Hẹn Nhau Ở Bàn Số BảyC.14 / 26
Chương 14

Ngày nghỉ đầu tiên không yên

Tiếng quạt trần ba cánh quay kẽo kẹt trên trần vôi nứt nẻ của căn phòng trọ lúc chín giờ sáng, thả từng luồng gió hanh hao xuống tấm chiếu cói đã sờn mép. Đó là một thứ âm thanh đơn điệu, đều đặn đến mức làm người ta chộn rộn, mang lại cho Hà một cảm giác trống trải lạ lùng. Đây là buổi sáng đầu tiên sau gần hai năm mở quán Cơm Nhà Bà Lan mà cô không phải có mặt tại căn bếp sực mùi mỡ nóng và hành phi từ lúc bình minh chưa kịp rạng.

Trên chiếc bàn gỗ ép nhỏ kê sát mép giường đơn, tấm bìa các-tông A3 được gỡ xuống từ cây cột bê tông giữa sảnh quán chiều qua vẫn nằm phẳng phiu cạnh chiếc máy tính cầm tay Casio cũ mèm. Từng ô vuông kẻ tay bằng bút dạ đen giờ đây đã lấp đầy những con số tổng kết đỏ chót, mực vẫn còn vương lại vài vết hằn sâu của ngòi bút bi sắt. Những con số không biết nói dối, không biết uốn éo theo cảm xúc, và càng không biết nể nang thói quen dĩ hòa vi quý hay sự chịu đựng âm thầm của bất kỳ ai trong gia đình.

Trong suốt mười bốn ngày thử nghiệm ghi chép công khai vừa qua, bảng phân công đã lột trần toàn bộ sự thật về cơ cấu vận hành của quán cơm. Bên dưới cột tên của Khải là ba mươi tám giờ chạy xe máy ngoài đường, tính gộp cả những chuyến đi chợ đầu mối lúc bốn rưỡi sáng mua thịt heo, rau củ và những lượt phóng xe như bay giao các suất cơm trưa văn phòng quanh khu công nghiệp. Bên cột của Phạm Duy là đúng bốn mươi chín giờ làm việc theo ca, chuẩn xác đến từng phút một, không trễ một nhịp thở và cũng chẳng dây dưa nửa bước sau giờ tan ca. Cô Hạnh ghi nhận bốn mươi hai giờ đứng phụ bếp, cắt gọt rau củ, ướp thịt và chà rửa nồi niêu cỡ lớn. Nhưng khi ánh mắt rơi vào cột của Hà, dòng mực tím kéo dài dằng dặc, chen chúc những gạch đầu dòng ghi chú với con số tổng kết cuối cùng lên tới một trăm linh hai tiếng đồng hồ.

Một trăm linh hai tiếng cho hai tuần lễ. Nghĩa là trung bình mỗi ngày cô phải lao động hơn bảy tiếng rưỡi chỉ riêng cho quán, chưa tính những sinh hoạt tối thiểu của bản thân.

Trừ đi sáu mươi tiếng làm việc tiêu chuẩn tại quầy thu ngân, quản lý tiền nong và trông coi sảnh ăn trong hai ca bán, bảng tổng kết đã phơi bày hơn bốn mươi giờ làm thêm hoàn toàn không tên, không thù lao và không hình hài. Đó là hai tiếng đồng hồ mỗi sáng sớm, khi trời đất còn chìm trong màn sương mù ẩm ướt, cô đã lục đục dậy từ năm giờ để đem từng xô khăn lau bàn đi luộc nước sôi khử mùi dầu mỡ, cạy từng lớp tuyết đóng dày ở mép tủ đông trữ thịt, rồi còng lưng lau lại toàn bộ sàn gạch men trơn trượt của gian bếp trước khi cô Hạnh lẹp xẹp xỏ dép bước tới. Đó là những buổi chiều muộn, khi khách khứa đã vãn và sàn nhà bốc lên mùi nước tẩy Javel nồng nặc, Hà lại cặm cụi mang găng tay cao su dày cộp, dùng thanh sắt móc nạo vét từng tảng mỡ bò đóng cứng ngắc ở đường rãnh thoát nước sau ca bán để tránh tắc cống.

Và trên hết, chiếm một góc trang trọng trong số bốn mươi giờ vô danh ấy, là gần mười lăm tiếng đồng hồ cô lặng lẽ đưa bà Lan đi khắp các ngóc ngách của phòng khám đa khoa khu dân cư. Mười lăm tiếng của những buổi sáng nhịn ăn để chờ xét nghiệm máu, những lần dìu mẹ từng bước lên bàn chụp phim X-quang, những đợt bốc thuốc, xếp hàng mòn mỏi chờ gọi số thứ tự, rồi lại tất tả chạy ngược chạy xuôi qua các tiệm dụng cụ y khoa tìm mua chiếc nẹp cố định khớp gối đúng kích cỡ bắp chân của bà.

Từ trước đến nay, toàn bộ phần việc chăm sóc sức khỏe của mẹ, từ viên thuốc uống sau ăn cho tới việc bảo trì từng viên gạch, ống cống của quán, đều được cả nhà mặc nhiên xem như một thứ trách nhiệm tự nhiên trút xuống vai người con gái trong nhà. Nó tự nhiên đến mức tàn nhẫn: chẳng hề có tên trong bất kỳ bảng phân công nào, không ai đo đếm, và đương nhiên cũng chẳng một ai từng nghĩ đến việc quy đổi nó thành công sức lao động thực tế.

Chiều hôm qua, khi bốn người ngồi lại quanh chiếc bàn inox số bảy sau khi quán vừa ngưng nhận khách, không gian quán đã chùng xuống một cách ngột ngạt đến nghẹt thở. Nắng chiều hắt qua mái hiên tôn rỉ sét, rọi thẳng vào tấm bìa các-tông trắng bệch. Khải nhìn chằm chằm vào con số một trăm linh hai giờ của em gái, bàn tay thô ráp đầy vết chai sần của anh khẽ run lên, ngón trỏ gõ cộc cộc xuống mặt bàn inox rồi im bặt. Đôi mắt anh cụp xuống, lảng tránh ánh nhìn của mọi người. Không còn những lời càu nhàu to tiếng quen thuộc rằng “anh mày chạy ngoài đường hít bụi bặm, nắng cháy da vất vả gấp vạn lần”, cũng chẳng còn cái cớ bao biện cố hữu rằng “mày ngồi ở quầy bấm máy tính, có cái quạt máy chĩa thẳng vào lưng thì sướng thân quá rồi”.

Bằng chứng giấy trắng mực đen rõ ràng đến trần trụi. Nó tước đi mọi lý lẽ biện minh mà Khải từng bấu víu suốt mấy năm qua để trốn tránh phần việc không tên trong gia đình. Duy ngồi đối diện, gương mặt thanh tú giữ vẻ điềm tĩnh tuyệt đối, hai tay đan vào nhau đặt trên bàn, không nói một lời phán xét nhưng sự im lặng ấy lại có sức nặng như một bản cáo trạng không lời. Cô Hạnh ngồi bên cạnh khẽ thở dài, đưa tay nắn bóp cổ tay mỏi nhừ của mình, chốc chốc lại ái ngại liếc nhìn bà Lan đang ngồi co ro bên góc bàn, chiếc nẹp chân màu ghi sáng nổi bật dưới lớp ống quần hoa ống rộng.

Chính Khải, sau một hồi lâu đưa mắt nhìn vết sưng đỏ tấy nơi đầu gối mẹ rồi lại nhìn xuống những con số chi chít mực tím của Hà, đã hắng giọng một tiếng khô khốc rồi chủ động lên tiếng trước mặt mọi người:

— Sáng mai… tới lịch tái khám khớp gối với lấy thuốc định kỳ của mẹ ở phòng khám khu dân cư rồi. Để tao chở mẹ đi. Con Hà ở nhà nghỉ ngơi một bữa đi, mày cày cả tháng nay mặt mũi hốc hác, xanh xao như tàu lá chuối héo rồi đấy.

Đó là một lời đề nghị bất ngờ, như một tảng đá nặng rơi xuống mặt nước phẳng lặng. Nó cần thiết và muộn màng, nhưng chứa đựng sự hối lỗi vụng về của người làm anh. Thế nhưng, bi kịch của sự phụ thuộc không bao giờ chấm dứt chỉ bằng một lời tuyên bố nghĩa khí. Ngay sau khi cuộc họp kết thúc, khi Duy dắt xe máy rời đi và cô Hạnh tất tả đón xe buýt về nhà lo cho ông chồng ốm yếu, Khải lại nấn ná đứng ở cửa ngách sau bếp.

Anh đứng tựa lưng vào khung cửa sắt hoen rỉ, bồn chồn vê vạt áo thun xám bạc màu đến nhăn nhúm, ngập ngừng hồi lâu trong ánh đèn tuýp mờ tối trước khi bước những bước chân nặng nề lại gần quầy thu ngân của Hà. Khi ấy, Hà đang cúi đầu cất từng xấp tiền lẻ vào ngăn kéo gỗ.

— Hà này… — Khải gãi đầu sột soạt, giọng anh hạ thấp xuống, run rẩy một vẻ lúng túng hiếm thấy ở người đàn ông ba mươi hai tuổi vốn chỉ quen ăn to nói lớn, quát tháo ầm ĩ ngoài đường phố hay trả giá bôm bốp ở chợ đầu mối. — Mai tao đưa mẹ đi thì được rồi, tao không ngại chở đâu, nhưng… tao sợ mấy cái vụ thuốc men này lắm mày ơi. Mày biết tính tao rồi đó, nhìn mấy cái chữ Tây chữ U ngoằn ngoèo trên vỏ hộp thuốc là hai con mắt tao hoa hết cả lên. Lỡ người ta đưa nhầm loại, hoặc tao đọc sai liều lượng, bác sĩ bảo uống một ngày hai viên tao lại tưởng ba viên rồi mẹ uống vô có chuyện gì thì toi. Rồi… rồi lúc bác sĩ hỏi mấy cái chỉ số xét nghiệm dịch khớp với máu đợt trước, tao biết đường nào mà lần mà trả lời? Hay là… mai mày cứ đi cùng tao một chuyến nữa đi? Mày ngồi cạnh nhắc tuồng thôi, tao chở xe với xách giỏ cho, coi như cho tao quen việc đã, rồi đợt khám sau tao tự đi một mình trăm phần trăm?

Khoảnh khắc ấy, đứng trong mùi thơm nồng của quế chi và dầu ăn sót lại trong không gian quán, thói quen cũ đã chực trào lên như một cơn phản xạ tự nhiên trong lồng ngực Hà. Cổ họng cô giật giật, và cô đã suýt nữa buột miệng nói ra câu cửa miệng quen thuộc suốt bao năm: “Thôi được rồi, để em đi cùng cho chắc ăn.”

Câu nói ấy luôn là lối thoát dễ dàng nhất. Nó lập tức xoa dịu nỗi lo âu hiển hiện trên gương mặt Khải, dẹp bỏ nguy cơ xảy ra sai sót y khoa đối với mẹ, và trên hết, nó cho phép Hà tiếp tục ôm trọn quyền kiểm soát mọi thứ vào tay mình. Cô sẽ không phải thấp thỏm, không phải đoán già đoán non, và mọi việc sẽ diễn ra hoàn hảo dưới sự điều phối của cô. Nhưng ngay trong giây phút ấy, ánh mắt cô chạm vào dòng chữ một trăm linh hai giờ trên tấm bìa các-tông vẫn còn nằm trên bàn ăn.

Hà hiểu ra một sự thật tàn nhẫn: nếu cô gật đầu đi theo, Khải sẽ mãi mãi chỉ là một gã tài xế ôm vô lăng, chở mẹ đến cổng phòng khám rồi tấp xe vào quán cóc vỉa hè hút thuốc, mắt dán chặt vào những video ngắn trên màn hình điện thoại, phó mặc toàn bộ sinh mệnh, bệnh tình và phác đồ điều trị của mẹ cho em gái gánh vác. Anh sẽ không bao giờ học được cách chịu trách nhiệm, bởi vì anh luôn biết phía sau lưng mình có một tấm đệm an toàn mang tên Hà sẵn sàng đỡ lấy mọi cú ngã.

Nghĩ đến đó, Hà đã hít một hơi thật sâu, nén chặt sự bồn chồn xuống đáy dạ dày và dứt khoát lắc đầu.

Tối qua, thay vì mềm lòng đồng ý đi cùng, cô đã ngồi lại bàn ăn gần một tiếng đồng hồ sau khi mẹ đã lên giường nằm nghỉ. Hà cẩn thận lôi chiếc làn nhựa màu đỏ chuyên đựng hồ sơ bệnh án của bà Lan ra, gom toàn bộ giấy tờ liên quan đến bệnh khớp gối của mẹ đặt ngay ngắn trên mặt bàn: tờ kết quả chụp X-quang khớp gối hai bên chẩn đoán thoái hóa độ ba, phiếu xét nghiệm sinh hóa dịch bao hoạt dịch còn thơm mùi giấy in mới, và cuốn sổ khám bệnh bọc bìa nilon cẩn thận đã sờn rách bốn góc.

Cô lấy xấp giấy nhớ màu vàng dạ quang từ trong túi xách ra, dùng cây bút bi mực đen đậm nét nắn nót viết rõ ràng từng ý một, rồi dán chiếc giấy nhớ ngay ngắn ngoài bìa sổ khám bệnh:

*1. Bác sĩ ơi, đầu gối phải của mẹ tuần này đỡ sưng nhưng khi co duỗi buổi sáng vẫn lục cục, có cần duy trì thuốc kháng viêm không?* *2. Toa thuốc cũ mẹ uống bị cồn cào bao tử, xin bác sĩ đổi thuốc giảm đau loại êm bụng hoặc kê thêm thuốc bảo vệ niêm mạc dạ dày.* *3. Khớp gối thoái hóa độ ba này có cần chích nhờn hay rút dịch đợt này không?*

Phía dưới ba câu hỏi cốt tử ấy, Hà cẩn thận dùng thước kẻ một cái bảng nhỏ gồm ba cột rõ ràng: Tên thuốc - Số lượng - Cách uống (Sáng/Chiều, uống trước hay sau khi ăn no), rồi nhét thêm một cây bút bi có nắp gài vào gáy cuốn sổ. Cô cầm tập hồ sơ bước ra phòng khách, đưa tận tay cho Khải khi anh đang ngồi cắn móng tay xem tivi.

— Em ghi hết những gì mẹ cần hỏi vào đây rồi. Chữ em viết hoa rõ ràng, không có chữ tắt nào cả. Anh chỉ việc đưa cuốn sổ này cho bác sĩ, đợi bác sĩ đọc xong thì lắng nghe câu trả lời rồi lấy cây bút này ghi lại ngay dưới câu hỏi. Ở quầy phát thuốc, anh cầm toa thuốc đối chiếu từng vỉ, từng hộp với những dòng bác sĩ kê. Nếu tên thuốc trên hộp khác với toa, anh hỏi thẳng cô dược sĩ xem đó có phải thuốc gốc tương đương hay không. Anh ba mươi hai tuổi rồi, anh biết đọc, biết viết và anh dư sức làm được. Em không đi theo để làm cái bóng giám sát hộ anh nữa đâu. Mai em ở nhà nghỉ đúng nghĩa một ngày.

Khải cầm tập hồ sơ bệnh án dày cộp, những ngón tay thô ráp của anh khẽ run lên khi chạm vào mảnh giấy nhớ màu vàng dạ quang dán ngoài bìa. Gương mặt anh thoáng qua một nét căng thẳng cực độ, môi mím chặt, nhưng trước ánh mắt kiên định, không hề có một kẽ hở khoan nhượng của em gái, anh đành thở dài một hơi rồi gật đầu nhận lấy.

Giờ đây, ngồi trong căn phòng trọ tĩnh lặng chỉ có tiếng quạt trần quay đều đều trên đỉnh đầu, Hà cảm thấy từng giây trôi qua như một sự thử thách thần kinh. Đã chín giờ mười lăm phút sáng.

Nếu như mọi khi, vào đúng giờ phút này, cô đang đứng chôn chân sau quầy thu ngân bằng gỗ ép của quán Cơm Nhà Bà Lan. Hai tai cô lúc đó hẳn đang ù đi vì tiếng máy in nhiệt rè rè réo rắt nhả từng mét giấy hóa đơn, tay thoăn thoắt bấm máy tính kiểm tiền thối, miệng liên tục hối thúc Duy kiểm tra lại nồi canh chua cá điêu hồng trên bếp từ, và dặn với vào trong cho cô Hạnh nhớ đảo đều chảo sườn rim mặn ngọt kẻo khét đáy. Hoặc nếu là ngày định kỳ đưa mẹ đi khám, cô đã phải chen chúc giữa hành lang nồng nặc mùi thuốc sát trùng và cồn đỏ của phòng khám đa khoa, một tay giữ chặt nách mẹ để bà không trượt chân trên nền gạch men hoa bóng nhẫy, tay kia giơ cao cuốn sổ khám bệnh nộp vào ô kính tiếp nhận bệnh nhân.

Sự rảnh rỗi đột ngột này không hề mang lại cảm giác thảnh thơi, dễ chịu như cô từng mộng tưởng trong những đêm mệt rã rời chân tay. Ngược lại, nó khiến lồng ngực Hà nhói lên từng cơn bồn chồn khó tả, giống như một người lính đã quen đứng ngoài chiến hào bỗng bị nhốt vào một căn phòng đệm nhung êm ái. Cơ thể cô bứt rứt, các thớ cơ căng cứng vì quen với trạng thái luôn luôn phải phản ứng trước các sự cố.

Cô đứng dậy khỏi mép giường, bước chân trần ra khoảng ban công nhỏ hẹp chỉ vừa kê một chậu cây lưỡi hổ bám đầy bụi đường, nhìn xuống con hẻm sâu hút bên dưới. Những chiếc xe máy vụt qua, tiếng rao bánh mì, tiếng còi xe bấm vội... tất cả đều bình thường, chỉ có cô là trật nhịp. Hà quay trở vào phòng, ngước mắt nhìn chiếc đồng hồ tròn treo tường bằng nhựa màu đỏ. Kim phút nhích từng nấc một cách chậm chạp.

Cô tự hỏi giờ này Khải đã chở mẹ tới nơi an toàn chưa? Khải vốn tính hấp tấp, liệu anh có biết lối dốc thoai thoải tráng xi măng dành riêng cho xe lăn nằm nép bên hông phòng khám để mẹ đỡ phải bước chân đau lên bậc tam cấp cao chót vót không? Hay anh lại để mẹ tự vịn tường, run rẩy leo từng bậc thang gạch trơn giữa dòng người chen chúc? Liệu Khải có nhớ rút mảnh giấy nhớ màu vàng ra đưa cho bác sĩ hay lại lúng túng nhét tọt vào túi quần bò rồi chỉ biết đứng gãi tai, ậm ừ gật đầu cho qua chuyện trước những câu hỏi thăm khám chuyên môn?

Bàn tay Hà vô thức vươn ra, những ngón tay chạm vào bề mặt mát lạnh của chiếc điện thoại thông minh đặt trên bàn gỗ. Màn hình đen ngòm như một vực thẳm cám dỗ. Chỉ cần một cuộc gọi ngắn chưa đầy ba mươi giây, cô có thể nắm bắt toàn bộ tình hình, có thể hướng dẫn Khải từng ngã rẽ, từng thủ tục, dặn anh từng câu nói cần thưa gửi. Nhưng ngay khi đầu ngón tay vừa áp vào phím nguồn, một luồng điện giật nhẹ của lý trí khiến Hà khựng lại.

Nếu cô gọi đi lúc này, cô sẽ lại tước đoạt đi cơ hội học cách chịu trách nhiệm của anh trai mình. Cô sẽ lại biến lời cam kết tự lập của Khải thành một trò hề, và biến ngày nghỉ phép chính thức đầu tiên của đời mình thành một ca trực điều khiển từ xa đầy căng thẳng và mệt mỏi. Hà cắn chặt môi, rụt tay lại khỏi mặt bàn. Cô siết chặt hai lòng bàn tay vào nhau đến mức móng tay bấm sâu vào da thịt, nhắm nghiền mắt lại và tập hít vào thật sâu bằng mũi rồi thở ra từ từ qua kẽ môi — hệt như bài tập thở tĩnh tâm mà Mai, cô bạn thân làm văn phòng, từng cố công dạy cho cô trong những lần Hà lên cơn hoảng loạn vì đơn hàng dồn ứ ngập ngụa tại quán.

Đúng chín giờ ba mươi, chiếc điện thoại trên mặt bàn gỗ bỗng rung lên bần bật, kéo theo tiếng chuông báo mặc định réo rắt phá tan bầu không khí tĩnh mịch. Màn hình sáng lóa hiện lên dòng chữ quen thuộc: *Anh Khải*.

Tim Hà đập thịch một cái thật mạnh nơi lồng ngực. Hơi thở cô khựng lại. Cô chần chừ đúng hai giây, nhìn vệt sáng nhấp nháy trên màn hình, rồi mới hít một hơi sâu, bấm nút nhận cuộc gọi và áp chiếc máy nóng ran vào tai.

— A lô, anh Khải nghe đây không?

Đầu dây bên kia lập tức tràn ngập những tạp âm hỗn loạn đặc trưng của một bệnh viện công tuyến cơ sở: tiếng còi xe máy gắt gỏng từ ngoài cổng, tiếng động cơ rồ lên inh ỏi, và tiếng loa phát thanh rè rè thông báo mời bệnh nhân có số thứ tự từ một trăm đến một trăm mười vào phòng khám số bốn. Giọng Khải vang lên qua ống nghe, đứt quãng và thở hắt ra vì vội vã:

— Hà hả? Tao chở mẹ tới nơi rồi, đang đứng ngay cổng chính phòng khám đây! Mà cái bãi giữ xe máy trong sân người ta căng sợi dây thừng to tướng, treo cái bảng các-tông ghi hết chỗ rồi mày ơi! Mấy ông bảo vệ đeo băng đỏ xua tao dữ quá, bắt tao de xe chạy đi chỗ khác liền kẻo kẹt đường. Giờ tao biết nhét chiếc xe Wave này ở đâu bây giờ? Chứ để mẹ đứng một mình chơ vơ ở cửa sảnh đông nghẹt người này tao không yên tâm chút nào hết!

Bản năng cũ của Hà lập tức trỗi dậy mạnh mẽ như một dòng nước lũ: trong đầu cô đã hiện lên ngay lập tức địa chỉ bãi giữ xe ngầm của trường tiểu học nằm nép ở con ngõ phía sau, cách đó chừng hai trăm mét — nơi cô vẫn thường lủi thủi gửi xe mỗi lần phòng khám quá tải. Cô định tuôn ra một tràng hướng dẫn chi tiết, từ việc quẹo phải ở ngã ba nào cho tới mức giá gửi xe buổi sáng.

Nhưng rồi, Hà khựng lại. Cô nhận ra rằng nếu mình cứ tiếp tục làm cái bản đồ chỉ đường cho anh từng bước li ti như một đứa trẻ mẫu giáo, Khải sẽ không bao giờ học được cách mở mắt ra mà quan sát thực tế xung quanh mình. Cô hít sâu, giữ cho giọng mình thật bình tĩnh, phẳng lặng và gãy gọn:

— Anh nhìn thẳng sang bên kia đường đi. Ngay đối diện cái cổng phụ của phòng khám có một quán nước mía mái bạt xanh. Chỗ đó họ nhận giữ xe cho khách vãng lai giá năm ngàn một chiếc. Anh dắt mẹ vào hẳn bên trong sảnh, tìm chiếc ghế inox nào còn trống cho mẹ ngồi xuống trước rồi hẵng quay xe ra bên kia đường gửi. Đừng bắt mẹ đứng đợi ngoài nắng, cái khớp gối chịu lực lâu nó lại sưng to lên đấy.

— Ờ… ờ, thấy rồi! Thấy cái dù bạt màu xanh của quán nước mía rồi! Để tao dắt mẹ vô sảnh trước rồi tao chạy qua liền. Vậy nghen!

Khải cúp máy cái rụp, nhanh đến mức Hà chưa kịp dặn thêm câu nào. Cô hạ chiếc điện thoại xuống, nhìn màn hình dần dần lịm tắt rồi thở phào một hơi dài. Lồng ngực cô nhẹ đi một nửa. Đó là một câu hỏi thuần túy về việc phát sinh ngoại cảnh, và cô đã xử lý nó đúng mực: chỉ cung cấp thông tin vị trí tối thiểu mà không can thiệp sâu vào việc điều hành, không nhận làm thay, và tuyệt đối không hỏi han thêm bất cứ điều gì về thủ tục khám chữa bệnh bên trong.

Mười lăm phút sau, khi Hà vừa đứng dậy định đi cắm lại ấm nước thì chiếc điện thoại lại rung lên một nhịp ngắn, phát ra tiếng chuông báo tin nhắn “ting” sắc gọn.

Cô quay lại cầm máy lên. Lần này không phải số của Khải, mà là một tin nhắn văn bản gửi từ Phạm Duy ở quán cơm:

*“Hà ơi, khăn lau bàn màu sọc caro dự phòng cho sảnh trước hết sạch rồi. Anh tìm trong ngăn tủ kính dưới chân quầy thu ngân không thấy có. Khăn mới luộc hôm qua em cất ở đâu vậy?”*

Một thoáng ngỡ ngàng xen lẫn áy náy lướt qua tâm trí Hà. Cô khẽ nhíu mày, đưa tay day day hai bên thái dương, tự trách thầm trong bụng rằng chiều hôm qua sao trước khi rời quán mình không chu đáo soạn sẵn một chồng khăn sạch để ngay ngắn trên mặt quầy cho Duy. Bàn tay cô đặt lên bàn phím ảo, gõ thoăn thoắt một tràng dài theo quán tính: *“Ở trong cái thùng nhựa màu xanh dương để sát góc kho ấy, anh phải trèo lên cái ghế đẩu mới với tới vì em sợ gián bò vào nên cất trên cao…”*

Nhưng vừa gõ được nửa câu dài dòng giải thích, ngón tay cái của Hà bỗng khựng lại giữa không trung. Cô nhìn những dòng chữ đầy ắp sự bao bọc và phân bua của mình. Hà thở dài, bấm nút xóa từng ký tự một cho đến khi khung chat hoàn toàn trống trơn. Cô soạn lại, chỉ để lại một câu chỉ dẫn ngắn gọn và chuẩn xác nhất:

*“Thùng nhựa nắp xanh, tầng dưới cùng của kệ kho bên tay trái.”*

Duy nhắn lại gần như ngay lập tức, chỉ sau mười giây ngắn ngủi:

*“Anh thấy rồi, cảm ơn em. Em ở nhà nghỉ ngơi cho lại sức nhé.”*

Hà nhìn dòng tin nhắn ngắn ngủi, lịch thiệp và rành mạch của Duy trên màn hình, bất giác khóe môi cô khẽ cong lên một nụ cười nhẹ nhõm. Không có sự hối thúc sốt ruột, không có những lời than vãn trách cứ về việc thiếu người phụ việc, cũng chẳng có vẻ gì là quán đang rơi vào cảnh hỗn loạn như những cơn ác mộng cô từng tưởng tượng.

Quán cơm vẫn sống, vẫn thở, và vẫn tiếp tục vận hành một cách trật tự ngay cả khi không có sự hiện diện của cô ở đó. Duy biết cách quan sát và hỏi đúng trọng tâm, cô Hạnh biết cách liệu cơm gắp mắm trong căn bếp, và bầu trời không hề sụp đổ chỉ vì người phục vụ chính vắng mặt một buổi sáng.

Thời gian trôi qua chầm chậm. Đến đúng mười một giờ trưa, khi tiếng chuông nhà thờ ngoài đầu phố đổ từng hồi ngân vang, điện thoại của Hà rung lên lần thứ ba. Màn hình báo một cuộc gọi nhỡ từ Khải, và ngay sau đó là một tệp tin nhắn thoại gửi qua ứng dụng Zalo.

Hà ngập ngừng nhìn tệp âm thanh có độ dài gần một phút. Ngón tay cô run nhẹ trước khi chạm vào nút phát. Giọng Khải thì thào vang lên, lẫn trong tiếng cọt kẹt ken két của khớp nẹp chân, tiếng bước chân sầm sập trên hành lang bệnh viện và tiếng gõ bàn phím lạch cạch của nhân viên y tế:

*“Hà ơi, tao đưa mẹ vô khám xong rồi nè. Bác sĩ xem phim chụp rồi bảo cái chỉ số axit uric trong máu của mẹ hơi cao một chút xíu, nhưng bác sĩ khẳng định không phải bị bệnh gout đâu, mà do đợt rồi mẹ uống ít nước quá với lại ăn nhiều thịt bò, đồ đạm. Bác sĩ kê cho ba loại thuốc tất cả. Tao lôi ngay cái giấy nhớ màu vàng của mày dán ngoài bìa đưa thẳng cho ổng xem. Ổng đọc xong gật đầu khen mày hỏi đúng chỗ ghê. Ổng gạch bớt một cái loại thuốc giảm đau màu vàng đợt trước làm mẹ xót ruột, đổi sang loại viên nang màu xanh lá cây êm bụng hơn. Giờ tao đang đứng rồng rắn đợi tới lượt ở quầy phát thuốc bảo hiểm y tế đông nghẹt người… Mà này, mày coi có cần tao chạy ngược lại phòng khám hỏi thêm bác sĩ xem mẹ có phải kiêng ăn măng tươi với kiêng hẳn món cà pháo dầm tôm khô không? Tao thấy dạo này mẹ cứ thèm ăn mấy món đó hoài…”*

Ngón tay cái của Hà đã đặt hờ lên biểu tượng chiếc micro trên màn hình để chuẩn bị ghi âm trả lời. Cô biết câu trả lời rành rẽ trong lòng bàn tay. Lần khám trước, chính bác sĩ chuyên khoa cơ xương khớp đã dặn dò cẩn thận từng chi tiết về chế độ ăn chống viêm cho người bị thoái hóa khớp gối nặng, cô chỉ cần nói một câu mười giây là Khải sẽ nắm được ngay.

Nhưng rồi, một lần nữa, Hà hít một hơi sâu qua lồng ngực đang căng tức. Cô buông tay khỏi nút ghi âm. Cô không thể tiếp tục làm bộ não thay thế cho anh mình trong những việc mà anh hoàn toàn có khả năng tự giải quyết tại chỗ. Hà dùng hai ngón tay gõ một dòng tin nhắn dứt khoát:

*“Những gì quan trọng cần hỏi bác sĩ em đã ghi đủ trong tờ giấy dán ngoài sổ rồi. Chuyện ăn uống kiêng cữ cho khớp gối lát nữa nhận thuốc xong, anh cầm thẳng ba hộp thuốc đó hỏi trực tiếp cô dược sĩ ở quầy phát thuốc. Dược sĩ họ học chuyên sâu về tác dụng phụ và tương tác thức ăn của từng loại thuốc, họ sẽ hướng dẫn cụ thể và chuẩn xác nhất cho anh. Anh tự hỏi đi nhé.”*

Cô bấm nút gửi đi không một chút do dự, rồi dứt khoát úp úp mặt màn hình điện thoại xuống mặt bàn gỗ ép.

Lần này, không gian trở lại vẻ tĩnh lặng tuyệt đối. Mười lăm phút, rồi ba mươi phút trôi qua, không có thêm bất kỳ cuộc gọi nhỡ hay tiếng chuông tin nhắn nào vang lên nữa.

Căn phòng trọ nhỏ ngập tràn ánh sáng ban trưa. Hà đứng dậy vươn vai, những khớp xương sống lưng kêu răng rắc sau một buổi sáng ngồi yên. Cô bước lại góc bếp nhỏ kê ở góc phòng, với lấy chiếc ấm nhôm đã ố vàng đun một ấm nước sôi sùng sục, rồi cẩn thận tráng một chiếc ấm gốm nhỏ, pha cho mình một tách trà lài ấm nóng. Hà bưng tách trà bốc khói nghi ngút bước lại ngồi bệt xuống bên bậu cửa sổ, đưa mắt nhìn những vạt nắng vàng như mật xuyên qua từng tán lá xanh mướt của cây bàng ngoài đầu ngõ.

Hương trà lài thanh khiết, ngai ngái lan tỏa trong khoang miệng. Cảm giác bồn chồn, bứt rứt và nỗi sợ mơ hồ từ sáng sớm dần dần lắng dịu xuống như cặn trà chìm đáy tách, nhường chỗ cho một sự nhẹ nhõm kỳ lạ, mát lành len lỏi vào từng ngóc ngách của tâm hồn cô. Hóa ra, việc học cách buông tay không hề khiến cho thế giới xung quanh cô sụp đổ tan tành như cô vẫn hằng lo sợ. Mọi người không hề yếu đuối và vụng về đến mức không thể tự đứng vững trên đôi chân của mình. Trách nhiệm chỉ thực sự được san sẻ khi người ta có đủ dũng khí để chừa ra một khoảng trống cho người khác bước vào và gánh vác.

Đúng một giờ ba mươi chiều, tiếng động cơ xe máy quen thuộc nổ bành bạch từ đầu ngõ vọng lại, mỗi lúc một gần rồi dừng hẳn trước cánh cổng sắt của khu nhà trọ. Tiếng gạt chân chống sắt quệt mạnh xuống nền sân xi măng kêu một tiếng “rột” khô khốc, giòn tan.

Hà đặt tách trà xuống bàn, bước nhanh ra mở cửa phòng. Dưới cái nắng gắt đầu giờ chiều, Khải đang cẩn thận dùng cả hai tay đỡ bà Lan xuống khỏi yên sau chiếc xe Wave Alpha màu đỏ đã tróc sơn. Bà Lan bước từng bước một cách chậm rãi, bàn chân đặt xuống nền đất một cách thận trọng. Chiếc nẹp vải thun màu ghi sáng ôm sát lấy khớp gối bên phải của bà, nhưng điều khiến Hà ngạc nhiên nhất là khuôn mặt mẹ: không còn nét nhăn nhó, cau có vì đau đớn và bực bội như những lần đi khám trước đây. Ngược lại, khóe mắt bà giãn ra, đuôi mắt hằn lên những nếp nhăn của một sự tươi tỉnh, mãn nguyện hiếm thấy.

— Hai mẹ con về rồi đấy à? — Hà bước vội lại gần, theo thói quen cố hữu định giơ hai tay ra luồn vào nách mẹ để đỡ lấy sức nặng của bà.

Nhưng Khải đã nhanh nhẹn lách người, gạt nhẹ cẳng tay em gái sang một bên:

— Thôi, để tao dìu mẹ vô giường cho, mày đứng dạt ra kẻo vướng lối đi lại vấp bây giờ! Tao dìu mẹ từ lầu một phòng khám đi bộ xuống dốc, rồi từ bãi xe bên kia đường qua tới đây ngon ơ rồi, không trượt chân được đâu mà mày phải cuống lên!

Khải vòng cánh tay cơ bắp, cháy nắng của mình qua eo bà Lan, một tay nắm chặt lấy bàn tay gầy guộc của mẹ, vừa cẩn thận đỡ bà bước qua gờ cửa xi măng vừa càu nhàu một cách thân tình, ấm áp:

— Đã dặn mẹ bao nhiêu lần rồi, bước cái chân trái lành lặn lên trước làm trụ rồi mới kéo cái chân đau theo sau! Bác sĩ người ta chỉ cặn kẽ như thế rồi mà hễ thấy bậc cửa là cứ cuống cuồng bước loạn xạ cả lên. Cứ từ từ mà đi, có ai đuổi bắt hay giành giật phần cơm của mẹ đâu mà sợ trễ nải!

Bà Lan bật cười khúc khích, đưa bàn tay nổi đầy gân xanh vỗ nhẹ vào mu bàn tay con trai:

— Cha mày chứ, mới đưa mẹ đi khám có một buổi sáng mà cái mồm liến thoắng, dặn dò y chang con Hà không sai một dấu phẩy!

Sau khi đỡ bà Lan ngồi ngay ngắn trên chiếc giường gỗ và cẩn thận kê một chiếc gối gòn mềm dưới bắp chân phải để giữ cho đầu gối bà được duỗi thẳng tự nhiên, Khải mới quay bước ra chiếc bàn gỗ ép giữa nhà. Mồ hôi nhễ nhại ướt đẫm hai bên thái dương và làm lưng áo thun xám của anh sũng nước, bết dính vào da thịt, nhưng trên gương mặt sạm đen vì nắng gió lại ánh lên một vẻ rạng rỡ, tự hào không tài nào giấu giếm được. Anh đặt mạnh chiếc bọc nilon màu trắng in logo màu xanh của phòng khám lên mặt bàn, rồi lôi từ trong túi quần bò ra một chiếc hộp nhựa chia thuốc bảy ngày màu xanh dương nhạt còn mới toanh.

— Nè, nhìn coi anh mày làm ăn có ra ngô ra khoai không! — Khải vỗ bồm bộp lên bọc thuốc, giọng hào hứng và đắc thắng như một đứa trẻ con vừa khoe bảng điểm mười sau bài thi khó nhằn. — Đủ cả ba loại thuốc, không thiếu một viên, không sai một liều nghe chưa! Cái thuốc giảm đau màu vàng đợt trước làm mẹ cồn cào ruột gan, bác sĩ gạch bỏ cái rụp rồi, đổi sang vỉ nang màu xanh lá cây này nè, uống sau khi ăn no ba mươi phút. Tao đứng ở quầy thuốc túm cô dược sĩ hỏi đi hỏi lại ba lần cho chắc ăn rồi, thuốc này có thành phần bảo vệ dạ dày, không bao giờ lo cào ruột, với lại mỗi ngày chỉ uống đúng hai cữ: sáng một viên sau ăn, chiều một viên sau ăn.

Khải mở toang túi nilon, kéo chiếc ghế đẩu gỗ lại gần rồi ngồi thụp xuống, bắt đầu bóc từng vỉ thuốc tây bằng nhôm sáng loáng. Những ngón tay thô ráp, chai sần, vốn chỉ quen với việc siết chặt tay ga xe máy, bốc vác từng bao gạo nặng trĩu hay kéo những két nước ngọt nặng nề ở chợ đầu mối, giờ đây lại cẩn thận, tỉ mẩn đến lạ lùng. Anh dùng đầu ngón tay cái bấm tách từng viên thuốc con nhộng ra khỏi lớp giấy bạc, rồi thả gọn gàng vào từng ô nhỏ của chiếc hộp chia thuốc: ngăn buổi sáng hai viên tròn một viên dài, ngăn buổi chiều một viên nang màu xanh lá.

— Tao còn nhớ lời mày dặn, hỏi luôn cả cái vụ măng le với cà pháo muối nữa đó nghen. — Khải ngẩng đầu lên nhìn Hà, hai mắt sáng ngời vẻ tự đắc. — Cô dược sĩ bảo măng tươi chứa nhiều chất axit với độc tố tự nhiên không hề tốt cho người đang bị viêm sụn khớp, dặn phải kiêng tiệt trong vòng hai tuần điều trị này. Cà pháo cũng phải bớt lại, ăn mặn quá là khớp nó ngậm nước lại sưng vù lên cho coi. Tao nhớ như in trong đầu rồi, khỏi cần ghi giấy nhớ chi cho rườm rà! Mày coi nè, tao phân liều thuốc từ thứ Hai cho tới Chủ nhật xong xuôi đâu ra đấy rồi. Từ sáng mai mẹ cứ việc mở đúng cái nắp nhựa của ngày đó ra mà uống, không bao giờ sợ lộn cữ hay quên liều nữa!

Bà Lan ngồi tựa lưng vào vách tường trên giường, ánh mắt ấm áp dõi theo từng cử chỉ lóng ngóng nhưng tràn đầy sự chăm chút của đứa con trai lớn. Khóe mắt bà khẽ hoe đỏ, nhưng nụ cười lại nở rộ rạng ngời trên gương mặt đầy nếp nhăn. Bà nhìn sang Hà, khẽ gật đầu một cái đầy thấu hiểu:

— Hôm nay thằng Khải nó tháo vát, nhanh nhẹn bất ngờ con ạ. Lúc nộp sổ khám bệnh, nó biết dắt mẹ lại tận hàng ghế inox dưới cái quạt máy to ngồi chờ cho mát, rồi tự mình chen chúc đứng xếp hàng lấy số thứ tự. Bác sĩ dặn dò cái gì, nó cũng rút cây bút bi con nhét trong gáy sổ ra ghi chép cẩn thận vào lề giấy. Mẹ thấy… việc gì cũng vậy, cứ để cho nó làm riết rồi nó cũng quen tay, chứ trước giờ mẹ cứ đinh ninh đàn ông con trai trong nhà đoảng vị, không bao giờ cáng đáng nổi mấy cái chuyện thuốc men tỉ mẩn này.

Hà đứng tựa lưng vào mép tủ quần áo bằng gỗ ép, hai tay khoanh trước ngực, lặng lẽ nhìn anh trai mình đang cẩn thận dùng ngón tay ấn mạnh từng nắp hộp nhựa. Những tiếng “tách, tách, tách” dứt khoát, giòn giã vang lên trong không gian phòng trọ.

Một làn sóng ấm áp và nhẹ nhõm vô bờ bến lan tỏa khắp lồng ngực cô, cuốn trôi đi toàn bộ những mệt mỏi, dằn vặt và căng thẳng âm ỉ suốt từ sáng sớm. Đúng là ngày nghỉ phép hôm nay của cô không hề diễn ra trong sự tĩnh lặng hoàn hảo như một kỳ nghỉ dưỡng. Cô vẫn phải bắt máy trả lời một cuộc gọi hỏi chỗ gửi xe, vẫn phải gõ tin nhắn chỉ chỗ cất khăn lau bàn, và vẫn phải trải qua những phút giây đấu tranh tư tưởng dữ dội để kiềm chế thói quen muốn lao ra kiểm soát mọi thứ. Nhưng nhìn chiếc hộp chia thuốc màu xanh nằm ngay ngắn trên bàn, nhìn nụ cười an lòng của mẹ và nét trưởng thành, chững chạc đầy tự tin trên khuôn mặt Khải, Hà hiểu rằng sự không tĩnh lặng ấy hoàn toàn xứng đáng.

Hóa ra, cái câu nói “thôi để em làm cho nhanh” mà cô luôn vội vã thốt ra suốt bao năm qua không chỉ tự vắt kiệt từng giọt sức lực của chính bản thân mình, mà nó còn vô tình tước đoạt đi cơ hội được học hỏi, được vấp ngã và được trưởng thành của những người thân yêu xung quanh cô. Để người khác có thể thực sự gánh vác trách nhiệm chung, việc đầu tiên mà một người quen gánh vác cần làm không phải là thúc ép, không phải là chỉ trích hay than vãn, mà là học cách buông bỏ sự ôm đồm và kiên nhẫn lùi lại phía sau một bước.

Khải dọn sạch những vỏ vỉ thuốc rỗng vào túi nilon, đứng dậy vươn vai một cái thật dài, các khớp xương kêu răng rắc đầy sảng khoái:

— Thôi, xong xuôi việc nhà rồi, tao chạy ngay qua quán phụ thằng Duy với cô Hạnh dọn dẹp bát đĩa ca trưa đây. Hôm nay quán mình bắt đầu thử nghiệm cắt hẳn ca tối bữa đầu tiên, dọn dẹp sạch sẽ ca trưa là đóng cửa sớm để cô Hạnh kịp về nhà lo cơm nước cho ông cụ liệt giường. Mẹ ở nhà nằm nghỉ ngơi cho khỏe chân nghen! Còn con Hà, mày cứ ở yên trong phòng trọ mà ngủ bù cho đã đời đi, cấm tiệt bén mảng ra quán dọn dẹp đấy, tao mà thấy mặt mày ở quán là tao đuổi về ráng chịu!

Dứt lời, anh với lấy chùm chìa khóa xe máy trên bàn, sải những bước chân dài thoăn thoắt ra cửa. Dáng đi của anh nhẹ nhõm, dứt khoát và đầy sinh lực hơn hẳn những ngày ủ rũ, uể oải trước đây.

Hà bước theo tiễn anh ra tận cổng sắt rồi quay trở vào nhà. Cô rót một ly nước lọc ấm mang lại mép giường cho mẹ, tận tay đưa viên thuốc đầu tiên sau bữa cơm trưa nhẹ cho bà uống, rồi đỡ bà nằm xuống ngay ngắn, kéo tấm chăn mỏng đắp ngang bụng mẹ trước khi khép hờ cánh cửa buồng.

Trở về góc bàn gỗ của mình, gian phòng trọ lúc này ngập tràn sự yên ả. Tiếng quạt trần vẫn quay đều đều, nhưng nhịp điệu của nó giờ đây nghe êm ả như một khúc nhạc ru trưa bình yên.

Chiếc điện thoại thông minh đặt cạnh tập bìa các-tông khẽ rung lên một nhịp ngắn ngủi. Màn hình sáng lên. Đó không phải là một cuộc gọi khẩn cấp từ quán ăn, cũng chẳng phải tin nhắn hối thúc hay phàn nàn về những đơn cơm trưa giao trễ.

Hà với tay cầm máy lên, mở khóa màn hình. Một dòng tin nhắn vừa được gửi đến từ tài khoản của Phạm Duy:

*“Hôm nay quán bán hết sớm và dọn dẹp xong trước hai giờ rưỡi, mọi người đều làm rất tốt. Tối thứ Bảy tuần này em có rảnh không? Sau giờ học lớp điện, anh muốn mời em đi dạo một vòng ở công viên bờ kè bên kia cầu.”*

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn