Bức Tranh Thứ Mười BaC.28 / 32
Chương 28

Kho lưu trữ Diệp Sơn

Lớp rêu phong dày đặc bám trên cánh cửa sắt đôi của khu nhà kho bằng gạch cổ ven vườn cây sơn giống; chìa khóa đồng tra vào ổ khóa niêm phong phát ra tiếng cọt kẹt trầm đục sau nhiều thập niên ngủ vùi.

Tiếng kim loại miết vào nhau khô khốc rạch toạc bầu không khí tĩnh mịch của buổi sáng ven rạch Bà Lụa. Cụ Bùi Tấn Phúc hai tay nắm chặt chiếc chìa khóa đồng dài có khía răng hình chữ T, khớp ngón tay gồ ghề nổi rõ những đường gân xanh xao của tuổi ngoài tám mươi. Ổ khóa ngầm bằng gang đúc kiểu Pháp thời thuộc địa đã ngậm chặt lấy then cài suốt bao năm tháng ẩm ướt của vùng sông nước Lái Thiêu. Cụ Phúc dồn lực từ bả vai, xoay một vòng bán nguyệt trọn vẹn sang bên phải. Lò xo thép bên trong rít lên một chuỗi âm thanh ken két, rồi một tiếng “cạch” đanh gọn, nặng trịch dội lên từ sâu thẳm hộp khóa. Cánh cổng sắt dày, vốn từng được quét một lớp sơn chống rỉ màu xám chì đã tróc lở từng mảng lớn để lộ màu sắt nâu rỗ hoa thị, rung lên bần bật rồi từ từ hé mở một khe hẹp bằng nửa gang tay.

Hơi lạnh tích tụ từ lòng đất ẩm và mùi của bốn mươi năm cách biệt phả ra qua khe cửa hẹp, chạm vào da thịt buốt rười rượi.

Cùng lúc đó, tiếng động cơ gầm rú xé toạc không gian yên ắng của rặng cây ven bờ rạch. Tiếng phanh xe ken két vang lên gấp gáp từ khúc quanh con đường đất đỏ rợp bóng những tán duối già và me nước, nơi lối mòn dẫn từ quốc lộ chạy sâu vào doi đất biệt lập của dòng họ Trương. Một chiếc Mercedes gầm thấp màu đen bóng loáng dừng sững lại ngay sát rặng duối già, đuôi xe trượt vạt một vệt dài trên cỏ ướt. Lớp bụi đất đỏ mịn bám đầy hốc bánh, vương vãi lên tận kính chiếu hậu và nẹp sườn xe mạ crom sau một chặng đường dài vượt tốc độ sinh tử từ trung tâm Sài Gòn xuyên qua Thuận An để xuống Tương Bình Hiệp.

Động cơ xe vẫn còn rên rỉ những nhịp ngắt quãng nóng rực trước khi tắt lịm. Cửa xe phía người lái bật mở thô bạo, va vào cành duối khô phát ra một tiếng rắc gãy vụn.

Trương Minh Khang bước xuống. Đôi giày da hàng hiệu của ông ta sụp ngập vào lớp bùn nhão bên vệ đường, nhưng người đàn ông trung niên dường như không còn bận tâm đến vẻ ngoài hào nhoáng thường nhật. Chiếc áo sơ mi lụa màu xám tro đắt tiền nhăn nhúm ở vạt trước, những nếp gấp xô lệch chứng tỏ người mặc đã ngồi lì trên ghế lái suốt nhiều giờ trong cơn bấn loạn tột độ. Chiếc cà vạt lụa sọc xanh bị giật lỏng sang một bên cổ áo, nút trên cùng bung đứt để lộ hõm cổ gầy rộc và làn da xám xịt. Đôi mắt Khang thâm quầng như hai hốc tối, tròng mắt vằn lên những tia máu đỏ lòm—hậu quả của ba đêm trắng đối diện với các cuộc gọi đòi nợ ráo riết từ giới giang hồ tài chính, những lá đơn khiếu nại của các nhà đầu tư thứ cấp và bản quyết định phong tỏa tài sản khẩn cấp từ tòa án vừa tống đạt tối hôm qua.

Khang thở dốc, lồng ngực phập phồng sau làn áo mỏng. Đôi bàn tay run rẩy đưa lên vuốt lại mớ tóc đã rối bù vì gió lốc, ánh mắt hoang mang, thất thần quét qua toàn bộ khung cảnh hoang liêu trước mắt: căn nhà kho hai tầng xây bằng gạch thẻ nung già từ thập niên 1930 với những mảng tường rêu phong loang lổ như da báo, mái ngói âm dương rêu xám xô lệch phủ đầy lá rụng của cây sơn giống, và nhóm người đang lặng lẽ vây quanh bậc thềm đá tảng xanh trước cánh cổng sắt.

— Cậu Khang... — Bảo Châu khẽ gọi.

Giọng cô gái trẻ cất lên giữa tiếng gió sớm lay động cành lá, thanh thoát nhưng trĩu nặng sự từng trải sau những ngày biến cố liên tiếp dồn dập. Trong ánh mắt Bảo Châu nhìn người chú ruột thịt, người từng rắp tâm đẩy di sản của gia đình vào vòng xoáy kim tiền, không hề có vẻ trách cứ hay đắc thắng; ở đó chỉ phảng phất sự mệt mỏi tột cùng cùng một thoáng thương cảm sâu xa dành cho một kẻ lạc lối đang đứng bên bờ vực thẳm.

Luật sư Nguyễn Hoài Thu chỉnh lại gọng kính cận viền titan, bước lên nửa bước chắn giữa thềm đá. Bà giơ tập hồ sơ pháp lý kẹp chặt trong chiếc bìa da đen bóng về phía Khang, giọng điềm đạm, gãy gọn nhưng mang sức nặng chuẩn mực tuyệt đối của luật pháp:

— Anh Khang đến đúng lúc lắm. Chín giờ sáng nay, Tòa án Nhân dân quận Bình Thạnh đã chính thức ban hành quyết định đình chỉ vô điều kiện mọi thủ tục thi hành án phát mãi đối với toàn bộ bất động sản và hiện vật mỹ thuật thuộc quyền sở hữu của cố họa sĩ Trương Diệp. Đồng thời, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và bắt tạm giam đối với Phạm Đức Lâm cùng nhóm chuyên viên thẩm định của sàn đấu giá Lam Thành về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức. Chúng tôi có mặt ở đây để thực hiện thủ tục mở kho lưu trữ theo đúng quy chế di sản bổ sung năm 2019 do đích thân thân phụ anh lập ra. Sự hiện diện của anh với tư cách người thừa kế theo pháp luật hàng thứ nhất là hoàn toàn hợp lệ, và là điều kiện cần thiết để hoàn tất chuỗi bảo quản pháp lý trước sự chứng kiến của các bên liên quan.

Minh Khang nhìn trân trân vào con dấu đỏ chót in trên góc bìa hồ sơ của luật sư Thu. Đôi mắt ông ta giật giật, rồi ánh nhìn trượt qua Quách Nhật Nam và Trương Bảo Châu—hai người đang đứng điềm tĩnh bên cạnh chiếc vali kỹ thuật bọc nhôm và chiếc hộp gỗ thông bọc nẹp đồng chuyên dụng vừa được tiếp nhận bảo quản khẩn cấp từ buồng ủ số một của xưởng Cây Sơn—rồi dừng lại ở gương mặt nghiêm nghị của Lê Tường Vân và bóng lưng còng gầy guộc của cụ Bùi Tấn Phúc. Đôi môi thâm xì của Khang mấp máy, cổ họng nghẹn ứ lại như bị một nắm tro tàn chẹn ngang, không sao thốt nên lời trọn vẹn.

Không còn chút dáng vẻ ngạo nghễ, trịch thượng của một doanh nhân mỹ thuật từng vung tiền mua chuộc truyền thông, quen dùng các con số định giá hàng triệu đô la để áp đặt quyền uy và coi thường những người thợ thủ công nghèo khó, Khang của lúc này chỉ là một kẻ vừa bước hụt chân qua miệng hố phá sản. Người đàn ông ngơ ngác nhìn quanh, vừa sợ hãi vừa tò mò, hoang mang không thể hiểu nổi người cha quá cố vốn sống cả đời đạm bạc, khép kín lại có thể che giấu điều gì sau những bức tường gạch cổ kính rêu phong nằm sâu nơi heo hút này.

— Cha tôi... — Khang khàn giọng, âm thanh khô khốc như tiếng hai mảnh vỡ cọ xát. — Cả đời cha tôi chưa từng mua nổi một miếng đất mặt tiền... Ông ấy thực sự để lại một khối tài sản ở chốn hoang phế này sao? Không phải vàng ròng dự trữ, không phải các sổ tiết kiệm ngoại tệ gửi tại ngân hàng Thụy Sĩ như đám người của Lam Thành từng rỉ tai tôi suốt nửa năm qua?

— Vào trong rồi anh sẽ hiểu thế nào là tài sản thật sự của danh họa Trương Diệp, — Quách Nhật Nam khẽ đáp, giọng anh trầm ổn, đôi mắt sáng kiên định nhìn thẳng vào gương mặt đang méo mó vì suy sụp tinh thần của người đàn ông. — Tiền bạc hay vàng thỏi có thể bốc hơi sau một cú sụp đổ sàn giao dịch, nhưng những gì cụ Trương Diệp giữ lại ở đây là thứ mà cả sản nghiệp của Lam Thành hay những kẻ đầu cơ như Phạm Đức Lâm cũng không bao giờ có đủ tư cách để định giá.

Cụ Bùi Tấn Phúc không nói thêm một lời nào. Cụ đặt hai bàn tay thô ráp lên then cài bằng đồng, dồn hết trọng lượng cơ thể già nua đẩy mạnh hai cánh cửa sắt vào phía trong.

Bản lề gang khô dầu phát ra một tràng âm thanh rít dài ngái ngủ, tựa như tiếng thở dài nặng nhọc của một người khổng lồ vừa bị đánh thức sau giấc ngủ kéo dài gần nửa thế kỷ. Một luồng không khí mát lạnh, khô ráo đến kỳ lạ từ bên trong gian phòng ùa ra, cuốn theo hương thơm rất đặc trưng khiến lồng ngực ai nấy đều thắt lại. Đó không phải là mùi ẩm mốc, xú uế của những căn hầm bỏ hoang, mà là một sự hòa quyện phức tạp, tầng tầng lớp lớp: mùi ngai ngái thanh sạch của vôi tường đã phong hóa hoàn toàn, hương thơm ngọt trầm, hơi hăng hắc nhưng tinh khiết tuyệt đối của nhựa sơn sống Tương Bình Hiệp lâu năm, hòa lẫn cùng mùi tinh dầu gỗ thông già chưng cất khử dầu và vị ấm nồng của nhựa trám rừng.

Không gian bên trong hiện ra dưới mắt mọi người, xóa sạch mọi định kiến về một chốn kho tàng hoang phế. Hoàn toàn trái ngược với vẻ điêu tàn, đổ nát bên ngoài bìa rừng sơn giống, tầng một của khu nhà kho bằng gạch cổ là một không gian lưu trữ và bảo quản mỹ thuật đạt tiêu chuẩn khoa học đến mức đáng kinh ngạc, được thiết kế với tư duy vượt xa thời đại của nó.

Tường nhà xây bằng hai lớp gạch thẻ nung già dày tới bốn mươi centimet, ở giữa chừa một khoảng đệm không khí năm centimet để cách nhiệt hoàn hảo. Lớp vữa trát tường bên trong không dùng xi măng thông thường mà được pha chế theo phương pháp cổ truyền từ vôi tôi lâu năm trộn với mật mía đường phèn và tro trấu hun mịn, tạo nên một bề mặt xốp vi mô có khả năng tự cân bằng độ ẩm và triệt tiêu hoàn toàn hiện tượng ngưng tụ hơi nước trên mặt tường. Nền nhà không lát gạch men tráng bóng mà được ghép bằng hàng trăm phiến đá tảng xanh phẳng lỳ khai thác từ vùng Biên Hòa, mỗi phiến dày hơn một gang tay, kê cao cách mặt đất tự nhiên nửa mét trên hệ thống trụ đá chịu lực để ngăn hơi ẩm đất bốc lên.

Chạy dọc theo hai dãy tường hồi dài hun hút là hệ thống giá đỡ đa tầng đồ sộ làm hoàn toàn bằng gỗ sao xanh—loại danh mộc trứ danh của vùng rừng miền Đông Nam Bộ, nổi tiếng với thớ gỗ dẻo dai, không bao giờ cong vênh trước sự thay đổi nhiệt độ và sở hữu lượng tinh dầu tự nhiên kháng tuyệt đối mọi loài mối mọt.

Trên các tầng giá gỗ được đánh bóng bằng sáp ong rừng, hàng trăm tấm bảng mẫu thử nghiệm sơn mài khổ nhỏ, từ kích thước 15x20 cm đến 30x40 cm, được xếp ngay ngắn, cẩn trọng trong các khay gỗ mun đen bóng. Mỗi khay đều có một tấm thẻ bằng tre khắc chữ Nho và chữ Quốc ngữ bằng mực nho, ghi chú tỉ mỉ niên đại cùng các công thức pha chế vật liệu kéo dài từ năm 1975 đến tận năm 2015.

Ở góc phía đông, nơi có hệ thống thông gió đối lưu tự nhiên được che chắn bằng ba lớp lưới đồng mắt nhỏ để ngăn côn trùng, hàng chục tấm vóc mộc đan nan tre nong mốt, bó bằng vải gai thô ngâm bùn phù sa sông Sài Gòn, được bọc cẩn thận trong từng lớp giấy bản acid-free mỏng tang và xếp nghiêng một góc đúng sáu mươi độ trên các thanh đỡ rãnh khuyết để triệt tiêu mọi lực võng ruột cốt gỗ qua năm tháng.

Xa hơn nữa, ngự trị tại gian phòng phía bắc dưới dãy cửa sổ lấy sáng khuếch tán không có ánh nắng trực xạ, chiếc bàn làm việc dài hơn bốn mét đóng bằng gỗ gõ mật đen nhánh vẫn còn nguyên vẹn. Trên mặt bàn, hàng chục tập hồ sơ kỹ thuật đóng bìa cứng, những bản phác thảo hình họa giải phẫu bằng than chì và các nghiên cứu bố cục bằng màu gouache của toàn bộ mười hai bức đại tác phẩm trong bộ tranh *Hoàng hôn đỏ* được lưu trữ trong các hộp bảo quản bằng bìa trung tính chuyên dụng, mỗi hộp đều có nhãn dán ghi chú thời gian và thành phần hóa học của từng lớp sơn lót.

Trương Minh Khang lảo đảo bước qua bậc cửa đá. Đôi giày da của ông ta nện xuống nền đá xanh phát ra những tiếng cộp cộp khô khốc, trơ trọi. Khang đưa một ngón tay run rẩy chạm vào một tấm bảng thử màu cánh gián dát bạc quỳ đặt ở tầng giá gỗ ngang tầm mắt. Dưới ánh sáng ban mai khuếch tán mềm mại từ những ô thông gió trên cao, lớp bạc quỳ Kiêu Kỵ ẩn sâu dưới năm lượt sơn then mỏng tang bỗng ánh lên sắc vàng cam rực rỡ, lộng lẫy và sâu thẳm như một mảnh hoàng hôn bị giam giữ vĩnh viễn trong lòng hổ phách.

— Không có vàng thỏi... Không có cổ phiếu quỹ ủy thác nào cả... — Khang lẩm bẩm, thanh âm lạc đi giữa sự trống rỗng cùng cực. — Toàn bộ nơi này... chỉ là những mảnh ván vụn, mẫu thử màu và vóc gỗ thôi sao? Cha tôi đã giam mình ở đây suốt bao nhiêu năm chỉ để tích lũy những thứ này?

— Đây là toàn bộ linh hồn, là xương tủy và máu thịt của bộ mười hai bức tranh mà anh từng muốn đem đi xé lẻ để cấn nợ cho đám buôn tranh quốc tế, — Bảo Châu bước tới bên cạnh chiếc giá gỗ, giọng cô lạnh lùng nhưng ánh mắt lại bừng lên sự tôn kính tột bậc của một người dành cả thanh xuân để theo đuổi nghề phục chế truyền thống. — Hơn bốn mươi năm nghiên cứu miệt mài về tính chất hóa lý của nhựa sơn tự nhiên, sự tương tác giữa khoáng chất phù sa sông Truồi với tinh chất urushiol, và kỹ thuật gia cố nan tre chống nứt nhiệt đới của ông ngoại cùng các nghệ nhân bậc thầy Tương Bình Hiệp đều nằm trọn vẹn ở nơi này. Nếu kho mẫu thử nghiệm và hồ sơ kỹ thuật này bị hủy hoại, sẽ không một bảo tàng nào, không một chuyên gia phục chế nào trên thế giới có thể giải mã hay cứu vãn được những kiệt tác của ông khi thời gian bắt đầu tàn phá chúng!

Bảo Châu dừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào mắt Khang:

— Anh chỉ nhìn thấy những con số hàng triệu đô la mà người ta gán cho cái tên Trương Diệp, nhưng anh chưa bao giờ hiểu được rằng, giá trị của cái tên ấy được xây dựng từ từng giọt sơn sống rỉ ra từ thân cây giống ngoài kia, từ mồ hôi và cả máu của những người thợ cả như cụ Phúc, cụ An.

Ở gian trung tâm của nhà kho, nơi một giếng trời hình bát giác trổ thẳng lên mái ngói âm dương rọi luồng ánh sáng tự nhiên dịu nhẹ xuống chính giữa căn phòng, một chiếc bục đá hoa cương nguyên khối màu xám tro được đặt trang trọng. Chiếc hộp chữ nhật lớn làm bằng gỗ thông ba lá chưng cất khử dầu mang số hiệu H-1984—loại danh mộc vùng núi cao chuyên dùng để đóng hòm bảo quản mỹ thuật hàn đới mà họa sĩ Trương Diệp từng đích thân lên Đà Lạt đặt làm thủ công từ mùa đông năm 1982, vừa được Nam và Bảo Châu cẩn trọng chuyển từ buồng ủ ẩm số một của xưởng Cây Sơn sang—được đặt trang trọng ngay chính giữa mặt bục đá.

Bên ngoài chiếc hộp, bốn góc được bọc bằng các nẹp đồng thau dày dặn chạm trổ hoa văn mây lửa chìm, các đai da bò thuộc thảo mộc dày nửa phân ôm chặt lấy thân và nắp hộp. Ngay chính diện mép nắp, một đồng hồ cơ học đo độ ẩm và nhiệt độ vỏ đồng cổ điển hiệu Fischer của Đức vẫn đang cần mẫn hoạt động sau bao thập niên: kim đo độ ẩm chỉ ổn định ở mức 62%, kim nhiệt độ dừng ở 24 độ C—môi trường vi khí hậu hoàn hảo nhất để một tác phẩm sơn mài truyền thống tồn tại vĩnh cửu qua hàng thế kỷ mà không bị rạn nứt hay mờ đục.

Quách Nhật Nam đặt chiếc vali kỹ thuật xuống sàn đá, đứng ngay ngắn bên cạnh chiếc hộp gỗ thông vừa đặt lên bục đá hoa cương. Anh tháo găng tay da đi đường, mở hộp lấy ra một đôi găng tay cotton trắng không bột chuyên dụng của giới bảo tồn. Cẩn trọng kiểm tra lại các đai da và đồng hồ đo ẩm, Nam quay sang nhìn luật sư Hoài Thu và cụ Bùi Tấn Phúc:

— Thưa luật sư, thưa cụ Phúc, mọi điều kiện bảo quản vi khí hậu trong kho đều đạt chuẩn tối ưu. Chúng ta có thể bắt đầu quy trình mở niêm phong và tiếp nhận hiện vật trung tâm.

Luật sư Nguyễn Hoài Thu gật đầu chuẩn thuận. Bà rút từ trong cặp ra chiếc máy ghi âm kỹ thuật số chuyên dụng, bật nút thu âm, đặt lên góc bục đá, rồi lật mở cuốn sổ nhật ký pháp lý dày cộp bọc vải gai:

— Thời điểm hiện tại là 09 giờ 45 phút ngày 24 tháng 10 năm 2026. Địa điểm: Kho lưu trữ Diệp Sơn, ấp Bình Đức, xã Tương Bình Hiệp, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Tôi, luật sư Nguyễn Hoài Thu, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, cùng chuyên gia giám định độc lập Quách Nhật Nam, kỹ sư phục chế Trương Bảo Châu, người thừa kế thứ nhất Trương Minh Khang, nhân chứng kỹ thuật Bùi Tấn Phúc và đại diện thân tộc nghệ nhân Nguyễn An là bà Lê Tường Vân, chính thức thực hiện việc mở niêm phong hòm bảo quản trung tâm số hiệu H-1984 chứa bức tranh thứ mười ba vừa tiếp nhận từ buồng ủ số một của xưởng Cây Sơn đưa vào kho lưu trữ. Toàn bộ quá trình được ghi âm, ghi hình và lập biên bản hiện trường có chữ ký xác nhận của các bên.

Tiếng máy ghi âm kêu một tiếng “bíp” khe khẽ.

Nam tiến lên phía trước. Đôi bàn tay bọc vải cotton trắng nhẹ nhàng luồn qua hai chốt khóa đồng cơ học ở hai bên sườn hộp. Những đai da bò đã khô cứng theo thời gian khẽ kêu lách tách khi được tháo rời khỏi các khóa ngạnh đồng. Nam cùng cụ Phúc mỗi người giữ một bên mép nắp gỗ thông nặng nề, từ từ nhấc bổng lên theo phương thẳng đứng.

Bên trong nắp gỗ là một lớp đệm lót dày dặn bằng nỉ len cừu tự nhiên màu xanh rêu, loại vật liệu không chứa tạp chất lưu huỳnh có tác dụng chống sốc cơ học và cách ly ẩm độ hoàn toàn. Nam cẩn thận nhấc tấm nỉ len ra ngoài, đặt sang một khay gỗ trống bên cạnh.

Bên dưới lớp nỉ xốp là một tấm bạt bảo bọc bằng vải lụa tơ tằm dệt tay nhuộm củ nâu truyền thống—loại lụa dệt dày sợi mà các xưởng sơn mài xưa thường dùng để bọc tranh quý nhằm tránh trầy xước bề mặt khi vận chuyển đường dài. Nam khẽ nghiêng người, hai ngón tay nắm lấy góc gấp của mảnh lụa, nhẹ nhàng lật từng nếp gấp sang hai bên mép hộp.

Bức tranh thứ mười ba lộ diện.

Một sự im lặng tuyệt đối, ngưng đọng như hóa đá bao trùm toàn bộ gian nhà kho gạch cổ. Gió từ rạch Bà Lụa ngoài kia dường như cũng ngừng thổi; chỉ còn tiếng lá xào xạc rất khẽ của rặng cây sơn giống hòa lẫn cùng tiếng thở dốc nén chặt của những con người đang đứng vây quanh bục đá.

Tác phẩm khổ 30x40 cm nằm tĩnh lặng trên lớp đệm lụa tơ tằm. Khác xa với bản sao chép thô thiển phủ bóng công nghiệp mà Mai Quốc Huy từng hoảng loạn tráo vào két sắt ở căn biệt thự Sài Gòn, và càng khác xa bản vóc gỗ ép rạn nứt nhiệt mà Phạm Đức Lâm đã ngạo mạn mang đến để thách thức mọi người trong đêm giông bão, bức tranh thực sự trước mắt họ sở hữu một vẻ đẹp trầm mặc, u uẩn và trang nghiêm đến nghẹt thở.

Bề mặt tranh không hề bóng loáng một cách trơ tráo, phẳng lỳ giả tạo theo kiểu phun hóa chất bóng của tranh thương mại hiện đại. Thay vào đó, nó mang một độ mờ xỉn sâu thẳm, dịu mát của lớp sơn then nguyên chất được mài nước dở dang bằng than củi xoan ngâm nước lạnh. Dưới ánh sáng tự nhiên dịu dàng từ giếng trời rọi xuống, những vệt than mài ngang dọc còn lưu lại nguyên vẹn những dấu tích sống động của bàn tay người nghệ nhân—những nét lượn thoắt ẩn thoắt hiện, lúc nông lúc sâu, tựa như những lượn sóng ngầm dưới đáy đầm lầy cổ sơ.

Từng mảng bạc quỳ Kiêu Kỵ được dập mỏng thủ công lẩn khuất dưới tầng then đen thẳm, phát ra ánh sáng bạc ngà pha sắc xanh lạnh lẽo như ánh trăng thượng tuần vỡ vụn dưới đáy hồ mùa thu, khi ẩn khi hiện tùy theo góc độ khúc xạ của mắt người quan sát. Và ở góc dưới bên phải của tác phẩm, dòng chữ viết tay mộc mạc bằng chất liệu sơn son cống cổ truyền đọng lại thành từng nét gân guốc, sắc sảo: *“Mười hai mặt, một nền; trả tên cho người giữ nền”*, bên cạnh là một con dấu hình chiếc lá sơn khuyết một gân bên phải được đóng bằng mực chu sa khoáng tự nhiên đỏ thắm như máu tươi.

— Trời đất ơi... Đúng là nó rồi... Trời phật có mắt... — Tiếng cụ Bùi Tấn Phúc run rẩy bật lên.

Đôi chân khẳng khiu của người thợ cả ngoài tám mươi tuổi run rẩy bước lên sát mép bục đá. Đôi mắt mờ đục vì đục thủy tinh thể của cụ bỗng chốc ầng ậng nước, rồi hai giọt lệ nóng hổi trào ra, lăn dài trên những nếp nhăn nheo, chằng chịt như vỏ cây sơn già nơi gò má.

Cụ Phúc không hề nhìn vào những mảng bạc quỳ rực rỡ hay dòng chữ sơn son mang thông điệp lịch sử. Bàn tay chai sần, gân guốc với những đầu móng tay ám màu then đen kịt—dấu vết không thể tẩy xóa của sáu mươi năm ngâm tay trong nước lạnh mài vóc—run rẩy lần tìm xuống mép đáy bên trái của tấm vóc. Ngón tay trỏ ráp như giấy nhám của cụ miết nhẹ, cực kỳ nâng niu lên gờ mép dưới.

— Ở đây... Nó nằm ở đúng chỗ này... không lệch đi một sợi chỉ... — Cụ nghẹn ngào, giọng nói vỡ òa thành một tiếng khóc nấc nghẹn từ tận đáy lồng ngực. — Bốn mươi năm rồi... Bốn mươi năm ròng rã tôi mới lại được chạm tay vào vết vá này!

Quách Nhật Nam và Trương Bảo Châu bước sát lại bên cạnh cụ già. Dưới đầu ngón tay của cụ Phúc, một gờ nổi mảnh dẻ như sợi tơ tằm, hơi chệch một góc bốn mươi lăm độ so với cạnh đáy tấm vóc, khẽ gồ lên dưới lớp hom mỏng mờ đục.

— Thưa cụ, đây chính là vết vá gia cố sợi gai nan tre vặn tim mà cụ từng nhắc tới trong xưởng Cây Sơn? — Nam khẽ hỏi, dù trong đôi mắt sắc sảo của một nhà giám định dày dạn kinh nghiệm, mọi nghi vấn kỹ thuật thực ra đã được hóa giải ngay từ khoảnh khắc chiếc nắp hộp thông bật mở.

— Đúng! Đúng là nó! Không thể nào khác được! — Cụ Phúc gật đầu lia lịa, nước mắt rơi lã chã xuống mặt bục đá hoa cương. — Đó là vào cữ tháng Hai năm 1984, trời miền Đông năm ấy chuyển gió chướng sớm, hanh khô nứt nẻ cả da thịt. Sau khi tấm vóc đầu tiên bị bung lực vặn tim làm rách toạc lớp vải hom mặt ngoài, ông Diệp và bà An đã thức trắng ba đêm liền bên ngọn đèn dầu ở gian xưởng bên kia rạch. Tấm vóc thứ hai này, tôi quyết không chịu đầu hàng. Tôi đã dùng cật tre già ngâm nước vôi trong suốt hai năm ròng, chẻ mỏng dính như lá lúa, đan lại theo lối nong mốt cổ truyền. Nhưng nan tim số bảy, nằm ngay sát mép dưới, vẫn có một vệt xoắn thớ tự nhiên do đốt tre mọc nghiêng đón nắng. Để triệt tiêu hoàn toàn lực đội ngược chết người của nó, chính tay tôi... chính đôi tay này đã lấy một dải vải gai dệt tay của đồng bào Quảng Bình rộng đúng một phân rưỡi, nhúng đẫm thứ sơn sống nguyên chất chưa hề pha một giọt dầu trẩu, rồi miết chéo đè chặt lên tim nan tre trước khi chuyển giao tấm vóc cho chị An vào bảy lượt hom phù sa sông Truồi quyện mật mía!

Cụ Phúc ngước nhìn Bảo Châu, đôi mắt ngời lên niềm kiêu hãnh rực rỡ của một người thợ thủ công suốt đời giấu mình sau hào quang của các danh họa:

— Cô Châu, cô có nhớ bài học kiểm tra mà tôi bảo cô làm sáng nay ở xưởng Cây Sơn không? Lực xoắn của nan tre vặn tim, nếu người thợ non tay không biết nương theo thớ gỗ mà cưỡng ép uốn nắn, thì chỉ mười năm sau nó sẽ xé nát toàn bộ lớp sơn mặt bên trên. Nhưng nếu biết lấy sợi gai dẻo dai, bền bỉ của đất đai mà ghìm giữ, nương theo lực của nó mà triệt tiêu, thì dẫu trăm năm hay ngàn năm trôi qua, tấm vóc vẫn sẽ phẳng lỳ như bàn thạch! Vết vá này nằm lệch về góc trái đúng mười lăm milimét, đuôi mép vát chếch một góc bốn mươi lăm độ. Không một đứa thợ làm giả mạo nào ở Lam Thành, không một cỗ máy khắc CNC tinh xảo nào của ngoại quốc có thể tái tạo được sự tương tác sống động, hữu cơ giữa cật tre già, sợi gai sống và giọt sơn ta nguyên chất này đâu!

Lê Tường Vân đứng nép phía sau cụ Phúc, hai bàn tay gầy gò đan chặt vào nhau trước ngực. Đôi mắt bà chăm chú nhìn vào vết vá sợi gai thô mộc—dấu vết lao động cụ thể của người mẹ quá cố và người thợ cả bốn mươi năm về trước. Bà lặng lẽ quay mặt đi, lấy chiếc khăn tay lau vội những giọt nước mắt lăn dài trên má. Nỗi uất ức, mặc cảm và gánh nặng của sự nghi kỵ suốt nửa đời người đè nặng lên danh dự của gia đình bà dường như đã được gột rửa sạch sẽ trong giây phút thiêng liêng này.

Bảo Châu hít một hơi sâu để kìm nén sự rung động mãnh liệt đang dâng trào trong huyết quản. Với bản lĩnh và kỷ luật thép của một kỹ sư phục chế từng được đào tạo bài bản tại các viện bảo tồn hàng đầu châu Âu, cô nhanh chóng lấy lại sự chuẩn xác, lạnh lùng của nghề nghiệp. Châu với tay mở chiếc túi chống sốc chuyên dụng đặt trên bàn, lấy ra chiếc đèn kiểm tra bề mặt đa góc (Surface Inspection Light) sử dụng cụm bóng LED dải hẹp có nhiệt độ màu chuẩn 3000K, cùng hai tấm ảnh chụp cận cảnh độ phân giải cao được in trên giấy ảnh bảo lưu chuẩn quốc tế (rag paper)—đây chính là hai tấm ảnh chụp macro định dạng RAW mà cô đã bất chấp nguy hiểm, bí mật chụp lại trong căn phòng tranh của ông ngoại ngay trong đêm trước ngày diễn ra tang lễ.

— Anh Nam, anh giúp em giữ cố định chân đèn ở độ cao mười centimet, — Châu nói, thanh âm của cô giờ đây hoàn toàn là giọng điệu của một nhà khoa học tại hiện trường. — Chúng ta sẽ tiến hành đối chiếu quang học ở góc xiên đúng mười lăm độ.

Nam đỡ lấy thân đèn bằng hợp kim nhôm, điều chỉnh chùm sáng chiếu là là trên bề mặt tấm vóc từ mép phải quét dần sang mép trái. Dưới góc chiếu xiên mười lăm độ cực hẹp, ánh sáng vàng ấm biến toàn bộ bề mặt tranh dường như phẳng lặng thành một bản đồ địa hình vi mô nổi rõ mồn một từng chi tiết lồi lõm vô hình dưới ánh sáng tán xạ thông thường.

Châu cẩn thận đặt tấm ảnh macro số một ngay sát mép tranh, tay cầm chiếc kính phóng đại tiêu sắc mười lăm lần (Achromatic Loupe). Cô nghiêng người, hạ thấp tầm mắt xuống cách mặt tranh năm centimet, chăm chú soi từng micromet cấu trúc màng sơn:

— Hãy nhìn kỹ vào hiện tượng co rút tự nhiên của màng keo sơn sống ở vùng chuyển tiếp giữa lớp then và lớp bạc quỳ Kiêu Kỵ, — Châu vừa quan sát vừa đọc to các thông số kỹ thuật cho máy ghi âm ghi nhận. — Sơn ta tự nhiên với hàm lượng urushiol cao khi đóng rắn trong môi trường buồng ủ có độ ẩm trên tám mươi phần trăm sẽ hình thành các vi rãnh đẳng hướng dạng màng tế bào thực vật đa giác. Chiều sâu của các vi rãnh trên hiện vật dao động từ mười hai đến mười sáu micromet, mép rãnh bo tròn tự nhiên do sức căng bề mặt của tinh dầu sơn. Cấu trúc này trùng khớp hoàn toàn, không có bất kỳ sai lệch nào so với màng sơn ghi nhận trên ảnh lưu trữ số một.

Cô rê nhẹ thân kính phóng đại dịch chuyển sang góc dưới bên trái, dừng lại ngay trên vết vá sợi gai của cụ Bùi Tấn Phúc:

— Dưới góc chiếu xiên mười lăm độ, bóng đổ của thớ vải gai lộ rõ kết cấu dệt chữ thập thủ công không đều của sợi gai kéo tay truyền thống Quảng Bình. Mật độ sợi đo đạc tại hiện trường: mười bốn sợi dọc trên một centimet, mười hai sợi ngang trên một centimet. Độ nghiêng của dải vá so với cạnh đáy tấm vóc: đúng bốn mươi tư độ ba mươi phút. Độ gồ bề mặt so với mặt phẳng chuẩn của lớp hom: ba mươi lăm micromet. Từng điểm giao cắt của sợi dệt và vết trồi của keo sơn sống trùng khớp tuyệt đối một trăm phần trăm với ảnh lưu trữ vĩ mô số hai!

Châu thở phào một hơi dài, lồng ngực cô nhẹ bẫng đi. Cô ngẩng đầu lên, tháo kính phóng đại, đôi mắt lấp lánh nhìn Nam:

— Và yếu tố quyết định cuối cùng về dấu vết thị giác: vị trí con dấu chiếc lá sơn khuyết một gân. Dưới kính phóng đại, các hạt bột chu sa tự nhiên nghiền từ khoáng cống son Thủy Bằng đọng lại không đều trong các rãnh khắc chìm của thớ gỗ mít đáy. Cạnh khuyết gân bên phải có một vệt trượt mực dài không phẩy bốn milimét chếch về hướng năm giờ—hậu quả của việc tay người đóng dấu hơi run nhẹ khi ấn triện lên mặt vóc còn ẩm. Chi tiết vi mô này không thể nào sao chép hay làm giả bằng bất kỳ công nghệ in khắc nào hiện nay. Hiện vật trước mặt chúng ta chính là đối tượng duy nhất, nguyên vẹn đã hiện diện trong phòng tranh của cố họa sĩ Trương Diệp trước đêm tang lễ!

Trương Minh Khang đứng chôn chân tại chỗ trên sàn đá tảng. Từng lời, từng số liệu đo đạc khách quan, lạnh lùng nhưng mang sức thuyết phục đanh thép của cô cháu gái và chuyên gia giám định đã giáng từng đòn sấm sét vào tâm trí ông ta. Mọi ảo tưởng, mọi sự biện minh, mọi nghi ngờ độc hại mà Phạm Đức Lâm từng gieo rắc vào đầu Khang nhằm thao túng ông ta đem bán rẻ di sản của cha mình đều tan tành như mây khói.

Khang nhìn đôi bàn tay run rẩy của mình, rồi nhìn sang đôi mắt trong veo của Bảo Châu và dáng đứng uy nghi của cụ Phúc. Ông ta cay đắng nhận ra rằng, trong khi bản thân ông ta cùng sàn Lam Thành chỉ biết mải miết chạy theo những chiêu trò thổi giá, những con số triệu đô ảo tưởng trên thị trường chợ đen, thì những con người này—từ cô cháu gái trẻ tuổi đến ông thợ già nghèo khó—đang dùng cả nhân phẩm, tri thức khoa học nghiêm ngẩn và lòng kiên trung son sắt để bảo vệ một sự thật bất khả xâm phạm.

Quách Nhật Nam khẽ gật đầu với Bảo Châu. Bây giờ là thời khắc quyết định của anh—thời khắc của một chuyên gia giám định độc lập mang đầy đủ tư cách pháp nhân, người chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước lịch sử mỹ thuật dân tộc và trước lương tâm nghề nghiệp để đưa ra bản kết luận khoa học cuối cùng.

Nam mở chiếc vali kỹ thuật bọc nhôm Peli, nhấc thiết bị đo quang phổ tán xạ phản xạ khả kiến và cận hồng ngoại (Vis-NIR Spectrometer) cầm tay của hãng Ocean Insight ra ngoài. Anh kết nối thiết bị với máy tính xách tay quân sự chuyên dụng Panasonic Toughbook, rồi gắn đầu dò sợi quang học không xâm lấn có khẩu độ tiếp xúc bọc một lớp đệm Teflon mềm mại để đảm bảo tuyệt đối không gây ra bất kỳ tác động cơ học nào lên bề mặt hiện vật.

— Thưa hội đồng tiếp nhận, — Nam cất tiếng, phong thái của anh toát lên sự đĩnh đạc, trầm tĩnh và chuẩn xác đến từng cử chỉ nhỏ nhất. — Theo quy chuẩn giám định khoa học không can thiệp phá hủy (Non-invasive Examination Protocol) đã được chuyên gia bảo tồn độc lập Võ Khánh Linh và Hội đồng thừa kế phê chuẩn bằng văn bản, tôi sẽ tiến hành ba phép thử vật lý độc lập ngay tại hiện trường: phân tích quang phổ phản xạ lớp màu cánh gián, kiểm tra độ lão hóa tự nhiên của chất liên kết polymer sơn ta bằng phương pháp quang phổ hồng ngoại biến đổi Fourier, và đối chiếu chuỗi hồ sơ lưu chuyển hiện vật.

Nam nhẹ nhàng đặt đầu dò sợi quang cách bề mặt lớp son cánh gián phủ trên mảng bạc quỳ đúng một milimét. Một tia sáng trắng chuẩn độ rọi xuống một điểm cực nhỏ có đường kính chưa đầy nửa milimét trên mặt tranh.

Trên màn hình máy tính xách tay bên cạnh, đồ thị quang phổ bắt đầu vẽ nên một đường cong liên tục, sắc nét.

— Đỉnh hấp thụ quang phổ của lớp phủ bề mặt đạt cực đại ở bước sóng 460 nanomet và 580 nanomet, — Nam vừa theo dõi biểu đồ vừa phân tích rành rẽ. — Phổ phản xạ hoàn toàn vắng mặt các dải hấp thụ đặc trưng của nhóm hợp chất ester béo tổng hợp hoặc acrylate nhân tạo—đây là những hóa chất luôn luôn tồn tại trong các loại dung môi công nghiệp và dầu toát bóng thương mại thế hệ mới. Kết quả quang phổ này chứng minh lớp phủ quang dầu trên bức tranh được điều chế một trăm phần trăm từ nhựa sơn sống Tương Bình Hiệp khử nước thủ công theo công thức gia truyền, nấu cùng dầu trẩu ép lạnh tự nhiên ở nhiệt độ một trăm bốn mươi độ C.

Nam di chuyển đầu dò sợi quang sang vùng nền sơn then đen kịt:

— Phổ hồng ngoại phản xạ suy giảm suy biến (ATR-FTIR) ghi nhận mức độ polymer hóa tự nhiên của hợp chất urushiol đạt chỉ số 94,8%. Thưa quý vị, đây là chỉ số oxy hóa đóng rắn điển hình, đặc trưng của một bề mặt màng sơn ta tự nhiên có niên đại tồn tại thực tế từ ba mươi tám đến bốn mươi hai năm trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa. Chỉ số này loại trừ hoàn toàn khả năng tác phẩm bị lão hóa nhân tạo bằng nhiệt hồng ngoại hay chiếu xạ tia cực tím công nghiệp—những thủ đoạn tinh vi mà xưởng làm giả của Phạm Đức Lâm đã áp dụng trên tấm ván ép HDF bị chúng tôi bóc trần đêm qua. Bức tranh này đã hoàn thiện các tầng sơn cơ bản vào khoảng đầu năm 1984.

Nam tắt thiết bị đo quang phổ, cẩn thận đặt đầu dò vào hộp chống sốc. Anh rút chiếc bút máy kim loại cài trên túi ngực, mở tập bìa da chứa toàn bộ chuỗi hồ sơ kiểm kê và xuất xứ (Chain of Custody) mà anh cùng Bảo Châu đã cất công thu thập, xâu chuỗi suốt hành trình điều tra gian nan xuyên Việt:

— Về chuỗi bảo quản và lịch sử sở hữu vật chất:

Thứ nhất: Tấm vóc mộc mang mã số xuất xưởng khắc chìm *8402* được tạo tác hoàn chỉnh tại Cơ sở chế tác mộc mỹ nghệ & vóc sơn mài Diệp Sơn tại Tương Bình Hiệp vào tháng Hai năm 1984 dưới sự phụ trách cốt mộc của thợ cả Bùi Tấn Phúc và xử lý hom mài của nghệ nhân Nguyễn An;

Thứ hai: Tác phẩm sau đó được danh họa Trương Diệp hoàn thiện một phần lớp mặt tại xưởng sáng tác cá nhân ở Sài Gòn, rồi được cất giữ bí mật trong két sắt âm tường dưới chân giá vẽ;

Thứ ba: Đêm 17 rạng sáng ngày 18 tháng 10 năm 2026, tác phẩm được người trợ lý Mai Quốc Huy mang rời khỏi phòng tranh theo yêu cầu phòng ngừa rủi ro hợp pháp của bà Lê Tường Vân, chuyển vào lưu ký an toàn tại Công ty Lưu kho & Ngoại quan Gia Định dưới mã vận đơn *D.S.–N.G.N.–8402*;

Thứ tư: Trưa ngày 22 tháng 10, trước sự truy lùng ráo riết và đe dọa vũ lực của tay chân sàn Lam Thành, kiện hàng thật đã được chuyển tiếp hợp pháp bằng dịch vụ bưu chính liên tỉnh bảo đảm về Bưu cục Trung tâm Thị xã Thủ Dầu Một theo sự ủy thác toàn quyền của bà Vân, và được nghệ nhân Cây Sơn chuyển giao an toàn vào buồng ủ ẩm số một của Nhà xưởng Cây Sơn vào rạng sáng ngày 24 tháng 10;

Thứ năm: Sáng nay, sau khi giải mã trang sổ công thứ 48 và hoàn tất điều kiện pháp lý của di chúc bổ sung, tác phẩm trong hòm bảo quản chuyên dụng số H-1984 đã được đại diện các bên lập biên bản tiếp nhận từ buồng ủ của xưởng Cây Sơn, chuyển giao thẳng sang Kho lưu trữ Diệp Sơn nguyên vẹn này để đối kiểm khoa học cùng toàn bộ hệ thống mẫu thử và hồ sơ kỹ thuật gốc. Chuỗi bảo quản hoàn toàn khép kín, liên tục và không có bất kỳ khoảng trống thời gian nào bị gián đoạn.

Nam hít một hơi thật sâu. Anh kéo tờ Biên bản Giám định Mỹ thuật và Xác thực Nguyên bản số 01/2026/XN-DS về phía mình. Đặt ngòi bút kim loại xuống mặt giấy dập nổi quốc huy, Nam viết nắn nót từng dòng chữ mực đen rõ ràng, dứt khoát:

*“Căn cứ vào kết quả khảo sát cấu trúc vi mô bề mặt, phân tích quang phổ phản xạ không xâm lấn, đối chiếu dấu vết kỹ thuật truyền thống và chuỗi chứng từ lưu chuyển vật chất hoàn chỉnh;*

*Tôi, Quách Nhật Nam, chuyên gia giám định mỹ thuật độc lập, chính thức xác nhận:*

*Bức tranh sơn mài khổ 30x40 cm mang dòng lạc khoản ‘Mười hai mặt, một nền; trả tên cho người giữ nền’, cùng dấu triện chiếc lá sơn khuyết gân và vết vá sợi gai lệch góc bốn mươi lăm độ tại mép đáy tấm vóc, là BẢN GỐC NGUYÊN BẢN DUY NHẤT do cố danh họa Trương Diệp đồng kiến tạo kỹ thuật cùng nghệ nhân Nguyễn An và tập thể thợ sơn mài Nhà xưởng Cây Sơn tại Tương Bình Hiệp năm 1984.*

*Tác phẩm hoàn toàn nguyên vẹn về mặt vật lý, không có bất kỳ dấu hiệu can thiệp phục chế phá hủy hay làm giả mạo nào.”*

Nam ký tên, ghi rõ chức danh chuyên gia giám định độc lập, ghi rõ thời gian 10 giờ 15 phút ngày 24 tháng 10 năm 2026 dưới sự chứng kiến im lặng của mọi người. Anh trao cây bút cho luật sư Nguyễn Hoài Thu.

Luật sư Thu trịnh trọng ký tên vào phần chứng nhận pháp lý, lấy con dấu tròn đỏ thắm của văn phòng luật sư đóng dứt khoát lên góc biên bản, tiếng cộp vang lên đanh gọn trên mặt bục đá. Đoạn, bà quay sang nhìn thẳng vào Trương Minh Khang:

— Anh Trương Minh Khang, với tư cách người thừa kế theo pháp luật hàng thứ nhất của cố họa sĩ Trương Diệp, anh có bất kỳ ý kiến khiếu nại, phản đối hay yêu cầu giám định lại đối với quy trình khoa học vừa được thực hiện hay không?

Minh Khang nhìn chằm chằm vào bức tranh trên bục đá, nơi ánh bạc quỳ Kiêu Kỵ đang khẽ lấp lánh dưới vệt nắng mai rọi qua ô kính giếng trời bát giác. Đôi vai đồ sộ của người đàn ông trung niên chùng xuống hoàn toàn. Mọi sự căng thẳng, toan tính thực dụng, những tham vọng thương mại và sự u mê tích tụ suốt bao nhiêu năm dường như đã vỡ tan thành tro bụi trong giây phút này.

— Tôi... tôi không có ý kiến phản đối nào cả, — Khang nghẹn ngào, giọng nói thì thào run rẩy như một lời sám hối muộn màng trước vong linh người cha quá cố. — Chuyên gia Nam và cô Châu đã làm việc hoàn toàn khách quan, công tâm. Tôi xin ký tên vào biên bản xác thực này. Tôi... tôi nợ cha tôi... nợ cháu Châu... và nợ toàn thể các nghệ nhân Tương Bình Hiệp một lời tạ lỗi chân thành nhất. Tôi đã suýt nữa hủy hoại tất cả...

Khang run rẩy cầm lấy cây bút máy từ tay luật sư Thu. Bàn tay ông ta run bần bật, nhưng nét ký đặt xuống dòng chữ dành cho người thừa kế chứng kiến lại vô cùng dứt khoát. Một giọt nước mắt muộn màng của Khang rơi xuống mép giấy biên bản, nhòe đi một chấm nhỏ bên cạnh chữ ký của chính mình.

Khi những thủ tục hành chính và pháp lý cuối cùng vừa khép lại, Nam cẩn thận dùng hai chiếc kẹp bảo tồn chuyên dụng có bọc đệm silicone mềm nhẹ nhàng nâng tấm vóc lên khỏi lớp lụa tơ tằm. Anh muốn kiểm tra toàn diện tình trạng vật lý của mặt sau tấm vóc—nơi lớp sơn then mộc bốn mươi năm tuổi được quét phẳng để bảo vệ cốt gỗ mít khỏi sự xâm nhập của mối mọt và nấm mốc nhiệt đới.

Dưới ánh sáng ban mai dịu nhẹ của gian nhà kho, mặt sau tấm vóc chỉ là một mặt phẳng màu đen tuyền sẫm tối, thô mộc và phẳng lặng. Không có bất kỳ hoa văn trang trí hay đường nét tạo hình nào trên nền then ấy, ngoại trừ một dấu triện chu sa hình vuông của xưởng Cây Sơn được đóng khiêm nhường ở góc trên cùng bên trái.

Bảo Châu bước lại gần, ánh mắt cô gái trẻ dán chặt vào mặt sau của tấm vóc. Trực giác sắc bén của một kỹ sư phục chế từng tiếp xúc với hàng trăm hiện vật cổ khiến tim cô đập nhanh hơn một nhịp. Châu khẽ kéo tay áo Nam, thì thầm:

— Nam, anh lấy đèn cực tím dải sóng dài 365 nanomet ra đi.

Nam thoáng ngạc nhiên nhìn Châu:

— Em phát hiện ra điều gì sao?

— Hãy thử xem, — Bảo Châu khẽ đáp, ánh mắt cô ánh lên một tia tò mò kỳ lạ pha lẫn hồi hộp. — Mẹ của cô Tường Vân, cụ Nguyễn An, vốn là một bậc thầy về pha chế chất màu tự nhiên. Cụ Phúc từng kể rằng vào những năm 1980, cụ An có một phương pháp pha chế mực son bí truyền: cụ dùng bột chu sa khoáng nghiền mịn trộn với dầu bóng hạt lanh và một tỷ lệ nhỏ tinh dầu trám trắng đặc biệt. Thứ mực son ấy có một đặc tính quang học rất hiếm gặp: nó có khả năng phát quang nhẹ dưới bức xạ tử ngoại dải hẹp, ngay cả khi bị phủ lên bởi một lớp then mỏng.

Nam lập tức hiểu ý. Anh với tay lấy chiếc đèn pin kỹ thuật chuyên dụng phát tia cực tím dải sóng hẹp 365nm từ trong ngăn phụ của vali Peli.

— Tắt hết các nguồn sáng trắng, — Nam nói nhỏ.

Bảo Châu với tay tắt cụm đèn LED kiểm tra bề mặt, đồng thời kéo tấm rèm vải bạt dày che bớt luồng ánh sáng tự nhiên rọi xuống từ giếng trời bát giác. Gian nhà kho gạch cổ lập tức chìm vào một vùng bán minh bán ám tĩnh lặng, u huyền như một căn hầm mộ cổ xưa.

Mọi người nín thở, lùi lại nửa bước.

Nam cầm chiếc đèn cực tím 365nm, ngón tay cái ấn nhẹ vào nút nguồn cao su. Một luồng ánh sáng màu tím sẫm, huyền ảo và gần như vô hình đối với mắt thường, phát ra từ thấu kính lọc thạch anh đen, bắt đầu quét chầm chậm qua từng centimet vuông trên bề mặt lớp then đen thẫm ở mặt sau tấm vóc.

Ban đầu, không gian vẫn tĩnh lặng như tờ. Dưới chùm bức xạ tử ngoại, người ta chỉ nhìn thấy những hạt bụi khoáng li ti phát ánh huỳnh quang màu trắng đục lơ lửng trong không khí, và bề mặt lớp then mộc vẫn trơ ra một màu tím đen sâu thẳm, lạnh lùng.

Nhưng rồi, khi Nam dịch chuyển cổ tay, đưa luồng sáng tím quét ngang qua khu vực trung tâm của mặt sau tấm vóc, một hiện tượng quang học kỳ diệu bắt đầu diễn ra ngay trước mắt sáu con người đang nín thở dõi theo.

Dưới lớp sơn then mỏng tang như cánh ve sầu mà Trương Diệp đã bí mật phủ lên để che giấu trước khi cất giữ bức tranh trong két sắt dưới chân giá vẽ nhiều năm trước, một lớp mực sơn son đỏ thắm bị vùi chôn suốt hơn bốn thập niên bắt đầu phản xạ ánh sáng huỳnh quang màu cam rực rỡ. Ánh sáng tử ngoại đã kích hoạt những phân tử khoáng chu sa và tinh dầu trám cổ xưa, khiến chúng bừng sáng lên từ sâu thẳm bên dưới tầng then đen kịt.

Từng nét chữ mực son, thanh thoát, phóng khoáng nhưng sắc sảo và chứa chan nỗi niềm tâm huyết của cố danh họa, dần dần hiện hình qua lớp màn đen kịt như những nét chữ viết bằng lửa nổi lên giữa đêm trường tăm tối.

Khi ánh sáng đèn chuyên dụng quét qua mặt sau bức tranh, một dòng chữ sơn son ẩn hiện dưới lớp sơn then bắt đầu lộ rõ.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn