Bóng Tối Sau Hành LangC.21 / 30
Chương 21

Thi Thể Không Bị Không Gian Xóa Đi

Ánh đèn pin rọi xuyên qua lớp bụi lơ lửng trong không khí loãng của khoang kỹ thuật phân khu K-09, nơi áp suất dưỡng khí đã bị ngắt suốt nhiều tuần.

Để luồng sáng vonfram sắc lạnh ấy có thể chạm tới góc chết bị lãng quên dưới tầng đáy kết cấu, Phòng Bản Đồ Mù đã phải trải qua ba tiếng đồng hồ làm việc nghẹt thở trước khi chu kỳ điện đêm bắt đầu chuyển pha. Căn phòng hẹp nằm lọt thỏm giữa hai lớp tường cách âm của phân khu lưu trữ trung tâm không có cửa sổ, chỉ có tiếng vo ve trầm đục quen thuộc của dàn biến áp xoay chiều và mùi giấy can ẩm mốc lâu năm phảng phất trong bầu không khí ngột ngạt.

Tại chiếc bàn thép hoen rỉ phủ đầy những bản vẽ can vellum đã ngả màu vàng ố, Mai Chi đã cẩn thận đặt chiếc kính hiển vi quang học di động vỏ đồng cạnh cuốn sổ kiểm toán mật bìa bọc da nhân tạo của Đỗ Minh cùng những ống nghiệm chứa mẫu vật thu hồi từ Chợ Dây. Dưới ánh sáng phóng đại bốn mươi lần của nguồn đèn gương phản chiếu, cấu trúc của lớp bụi bám trên bề mặt những đoạn dây đồng bọc sợi khoáng mang mã sê-ri dập chìm 882-B2-PK hiện lên với độ tương phản sắc nét đến từng chi tiết vi mô. Đó tuyệt nhiên không phải là loại bụi xỉ kim loại thô ráp, góc cạnh thường bay tán loạn ở khu công cộng phía Tây, cũng không phải mạt oxit đồng sinh ra từ các phóng hồ quang điện thông thường nơi trạm cấp tải. Xen lẫn trong những phiến hạt bụi grafit mịn màng màu xám đen là tàn dư bết dính, nhờn bóng của chất mỡ bôi trơn tổng hợp gốc flo-silicon—thứ dung dịch nhớt đặc chủng kháng đông chỉ được cấp phát theo định mức nghiêm ngặt cho các cụm cơ cấu trục van điều áp hoạt động trong môi trường áp lực cực thấp.

Mai Chi lật giở từng trang giấy mỏng giòn rụm của tập sổ đối chiếu vật tư bị thất thoát, đầu ngón tay dính vệt mực tím thoăn thoắt gạt những thanh trượt của chiếc máy tính cơ học bằng đồng. Từng con số thâm hụt màng lọc silicat chịu nhiệt FL-094-H và mười hai khối biến áp cảm ứng MX-770 được cô cẩn trọng xếp thẳng hàng với biểu đồ sụt giảm công suất điện phụ tải trên toàn trạm suốt bốn tháng qua. Khi đặt hai đồ thị đè khớp lên nhau trên bàn rọi sáng, một điểm trũng dữ liệu kỳ lạ bắt đầu lộ diện: cứ mỗi lần hệ thống phân phối oxy tự động ghi nhận hiện tượng hao hụt áp suất cục bộ dạng vi sai ở nhánh rẽ kỹ thuật nằm phía sau vách ngăn số Bảy, lưu lượng điện tiêu thụ tại một phân đoạn ống kỹ thuật thứ cấp lại tăng vọt đúng 12 am-pe trong khoảng thời gian kéo dài vỏn vẹn mười lăm phút.

Phân đoạn ấy trên sơ đồ kỹ thuật hiện hành của trạm chỉ là một khoảng trắng xóa trơ trọi, bị một dấu mộc đỏ gạch chéo kèm dòng ghi chú hành chính lạnh lùng: “khoang rỗng đã cô lập sau thảm họa mười bảy năm trước”. Mạng theo dõi giám sát tự động của Ban Quản Trị đã xóa hoàn toàn mã định danh của nó khỏi vòng lặp quét của các cảm biến cơ điện từ nhiều chu kỳ trước. Nhưng trên bản đồ mù nguyên bản vẽ tay bằng mực tàu trên giấy can dày từ thời kỳ đầu đặt nền móng xây dựng trạm mà Mai Chi cất giữ dưới đáy ngăn kéo khóa kép, nơi đó vẫn còn in hằn một ký hiệu kỹ thuật sắc nét: K-09.

“Tọa độ vật lý của nó chưa từng biến mất,” Mai Chi đã chỉ đầu ngón tay dính mực lên điểm giao cắt phức tạp giữa đường ống xả áp dự phòng và vách bọc chì chống bức xạ thứ cấp. “Nó chỉ bị ngắt kết nối logic khỏi máy chủ trung tâm. Khang đã lợi dụng đường ống bypass làm mát vốn dĩ đã ngừng cấp dịch để luồn đường dây tải điện lậu và âm thầm ra vào khoang này. Hắn biến K-09 thành một hốc mù tuyệt đối nằm ngay dưới mũi toàn bộ hệ thống an ninh của trạm.”

Cầm trên tay bản vẽ tọa độ hiệu chỉnh cùng biểu đồ đo đạc chỉ số chênh lệch từ trường cục bộ do chính Mai Chi tái dựng bằng những phương trình vi phân cơ học, Lâm An lập tức tập hợp đội hình. Anh không thể đi một mình; quy chế an toàn ngặt nghèo được thiết lập sau vụ mất tích bí ẩn thứ mười hai là một rào giậu sắt đá không một điều tra viên nào được phép vượt qua nếu muốn giữ được mạng sống trước sự xáo trộn khó lường của cấu trúc trạm.

Bùi Duy mang theo bộ đồ nghề cứu hộ hạng nặng lỉnh kỉnh bên hông với những chiếc kìm cộng lực, kích thủy lực và chốt chêm hợp kim chịu lực, trong khi Hạ Nhiên cẩn trọng xách theo hai vali thiết bị pháp y dã chiến bọc hợp kim kín khí có van xả áp tự động. Trước ngưỡng cửa thép dày dẫn vào trục kỹ thuật phân khu K-09, cả ba người cẩn trọng kiểm tra chéo trang bị cho nhau theo đúng quy trình ba bước nghiêm ngặt. Mặt nạ dưỡng khí tuần hoàn kín được siết chặt qua các quai cao su lưu hóa dày dặn ôm khít lấy gò má và sống mũi, van thở bằng mica phát ra những tiếng rít đều đặn, khô khốc mang theo vị kim loại lạnh buốt của khối khí nén cao áp qua màng lọc vôi soda. Lâm An gắn thiết bị đo áp suất độc lập dạng màng rung cơ học lên cổ tay trái—một dụng cụ thô sơ nhưng an toàn tuyệt đối vì không phụ thuộc vào bất kỳ vi mạch nào có thể bị đánh lừa bởi từ trường, kim chỉ bằng đồng thau trên mặt số dạ quang đứng yên ở vạch 42 kilopascal, tức là chưa đầy một nửa áp suất khí quyển tiêu chuẩn của trạm.

“Chu kỳ điện đêm hiện hành vừa đảo chiều được mười phút,” Bùi Duy ghé sát mũ trùm bảo hộ của mình vào mũ của Lâm An, giọng nói trầm đục truyền qua màng rung thoại vô tuyến tầm cực ngắn nghe rè rè như tiếng kim loại cọ xát. “Các tiếp điểm phân rã của Vùng Chồng đang ở trạng thái trơ từ trường tạm thời. Chúng ta có đúng bốn mươi lăm phút trước khi đợt quét xung tiếp theo có thể làm trượt pha các ngưỡng cửa ngăn cách. Tuân thủ tuyệt đối quy trình thám sát đôi. Đi cách nhau không quá hai sải tay, dây cáp nối tiếp địa tuyệt đối không được để chùng trên sàn thép dẫn điện.”

Cánh cửa phân khu K-09 hé mở sau khi Bùi Duy dùng thanh nạy bằng thép tôi bẩy mạnh chốt thủy lực vốn đã bị kẹt cứng bởi lớp muối kiềm và rỉ sét đóng tảng suốt nhiều năm tháng. Một luồng gió mang hơi lạnh buốt giá từ bên trong lập tức tràn ra ngoài hành lang, cuốn theo mùi tanh nồng đặc trưng của kim loại nguội ngắt và sự tù đọng ghê người của một vùng không gian kín bị bỏ rơi suốt nhiều tuần lễ.

Lâm An, Bùi Duy và Hạ Nhiên lần lượt bước qua ngưỡng cửa kim loại mang những vết cháy xém hình nhánh cây mờ nhạt—di chứng của những đợt phóng hồ quang từ các chu kỳ quá tải điện trong quá khứ. Mặt sàn khoang rải đầy một lớp bụi grafit đen xỉn và bột oxit sắt mịn như nhung, trên đó in hằn những vết đế giày bảo hộ đã mờ nhạt vì bụi lắng đọng theo thời gian—dấu vết ra vào trước đó của Phạm Khang trong những lần hắn lén lút mang khẩu phần dinh dưỡng tổng hợp đến giam giữ Đỗ Minh. Nhưng mục tiêu của họ đêm nay không phải là góc cùm chân mà Đỗ Minh từng bị xích vào đường ống chịu lực.

Ánh đèn pin công suất cao gắn trên mũ bảo hộ của Lâm An quét một vòng rộng quanh không gian chật chội và ngột ngạt. Khoang K-09 vốn dĩ là trạm trung chuyển điều áp phụ của hệ thống giải nhiệt chu trình ba, bốn bề giăng kín những đường ống dẫn khí làm mát đường kính nửa mét uốn lượn chằng chịt như ruột gan của một con quái thú cơ khí khổng lồ đã chết rũ. Nhiều đoạn ống dẫn bằng gang xám chịu lực đã bị tháo rời các bích nối bắt bu-lông, nằm ngổn ngang trên sàn thép trơn trượt cùng những chiếc van xả áp bằng đồng thau bị vặn gãy cả tay quay điều khiển.

“Khang đã khai trước máy ghi âm rằng hắn chỉ giam Đỗ Minh ở đây một thời gian ngắn rồi tuồn hàng ra Chợ Dây,” Bùi Duy vừa rà đầu dò của chiếc máy quét siêu âm dò khuyết tật kim loại dọc theo vách ngăn vừa lẩm bẩm qua mặt nạ. “Hắn thách thức chúng ta tìm ra tung tích của Trịnh Thao. Hắn đinh ninh rằng môi trường chân không một phần cùng sự xáo trộn vô trật tự của các chu kỳ điện đêm sẽ xóa sạch mọi dấu vết phân rã vật lý.”

“Không gian có thể bị bẻ cong bởi từ trường cực hạn của các cuộn gia tốc, nhưng vật chất thì không bao giờ tự biến mất vào hư vô,” Lâm An lạnh lùng đáp, ánh mắt sắc bén dừng lại trước một hốc tường tối tăm nằm khuất sâu sau đống ống dẫn áp lực cao đã rỉ sét.

Tại góc chết này, các khối van xả áp bằng đồng thau nặng hàng chục ký đã bị tháo dỡ thô bạo và xếp chồng ngay ngắn lên nhau thành một bức tường chắn tạm bợ cao ngang ngực người, tạo thành một bình phong che chắn hoàn hảo khỏi tầm nhìn từ cửa bước vào. Lớp bụi grafit phủ trên bề mặt các khối ống gang này bị xáo trộn rất mạnh; có những vệt kéo lê cơ học cào xước lớp sơn chống rỉ màu xám sáng, để lộ ra những đường viền kim loại nền lấp lánh ánh thép chưa kịp bị lớp ẩm loãng làm oxy hóa hoàn toàn.

“Duy, hỗ trợ tôi dọn sạch chướng ngại vật này,” Lâm An ra hiệu bằng tay.

Hai người đàn ông gồng mình, các thớ cơ dưới lớp vải bạt bảo hộ căng cứng khi họ cẩn thận nhấc từng đoạn ống gang nặng trịch đặt sang một bên lối đi. Tiếng kim loại nặng nề va đập vào sàn thép vang lên những âm thanh khô khốc, đục ngầu, bị bầu không khí loãng ở áp suất 42 kilopascal nuốt chửng gần hết chấn động âm thanh. Khi khối thân van xả cuối cùng mang lớp rỉ màu xanh mắt cua bị dời đi, khoảng trống tối tăm phía sau để lộ ra một hộc chứa đồ kỹ thuật áp vách—loại tủ âm tường bằng thép đúc dày dặn vốn dùng để cất giữ bình dưỡng khí khẩn cấp và trang phục chịu nhiệt của các kỹ thuật viên trực ca từ mười bảy năm trước.

Cửa hộc tủ không đóng chặt khớp ngàm. Bản lề góc dưới của nó bị chêm chặt bằng một thanh sắt xoắn gỉ sét, và mép khe hở chạy dọc theo cánh cửa đã được trét kín một cách vội vã bằng một lớp keo làm kín công nghiệp màu xám tro dày cộp. Lâm An rút con dao nghiệp vụ có lưỡi bằng hợp kim vonfram sáng bóng, tì mạnh đầu lưỡi cắt sâu một đường dứt khoát làm đứt lìa lớp keo dẻo đã lưu hóa cứng ngắc theo thời gian.

Bùi Duy ghì cả hai bàn tay bọc găng dày vào mép tấm cửa thép đúc, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể giật mạnh về phía sau.

Cánh cửa bật mở với một tiếng rít kim loại chói tai, khô khốc vang vọng trong khoang rỗng. Luồng ánh sáng trắng hội tụ từ ba chiếc đèn pin đội đầu đồng loạt rọi thẳng vào lòng hộc chứa sâu hun hút và lạnh lẽo.

Bên trong, bị nhét gập lại một cách thô bạo giữa các khung giá đỡ bình khí cứu nạn đã rỗng không, là một bọc vải bạt cứu hộ công nghiệp màu cam xám xịt vì bụi bặm. Lớp bạt sợi thủy tinh dày dặn và chống cháy đã bị thấm đẫm một mảng chất lỏng màu nâu sẫm, khô cứng lại thành một mảng giòn vụn ở phần đầu của khối bọc. Dưới góc chiếu xiên của ánh sáng đèn vonfram, mép vải bạt hơi xô lệch để lộ ra một phần ống tay áo bảo hộ dày màu xanh đậm—loại đồng phục lao động tiêu chuẩn của nhân viên thủ kho thuộc Phân khu H-12, trên cổ tay áo vẫn còn đính chiếc huy hiệu nhựa dẻo chống tĩnh điện in rõ dãy số định danh cùng dòng chữ dập nổi màu trắng: *Trịnh Thao - Thủ kho Bậc ba*.

Bầu không khí bên trong khoang K-09 dường như ngưng đọng lại trong tích tắc rợn ngợp. Tiếng thở dốc của ba người qua màng lọc dưỡng khí vôi soda trở nên nặng nề và rõ rệt hơn bao giờ hết, từng nhịp thở như đập dồn dập vào màng nhĩ.

Hạ Nhiên lập tức bước lên phía trước, động tác của cô chuẩn xác, điềm tĩnh và dứt khoát như một cỗ máy được lập trình hoàn hảo để đối diện với cái chết trong những điều kiện khắc nghiệt nhất. Cô hạ chiếc vali hợp kim xuống sàn thép, mở các khóa lẫy rồi bật chiếc đèn phẫu thuật dã chiến gắn trên giá ba chân gấp gọn, tỏa ra một quầng ánh sáng trắng lạnh lẽo bao trùm toàn bộ không gian bên trong hộc chứa đồ.

“Không được di chuyển vị trí ban đầu của cơ thể,” Hạ Nhiên cất giọng qua bộ đàm nội bộ, đôi bàn tay mang hai lớp găng cao su y tế vô trùng chống tĩnh điện khẽ giơ lên làm dấu. “Tôi cần ghi nhận tư thế hiện trường nguyên bản và các chỉ số suy thoái sinh học tại chỗ trước khi có bất kỳ tác động cơ học nào làm biến dạng cấu trúc mô.”

Cô cẩn thận dùng kẹp gắp y tế tách mở từng nếp gấp đã dính chặt vào nhau của tấm bạt cứu hộ. Thi thể của người đàn ông trung niên hiện ra trong một tư thế co quắp thụ động, hai đầu gối bị gập ép sát vào lồng ngực để có thể nhét vừa vào khoang chứa hẹp có chiều rộng chưa đầy sáu mươi phân. Môi trường thiếu dưỡng khí nghiêm trọng kéo dài suốt nhiều tuần lễ cùng nhiệt độ cực thấp của khoang kỹ thuật K-09 bị ngắt sưởi hoàn toàn đã tạo nên một hiện tượng ướp xác lạnh tự nhiên hiếm thấy: làn da nạn nhân có màu xám chì, khô quắt lại như da thuộc và dính chặt vào các gờ xương bên dưới, các mảng hoen tử thi ở vùng lưng và mặt sau đùi đã chuyển sang màu tím sẫm cố định, hoàn toàn không có bất kỳ dấu hiệu phình trướng hay phân hủy sinh học ồ ạt thường thấy do vi khuẩn hiếu khí gây ra.

Hạ Nhiên cẩn trọng đưa đầu dò cảm biến nhiệt độ và máy đo độ đàn hồi mô mềm áp vào vùng cơ bắp cánh tay nạn nhân, sau đó nhẹ nhàng nâng phần đầu của tử thi lên một góc nghiêng vừa đủ để kiểm tra hộp sọ. Ngay khi luồng ánh sáng trắng rọi thẳng vào vùng thái dương bên phải kéo dài ra tận ụ chẩm sau đầu, một tổn thương cơ học kinh hoàng hiện ra dưới mắt ba người điều tra viên.

Vùng xương bản sọ tại vị trí đó đã bị lún vỡ nát hoàn toàn, để lại một vết lõm hình bán nguyệt sắc cạnh với các đường nứt xương chân chim lan rộng sang tận phần xương trán và hốc mắt. Da đầu xung quanh miệng vết thương bị rách toác với bờ mép bầm dập sâu hoắm, dịch tủy cùng máu đông vón cục khô cứng màu nâu đen bám chặt lấy chân tóc và lớp xương vỡ vụn bên dưới.

Hạ Nhiên mở hộp dụng cụ thép, lấy ra chiếc kính phóng đại chuyên dụng có thước đo vạch chia cùng que lấy mẫu mô vi sinh. Cô cẩn thận cúi sát, kiểm tra kỹ lưỡng hốc mắt trũng sâu, niêm mạc khoang miệng và vùng lồng ngực của nạn nhân.

“Thời gian tử vong ước tính khoảng từ bốn mươi đến bốn mươi lăm ngày trước, hoàn toàn trùng khớp với thời điểm Trịnh Thao được báo cáo mất tích sau khi kết thúc ca trực đêm ở chu kỳ 390,” Hạ Nhiên cất giọng, từng lời nói rành rẽ, lạnh lùng và đanh thép vang lên trong mũ trùm của hai người đồng nghiệp. “Nguyên nhân tử vong trực tiếp là chấn thương sọ não hở cực kỳ nghiêm trọng, vỡ lún xương vòm sọ kèm theo dập rách mô não diện rộng do tác động của một ngoại lực cơ học dạng kim loại cứng với gia tốc cực lớn tác động tập trung vào một điểm.”

Cô dùng đầu chiếc nẹp thép chỉ chính xác vào bờ mép sắc cạnh của vết lún xương: “Hãy nhìn kỹ các gờ nứt này. Hướng truyền lực đi dốc từ trên xuống dưới, hơi chếch một góc mười độ từ phía sau ra trước. Đây là một đòn đánh lén bất ngờ từ phía sau lưng khi nạn nhân đang đứng cúi người hoặc trong trạng thái hoàn toàn mất cảnh giác, không có bất kỳ phản xạ tự vệ nào. Toàn bộ vùng cẳng tay và bàn tay của nạn nhân không hề có bất kỳ vết bầm tím hay trầy xước nào của phản xạ chống đỡ bản năng.”

Hạ Nhiên rút chiếc ống nghe cơ học chuyên dụng áp vào lồng ngực lép kẹp của thi thể, kiểm tra cẩn thận cấu trúc sụn khí quản qua một vết rạch nhỏ thăm dò ở hõm ức: “Không có bất kỳ dấu hiệu tổn thương phế nang nào dạng xé rách do sụt giảm áp suất khí quyển đột ngột; niêm mạc khí quản khô ráo, không hề có bọt máu hay dịch phù phổi cấp tính. Điều đó chứng minh nạn nhân đã ngừng tim và ngừng thở hoàn toàn trước khi bị kẻ thủ ác tống xác vào khoang kỹ thuật bị ngắt dưỡng khí này. Và điều quan trọng nhất...”

Cô dừng tay, ngẩng đầu lên nhìn thẳng qua lớp kính chắn gió mờ hơi sương của Lâm An: “Cấu trúc tế bào màng và liên kết mô dưới kính hiển vi dã chiến không hề có bất kỳ dấu hiệu đứt gãy phân tử hay hiện tượng trượt pha nguyên tử nào do Vùng Chồng gây ra. Nạn nhân này tuyệt đối không hề chết vì những dị thường không gian hay các xung lực bí ẩn của trạm. Đây là một vụ giết người bằng bạo lực vật lý thuần túy giữa con người với con người, xảy ra ngay trên nền thép bằng phẳng của trạm trước khi cái xác bị lén lút mang vào đây để phi tang.”

Lời khẳng định đanh thép và khoa học của Hạ Nhiên đã đập tan hoàn toàn bức màn huyền bí, ma mị mà Phạm Khang đã dày công thêu dệt trong những lời khai quanh co trước đó. Không có sự trừng phạt siêu nhiên nào của trạm, không có sự nuốt chửng của những hành lang không đáy hay sự biến mất vào cõi hư vô. Chỉ có máu, sự tàn bạo lạnh lùng và sự đê hèn nhằm bịt miệng một nhân chứng trung thực biết quá nhiều điều.

Trong lúc Hạ Nhiên hoàn tất những thao tác đo đạc giải phẫu bề mặt và lấy mẫu dịch khô, Lâm An và Bùi Duy bắt đầu rà soát tỉ mỉ từng centimet vuông sàn thép xung quanh miệng hộc chứa và dọc theo lối đi hẹp dẫn ngược ra cửa khoang.

Lâm An hạ thấp người xuống sát sàn, ngón tay bật công tắc chiếc đèn phát tia cực tím bước sóng ngắn 365 nanomet. Dưới ánh sáng tím le lói và ma quái, những vệt huỳnh quang màu xanh nhạt bắt đầu hiện hình rõ rệt trên nền thép phủ bụi xỉ xám xịt. Đó là những vệt lau chùi cơ học hình vòng cung kéo dài liên tục từ ngưỡng cửa khoang tới tận chân hộc tủ âm tường. Kẻ thủ ác đã cố gắng xóa sạch mọi dấu vết của việc kéo lê thi thể, nhưng hắn đã đánh giá quá thấp bản chất hóa học bất biến của các hợp chất tẩy rửa công nghiệp.

Lâm An rút một que tăm bông vô trùng từ hộp đồ nghề, thấm một giọt dung dịch thuốc thử chỉ thị rồi quệt mạnh lên bề mặt của vệt huỳnh quang phát sáng. Miếng bông gòn lập tức chuyển màu, từ trắng ngà hóa thành màu xanh lam đậm đặc trưng trong vòng chưa đầy ba giây.

“Dung môi tẩy rửa công nghiệp gốc trichloroethylene,” Lâm An cẩn thận quan sát phản ứng hóa học qua mặt nạ, giọng anh vang lên trầm tĩnh nhưng chứa đựng sự sắc bén của một phán quyết. “Hắn đã dùng giẻ vụn tẩm chất tẩy mỡ máy nén khí áp lực cao để chà rửa các vệt máu bắn tung tóe trên sàn sau khi kéo lê xác nạn nhân vào đây. Hắn lầm tưởng rằng trong môi trường áp suất thấp của khoang K-09, chất dung môi dễ bay hơi này sẽ bốc hơi hoàn toàn vào không gian mang theo mọi dấu vết. Nhưng trichloroethylene khi tiếp xúc và phản ứng hóa học với lớp sơn lót epoxy nguyên bản của sàn thép sẽ để lại một màng polyme biến tính vĩnh viễn, không một thứ gì có thể xóa bỏ được dấu vết quang học của nó.”

Bùi Duy lúc này đang dùng chiếc đèn pin cực mạnh soi sát vào mép khung kim loại của hộc tủ âm tường. Ở góc trên bên phải của then cài khóa cơ học, nơi một con ốc lục giác cỡ mười bốn milimét bị biến dạng nhẹ ở các cạnh giác thép, anh phát hiện những rãnh xước kim loại sắc nhọn còn rất mới, hoàn toàn chưa bị bụi grafit bám kín.

Duy cẩn thận lấy từ túi đồ nghề chuyên dụng ra một chiếc thước đo kẹp cơ khí có độ chính xác tới một phần trăm milimét và một miếng dán silicon dẻo dùng để lấy khuôn dấu vết bề mặt. Anh cẩn trọng áp miếng silicon vào vết xước cơ học trên đầu ốc, kiên nhẫn chờ đúng ba mươi giây cho hợp chất polyme đông đặc rồi bóc nhẹ ra, đưa lên sát kính lúp phóng đại gắn trên đèn soi để kiểm tra các đường vân khuôn.

“Lâm An, nhìn vào các gờ khuôn này,” giọng Bùi Duy khẽ run lên vì sự phẫn nộ bị đè nén bấy lâu nay trong lồng ngực. “Dấu ngàm kẹp đôi có góc nghiêng chuẩn xác đúng mười lăm độ. Vết lõm hình bán nguyệt ở cạnh bên của giác ốc chính là do chốt định vị lực mô-men xoắn để lại khi người thao tác cố tình siết chặt quá ngưỡng lực 35 Newton-mét.”

Anh ngẩng đầu lên, ánh mắt nhìn xoáy qua tấm kính che mặt của người đồng đội: “Nó khớp một trăm phần trăm với đầu vặn chuyên dụng của bộ cờ-lê định lực cơ khí mang mã hiệu PK-02. Đây chính là bộ đồ nghề độc quyền được đánh số quản lý cá nhân của Phạm Khang—bộ công cụ kỹ thuật mà chính hắn đã dùng để nới lỏng cụm bu-lông cuộn dẫn tại cửa van điều áp B-04 nhằm giăng bẫy mưu sát Mai Chi cách đây không lâu. Hắn đã dùng chính chiếc cờ-lê đó để bẩy mở then cài bị gỉ và sau đó siết chặt chốt hãm hộc chứa này lại sau khi nhét xác Trịnh Thao vào bên trong bóng tối.”

Lâm An đưa ngón tay bọc găng cao su vuốt nhẹ dọc theo khe hẹp của then cài bằng thép. Đầu ngón tay anh dính một vệt dầu nhờn màu vàng nhạt, hơi dính rít. Anh lập tức đưa một que thử nhanh vào túi đựng mẫu vật niêm phong: “Vết dầu máy bôi trơn flo-silicon chịu áp lực thấp dùng riêng cho các cụm cuộn neo định vị. Khang đã mang cả bộ cờ-lê dính mỡ bảo dưỡng từ xưởng cơ điện vào tận hốc sâu này để hoàn tất việc phi tang xác chết.”

Mọi mắt xích của chuỗi sự kiện cơ học, hóa học và sinh học giờ đây đã hoàn toàn khép kín thành một vòng tròn chứng cứ đanh thép, không còn một kẽ hở nào cho sự chối bỏ.

Trịnh Thao, với tư cách là một thủ kho bậc ba mẫn cán của phân khu H-12, đã phát hiện ra sự thâm hụt bất thường của mười hai khối biến áp cảm ứng MX-770 và hàng loạt tấm màng lọc silicat chịu nhiệt FL-094-H bị rút ruột khỏi các kho dự trữ chiến lược. Khi người thủ kho già từ chối ký vào biên bản kiểm kê giả mạo cùng những con số gian lận do Phạm Khang dựng lên, Khang đã lạnh lùng dùng một thanh kim loại nặng đánh lén từ phía sau lưng, đập vỡ vòm sọ nạn nhân ngay tại lối vào khu vực kỹ thuật. Sau đó, hắn kéo xác Trịnh Thao vào phân khu K-09, bọc thi thể trong tấm bạt cứu hộ công nghiệp, nhét gập vào hộc tủ âm tường, dùng chiếc cờ-lê định lực PK-02 khóa chặt then cài, trét keo công nghiệp làm kín rồi ngắt toàn bộ hệ thống cấp dưỡng khí để biến khoang này thành một nấm mồ đóng băng vĩnh cửu. Tiếp đó, hắn biến chính khoang K-09 này thành nơi bí mật giam cầm Đỗ Minh, ung dung tin tưởng tuyệt đối rằng sự hỗn loạn của Vùng Chồng và sự đảo pha của các chu kỳ điện đêm sẽ vĩnh viễn chôn vùi tội ác man rợ của hắn xuống đáy sâu của trạm.

“Bùi Duy, chuẩn bị túi bọc tử thi chuyên dụng ba lớp chống tĩnh điện,” Lâm An đứng thẳng người dậy trên sàn thép lạnh lẽo, giọng nói của anh vang lên qua hệ thống đàm thoại dứt khoát và lạnh lùng như một bản án chung thẩm đã được tuyên. “Hạ Nhiên, lập biên bản giám định hiện trường tại chỗ ngay bây giờ. Ghi nhận chi tiết từng thông số kỹ thuật: tọa độ lún vỡ xương hộp sọ, mẫu quệt dung môi tẩy máu trichloroethylene, vết hằn ngàm kẹp của cờ-lê định lực PK-02 và mẫu dầu bôi trơn flo-silicon.”

Ba con người phối hợp với nhau một cách nhịp nhàng và chuẩn xác trong sự im lặng trang nghiêm tuyệt đối của khoang máy ngắt khí. Tấm bạt cứu hộ màu cam đã giòn cứng cùng thi thể co quắp của người thủ kho xấu số được cẩn thận nhấc ra khỏi hộc chứa hẹp, chuyển nhẹ nhàng vào bên trong chiếc túi zip chuyên dụng ba lớp màu đen tuyền, khóa kín lại bằng đường dây kéo niêm phong có mã số cơ học riêng biệt. Trên bề mặt dày dặn của túi bọc, Lâm An dùng chiếc kìm bấm chuyên dụng kẹp chặt chiếc niêm chì mang dấu hiệu khắc chìm của Tổ Điều Tra Ngưỡng.

Các ống nghiệm thủy tinh chứa mẫu máu đông khô, mẩu tăm bông tẩm dung môi trichloroethylene cùng miếng khuôn dán silicon in hằn từng đường vân sắc nhọn của ngàm cờ-lê được xếp ngay ngắn, cẩn trọng vào các khay mút xốp bên trong vali hợp kim của Hạ Nhiên, dán chặt những dải băng keo niêm phong bằng chứng tố tụng màu đỏ tươi có chữ ký xác nhận của cả ba người.

Đây không còn là một cuộc tìm kiếm người mất tích trong những giả định mơ hồ và những lời đồn đại ma quái nơi góc tối của trạm. Đây là chứng cứ vật chất trực tiếp, khách quan, sắt đá và không thể chối cãi để đưa Phạm Khang ra trước vành móng ngựa của Tòa án Quân sự trạm với tội danh Giết người có chủ đích nhằm che giấu hành vi tham ô, phá hoại tài sản chiến lược trong thời chiến. Lời thách thức ngạo mạn, trơ tráo của Khang trong phòng thẩm vấn số Ba trước đó giờ đây đã chính thức biến thành chiếc thòng lọng vô hình nhưng siết chặt lấy cổ hắn.

Lâm An bước chậm rãi ra ngưỡng cửa phân khu K-09, khẽ quay đầu nhìn lại lần cuối cái hốc thép hoang tàn, rỉ sét vừa được giải phóng khỏi bóng tối dày đặc của sự dối trá kéo dài suốt nhiều tuần lễ. Anh đưa tay dập mạnh chiếc chốt niêm phong kim loại màu đỏ rực lên khung cánh cửa thép dày, khóa chặt vĩnh viễn phân khu này lại để chờ đội điều tra kỹ thuật của quân cảnh tiếp quản, rồi cùng Bùi Duy và Hạ Nhiên rảo bước dọc theo trục hành lang kỹ thuật dài hun hút hướng về phía ánh sáng rực rỡ của khu trung tâm điều hành.

Hành lang có thể uốn cong hướng đi, nhưng không một tấc không gian nào có thể tiêu hóa được tội ác đẫm máu của con người.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn