịch cơ quan chị đang hướng tới... Chị chỉ muốn ghi lại nét đẹp...

— Gìn giữ cái gì mà gìn giữ! — Vi thẳng thừng cắt ngang lời Yến, bật ra một tiếng cười khẩy khô khốc đầy vẻ bực bội.

Cô giật mạnh góc chiếc tạp dề kẻ sọc, quay ngoắt người lại, giơ bàn tay dính đầy bụi bột mì trắng xóa chỉ thẳng vào hai chiếc nia tre đặt riêng biệt trên mặt chiếu cói:

— Chị có mắt nhìn của họa sĩ thì nhìn cho nó tinh tường vào! Chị nhìn cho kỹ hai cái nia đằng kia đi. Nia lớn bên tay trái là bánh nếp truyền thống của mẹ em làm ròng rã hơn hai mươi năm nay, một mẻ năm chục chiếc, bán năm nghìn một cái cho mấy bà mấy ông già trong bản ăn sáng lót dạ trước khi lên nương. Còn cái nia tre nhỏ bên tay phải này là mẻ bánh thử nghiệm của riêng em, do chính tay em làm ra! Em phải tự chắt bóp từng đồng tiền bán củi, gom góp cả tháng trời mới đủ tiền ra đại lý ngoài thị trấn mua bột mì số 11 về phối với bột nếp nương xay ướt, giảm bớt đường phèn, thêm men khô tự ủ vào để vỏ bánh nướng lên nó xốp giòn, cắn không bị dính chặt vào răng như bánh nếp thuần. Em phụ mẹ nhóm lửa là để ké một góc chiếu, mượn nhờ cái bếp than đang đỏ, thử xem người đi chợ phiên hôm nay có ai chịu bỏ tiền ra ăn cái vị bánh mới này không!

Yến chớp chớp mắt, đầu óc quay cuồng. Cô vội đưa mắt nhìn theo hướng ngón tay chỉ của Vi. Quả thực, bây giờ nhìn kỹ lại mới thấy, trên hai tấm chiếu cói dệt tay cũ kỹ được phân chia ranh giới vô cùng rạch ròi, dứt khoát.

Chiếc nia lớn của bà Hạnh đan bằng cật tre dày, sẫm màu bồ hóng, đựng những chiếc bánh dày tròn trịa màu trắng ngà mộc mạc, được xâu lại từng đôi một bằng sợi lạt giang mềm mại theo đúng tục lệ xưa nay của bản. Ngược lại hoàn toàn, chiếc nia nhỏ bên cạnh của Vi lại được đan bằng nứa mỏng, trên đó xếp trật tự những chiếc bánh dẹt nhỏ nhắn màu vàng ươm như mật ong, mép bánh được khía đều tăm tắp hình cánh hoa cúc, tỏa ra một mùi thơm ngậy béo pha lẫn chút men rượu dịu nhẹ, hoàn toàn xa lạ với thứ mùi nếp nương thuần túy của chõ bánh bên cạnh.

Vi khoanh chặt hai tay trước ngực, lồng ngực phập phồng dưới lớp áo phông bạc màu. Giọng cô gái trẻ hơi run lên vì một cơn uất ức bị dồn nén từ lâu, nhưng từng lời thốt ra vẫn rành rọt, đanh thép:

— Em cặm cụi nhào nặn cái mẻ bánh này từ bốn giờ sáng không phải để làm duyên cho người ta ngắm. Em làm là để bán, để kiếm cho đủ bốn triệu hai trăm nghìn nộp học phí khóa cắt may dân dụng dưới trường nghề thị trấn vào đầu tháng sau! Em không có ý định cả đời này ngồi chồm hổm ở cái xó chợ Lùng Tủng ẩm ướt này mà bốc bột, hít khói, nặn bánh cho đến khi lưng còng sát đất như mẹ em đâu! Chị đừng có thấy hai người phụ nữ ngồi cạnh nhau rồi tự tiện vẽ hươu vẽ vượn, tô vẽ biến em thành người kế nghiệp gia đình để phục vụ cho mấy cái tranh ảnh lãng mạn, đạo đức giả của các chị dưới xuôi. Em tên là Triệu Thanh Vi, em muốn đi học nghề may, em muốn tự nuôi sống bản thân bằng cái máy khâu, chứ em không có rảnh rỗi mà đi “giữ lửa” thay cho bất kỳ ai hết!

Từng lời, từng chữ của Vi dội thẳng vào tai Yến chẳng khác nào một gáo nước suối mùa đông hắt thẳng vào mặt, lạnh buốt và cay rát.

Mặt Yến nóng bừng lên vì xấu hổ. Cảm giác bẽ bàng, nhục nhã quen thuộc từng ập đến với cô ở thung lũng Pả Lùng khi bị người dệt lanh vạch trần thói trịch thượng, ở đỉnh đèo Sín Mây khi người phơi thảo quả lắc đầu từ chối lời tán tụng sáo rỗng, rồi tại ngôi nhà sàn của bà Lò Thị Sương... tất cả lại đồng loạt trỗi dậy, quặn thắt nơi đáy dạ dày cô. Yến bàng hoàng nhận ra mình lại vừa trượt chân rơi tọt vào cái bẫy cố hữu, êm ái nhưng vô cùng tàn nhẫn của những người làm mỹ thuật thị thành: cô luôn nhìn người lao động vùng cao qua một lăng kính lãng mạn hóa nhuốm màu bảo tồn giả tạo. Cô áp đặt lên đôi vai gầy guộc của họ những sứ mệnh văn hóa vĩ mô, những lý tưởng thiêng liêng cao siêu mà nhẫn tâm phớt lờ hoàn toàn bài toán sinh kế trần trụi và khát vọng tự chủ, quyền được lựa chọn tương lai của chính bản thân họ.

Trần Mai, nãy giờ vẫn đứng tựa lưng vào thân tre già cách đó vài bước chân để lặng lẽ quan sát giá cả các quầy hàng nông sản xung quanh, lúc này mới chậm rãi bước tới. Cô nhìn lướt qua xấp giấy vẽ dang dở của Yến, nhìn chấm mực loang lổ trên trang giấy ép lạnh đắt tiền, rồi chuyển ánh mắt bình thản sang nhìn Vi. Trong mắt Mai không hề có sự ngạc nhiên, càng không có chút phán xét hay chê trách nào; chỉ có một sự điềm tĩnh sâu sắc của một người đã lăn lộn cả chục năm trời qua hàng trăm góc chợ biên viễn, đã thấu suốt từng toan tính nhọc nhằn của những phận người mưu sinh nơi góc rừng.

— Bột mì số 11 mua ở đại lý thị trấn Mỏ Keng hiện giờ là ba mươi nhăm nghìn một cân, — Mai cất giọng đều đều, phá vỡ bầu không khí căng thẳng bằng cách đi thẳng vào thực tế cốt lõi của câu chuyện. — Mẻ bánh này em trộn tỉ lệ bao nhiêu nếp, bao nhiêu mì?

Cơn giận dữ đang bốc hừng hực trên mặt Vi dường như hơi chùng xuống trước câu hỏi bất ngờ nhưng vô cùng chuẩn xác của Mai. Cô gái trẻ liếc nhìn Mai từ đầu đến chân, nhận ra dáng vẻ từng trải, sương gió của người phụ nữ đối diện qua đôi giày vải bộ đội bám đầy bùn đỏ và chiếc túi vải thô đeo chéo vai. Vi ngập ngừng mất vài giây rồi mới đáp, giọng đã bớt đi vẻ gay gắt:

— Ba phần nếp nương xay ướt, một phần bột mì số 11. Nhưng men khô tự ủ phập phù lắm chị ạ. Mấy hôm nay trời trở lạnh đột ngột, nhiệt độ ban đêm hạ sâu quá nên bột nở không đều, lúc mang nướng vỏ bánh bị chai một bên.

Từ phía bếp lò khoét sâu dưới hố đất, bà Triệu Thị Hạnh nãy giờ vẫn cắm cúi làm việc trong im lặng tuyệt đối. Thanh tre trên tay bà lật một chiếc bánh dày nếp nương phát ra tiếng xèo một cái dứt khoát trên mặt chõ đất. Làn khói ngột ngạt từ củ tre khô bốc lên nghi ngút, phả thẳng vào gương mặt khắc khổ, đen sạm vì nắng gió của người mẹ.

Bà Hạnh cẩn thận gắp chiếc bánh đã chín vàng ruộm đặt sang chiếc sọt tre lót sẵn lá chuối tươi, đoạn mới chậm rãi ngước đôi mắt đùng đục nhìn con gái. Giọng bà trầm đục, khàn khàn nhưng từng âm tiết phát ra lại rành rọt, lạnh lùng tựa như tiếng đếm những đồng tiền xu trên mặt bàn gỗ:

— Tôi đã bảo với chị bao nhiêu lần rồi, bớt cái thói đứng cãi cọ tay đôi với khách đi. Muốn người ta không nói sai về mình thì cái tay mình phải làm cho ra tấm ra miếng trước đã. Cái mẻ bánh sáng nay của chị, bột nhào chưa tới tầm, nước còn non, lúc nướng lên mặt bánh nó nứt toác ra ba cái nằm chình ình ở góc nia kia kìa!

Bà Hạnh giơ đầu thanh tre chỉ thẳng vào chiếc nia nhỏ của Vi, tiếp tục buông ra những lời răn dạy nghiêm khắc, không hề có nửa phần dung túng:

— Tiền một bao củi tre khô gánh từ trên đồi sau nhà về đây là mười lăm nghìn đồng. Tiền dầu hỏa mua ở quán tạp hóa để nhóm lò từ sáng sớm là năm nghìn đồng. Chị dùng ké lửa của tôi từ bốn giờ sáng đến tận bây giờ, tí nữa tan phiên chợ chị phải tự giác trừ hai mươi nghìn tiền củi lửa đưa lại cho tôi, cấm có được quên. Bột nếp nương là chị sang mua chịu của thím Mùa hai cân hôm kia, chiều nay bán xong phải mang đủ tiền sang bên ấy mà trả dứt điểm cho người ta. Tôi không cấm chị đi học cái trường nghề may vá dưới huyện, chân chị mọc trên thân chị, chị muốn đi đâu là quyền của chị, nhưng một khi đã bước chân ra cái góc chợ Lùng Tủng này thì mẻ nào phải ra mẻ nấy, lỗ hay lãi chị phải tự đứng ra mà hạch toán cho sòng phẳng. Đừng có bao giờ nghĩ mẹ con ngồi chung một tấm chiếu rồi nhập nhèm chi phí với nhau!

Vi cúi gằm mặt xuống, hai gò má đỏ ửng vì xấu hổ xen lẫn ấm ức. Mười đầu ngón tay cô bấu chặt lấy mép chiếc tạp dề vải thô kẻ sọc, đôi vai khẽ run bần bật:

— Con biết rồi. Lát nữa chợ vãn con khắc tự tính sổ trả mẹ, không thiếu một xu nào của mẹ đâu.

Bà Hạnh không nói thêm lời nào nữa, lại cúi đầu xuống tiếp tục cời than, chỉnh lại mấy thanh củi tre trong lòng đất. Thế nhưng, Yến đứng cạnh đó đã tinh ý nhận ra một chi tiết nhỏ: khi nhấc chiếc bánh nếp nướng thử nghiệm của con gái ra khỏi mặt chõ nóng rực, bàn tay thô ráp, nứt nẻ của bà mẹ lại cẩn thận, gượng nhẹ hơn hẳn. Bà không ném vội vàng như mẻ bánh thường ngày mà nhẹ nhàng đặt chiếc bánh vào chỗ khô ráo, sạch sẽ nhất trên mặt chiếc nia tre nhỏ.

Và ở góc tối dưới gầm thúng bột của bà, Yến thoáng thấy một chiếc túi vải hoa nhỏ xíu, miệng túi được thắt nút bằng sợi dây dù chắc chắn giấu kín đáo sau nẹp tre — dấu vết quen thuộc của những đồng tiền lẻ gom góp mồ hôi nước mắt qua từng phiên chợ ròng rã suốt mấy mươi năm. Người mẹ vùng cao ấy chưa từng mở miệng nói một lời êm ái, cũng chẳng hề lên tiếng ủng hộ ước mơ rời bản đi học may của đứa con gái bướng bỉnh, nhưng bà đang dạy con bài học tàn khốc, tỉnh táo và thiết thực nhất của cuộc đời: không có một ước mơ nào có thể đứng vững trên đôi chân của nó nếu không bắt đầu từ sự sòng phẳng của đồng tiền và tinh thần trách nhiệm với từng que củi nhóm lò.

Vi quay lại, ngồi sụp xuống mép chiếu cói. Cô thọc tay vào túi tạp dề, rút ra một cuốn sổ tay học sinh đã quăn queo bốn góc, giấy ố vàng khè, bìa ngoài được bọc cẩn thận bằng một tờ giấy báo cũ. Cầm mẩu bút chì cùn ngắn ngủn chỉ bằng đốt ngón tay trỏ, cô bắt đầu cắm cúi ghi chép những con số lộn xộn, nghễu nghện trên trang giấy kẻ ô li: *“Nếp 2kg = 60k; Bột mì 11 = 18k; Củi lửa trả mẹ = 20k; Đã bán được 8 cái = 40k...”*

Bầu không khí quanh góc chiếu tre đang chùng hẳn xuống trong nỗi nhọc nhằn, trĩu nặng của bài toán cơm áo gạo tiền thì một bóng người dong dỏng cao, bước đi vội vã cắt ngang qua làn khói bếp bảng lảng.

— Ồ, góc này thơm lừng thế nhỉ! Có mẻ bánh gì mới lạ mắt thế này hả em gái?

Nguyễn Quang Huy xuất hiện. Anh ta khoác trên mình chiếc áo gió leo núi chuyên dụng đắt tiền màu cam rực rỡ nổi bật giữa phiên chợ nghèo, chiếc máy ảnh kỹ thuật số ống kính khủng đeo lủng lẳng trước ngực, trên tay kẹp một cuốn sổ bìa da dập chìm logo của một chuỗi homestay nghỉ dưỡng sinh thái dưới thị trấn. Huy đảo mắt nhìn quanh góc chiếu, nhận ra Mai và Yến ngay tức khắc. Anh ta khẽ nhếch mép, gật đầu chào một cách xã giao rồi quay ngoắt sự chú ý sang chiếc nia nhỏ của Vi. Ánh mắt người làm thị trường sắc sảo của Huy lập tức sáng rực lên vẻ nhạy bén của một kẻ vừa đánh hơi thấy món mồi ngon.

— Nhìn hay phết đấy chứ! Vỏ nướng xốp, màu vàng cánh gián rất bắt mắt. Vị thế nào em?

Không đợi Vi kịp mở lời mời hay ngăn cản, Huy thò những ngón tay sạch sẽ, trắng trẻo nhặt ngay một chiếc bánh thử nghiệm trên nia của cô, thản nhiên bẻ đôi ra. Làn khói mỏng bốc lên ngào ngạt, ruột bánh nở xốp xơ xốp xác, thơm ngậy mùi nếp nương quyện với hương men rượu mới lạ. Huy cắn một miếng lớn, nhai chậm rãi rồi gật gù tán thưởng ra mặt:

— Được đấy! Khá lắm cô bé. Cái vị bùi ngậy nguyên bản của nếp vùng cao kết hợp với cấu trúc xốp nhẹ của bánh nướng phương Tây. Rất hợp gu giới trẻ sành điệu và khách du lịch thành phố thích trải nghiệm ẩm thực đương đại mang âm hưởng bản địa. Em gái này, anh nói nhanh cho vuông nhé. Anh hiện đang bao tiêu nguồn đồ ăn tráng miệng cho chuỗi ba quán cà phê không gian mở cao cấp dưới thị trấn Mỏ Keng. Anh muốn bao tiêu mua đứt toàn bộ mẻ bánh mới này của em hôm nay, và ký luôn một hợp đồng lấy đều đặn mỗi tuần năm mươi cái. Giá mười nghìn một chiếc, gấp đôi cái giá bèo bọt năm nghìn em đang bán lẻ ở cái xó chợ huyện này. Thấy sao?

Đôi mắt Vi khẽ chớp giật liên hồi. Con số mười nghìn đồng một chiếc bánh vang lên như một tiếng chuông reo trong đầu cô gái trẻ. Khoản nợ hai mươi nghìn tiền củi lửa của mẹ, sáu mươi nghìn tiền nợ nếp của thím Mùa và món học phí khổng lồ bốn triệu hai trăm nghìn đang đè nặng lên từng trang sổ tay khiến lồng ngực Vi thắt lại. Cô gái không khỏi dao động trước một món hời quá đỗi bất ngờ từ trên trời rơi xuống.

Thế nhưng, nụ cười trên môi Huy bỗng trở nên ma mãnh hơn. Anh ta ghé sát lại gần mép chiếu, hạ thấp giọng xuống một tông đầy vẻ bí hiểm, đồng thời rút chiếc điện thoại thông minh đời mới trong túi quần ra:

— Nhưng anh chỉ có một điều kiện nhỏ xíu đi kèm thôi, rất đơn giản. Em phải chịu khó mặc bộ trang phục dân tộc thổ cẩm đầy đủ của mẹ em, đeo kiềng bạc, đứng cạnh cái chõ đất nung bốc khói này để anh chụp một bộ ảnh tư liệu quảng bá độc quyền. Mang về dưới các quán cà phê, anh sẽ cho đóng gói từng chiếc bánh vào hộp giấy kraft thắt dây đay mộc mạc, dán nhãn thương hiệu: *“Bánh nướng ngô nếp cổ truyền ba đời lưu truyền dòng họ Triệu”*. Khách thành phố người ta cần cái câu chuyện nguồn gốc cổ truyền ba đời ấy để sẵn sàng móc ví trả giá cao. Em có tiền tươi nộp học phí, quán của anh có một câu chuyện văn hóa thật xúc động để bán hàng. Đôi bên cùng có lợi, quá đẹp còn gì?

Bà Hạnh bên bếp lò đột ngột dừng hẳn tay kẹp bánh. Đôi mắt già nua nheo lại, nhìn chằm chằm vào từng cử chỉ của Huy qua làn khói xám. Thế nhưng bà không hề hé răng nửa lời, vẫn giữ vẻ mặt lạnh như đá tảng, để mặc cho đứa con gái tự mình đối diện với ngã rẽ.

Mai đứng bên cạnh khoanh tay trước ngực, đôi môi mỏng mím chặt thành một đường thẳng tắp, ánh mắt sắc bén như dao cạo dõi theo từng biến chuyển tâm lý trên gương mặt Vi.

Vi nhìn chằm chằm vào nửa chiếc bánh nướng còn lại trên tay Huy. Rồi cô nhìn xuống đôi bàn tay thô ráp, lem luốc bột mì số 11 và vệt than củi của chính mình. Cô cúi xuống nhìn những con số hạch toán chi phí non nớt, nguệch ngoạc trên trang giấy kẻ ô li của cuốn sổ bọc giấy báo.

Vài giây im lặng trôi qua nặng nề, ngột ngạt tựa như cả phiên chợ Lùng Tủng bỗng chốc nín thở.

Bất thình lình, Vi ngẩng phắt đầu lên. Đôi mắt đen láy nhìn thẳng vào nụ cười tự tin, trịch thượng của người đàn ông thành phố. Giọng cô gái vang lên, đanh thép, dứt khoát và lạnh tanh:

— Không bán.

Huy sững người, nụ cười trên khóe môi anh ta đông cứng lại trong chốc lát:

— Em nói cái gì cơ? Mười nghìn một cái đấy em gái! Em có biết tính toán không đấy? Ở cái chợ Lùng Tủng nghèo kiết xác này, cả đời em kiếm đâu ra người mua cho em với cái giá hời thế này?

— Tôi bảo là tôi KHÔNG BÁN, — Vi gằn từng tiếng một cách rành rọt.

Cô vươn tay giật phắt nửa chiếc bánh còn lại trên tay Huy, không chút ngần ngại vứt thẳng vào chiếc sọt tre đựng phế phẩm dưới chân:

— Đây là bánh bột mì pha nếp do chính tôi tự bỏ tiền mua nguyên liệu về mày mò cải biên từ tuần trước. Chẳng có dòng họ Triệu ba đời nào ở đây hết! Mẹ tôi làm bánh nếp nương truyền thống cả đời bán năm nghìn một cái để nuôi tôi khôn lớn bằng hạt gạo thật thà, tôi không bao giờ đem cái thứ công thức nửa mùa đang thử nghiệm này của mình đi mạo danh nghề của mẹ để lừa dối người ta lấy tiền. Anh muốn tìm bánh ba đời, muốn mua mấy cái chuyện thần thánh bịa đặt thì xách máy ảnh sang quầy khác mà mua!

Gương mặt Huy xám ngoét lại vì giận dữ và bẽ bàng trước sự chứng kiến của những người dân tộc đi chợ bắt đầu tò mò xúm lại chỉ trỏ. Bị một con bé nhà quê thẳng thừng từ chối và bóc mẽ ngay giữa chốn đông người, anh ta hậm hực phủi mạnh hai bàn tay dính chút bụi bánh, liếc xéo sang phía Yến và Mai bằng ánh mắt hằn học:

— Đúng là cái đồ nhà quê gàn dở, bảo thủ, không biết nắm bắt cơ hội thương mại! Thị trường thành phố người ta không rảnh rỗi và kiên nhẫn để đón nhận những thứ hàng hóa trần trụi, thiếu bao bì nhãn mác bắt mắt đâu! Cứ ôm lấy cái mớ bánh nứt toác, nửa nọ nửa kia ấy mà mơ mộng gom tiền đi học nghề!

Ném lại một tràng càu nhàu cay độc, Huy quay ngoắt gót giầy, sải bước giận dữ bỏ đi thẳng về phía khu bày bán thổ cẩm trung tâm chợ.

Đám đông tò mò tản dần. Góc chiếu tre dưới rặng tre già trở lại với vẻ tĩnh lặng thường nhật của nó. Vi ngồi thụp xuống chiếc ghế gỗ con, hai bả vai khẽ run rẩy theo từng nhịp thở dốc dồn dập. Cô cắn chặt môi dưới đến bật máu để cố ngăn không cho những giọt nước mắt tủi thân trào ra khỏi khóe mi. Việc thẳng thừng từ chối một món tiền lớn, một cơ hội đổi đời trước mắt khi trong túi chỉ còn vỏn vẹn mấy chục nghìn bạc lẻ quả thực là một quyết định tàn nhẫn, đau đớn đối với một cô gái trẻ đang khao khát thoát ly khỏi bờ rào nương rẫy để tìm một con đường sống độc lập.

Đúng lúc ấy, chiếc điện thoại thông minh nằm sâu trong túi áo khoác của Yến bỗng rung lên từng hồi bần bật, báo hiệu có thư điện tử mới vừa được tải về khi bắt được chút sóng viễn thông chập chờn.

Yến máy móc rút điện thoại ra. Tên người gửi hiện rõ trên màn hình: Vũ Minh An.

Những dòng chữ hiển thị ngắn gọn, lạnh lùng và sắc bén chẳng khác nào những nhát kéo cắt giấy nơi bàn biên tập:

> *“Gửi Yến,* > *Đề xuất xin cấp bổ sung kinh phí xác minh thực địa và chi phí hỗ trợ cộng tác viên địa phương tại các điểm chợ phiên vòng hai đã bị Ban Giám đốc bác bỏ hoàn toàn trong cuộc họp giao ban sáng nay. Dự án chỉ giải ngân kinh phí đợt hai theo đúng tiến độ giao nộp market hoàn chỉnh đã cam kết trong điều khoản hợp đồng ban đầu.* > *Yêu cầu cô tập trung tối đa vào tính thẩm mỹ thị giác và các câu chuyện văn hóa có sức hút truyền thông mạnh mẽ (như motif gia đình truyền nghề qua nhiều thế hệ, vẻ đẹp lam lũ mà thánh thiện của phụ nữ vùng cao). Cắt bỏ toàn bộ các ghi chú rườm rà, thực tế vụn vặt về mùa vụ, chi phí nguyên liệu hay đời sống cá nhân không cần thiết. Đừng để mấy thứ tiểu tiết vụn vặt đó làm chậm tiến độ in ấn mùa Tết của toàn cơ quan.”*

Yến đứng chết lặng giữa làn khói bếp Lùng Tủng đang cay xè nơi khóe mắt.

Đề xuất xin kinh phí thực địa đã bị bác bỏ. Điều đó đồng nghĩa với việc cô sẽ không có thêm một đồng xu cắc bạc nào để trang trải cho những ngày khảo sát tiếp theo dọc triền sông Chảy. Cô không có tiền để trả thù lao hỗ trợ dẫn đường cho Mai theo như thỏa thuận mới giữa hai người, và khoản tiền túi cá nhân của cô thì chỉ còn vỏn vẹn chưa đầy bốn trăm nghìn đồng sau khi đã chi trả tiền xăng xe, tiền cơm quán dọc đường và khoản nợ lưu kho sấy nấm đắng đót ở Nậm Vài hôm trước.

Áp lực cơm áo, áp lực tồn sinh như một tảng đá ngàn cân lại một lần nữa đè trĩu xuống lồng ngực người phụ nữ ba mươi mốt tuổi. Một ý nghĩ đen tối, thực dụng thoáng lướt qua tâm trí cô: cô hoàn toàn có thể nhắm mắt làm ngơ trước sự thật trần trụi này. Cô chỉ cần giữ nguyên bức vẽ lãng mạn *“Người con gái giữ lửa nghề truyền thống”* đang dang dở trên tay, tô thêm vài mảng màu nước ấm áp, viết vài dòng chú thích bay bổng đầy tính nhân văn giả hiệu để gửi về nộp cho An. Cô sẽ nhận được sự tán thưởng êm thấm từ tòa soạn, nhận được tiền giải ngân đúng hẹn để trả nợ và tiếp tục cuộc hành trình một cách an toàn.

Yến cúi đầu nhìn xuống cuốn sổ ký họa trên tay mình.

Trên mặt giấy xốp ba trăm gam đắt tiền, bức tranh vẽ Vi cúi đầu cung kính đón nhận chiếc bánh nếp gia truyền từ tay mẹ hiện lên sao mà trơ trẽn, giả tạo và tàn nhẫn đến ghê tợn! Bức tranh ấy đã xóa sạch sành sanh mọi nỗi nhọc nhằn, vật lộn kiên cường của Vi. Nó xóa sạch mẻ bột mì số 11 mua chịu ngoài thị trấn, xóa sạch món nợ củi than hai mươi nghìn của người mẹ khắt khe, xóa sạch giấc mơ bốn triệu hai trăm nghìn để được ngồi trước chiếc máy khâu, và biến một con người bằng xương bằng thịt đầy khát vọng tự chủ thành một thứ búp bê gốm vô hồn, một món đồ trang trí văn hóa rẻ tiền phục vụ cho thị hiếu tiêu thụ thẩm mỹ của người thành phố.

Một cảm giác nghẹn ứ, căm phẫn với chính bản thân mình dâng lên trong cổ họng Yến. Cô hít một hơi thật sâu, luồng không khí núi rừng lạnh buốt tràn vào buồng phổi làm tâm trí cô bỗng chốc tỉnh táo đến lạ lùng.

Yến đưa hai bàn tay lên, nắm chặt lấy mép trên của tờ giấy vẽ ép lạnh. Bằng một động tác dứt khoát, không một chút do dự, cô xé toạc bức vẽ ra khỏi gáy sổ bìa da.

*Xoẹtttt!*

Tiếng giấy dày bị xé rách vang lên giòn tan, dứt khoát giữa không gian im ắng của góc chợ. Yến gấp đôi tờ giấy vẽ sáo rỗng lại, nhét sâu vào đáy túi áo khoác của mình.

Sau đó, cô chậm rãi bước tới mép tấm chiếu cói của hai mẹ con bà Hạnh, quỳ xuống một cách trang trọng và khiêm nhường. Yến mở chiếc ví da con, rút ra hai tờ tiền polyme mệnh giá năm mươi nghìn đồng — chiếm trọn một phần tư số tiền cá nhân ít ỏi còn lại của cô — cẩn thận đặt phẳng phiu lên góc chiếc nia tre nhỏ của Vi.

— Em Vi này, — Yến mở lời, giọng cô chân thành, ấm áp và mộc mạc, không còn vương một chút bóng bẩy hay trịch thượng nào của một kẻ săn tìm hình ảnh từ đồng bằng lên. — Chị muốn mua mười chiếc bánh nướng thử nghiệm này của em. Với giá mười nghìn một chiếc. Không phải vì câu chuyện ba đời hay di sản gì cả, mà vì chị thực sự muốn nếm thử hương vị của công thức mới do chính tay em nghĩ ra để kiếm tiền đi học nghề may.

Vi ngẩng phắt đầu lên, đôi mắt đen láy mở to nhìn hai tờ tiền năm mươi nghìn rồi nhìn thẳng vào mắt Yến, ánh nhìn vẫn còn vương lại chút nghi ngại, đề phòng:

— Chị... chị lại định chụp ảnh em rồi đăng lên báo để kể chuyện vượt khó câu view à?

— Không, chị không làm thế, — Yến mỉm cười nhẹ, lắc đầu dứt khoát.

Cô lật sang một trang giấy trắng tinh mới tinh trong cuốn sổ vẽ, đặt cây bút sắt xuống ngay ngắn cạnh mép nia tre:

— Chị sẽ vẽ lại từ đầu, vẽ một bức tranh hoàn toàn khác. Chị sẽ vẽ em đang cầm bút ghi sổ tính toán nguyên liệu bên góc chiếu này. Và chị sẽ viết một đoạn chú thích thật tỉ mỉ, thật chính xác về mẻ bánh của em: nguyên liệu em phối trộn thế nào, giá thành ra sao, và mục tiêu em bán nó là để dành tiền đi học may dưới thị trấn. Viết xong, chị sẽ đưa cho em và mẹ duyệt từng chữ một. Nếu em hay mẹ không đồng ý dù chỉ một từ, chị tuyệt đối sẽ không gửi bức vẽ này về tòa soạn. Chị cam đoan với em.

Vi nhìn chăm chú vào đôi mắt của Yến, cố tìm kiếm một nét gượng gạo hay dối trá nào đó. Nhưng trong đáy mắt người họa sĩ lúc này chỉ có một sự tĩnh lặng, tôn trọng và một nỗi thấu cảm sâu sắc nỗi chật vật của những con người đang phải tự mình xoay xở để cứu lấy cuộc đời mình.

Bà Hạnh bên bếp lò khẽ hắng giọng một tiếng, đưa mắt nhìn hai tờ tiền trên nia rồi gật đầu nhẹ với con gái:

— Người ta hỏi mua thật lòng, trả tiền sòng phẳng thì bán đi. Nhớ gói bằng hai lớp lá chuối khô đã hơ lửa cho khỏi dính bánh.

Vi cắn nhẹ môi, khẽ gật đầu. Cô cẩn thận dùng chiếc kẹp tre gắp mười chiếc bánh nướng vàng ruộm, xếp ngay ngắn vào giữa hai lớp lá chuối khô đã được hơ qua lửa cho mềm dai. Bằng những động tác khéo léo, cô gói chiếc bánh vuông vắn, dùng một sợi lạt giang mềm buộc chéo hình chữ thập thật chặt rồi hai tay trao bọc bánh nóng hổi cho Yến:

— Tiền này... em xin nhận. Em cảm ơn chị.

Yến đón lấy bọc bánh thơm nức, chia cho Mai năm chiếc, còn mình cầm một chiếc cắn thử một miếng lớn. Vị ngọt thanh của bột nếp nương xay ướt quyện chặt lấy độ giòn xốp của bột mì số 11 nở men, phảng phất chút cay the dịu nhẹ của vỏ quýt rừng phơi khô mà Vi đã khéo léo băm nhỏ trộn lẫn vào nhân đậu đỏ bùi ngậy. Một chiếc bánh chưa thực sự hoàn hảo — vài chỗ rìa bánh vẫn còn hơi chai sượng do nhiệt độ lò than khoét đất phân bổ không đều — nhưng nó mang trọn vẹn sức sống nguyên sơ, trung thực và kiên cường của một khởi đầu tự lập.

Trần Mai bước tới, ngồi thụp xuống chiếc đòn gỗ bên cạnh Vi. Cô tự nhiên với tay cầm lấy cuốn sổ tay học sinh bìa bọc giấy báo cũ của cô gái trẻ.

— Đưa đây chị xem cái cách em tính giá thành nào, — Mai nói, giọng rành rọt, khúc chiết như một kế toán viên thực thụ.

Vi ngập ngừng mất một nhịp rồi ngoan ngoãn đưa cuốn sổ và mẩu bút chì cùn cho Mai. Mai lật trang giấy ố vàng, cầm bút bi gạch chân dưới những hàng số nguệch ngoạc:

— Em tính toán thế này là sót hết toàn bộ chi phí ẩn rồi, hèn chi cặm cụi làm mãi mà thấy tiền cứ hao hụt đi đâu mất. Hai cân nếp sáu mươi nghìn, bột mì mười tám nghìn, củi lửa trả mẹ hai mươi nghìn — đấy mới chỉ là chi phí trực tiếp bề nổi thôi. Còn công em ngồi đãi gạo, ngâm nếp, còng lưng xay bột ướt suốt nửa ngày hôm qua đâu? Tiền hao hụt bột dính cối đá, dính chậu nhôm? Tiền lá chuối, tiền lạt giang em đi cắt bên suối? Nếu em không chịu tính giá trị công lao động của chính bản thân mình vào giá vốn sản phẩm, thì với cái giá năm nghìn một chiếc này, em đang bán rẻ mạt sức lao động của mình, đang bán lỗ công đấy, em có hiểu không?

Vi mở to mắt lắng nghe, chăm chú như một đứa trẻ lần đầu tiên được nghe giảng bài học vỡ lòng:

— Nhưng... nếu tính cả tiền công của em vào thì giá một chiếc bánh đội lên tận bảy, tám nghìn đồng. Ở cái chợ Lùng Tủng này người ta quen ăn bánh năm nghìn rồi, đắt thế người ta chê, người ta quay lưng đi mua bánh khác ngay chị ạ.

— Cho nên em buộc phải tối ưu hóa quy trình sản xuất, — Mai dùng đầu bút bi gõ nhẹ lên từng dòng số. — Thứ nhất, bột nếp nương em tuyệt đối không được đi mua chịu lẻ từng cân một với giá cắt cổ ba mươi nghìn ngoài quán. Em phải chịu khó gom tiền, mua cả yến nếp nương vụ cũ của những nhà quen trên bản cao, giá lúc ấy chỉ khoảng hai mươi mốt, hai mươi hai nghìn một cân thôi. Thứ hai, men khô tự ủ của em phải cho vào thùng xốp lót trấu khô đậy kín để giữ nhiệt độ ổn định, làm thế thời gian ủ bột sẽ rút ngắn từ sáu tiếng xuống còn ba tiếng rưỡi, đỡ hẳn một nửa tiền củi than ủ lò ban đêm. Đây, chị kẻ lại cái bảng hạch toán này cho em: cột thứ nhất là nguyên liệu thô, cột thứ hai là nhiên liệu đốt, cột thứ ba là khấu hao công cụ, và cột thứ tư là giá thành tối thiểu để hòa vốn. Cứ bám chặt vào cái bảng này mà tính toán, mẻ nào làm ra em cũng phải biết chắc chắn trong đầu mình thu về được bao nhiêu đồng tiền công xứng đáng.

Vi chăm chú dõi theo từng nét kẻ sắc sảo, thẳng tắp bằng mực xanh của Mai trên trang giấy ố vàng. Đôi mắt đen láy của cô gái vùng cao sáng rực lên một niềm tin mới mẻ, vững chãi. Giờ đây, cô không còn cảm thấy đơn độc, mù mịt giữa một rừng những con số tính toán cơm áo gạo tiền nữa.

Ngập ngừng một lát, Vi ngước mắt nhìn Mai, giọng cô rụt rè nhưng ánh lên tia hy vọng tha thiết:

— Chị Mai... em thấy chị hiểu biết nhiều, lại đi nhiều chợ đầu mối, quen biết các mối buôn nông sản lớn dưới xuôi. Chị... chị có thể đứng ra bao tiêu giúp em mẻ bánh này mỗi tuần được không chị? Em hứa sẽ làm thật chuẩn công thức, thật sạch sẽ theo đúng cái bảng chi phí chị vừa tính giúp em...

Mai dừng bút, ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào mắt Vi. Cô không hề né tránh hay ngập ngừng, nhưng câu trả lời đưa ra lại lạnh lùng và dứt khoát hệt như tính cách thường ngày của cô:

— Không, chị không bao tiêu cho em được.

Vi thoáng hụt hẫng, đôi bờ vai khẽ chùng xuống, hai bàn tay rụt lại bên mép tạp dề.

Mai chậm rãi gấp cuốn sổ lại, giải thích bằng chất giọng thực tế đến mức trần trụi nhưng chan chứa một sự chịu trách nhiệm sâu sắc:

— Bánh nướng pha nếp này của em chỉ thực sự ngon khi người ta ăn nóng tại chỗ bên bếp than trong vòng bốn đến sáu tiếng sau khi ra lò. Nếu đóng gói mang lên xe khách, vượt qua mấy chặng đường xóc đèo Mù Sương để chở về xuôi hay xuống thị trấn, hơi ẩm đọng lại trong bao bì sẽ làm vỏ bánh ỉu xìu, ruột bánh bị lại gạo, cắn vào sượng trơ như một cục bột sống. Chị mà hứa bao tiêu sản phẩm cho em lúc này là chị đang nói dối để cho em mừng hão, để em ôm mộng ảo tưởng rồi cuối cùng ôm một đống hàng hỏng. Em muốn kiếm đủ bốn triệu hai trăm nghìn nộp học phí may thì trước hết phải tập trung làm cho thật ngon, bán thật tốt ngay tại các phiên chợ quanh cụm ba xã này đã, nơi người ta có nhu cầu ăn bánh nóng hổi bên bếp lửa mùa đông. Chị không mua bánh cho em, nhưng chị dạy em cách giữ lấy từng đồng vốn để không bị lỗ, không bị người ta lừa gạt. Đấy là thứ duy nhất chị có thể giúp em lúc này.

Vi lặng người đi trong vài giây dài, rồi cô gái khẽ gật đầu thật mạnh, ánh mắt ánh lên sự kiên nghị:

— Vâng. Em hiểu rồi. Em cảm ơn chị Mai nhiều lắm.

Trong lúc Mai và Vi đang trao đổi về những con số, Yến đã ngồi nép vào một góc khô ráo bên cạnh gốc tre già, mở trang giấy mới và cắm cúi vẽ.

Lần này, đầu ngọn bút sắt của cô lướt đi không còn chút ngập ngừng, giả tạo. Không còn bóng dáng của một nghi thức truyền thừa thần thánh viển vông, không còn ánh mắt kính cẩn nhuốm màu phục tùng sáo rỗng. Trên mặt giấy trắng của Yến, hiện thực đời sống hiện lên sống động, góc cạnh và đầy phẩm giá:

Vi đang ngồi thu mình trên chiếc ghế gỗ con mộc mạc, một tay cầm mẩu bút chì cùn cắm cúi nhìn vào cuốn sổ tay học sinh kẻ bảng tính toán chi phí, sống mũi thẳng và ánh mắt kiên định nhìn thẳng về phía trước. Bên cạnh cô, bà Triệu Thị Hạnh đang cầm chiếc kẹp tre tỉ mỉ kiểm tra từng mẻ bánh chín trên mặt chõ đất nung, gương mặt nghiêm nghị, sắc lạnh, nhưng chiếc sọt tre lót lá chuối của bà luôn được đặt nghiêng sát bên nia bánh của con gái để che chắn những cơn gió thốc lạnh buốt từ khe núi thổi vào. Trên mặt chiếu, chiếc thau nhôm cũ đựng bột ủ, những cuộn lạt giang trắng ngà và bao củi tre khô gánh từ đồi về được khắc họa chân thực đến từng vết nứt nẻ của thớ gỗ, từng vệt muội than đen nhẻm bám dưới đáy nồi.

Phía dưới bức vẽ, Yến nắn nót viết phần ghi chú bằng nét mực kim sắc sảo:

> *“Phiên chợ Lùng Tủng — Bánh nếp cải biên của Triệu Thanh Vi.* > *Công thức thử nghiệm: Ba phần nếp nương xay ướt, một phần bột mì số 11, men khô tự ủ, nhân đậu đỏ vỏ quýt rừng. Nướng trực tiếp trên chõ đất nung bằng củi tre khô.* > *Người thực hiện: Triệu Thanh Vi (20 tuổi), tự hạch toán chi phí nguyên liệu và phụ mẹ bán bánh tại chợ phiên để tích lũy học phí theo học khóa may dân dụng tại trường nghề thị trấn. Không phải sản phẩm truyền thống kế nghiệp gia đình.”*

Viết xong dòng chữ cuối cùng, Yến trân trọng cầm bức vẽ và đoạn ghi chú bước lại mép chiếu, đưa tận tay cho hai mẹ con.

Vi đón lấy tờ giấy vẽ dày, cúi đầu đọc từng chữ một. Cô gái trẻ đọc rất chậm, ngón tay thô ráp dính bụi bột mì lướt chầm chậm qua từng dòng chữ mô tả công thức và mục tiêu đi học nghề may của mình. Khi ngón tay dừng lại ở dòng chữ cuối cùng, khóe môi Vi khẽ cong lên thành một nụ cười rạng rỡ — nụ cười hồn nhiên, tươi sáng đầu tiên của cô gái vùng cao kể từ lúc trời còn tờ mờ sáng tới giờ.

— Chị viết thế này... đúng hết rồi chị ạ, — Vi ngẩng đầu lên, ánh mắt lấp lánh nhìn Yến đầy thiện cảm. — Đúng là chuyện của em rồi.

Bà Hạnh cũng nghiêng người, nghé mắt nhìn vào bức vẽ trên tay con gái. Người mẹ vùng cao cả đời không biết nhiều mặt chữ, nhưng bà nhìn thấy rõ chiếc chõ đất nung quen thuộc của mình, thấy bao củi tre khô hai mươi nghìn đồng, và thấy dáng vẻ con gái ngồi tính toán chi phí một cách độc lập bên trang sổ học sinh. Bà khẽ gật đầu một cái thật nhẹ, đưa bàn tay thô ráp xoa nhẹ lên bờ vai áo phông bạc màu của Vi:

— Vẽ cái bếp lò khoét đất giống thật đấy. Được rồi, cho cô ấy giữ bức tranh ấy đi.

Nắng trưa bắt đầu xuyên qua những ngọn tre già rọi thẳng xuống lòng chợ Lùng Tủng. Chợ phiên bắt đầu vãn người, tiếng người mua kẻ bán thưa thớt dần, than củi trong chiếc hố đất lịm đi thành những đốm tro xám âm ỉ. Vi dọn sạch bong chiếc nia bánh thử nghiệm của mình — mười chiếc bán cho Yến, và sáu chiếc bán lẻ cho những người cùng bản đi chợ tò mò nếm thử vị men mới lạ.

Cô cẩn thận ngồi đếm từng đồng tiền lẻ, vuốt cho phẳng phiu từng nếp gấp rồi rút ra đúng hai mươi nghìn đồng đưa tận tay cho mẹ để trả tiền củi lửa. Nhìn gương mặt ngời lên vẻ tự hào, tự chủ của Vi khi tự mình làm ra những đồng tiền chân chính, lòng Yến bỗng dâng lên một niềm xúc động khó tả.

Yến cẩn thận cất cuốn sổ vẽ vào trong balo, trong lòng bỗng thấy nhẹ nhõm, thanh thản một cách kỳ lạ dù cho lúc này chiếc ví cá nhân của cô gần như đã rỗng không. Cô đã không còn cố gắng bẻ cong, uốn nắn đời sống nhọc nhằn của người khác cho vừa vặn với những khuôn mẫu thẩm mỹ màu mè, lãng mạn của mình nữa. Trang giấy của cô giờ đây chứa đựng sự thật — một sự thật gai góc, trần trụi nhưng ngập tràn phẩm giá của những con người lao động đang tự mình giành lấy quyền định đoạt số phận.

Mai xốc lại quai chiếc balo vải thô lên vai, quay sang giục Yến:

— Đi thôi Yến. Chuyến xe ôm đi nhờ sang trạm bưu điện xã bên sắp chạy rồi đấy. Cậu còn phải tìm chỗ nào có mạng Internet ổn định để gửi file báo cáo tiến độ về cho tòa soạn nữa.

Yến gật đầu, rảo bước đi theo bóng lưng dứt khoát, vững chãi của Mai ra khỏi bóng râm mát rượi của rặng tre già Lùng Tủng.

Thế nhưng, khi đôi chân vừa bước lên con đường liên xã trải đá dăm lởm chởm dẫn ra đường lớn, chiếc điện thoại trong túi áo khoác của Yến bỗng rung lên từng hồi bần bật, dồn dập và liên tục. Cột sóng viễn thông chập chờn trên đỉnh núi vừa bắt lại được tín hiệu mạng 4G.

Yến mở màn hình. Không phải là tin nhắn thông thường, mà là một bức thư điện tử khẩn cấp gửi thẳng từ hòm thư cá nhân của Vũ Minh An, dòng tiêu đề được viết in hoa toàn bộ như một mệnh lệnh thép:

> *“YÊU CẦU BÀN GIAO GẤP BẢN THẢO BA PHIÊN TIẾP THEO — DỰ ÁN LỊCH ẨM THỰC”*

Yến chạm đầu ngón tay lạnh ngắt mở bức thư ra đọc. Từng dòng chữ của An hiện lên trên nền màn hình sáng lóa, sắc lạnh và tàn nhẫn, đập thẳng vào tâm trí cô:

> *“Yến, tôi nhắc lại lần cuối cùng: Tiến độ in ấn của nhà in không thể lùi thêm dù chỉ một ngày nào nữa. Ban Giám đốc vừa ký xong hợp đồng tài trợ truyền thông độc quyền với chuỗi phân phối nông sản của bên anh Huy. Trong ba phiên chợ tới, toàn bộ hình ảnh ký họa và bài viết thuyết minh bắt buộc phải làm nổi bật tính chất di sản cổ truyền, tính nguyên bản lâu đời và đậm chất thơ theo đúng định vị thương hiệu mà nhãn hàng yêu cầu.* > *Đừng để mấy thứ đạo đức cá nhân vớ vẩn làm hỏng hợp đồng thương mại tiền tỉ này. Cô phải bàn giao đủ ba bản vẽ hoàn chỉnh theo đúng tiêu chí trên trước thứ Sáu tuần này, bằng không, hợp đồng lao động sẽ bị đơn phương chấm dứt ngay lập tức và cô sẽ phải bồi thường toàn bộ chi phí tạm ứng theo điều khoản phạt vi phạm.”*

Một cơn gió núi lạnh buốt từ đáy thung lũng bất thần thốc ngược lên, thổi tung tà áo phao mỏng manh của Yến, buốt thấu vào từng thớ thịt.

Yến đứng chết lặng giữa con đường đá dăm gập ghềnh, trơ trọi giữa đất trời bao la. Cô nhìn chằm chằm vào màn hình điện thoại đang sáng lóa trong bóng râm của rặng tre già Lùng Tủng, trong khi phía trước, bóng lưng gầy guộc của Mai vẫn đang sải từng bước chân đều đặn, kiên định về phía con dốc dẫn sang phiên chợ tiếp theo.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn