Giai điệu dưới đáy chợ
Tiếng chuông đồng của Nghiệp đoàn Móc Gió vừa dứt, âm ba kim khí nặng nề còn chưa kịp tan vào những xoáy gió quẩn quanh vách đá thì Kha Duy đã chộp lấy cổ tay áo của cả hai người. Bằng một lực giật dứt khoát và thô bạo, hắn lôi tuột Lam An và Trác Minh vào một ngách hẹp tối tăm, sâu hoắm, nơi những đường ống rỉ sét chằng chịt đang rỉ ra thứ nước nhờn nhợt phủ đầy rêu khinh vân nhớp nháp dưới đáy thành phố.
Hơi ẩm mặn mòi bốc lên từ vực thẳm bên dưới xộc thẳng vào cánh mũi, xé rách cuống họng bằng thứ mùi kim loại hoen gỉ, dầu cặn cháy dở và mùi tanh nồng của thứ bùn sương tích tụ qua nhiều thế kỷ trôi dạt. Nơi đây là phần ruột rỗng u tối của cảng Phong Diều, một cỗ máy khổng lồ bằng đá và sắt thép treo lơ lửng giữa tầng không, hoàn toàn cách biệt với những đài quan sát bằng đá cẩm thạch trắng muốt, những vườn treo ngập tràn phong lan mây hay các tháp buồm kiêu hãnh của tầng trên nơi giới quý tộc ngự trị. Dưới này chỉ có bóng tối, sự ẩm ướt mục ruỗng và tiếng thở phì phò của những pít-tông hơi nước cỡ lớn đang gồng mình duy trì sự sống cho cả một bến cảng trôi dạt.
Kha Duy quăng phịch một bọc vải thô dày cộp xuống mặt sàn kim loại thủng lỗ chỗ vì bị a-xít sương ăn mòn. Đôi bàn tay chai sần của hắn thoăn thoắt mở những nút thắt bện chặt, lục lọi bên trong rồi rút ra hai tấm áo choàng xám xịt, rộng thùng thình, loang lổ những vệt dầu mỡ bóng nhẫy và bám đầy bụi than đá.
"Mặc vào nhanh lên," Kha Duy giục, giọng gã hạ thấp thành một tiếng thì thầm khàn đặc, sắc lạnh như lưỡi dao cạo. Đôi mắt cảnh giác của hắn liên tục đảo qua đảo lại về phía miệng ngách tối tăm dẫn ra bến neo bên ngoài, nơi tiếng bước chân rầm rộ và tiếng chốt sắt va đập đang bắt đầu dội lại. "Áo của đám thợ lặn sương đáy tàu. Mùi của nó hơi khó ngửi một chút, nhưng lớp mỡ rái cá bay quét dày trên mặt vải sẽ chặn bớt nhiệt lượng phát ra từ cơ thể sống, cũng như ngăn đám tai mắt của ty kiểm định ngửi thấy mùi khói buồng đốt Dực Điệp còn bám trên da thịt hai người."
Lam An đón lấy tấm áo choàng từ tay gã thợ săn. Tấm áo nặng trịch, sợi vải thô ráp đến mức cọ rát cả lòng bàn tay, và ngay khi vừa nhấc lên, một mùi hăng nồng gay gắt kết hợp giữa lưu huỳnh chưa tinh lọc, mỡ động vật ôi thiu và mùi tanh của tảo sương lập tức ập tới, khiến sống mũi nàng cay xè. Lam An khẽ nhăn mặt, dạ dày cồn cào một cơn buồn nôn chực trào, nhưng nàng không hề chần chừ dù chỉ một giây. Nàng lập tức trùm tấm áo qua đầu, siết chặt hàng cúc xương xỉn màu chạy dọc thân áo.
Chiếc mũ trùm đầu rộng thùng thình sụp xuống tận sống mũi, che khuất phần lớn gương mặt tái nhợt vẫn còn vương những giọt mồ hôi lạnh ngắt sau cơn mê sảng vừa nãy. Bên dưới lớp vải gai dày cộp và dính dấp ấy, Chìa Khóa Tịch Vân vẫn áp chặt vào xương ức nàng. Kim loại cổ xưa chưa bao giờ tỏa nhiệt dữ dội đến thế; từng nhịp đập của nó truyền qua da thịt, bỏng rát và dồn dập, như thể một quả tim thứ hai bằng sắt nung đang phập phồng đòi quyền sống ngay bên trong lồng ngực nàng. Tiếng gầm đòi lại cái tên chân thật của thực thể Hắc Long Vũ Uyên trong giấc mộng kinh hoàng ban nãy vẫn còn âm vang nơi màng nhĩ nàng, nhức nhối như một vết thương hở chưa kịp khép miệng, khiến từng thớ cơ trên thái dương nàng giật giật đau đớn.
Trác Minh cũng run rẩy nhận lấy tấm áo choàng còn lại. Đôi bàn tay gầy guộc, trắng bệch của người học giả khẽ run lên khi kéo vạt áo che kín cẳng tay phải — nơi những vết sẹo xoắn ốc màu tím thẫm của Viện Chính Sử vừa trải qua một đợt cộng hưởng đau đớn đến xé thịt với chiếc chìa khóa cổ. Anh phải cắn chặt môi dưới đến bật máu để không bật ra tiếng rên rỉ, mồ hôi ướt đẫm cả mảng tóc mai dính bết vào trán. Trác Minh ngẩng đầu nhìn Kha Duy, ánh mắt dù mệt mỏi rã rời nhưng vẫn giữ nguyên vẻ tỉnh táo, cẩn trọng của một kẻ quen lần mò trong các thư tịch cấm:
"Chúng ta đang đi đâu? Tiếng chuông vừa rồi... đó là báo động phong tỏa toàn bộ bến neo phải không?"
"Đó là lệnh giới nghiêm cục bộ của Nghiệp đoàn Móc Gió," Kha Duy vừa cài lại dây nịt da bản lớn quanh hông vừa đáp, ngón tay thuần thục kiểm tra chốt an toàn của khẩu súng bắn móc neo ngắn giấu kín dưới tay áo choàng. Tiếng răng cưa cơ khí kêu lách cách khô khốc. "Lũ chó săn ấy đã ngửi thấy mùi tro rỉ sét từ Đảo Chuông Mồ Côi bám theo đuôi thuyền của chúng ta rồi. Lũ kền kền róc xương ấy sẵn sàng bán đứng bất kỳ tin tức nào về chúng ta cho Ty Giám Vân để đổi lấy mười hòm tinh thể khinh vân thượng hạng. Bến cảng chính đã bị khóa chặt, các cầu tàu nổi đều đã rút thang. Lối duy nhất có thể trốn khỏi mạng nhện của chúng và tìm cách xuống tầng thấp hơn là Chợ Móc Gió."
Kha Duy bước tới sát bên Lam An, thô bạo kéo mạnh vành mũ trùm của nàng xuống thấp thêm một chút, che kín hoàn toàn ánh mắt và vệt sáng mờ nhạt nơi cổ áo nàng, rồi chỉ ngón tay chai sần, đen đúa về phía khoảng không hun hút đen ngòm trước mặt:
"Nghe cho kỹ đây. Chợ Móc Gió không phải là nơi dành cho những kẻ thích ngắm cảnh hay mơ mộng về bầu trời tự do. Hàng trăm sạp hàng ở đó đều treo lơ lửng trên những sợi xích lớn nối giữa đáy Phong Diều và các khối đá vôi trôi dạt tự do. Sàn đi lại chỉ là những tấm ván mục buộc tạm bợ bằng dây thừng gai, bên dưới chân các người là vực thẳm Biển Mù không đáy. Bất kể nhìn thấy thứ gì quái đản, ngửi thấy mùi gì kinh tởm, hai người cũng phải cúi gầm mặt xuống. Đừng nhìn thẳng vào mắt bất kỳ tên gác cổng hay lái buôn nào. Ở cái chợ quỷ này, một ánh nhìn tò mò cũng đủ để bị coi là lời mời gọi một nhát dao găm vào thận."
Dứt lời, Kha Duy không đợi hai người đáp lại, quay phắt người dẫn đầu đoàn người lách qua khe hẹp gỉ sét giữa hai đường ống xả khí khổng lồ đang rỉ hơi nước nóng hầm hập.
Bước ra khỏi miệng ngách tối, một cảnh tượng hoang dại, hỗn loạn và rợn ngợp đập thẳng vào mắt Lam An, khiến bước chân nàng khựng lại một nhịp vì choáng váng. Không hề có một tấc đất kiên cố nào dưới chân họ. Trải dài trước mắt nàng là một mạng lưới chằng chịt những sợi xích sắt khổng lồ, mỗi mắt xích to bằng cả thân người lớn, rỉ sét đỏ quạnh như máu khô, căng ngang qua khoảng không vô tận để giằng néo hàng chục mỏm đá vôi lơ lửng trôi dạt dưới gầm thành phố. Gió đáy vực rít lên từng hồi ghê rợn qua các khe nứt của đá, thổi thốc những dải sương mù xám đục từ tầng mây thấp cuộn tròn quanh các trụ xích, lạnh buốt và nồng nặc mùi khoáng chất độc hại.
Trên những sợi xích đung đưa qua lại ấy, người ta dùng dây cáp, gỗ mục nhặt nhạnh từ xác tàu và những tấm tôn rỉ dựng nên vô số lều bạt, quầy sạp chen chúc nhau, chao đảo điên cuồng theo từng cơn gió giật từ lòng vực thẳm bốc lên. Hàng trăm chiếc đèn bão dùng mỡ khinh vân cháy leo lét, tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, ma quái, nhuốm một màu sắc bệnh hoạn lên dòng người đang lặng lẽ di chuyển như những bóng ma không hồn.
Ở đây tụ tập đủ mọi thành phần cặn bã và cùng khốn nhất của bầu trời: từ những tên thợ lặn sương mang bình dưỡng khí bằng đồng nặng nề trên lưng, khuôn mặt biến dạng vì áp suất mây; những kẻ đào tẩu trùm kín mặt bằng vải gai đen rách rưới; cho đến đám buôn lậu đồ phế tích với những ngón tay đen đúa vì dầu máy và các chất hóa học cấm. Không một ai nói chuyện lớn tiếng; mọi âm thanh của con người đều bị nuốt chửng hoàn toàn trong tiếng rít gầm rú của gió vực, tiếng kẽo kẹt rợn người của xích sắt cọ xát vào vách đá trần trụi, và tiếng thở dốc nặng nhọc, đứt quãng qua các màng lọc than hoạt tính thô sơ.
Lam An siết chặt vạt áo choàng ướt át, hít một hơi thật sâu rồi dẫm từng bước thận trọng lên tấm cầu treo bện bằng dây cáp cũ nối giữa mỏm đá nàng đang đứng với dãy lều bạt phía trước. Mỗi bước chân giẫm xuống, chiếc cầu lại võng sâu, lắc lư chao đảo dữ dội, để lộ qua những khe ván mục nát một khoảng không đen ngòm sâu thăm thẳm bên dưới — Biển Mù vô tận, nơi mà ánh sáng mặt trời chưa từng một lần rọi tới, nơi những luồng sương lạnh buốt thi thoảng lại phun trào lên qua các khe nứt như hơi thở phì phò của một loài quái vật khổng lồ đang ngủ say dưới đáy sâu.
Trác Minh đi sát ngay phía sau nàng. Một tay anh bám chặt vào sợi dây vịn kim loại lạnh buốt đến mức đóng một lớp muối sương trơn trượt, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì dùng lực. Hơi thở của người học giả có phần gấp gáp, ngực phập phồng nặng nhọc, nhưng đôi mắt sau vành mũ trùm vẫn không ngừng đảo qua các kết cấu giằng néo cơ khí phức tạp của khu chợ trôi. Bản năng ghi chép và phân tích của một người từng làm việc tại Viện Chính Sử khiến anh chú ý đến từng khớp nối, từng mối hàn tạm bợ đang níu giữ hàng ngàn mạng người lơ lửng trên cõi chết.
"Cứ bám sát gót tôi," Kha Duy thì thào qua kẽ răng, giọng nói lẫn vào tiếng gió rít. Bước chân của gã thợ săn nhẹ nhàng và điêu luyện đến kinh ngạc, như một con mèo rừng lướt đi trên dây thép gai, thân hình gã uyển chuyển triệt tiêu từng nhịp lắc lư của cây cầu treo mục nát. "Chúng ta cần tìm một món đồ trước khi tính đến chuyện tìm đường rút khỏi cái tổ kiến vỡ này."
Họ len lỏi qua những sạp hàng bán rong đầy nhớp nháp, bốc lên mùi hôi thối của sự mục rữa. Có những sạp bày bán la liệt những chai thủy tinh đục ngầu chứa mây ký ức thứ cấp — thứ phế phẩm hạ đẳng bị Ty Giám Vân thải loại ra khỏi các buồng thanh tẩy của hoàng gia, đã bị đám lái buôn chợ đen pha loãng bằng dầu khoáng rẻ tiền đến mức chỉ còn lại những ảo ảnh mờ nhạt, méo mó về những bữa ăn thừa mứa, những khuôn mặt mờ căm hay những cuộc cãi vã vô nghĩa của những thị dân vô danh đã khuất bóng từ nhiều năm trước. Đám nghiện mây ký ức ngồi co ro quanh những chiếc bàn gỗ bẩn thỉu, cắm những chiếc ống hút bằng đồng vào chai, hít từng ngụm khí đục ngầu với đôi mắt dại đờ, trắng dã.
Ở những sạp hàng khác, người ta chào bán những mảnh xương thú bay hóa thạch đen nhánh, những khối động cơ tàu lượn bị nứt vỡ và vô số linh kiện khí thuyền bị quân đội cấm đoán. Càng đi sâu xuống phía dưới, sàn chợ càng dốc đứng, những bậc thang gỗ trơn trượt nối đuôi nhau chìm dần vào làn sương mù càng lúc càng đậm đặc, buốt giá đến thấu tận tủy xương.
Cuối cùng, Kha Duy dẫn họ rẽ vào một góc khuất gần bến xả sương mù thấp của cảng Phong Diều. Nơi đây là điểm tận cùng của hệ thống thải loại, nơi những đường ống dẫn bằng gang khổng lồ liên tục tống chất thải cơ khí, dầu cặn và khí mây độc từ tầng trên của thành phố thẳng xuống lòng Biển Mù. Tiếng sương mù thoát ra từ các van điều áp rít lên xì xì chói tai như bầy rắn độc khổng lồ đang quần thảo, tạo thành một tấm màn hơi nước dày đặc, mờ mịt, che chắn tự nhiên một cách hoàn hảo khỏi tầm mắt soi mói của bất kỳ toán lính tuần tra nào trên cao.
Tại góc tối ẩm ướt, đọng đầy những vũng nước dầu bóng nhẫy ấy, co quắp bên cạnh một mỏm đá xám phủ đầy địa y phát quang màu lục nhạt, một gã lái buôn đồ cổ đang ngồi xổm trên tấm bạt rách nát. Gã trùm kín mít trong một chiếc áo da thú biển mòn vẹt, nứt nẻ vì sương muối, trên trán đeo một cặp kính bảo hộ kỳ dị có nhiều tròng kính xoay được, các bề mặt thủy tinh đều bị phủ kín một lớp bụi khoáng chất màu nâu đỏ. Đôi bàn tay gầy trơ xương, đen đúa và nứt nẻ như rễ cây khô của gã đang lúi húi dùng giẻ tẩm cồn lau chùi những món đồ kim loại kỳ dị được trục vớt từ các tầng mây dưới: vài chiếc la bàn từ tính bị vỡ mặt kính, kim chỉ xoay tròn một cách vô định; những chiếc đinh tán bằng hợp kim cổ đã bị áp suất nén đến biến dạng; và một cụm máy móc cơ khí thô sơ bám đầy rỉ đồng xanh ngắt.
Nghe thấy tiếng bước chân dẫm lên những tấm ván mục lạo xạo, gã lái buôn không hề ngẩng đầu lên, bàn tay vẫn tiếp tục chà mạnh vào một mảnh đồng rỉ, chỉ cất giọng khàn đục như tiếng hai hòn đá nhám cọ xát vào nhau:
"Muốn mua ký ức vụn hay đồ sắt mục? Hàng vớt dưới vành đai sương lạnh tầng sâu, nguyên chất một trăm phần trăm, chưa từng bị đám mũi hếch ở Ty Giám Vân thọc ống hút vào thanh tẩy đâu. Giá ba đồng bạc khinh vân một món, không mặc cả, không trả lại. Ưng mắt thì lấy, không ưng thì cút xéo cho rảnh mắt."
Kha Duy bước lên nửa bước, hai tay vẫn thọc sâu vào túi áo choàng rộng, cố ý hé vạt áo để lộ ra một góc cán dao găm bằng xương thú khắc biểu tượng ba chiếc lông vũ chéo nhau — ám hiệu mật của Đàn Chim Không Tổ:
"Chúng tao không cần thứ rác rưởi của đám thị dân chết đuối trôi sông. Nghe nói hôm qua có kẻ vừa kéo được một mẻ đồ cổ lạ lùng từ rìa đáy Biển Mù lên bến xả này."
Đôi mắt đùng đục sau lớp kính bảo hộ dày cộp của gã lái buôn khẽ co rút lại khi nhìn thấy ký hiệu ba chiếc lông vũ. Bàn tay đang lau đồ của gã đột ngột dừng lại giữa không trung. Gã im lặng vài giây, lắng tai nghe tiếng xì xì của ống xả sương mù phía sau, rồi từ từ thò tay vào sâu trong một chiếc hòm gỗ sồi bọc chì kiên cố đặt cạnh sườn, lôi ra một vật thể hình trụ dài chừng một gang tay.
Đó là một ống đồng ghi âm hoen rỉ, bề mặt bám đầy lớp muối sương xám xịt và những vết cào xước sâu hoắm của thời gian, nhưng các đường rãnh xoắn ốc khắc chìm trên thân ống kim loại vẫn còn giữ được độ sắc nét kỳ lạ. Ống đồng được cắm cố định vào một thiết bị đọc cơ học chạy bằng dây cót mini, bên trên gắn một chiếc loa kèn nhỏ bằng thiếc mỏng đã bị móp méo một bên vành.
"Món này trục vớt được từ một xác bè trôi dạt gần tầng sương độc thứ bảy," gã lái buôn hạ thấp giọng xuống mức tối đa, thì thào đầy vẻ bí hiểm, ánh mắt lấm lét nhìn quanh màn sương mù bao bọc. "Không phải tinh thể mây lưu trữ của triều đình đâu. Đây là thứ ghi âm rãnh khắc cơ học cổ sơ của mặt đất trước thời kỳ Đảo Bay. Nghe thử đi, nhưng cẩn thận cái lỗ tai của các người đấy. Nó phát ra những thứ âm thanh rền rĩ kỳ quặc lắm, nghe lâu có thể khiến thần trí bị đảo lộn, đầu óc quay cuồng như bị rút cạn tủy."
Gã đưa ngón tay gầy guộc vặn chiếc khóa cót bên hông chiếc máy. Một tiếng *tách* khô khốc vang lên, bánh răng cơ khí bắt đầu ăn khớp, kéo theo tiếng kim thép nhọn hoắt cào lạo xạo lên bề mặt rãnh khắc của ống đồng rỉ sét.
*Rè... rè... roẹt...*
Ban đầu, từ miệng chiếc loa kèn thiếc chỉ phát ra những âm thanh nhiễu loạn của thời gian bị vùi dập — tiếng sôi lục bục của sương mù bị nén dưới đáy sâu, tiếng gió hú gầm gừ qua những hẻm vực đá thăm thẳm, và những tiếng rền rĩ trầm đục, ai oán đến gai người, tựa như tiếng kêu gào tuyệt vọng của vô vàn sinh linh đang bị chôn vùi dưới tầng tầng lớp lớp đất đá ngàn năm. Âm thanh ấy nặng trĩu, u uất và mang theo một sức nặng ngột ngạt kỳ lạ, một thứ trọng lực vô hình hoàn toàn đối nghịch với sự nhẹ bẫng, thanh thoát của những điệu nhạc chuông sương du dương nơi các thành phố bay trên đỉnh mây.
Rồi, từ trong mớ tạp âm hỗn loạn và rách nát ấy, một giọng hát mộc mạc, khàn đục nhưng vang dội bỗng cất lên.
Đó là một đoạn điệp khúc ngắn ngủi, được ngân nga bằng một thứ ngôn ngữ cổ xưa thô ráp, trầm hùng — thứ ngôn từ bắt nguồn từ đá tảng kiên cố, từ rễ cây bám chặt vào lòng đất, từ bùn lầy màu mỡ và những dòng nước ngầm cuộn sóng của mặt đất nguyên sơ, thứ thổ ngữ mà các tu viện hoàng triều đã thẳng tay bài trừ, kết tội là tà ngữ man rợ và cấm lưu truyền suốt hàng trăm năm qua:
*“Hỡi ngài mang cánh bóng đêm... Người giấu tên mình dưới đáy vực câm... Khi bầu trời bị đánh cắp... Hãy nghe tiếng gọi từ rễ cây...”*
*Ong!*
Một luồng xung động điện từ vô hình, sắc lẹm bất thình lình quét qua không gian ẩm ướt của bến xả sương mù, làm không khí chung quanh dường như đông cứng lại trong tích tắc.
Ngay khoảnh khắc những âm tiết cổ xưa thô ráp ấy vang lên từ chiếc loa kèn bằng thiếc, Chìa Khóa Tịch Vân giấu sâu trong vạt áo trước ngực Lam An bỗng nhiên rung lên bần bật. Cú giật mạnh bạo đến mức khiến toàn thân nàng chấn động, lồng ngực nhói buốt như bị một bàn tay vô hình bằng sắt nung bóp nghẹt lấy tim.
Bên dưới lớp áo choàng thợ lặn sương nhớp nháp và bốc mùi, chiếc chìa khóa cổ xưa bắt đầu tỏa ra một vầng hào quang xám bạc mờ ảo nhưng thấu triệt, xuyên qua từng thớ vải thô. Các đường vân xoắn ốc chằng chịt trên tầng Danh — tầng phong ấn đầu tiên trên thân chìa — bỗng nhiên chuyển động cơ học một cách kỳ diệu. Từng ký tự cổ tựa như những mạch máu đang thức giấc sau giấc ngủ ngàn năm, phát sáng nhấp nháy và nhảy múa đồng nhịp một cách chuẩn xác với từng âm tiết đang phát ra từ chiếc ống đồng hoen rỉ!
Lam An run rẩy đưa cả hai tay ép chặt lấy ngực mình, cố gắng đè nén cơn đau buốt và nhịp đập cuồng loạn đang dâng lên. Nàng cảm nhận được sự cộng hưởng rõ mòn mọt chạy dọc theo từng đường gân thớ thịt: từng nốt nhạc trầm đục, từng nhịp luyến láy thô ráp của bài hát cổ này hoàn toàn không phải là một giai điệu trần tục để giải khuây, mà chính là những mã khóa âm thanh, những mảnh ghép phát âm chuẩn xác của cái tên chân thật mà thực thể khổng lồ Hắc Long Vũ Uyên đã quằn quại gào thét đòi lại trong giấc mơ kinh hoàng của nàng!
Bên cạnh nàng, Trác Minh cũng khựng người lại, cả người lảo đảo suýt ngã về phía sau. Anh vội vã ôm chặt lấy cẳng tay phải của mình, nghiến chặt răng đến mức quai hàm bạnh ra để ngăn một tiếng rên rỉ đau đớn thoát ra ngoài. Những vết sẹo phong ấn của Viện Chính Sử dưới lớp băng vải dày cộp đang bùng lên một cơn đau xé thịt xé da, phát ra ánh sáng tím mờ ảo xuyên thấu qua lớp vải gai thô xám, đối chọi gay gắt với ánh sáng bạc từ lồng ngực Lam An.
"Lam An..." Trác Minh thở hắt ra, mồ hôi chảy ròng ròng trên mặt, ánh mắt anh dán chặt vào chiếc máy quay cót mini bằng một vẻ kinh hãi tột cùng, giọng run lên bần bật. "Cấu trúc ngữ âm này... đó là thứ tiếng của người mặt đất nguyên thủy... Các ký tự phong ấn trên tầng Danh... chúng đang bị kích hoạt và phản ứng với nó!"
Bản nhạc đột ngột dừng lại bằng một tiếng *khực* chói tai. Chiếc kim thép trượt khỏi rãnh xoắn tận cùng của ống đồng, chỉ còn lại tiếng rít gió vô hồn, lẹt xẹt rỗng tuếch phát ra từ chiếc loa kèn thiếc.
Không thể kìm nén thêm được nữa, Lam An bước vọt lên một bước, bỏ qua mọi lời cảnh báo thận trọng của Kha Duy. Bàn tay nàng run rẩy chộp lấy vành chiếc loa kèn bằng thiếc, kéo giật về phía mình, giọng nói nàng nghẹn ngào nhưng chất chứa một sự bức bách dữ dội đến nghẹt thở:
"Phần còn lại ở đâu? Bài hát này... rốt cuộc ai là người đã hát nó? Toàn bộ cuộn ghi âm gốc đâu rồi?!"
Gã lái buôn giật nảy mình hoảng hốt trước phản ứng điên cuồng và đột ngột của cô gái trẻ trùm kín mặt. Đôi mắt sau tròng kính bảo hộ dày cộp mở to hết cỡ, gã toan giật lùi chiếc máy lại để ôm vào lòng thì Kha Duy đã nhanh như cắt tì một bàn tay bọc găng da cứng như thép nguội xuống mặt bàn gỗ, chặn đứng hoàn toàn cử động của gã. Khẩu súng bắn móc neo trong tay áo Kha Duy khẽ nâng lên một góc hiểm hóc, nòng súng đen ngòm nhắm thẳng vào ngực gã lái buôn qua khe hở của lớp áo choàng.
"Bình tĩnh nào, lão già," Kha Duy gằn giọng, giọng điệu lạnh tanh, sắc bén như một tảng băng trôi nhưng ẩn chứa sự đe dọa tàn nhẫn không chút khoan nhượng. "Cô ấy đang hỏi lão một cách rất tử tế đấy. Nói thật thì có bạc mang về mua rượu, còn nói dối hay giở trò thì tao bảo đảm sợi dây cáp treo sạp hàng dưới chân lão sẽ tự đứt lìa ngay bây giờ đấy."
Gã lái buôn nuốt nước bọt đánh ực một cái, yết hầu giật lên giật xuống. Gã nhìn chằm chằm vào đôi mắt tóe lửa, rực lên một thứ ánh sáng xám bạc kỳ dị của Lam An, rồi lại liếc nhìn nòng súng lạnh ngắt của Kha Duy đang dí sát tim mình. Đôi môi thâm sì, nứt nẻ của gã mấp máy trong sợ hãi tột cùng:
"Tôi... tôi thề là tôi không giữ phần còn lại! Ống đồng rỉ sét này chỉ là một đoạn bản thử bị lỗi kỹ thuật, một mảnh phế phẩm nhặt nhạnh được trong đống rác trôi dạt thôi! Cuộn ghi âm gốc hoàn chỉnh... nó dài gấp mười lần thế này, được thợ kim hoàn cổ đại khắc chìm trên một ống hợp kim bạc nguyên chất không bao giờ gỉ sét..."
"Nó hiện đang ở đâu?" Lam An gặng hỏi dồn dập, từng ngón tay nàng siết chặt lấy vành loa thiếc đến mức kim loại mỏng móp méo, biến dạng dưới lực bóp vô thức của nàng. Chiếc chìa khóa trên ngực nàng vẫn đang đập thình thịch, tỏa ra từng luồng nhiệt lượng nghẹt thở như thiêu đốt tâm can.
"Nó bị người ta mua mất rồi!" Gã lái buôn kêu lên the thé, hai tay giơ lên trời run lẩy bẩy như cành cây trước gió bão. "Đêm hôm trước... ngay tại bến neo số chín của cảng ngoài! Một kẻ trùm kín trong chiếc áo khoác đen tuyền gắn toàn lông chim... mùi sương mù trên người gã đó lạnh ngắt như băng tuyết dưới tầng đáy... Gã vung ra cả một túi da đầy ắp tinh thể khinh vân tím loại một — loại tinh khiết nhất chỉ có ở hoàng cung — để mua đứt cuộn ghi âm gốc cùng toàn bộ tài liệu hải trình cổ đi kèm với nó!"
Kha Duy sững sờ. Toàn thân gã thợ săn cứng đờ lại như hóa đá, bàn tay đang đè chặt trên mặt bàn gỗ bỗng chốc siết chặt đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra:
"Áo khoác gắn lông chim đen tuyền?.. Hội Hắc Dực?!"
"Phải, phải! Chính là bọn tàn dư Hắc Dực hung tợn ấy!" Gã lái buôn vội vã gật đầu lia lịa, vẻ mặt kinh hoàng như thể vừa nhắc đến ma quỷ giữa ban ngày. "Tôi nhận ra chiếc huy hiệu móng vuốt chim bằng sắt đen cài trên cổ áo gã. Gã đó không thèm trả giá lấy một câu, không tiếc tiền bạc, chỉ cần đưa ống bạc lên tai nghe thử đúng ba giây là lập tức thâu tóm toàn bộ, còn rút đoản kiếm đe dọa sẽ cắt lưỡi tôi nếu tôi dám hé răng nửa lời về nguồn gốc của cuộn kim loại đó cho bất kỳ ai!"
Lam An cảm thấy lồng ngực mình thắt lại, nghẹt thở như có một tảng đá ngàn cân đè nặng. Hội Hắc Dực — tổ chức bí mật đầy nguy hiểm mà Diệp Sương từng nhắc tới với vẻ mặt nặng nề, những kẻ tôn thờ thực thể Vũ Uyên như một vị thần hủy diệt và mang mối huyết thù ngàn năm không đội trời chung với triều đình Bạch Vân — cũng đang ráo riết săn lùng bài hát này.
Bọn họ muốn cái tên thật của Hắc Long để làm gì? Để giải thoát cho sinh vật cổ xưa đang oằn mình gánh vác bầu trời, hay để lợi dụng cơn thịnh nộ bị giam cầm suốt thiên niên kỷ của nó nhằm xé toạc toàn bộ các hòn đảo bay, dìm tất cả thế giới trên cao vào cõi diệt vong?
Hình ảnh Hạ Miên, người em gái nuôi mà Kha Duy hết lòng bảo bọc, người đang dấn thân thâm nhập vào nhánh cực đoan nhất của tổ chức tàn bạo này, chợt lướt qua tâm trí Lam An. Nàng liếc nhìn Kha Duy, nhận thấy cơ hàm của gã thợ săn đang nghiến chặt lại, trong đáy mắt gã lóe lên một ngọn lửa lo âu và phẫn uất đang bị đè nén đến cực điểm. Không khí quanh họ bỗng chốc trở nên đặc quánh, nặng nề như chì lỏng.
Trác Minh bước lên một bước, đứng song song với Lam An. Giọng anh trầm tĩnh nhưng dồn dập, sắc bén như một mũi khoan thăm dò vào sự thật:
"Ngươi vừa nói đến nguồn gốc... Ngươi bảo kẻ đó đe dọa cắt lưỡi ngươi nếu tiết lộ nguồn gốc. Vậy bản ghi âm gốc ấy thực sự được trục vớt từ đâu? Thứ ngôn ngữ thô ráp này thuộc về ai? Ai là kẻ đã khắc nên bài hát đó?"
Gã lái buôn đảo mắt nhìn quanh một cách lấm lét, rụt cổ lại giữa hai bờ vai gầy guộc. Gã ghé sát mặt về phía ba người, hạ giọng xuống đến mức gần như chỉ còn là một luồng hơi gió run rẩy thoảng qua kẽ răng:
"Các người... các người thật sự sống trên mây mà không biết chút gì sao? Hay các người bị đám tu sĩ ở các tu viện nhồi sọ đến mức mù quáng rồi? Bài ca này không thuộc về bất kỳ thành phố bay nào trên bầu trời này cả. Nó không thuộc về Phong Diều, không thuộc về Đảo Chuông Mồ Côi, càng không thuộc về Hoàng Đô Bạch Vân. Nó là di sản truyền khẩu của Làng Đáy Trời."
"Làng Đáy Trời?" Lam An lặp lại từng từ một, đôi mày thanh tú chau lại đầy nghi hoặc và ngỡ ngàng. Cái tên xa lạ ấy vừa thốt ra đã khiến một luồng điện lạnh chạy dọc sống lưng nàng.
"Đúng vậy, Làng Đáy Trời!" gã lái buôn thì thào, trong đáy mắt vẩn đục sau tròng kính bảo hộ ánh lên một nỗi kinh hoàng pha lẫn sự sùng kính kỳ lạ, hoang dại. "Triều đình Bạch Vân và đám quan lại Ty Giám Vân suốt một ngàn năm qua luôn rêu rao rằng mặt đất bên dưới đã chết hoàn toàn từ sau Cuộc Phân Tách Lớn. Bọn chúng dạy cho con nít rằng Biển Mù chỉ toàn là độc khí, a-xít và sương mù hủy diệt, rằng ngoài các hòn đảo bay được Vân Tâm che chở thì khắp thế gian này chẳng còn một sinh linh nào có thể sống sót... Nhưng tất cả những thứ đó đều là những lời dối trá tởm lợm nhất từng được thốt ra!"
Gã nuốt khan một ngụm nước bọt, chỉ ngón tay khẳng khiu xuống mặt sàn thủng lỗ chỗ, hướng thẳng về đáy vực sâu hun hút:
"Dưới đáy Biển Mù kia, ngay trên mặt đất đá rắn chắc nguyên thủy, vẫn còn một cộng đồng người phàm đang ngoan cường sinh tồn! Họ không có đá bay, không có khinh vân, họ phải bám rụi quanh những cây tháp đồng khổng lồ cổ xưa từ thời tiền sử, dùng năng lượng sấm sét đánh từ trên trời xuống để xua đuổi mây mù độc hại. Họ không dùng mây để lưu trữ và đánh cắp ký ức như đám quý tộc đạo đức giả trên này. Họ khắc lịch sử vào đá tảng, họ truyền dạy sự thật bằng những bài ca cổ truyền miệng qua bao thế hệ! Bài hát chứa đựng từng âm tiết trong tên thật của con rồng đen đang bị xích... chính là bài ca tổ truyền thiêng liêng nhất của họ!"
Từng lời, từng chữ của gã lái buôn đồ cổ giáng xuống tâm trí Lam An tựa như những nhát búa tạ ngàn cân nện thẳng vào đe sắt.
Mặt đất vẫn còn sống.
Lời tuyên truyền giáo điều suốt mười sáu năm ròng rã mà nàng được dạy dỗ, được nhồi nhét vào đầu tại tu viện Đảo Chuông Mồ Côi hoàn toàn là một tấm màn che đậy khổng lồ và tàn độc. Triều đình Bạch Vân không chỉ tước đoạt ký ức của người chết để duy trì sự bất tử giả tạo cho tầng lớp thống trị; không chỉ đóng đinh xích sắt vào da thịt Hắc Long Vũ Uyên để vắt kiệt sinh lực của nó nhằm duy trì lực nâng dối trá cho những hòn đảo bay kiêu kỳ; mà bọn họ còn cố tình xóa bỏ sự tồn tại của cả một giống loài, những con người bằng xương bằng thịt đang ngày đêm chịu đựng hàng triệu tấn chất thải sương mù độc hại trút xuống đầu họ từ thế giới xa hoa bên trên!
Cơn phẫn nộ cùng sự bàng hoàng trào dâng trong huyết quản Lam An, khiến lồng ngực nàng rung lên dữ dội. Chiếc chìa khóa trước ngực nàng dường như cũng cảm nhận được cơn chấn động ấy, nó rung lên từng hồi trầm đục, như một lời ai điếu bi tráng đồng vọng với bài ca dưới đáy vực.
"Làm sao... làm sao để xuống được đó?" Lam An tiến sát lại, túm chặt lấy cổ áo da thú của gã lái buôn, kéo xốc gã lên, giọng nàng nghẹn lại trong một cơn xúc động tột cùng xen lẫn tuyệt vọng. "Đường xuống Biển Mù... lối đi xuyên qua các tầng sương độc để đến Làng Đáy Trời nằm ở đâu?! Nói mau!"
"Tôi không biết! Tôi thề trên linh hồn rỉ sét của tôi là tôi không biết!" Gã lái buôn hoảng loạn xua tay, mắt trợn trừng. "Chỉ có những hoa tiêu điên rồ nhất của Hội Hắc Dực hoặc những kẻ nắm giữ hải trình cấm mới..."
Gã chưa kịp dứt câu thì một chuỗi âm thanh kinh hoàng bất ngờ xé toạc bầu không khí ngột ngạt của Chợ Móc Gió.
*KENG! ROẸT! ROẸT!*
Đó là tiếng kim loại nặng va đập chát chúa, chói tai vang lên từ phía đầu cầu xích chính dẫn vào chợ. Tiếng các trục tời và cót xích khổng lồ quay điên cuồng với tốc độ xé gió, kéo theo tiếng những tấm rào chắn bằng thép đặc dày cả gang tay sập mạnh xuống mặt sàn đá, làm rung chuyển dữ dội cả một góc chợ treo lơ lửng.
"Có biến lớn rồi!" Kha Duy giật phắt người lại, rút hẳn khẩu súng bắn móc neo ra khỏi tay áo, ngón tay áp chặt vào cò súng, đôi mắt trừng lên đầy sát khí nhìn trừng trừng về phía lối đi duy nhất dẫn ngược lên thân tàu của cảng Phong Diều.
Tiếng chuông đồng báo động của Nghiệp đoàn Móc Gió bỗng nhiên im bặt một cách bất thường, không còn một âm vang nào sót lại. Thay vào đó, một hồi còi lệnh bằng đồng đúc ba nốt trầm đục, đanh thép, lạnh lùng và dứt khoát rúc lên từng hồi dài xé ruột, vang dội khắp khoảng không gian tăm tối dưới gầm thành phố.
*U... U... OÀNH!*
Từng cánh cổng sắt thoát hiểm dọc theo các trục xích chịu lực của khu chợ lần lượt bị sập chốt cơ học tự động từ phía trên cao. Những tấm lưới khổng lồ bện bằng sợi thép gai dày đặc rủ xuống rào rào từ gầm thành phố, cắt đứt hoàn toàn mọi lối thông sang các mỏm đá vôi lơ lửng lân cận. Hơi nước áp lực cao từ các van xả phụt ra trắng xóa, che khuất tầm nhìn, kèm theo tiếng la hét hỗn loạn, tiếng xô đẩy giẫm đạp kinh hoàng của đám thương nhân buôn lậu, đám nghiện mây và những tên thợ lặn sương khi họ bàng hoàng nhận ra mình đã bị nhốt kín hoàn toàn trong một chiếc lồng sắt treo lơ lửng giữa trời cao.
Từ đầu cầu xích lớn dẫn vào chợ, làn sương mù xám đục bị xé toạc không thương tiếc bởi những bước chân nặng nề, dứt khoát, kim khí va vào nhau rổn rảng và đều tăm tắp như một cỗ máy nghiền khổng lồ đang tiến tới.
Những chiếc áo choàng màu xám tro viền lông chim bằng thép sắc lẹm xao động phần phật trong gió lốc đáy vực. Ánh sáng chói lòa từ những ngọn đuốc hóa học rực lên ngọn lửa màu xanh lơ ma quái, soi rõ những bộ giáp ngực bằng thép đen mờ không hề phản quang, trên vai mỗi tên lính đều khắc nổi biểu tượng đôi cánh bằng lưỡi kiếm đan chéo — huy hiệu quân sự đáng sợ nhất, tàn bạo nhất của vùng biên giới bầu trời.
Một toán tuần tra mang quân phục của Quân đoàn Thiết Vũ bất ngờ phong tỏa toàn bộ lối ra của Chợ Móc Gió.