Một Bàn Tay Sau Tấm Ốp
Chiếc kính hiển vi quang học đặt trên bệ đá chống rung trong phòng đối chiếu của Mai Chi phóng đại các hạt bụi xám bám chặt trên rãnh dải từ của chiếc thẻ công tác thật mang tên Đỗ Minh, để lộ một cấu trúc phân tầng màu sắc rõ rệt giữa ba chu kỳ điện liên tiếp của trạm.
Ánh sáng lạnh từ bóng đèn halogen công suất thấp rọi xiên qua cụm lăng kính hội tụ, cắt ngang bề mặt tấm nhựa polymer dẻo đã ngả màu vàng ố theo năm tháng, nơi đường viền mạch đồng tích hợp chạy ngầm bên dưới lớp phủ bảo vệ. Tấm thẻ nhân viên kỹ thuật bậc hai mang mã hiệu B-7140 — vật chứng vật lý duy nhất không bị nhiệt phân hay rã thành tro bụi cùng hình nhân hồi âm trong lồng thẩm vấn số Ba — lúc này đang nằm bất động dưới hai chiếc kẹp giữ bằng thép không gỉ mạ crom.
Mai Chi không ngẩng mặt lên khỏi chụp cao su của thị kính. Ngón tay trỏ của cô, được bọc kín trong lớp bao cao su kỹ thuật màu cam nhạt, khẽ chạm vào núm xoay vi cấp bằng đồng thau. Mỗi lần khấc xoay dịch chuyển một phần trăm milimet, tiếng bánh răng ăn khớp bên trong thân kính lại phát ra những tiếng lách cách khô khốc, đanh gọn, lọt thỏm giữa bốn bức vách cách âm dày dặn của buồng đối chiếu.
"Nhìn vào mép gờ chữ U của rãnh từ dẫn hướng," Mai Chi nói, giọng cô khàn đặc sau chuỗi giờ căng thẳng kéo dài, ngón tay điểm nhẹ xuống mặt bàn thao tác bọc thép tấm. "Đây tuyệt đối không phải là một lớp cặn bẩn ngẫu nhiên tích tụ trong một khoang kín thông thường. Chúng không hòa trộn vào nhau. Ba lớp vật chất này xếp chồng lên nhau thành ba tầng địa tầng cơ học tách biệt, không hề bị xáo trộn bởi luồng khí đối lưu tự nhiên. Ba chu kỳ cửa, ba ngưỡng kim loại hoàn toàn khác nhau về thành phần cấu tạo."
Lâm An đứng tựa vai vào góc tủ hồ sơ bằng tôn lạnh. Chiếc đồng hồ cơ khí bỏ túi trên cổ tay trái anh đều đặn buông từng nhịp gõ đanh gọn, sắt đá, đóng đinh vào sự tĩnh lặng của gian phòng cách ly. Anh khẽ cúi người xuống, áp mắt vào thị kính phụ được gắn song song ở góc nghiêng bốn mươi lăm độ.
Dưới độ phóng đại bốn trăm lần, tầng vật chất đáy dính chặt vào chân tiếp xúc mạ đồng là lớp xỉ silicate hạt to, góc cạnh sắc nhọn, xen lẫn những phoi nhôm mạ kẽm dạng xoắn vụn — dấu vết cơ học không thể trộn lẫn của trục hành lang công cộng thuộc khu dân cư phía Tây, nơi hàng ngàn đôi ủng bảo hộ nện xuống sàn grating mỗi ngày. Đè nghiến lên tầng silicate thô ráp ấy là một dải mỏng hạt oxit đồng siêu mịn, kết tinh thành những khối màu đen sẫm mang ánh tím đặc trưng của hiện tượng phóng điện hồ quang tức thời — dấu tích còn sót lại từ ngưỡng cửa Vùng Chồng từng xảy ra sự cố đánh thủng điện môi tại van áp lực B-04.
Nhưng chi tiết khiến đồng tử của Lâm An co thắt lại nằm ở lớp trầm tích trên cùng: một màng bụi grafit mịn như bột phấn đánh bóng khuôn đúc, bết dính trong lớp màng mỏng của dầu mỡ silicon công nghiệp loại nặng, loại chuyên dùng cho các khớp truyền động chịu tải lớn trong môi trường chân không cục bộ.
"Tầng thứ ba," Lâm An khẽ nheo mắt, đọc tên hợp chất trước khi Mai Chi kịp chuyển đổi đầu đo sang chế độ quang phổ kế phản xạ. "Dầu bôi trơn bánh răng giảm tốc gốc flo-silicon và mạt grafit chống ma sát khô của hệ thống quạt hút cưỡng bức công suất lớn. Đây là môi trường vi khí hậu đặc trưng của khoang bảo trì phụ trợ cũ kỹ, phần kiến trúc bị niêm phong nằm sâu sau vách ngăn số Bảy."
"Chính xác là nó," Mai Chi từ từ nhấc mắt khỏi thị kính, tháo cặp kính bảo hộ gá trên sống mũi. Ánh đèn halogen hắt lên khuôn mặt nhợt nhạt của cô, để lộ quầng thâm sâu hoắm dưới mi mắt sau nhiều giờ liên tục đối diện với lằn ranh sinh tử. "Đỗ Minh thật chưa từng bị hút vào một vết nứt hư vô nào do Vùng Chồng tạo ra như các báo cáo sơ bộ của Ban An ninh Nội bộ cố tình ám chỉ. Khi bị khống chế tại hành lang công cộng phía Tây, thẻ công tác của anh ấy đã quét qua ngưỡng cửa kiểm soát thứ nhất. Kẻ bắt cóc sau đó đã áp giải anh ta đi qua ngưỡng cửa phụ có bẫy điện trường cao áp — chính là vị trí van B-04 — nhằm mục đích duy nhất là làm cháy rơ-le định vị tầm xa và đánh lạc hướng thuật toán tìm kiếm của máy chủ trạm."
Mai Chi dùng một chiếc panh kẹp gắp nhẹ một góc tấm thẻ, lật nghiêng để Lâm An nhìn thấy vết trầy xước ngang thân vi mạch:
"Và trước khi tín hiệu vô tuyến thụ động của thẻ bị ngắt hoàn toàn khỏi mạng lưới phân phối áp lực lúc ba giờ mười lăm phút sáng của bốn mươi hai ngày trước, nó đã dừng lại ở ngưỡng kim loại thứ ba: cửa van ngăn cách giữa trạm bơm thứ cấp và khoang bảo trì bỏ hoang K-09. Kẻ bắt cóc đã nhốt Đỗ Minh trong một căn phòng có thực. Một kết cấu vật lý bằng thép đúc, đinh tán tán nóng và vách bọc chì có sẵn từ mười bảy năm trước, chứ không phải một ảo ảnh quang học hay một buồng rỗng sinh ra từ sự gấp khúc không-thời gian."
Cô ngẩng đầu nhìn thẳng vào mắt anh. Nỗi sợ hãi co cụm ban nãy khi chứng kiến hình nhân rã thành bùn than trong lồng sắt đã hoàn toàn biến mất, nhường chỗ cho sự sắc lạnh của một chuyên viên giám định kỹ thuật:
"Hắn dùng chính bóng tối vật lý của các khoang kỹ thuật đã bị trạm lãng quên để giấu một con người bằng xương bằng thịt, rồi lợi dụng sự hoang mang của chúng ta trước hiện tượng Vùng Chồng để dựng lên một bức bình phong ma quái. Hắn khiến cả trạm tin rằng Đỗ Minh đã bị nuốt chửng bởi sự bất định, trong khi anh ấy vẫn đang chịu đựng từng chu kỳ dưỡng khí trong một cái lồng sắt thực sự."
Lâm An khẽ siết chặt quai đeo của chiếc túi cứu hộ cá nhân bên hông. Nhận định của Mai Chi hoàn toàn trùng khớp với mô hình cơ học mà anh đã phác thảo trong đầu suốt hai ngày qua: Vùng Chồng dù có khả năng bẻ cong các trường cảm ứng và làm biến dạng sóng phản xạ, nó chưa từng có khả năng tự sinh ra vật chất từ con số không. Một kẻ sở hữu tư duy cơ khí thực dụng, lạnh lùng và chuẩn xác đến từng milimet như Phạm Khang sẽ không bao giờ mạo hiểm giao sinh mạng của một nhân chứng sống — nguồn thông tin quan trọng nhất để hắn hoàn thiện các hình nhân — cho sự trôi dạt vô định của các điểm neo không gian.
Đỗ Minh bị giam giữ trong phần cứng nguyên bản của trạm Vành Khuyên, nơi những đường ống dẫn khí cũ kỹ từ thời kỳ xây dựng sơ khai vẫn còn duy trì một áp suất tối thiểu để chống lại sự sụp đổ của thành vách.
"Phương án đường vòng của Ủy viên Võ Liên đã chính thức có hiệu lực kỹ thuật," Lâm An rút từ trong túi áo khoác chống tĩnh điện ra một bản đồ phân bố áp lực nén khí khổ hẹp, mép giấy vẫn còn thơm mùi mực in hóa chất và mang chữ ký phê duyệt trực tiếp bằng bút bi mực tươi lúc ba giờ mười lăm phút sáng. "Bà ấy đã sử dụng quyền ưu tiên của Hội đồng để cô lập hoàn toàn áp suất của tuyến ống làm mát phụ trợ 11-C. Việc này tạo ra một hành lang áp lực cân bằng, cho phép chúng ta luồn ra phía sau lưng vách ngăn số Bảy mà không gây sụt áp đột ngột trên mạng lưới điều hòa của khu dân cư. Chúng ta có chưa đầy ba tiếng đồng hồ trước khi Nguyễn Quế dùng vũ lực của Đội Chấp pháp để cưỡng chế phá vỡ rào chắn kỹ thuật."
Cánh cửa kim loại nặng nề của buồng đối chiếu khẽ rít lên một tiếng khô khốc trên bản lề thủy lực.
Bùi Duy bước vào, mang theo luồng không khí nồng mùi cao su lưu hóa và bụi kim loại ẩm. Người đội trưởng Đội Neo khoác trên mình bộ đồ bạt chịu lực nặng chịch, hai bên cầu vai chằng chịt các dây đai chịu tải bằng sợi tổng hợp, móc sẵn hai túi đồ nghề cứu hộ bằng cao su đúc nguyên khối. Khuôn mặt vuông vức, xám xịt vì thiếu ngủ của anh đanh lại như một khối đá hoa cương; ánh mắt lộ rõ sự kiệt quệ sau chuỗi ngày chịu áp lực thanh trừng nội bộ, nhưng từng cử động cơ bắp, từng cái nhấc tay đặt chân vẫn giữ nguyên sự chuẩn xác tuyệt đối của một thợ bậc cao. Dù quyền can thiệp kỹ thuật độc lập trên hệ thống mạng của Duy đã bị Ban An ninh tước bỏ sau sự cố cuộn cảm ứng trôi dạt, thì kinh nghiệm mười lăm năm đo đạc từng bước ren ống, từng độ rung của đinh tán trên thân trạm là thứ mà không một thuật toán máy chủ nào có thể tước đoạt hay thay thế.
"Đồng hồ cơ đối chuẩn," Bùi Duy không nói một lời thừa thãi, đặt mạnh hai chiếc đồng hồ bấm giờ cơ học vỏ thép mạ niken dày cộp lên mặt bàn thao tác bên cạnh kính hiển vi.
Lâm An cầm lấy một chiếc. Vỏ thép của nó lạnh buốt và nặng trịch trong lòng bàn tay. Anh kéo nhẹ núm vặn phụ trợ, lắng nghe tiếng dây cót đàn hồi bên trong bộ vỏ chống từ trường ba lớp gắt gao co lại, phát ra những âm thanh ròn rã, rắn rỏi. Lâm An xoay núm chỉnh kim, đưa kim giây quét về vị trí số mười hai, khớp tuyệt đối với chiếc đồng hồ trên tay Bùi Duy đến từng phần mười giây: *03:22:00*.
"Bên trong trục kỹ thuật thứ cấp, toàn bộ sóng tham chiếu thời gian từ máy chủ trung tâm sẽ bị triệt tiêu hoàn toàn bởi lớp vỏ bọc chì chống bức xạ," Bùi Duy cài chặt khóa dây da thuộc bản dày vào cổ tay áo bạt, giọng nói trầm đục và nghẹt lại sau lớp màng lọc của mặt nạ phòng độc cá nhân. "Mỗi khi chu kỳ điện đêm chuyển pha, toàn bộ kết cấu khung trạm sẽ rung lên với tần số hạ âm mười hai héc. Cảm giác của cậu về phương hướng, khoảng cách và thời gian trôi qua sẽ bị đánh lừa bởi tiếng rít của các đường ống rỗng và sự chênh lệch áp suất cục bộ. Nếu hai chiếc đồng hồ này lệch pha nhau quá ba giây cơ học, chúng ta phải quay đầu ngay lập tức, bất kể đã tiếp cận được mục tiêu hay chưa. Đó không phải là khuyến cáo, đó là quy tắc sinh tồn của Đội Neo."
"Tôi hiểu quy tắc," Lâm An gập nắp hộp bảo quản bằng phôi nhôm chứa chiếc thẻ B-7140 của Đỗ Minh, khóa hai chốt lẫy cơ khí rồi trao trả lại tận tay cho Mai Chi. "Chốt chặt cửa buồng cách ly từ bên trong bằng tay quay trợ lực. Dù có bất kỳ tín hiệu điều động khẩn cấp nào phát ra từ hệ thống loa truyền thanh hay ống dẫn khí nén, tuyệt đối không được chạm tay vào then khóa cho đến khi tôi hoặc bác sĩ Hạ Nhiên quay lại gõ cửa theo nhịp ba ngắn hai dài."
Mai Chi đón lấy hộp bảo quản, các ngón tay siết chặt lấy quai túi vải bạt đựng sổ kiểm toán kỹ thuật của Đỗ Minh. Cô không nói thêm điều gì, chỉ khẽ gật đầu, ánh mắt ánh lên sự kiên quyết lạnh lẽo của một người đã chấp nhận đặt cược tính mạng vào sự thật.
Rời khỏi khu vực kiểm soát cách ly của Bệnh xá Mười Hai, Lâm An và Bùi Duy rẽ ngoắt vào cửa xả áp phụ của trục kỹ thuật thứ cấp 11-C nằm khuất sau bức tường dẫn ống xả cặn.
Khi cánh cửa thép hai lớp dày khép lại phía sau lưng họ với một tiếng *khục* nặng nề của các ngàm khóa cơ học tự động, không gian lập tức co rút lại thành một đường hầm hình ống tròn bọc lưới thép gỉ sét, đường kính chưa đầy chín mươi xentimét. Nơi này chỉ vừa đủ cho một người đàn ông trưởng thành bò trườn bằng khuỷu tay hoặc khom lưng bước thấp, hai đầu gối liên tục cọ sát vào các mắt lưới kim loại sắc cạnh. Không khí ở đây đặc quánh mùi dầu biến thế cháy khét tích tụ qua nhiều thập kỷ, xen lẫn vị kim loại ngai ngái, lạnh buốt thấu xương lọt qua lớp màng lọc than hoạt tính của mặt nạ. Cứ sau mỗi mười lăm mét chiều dài, một cụm van cân bằng áp suất sơn màu vàng ố lại nhô ra từ vách vòm như những đốt xương sống gồ ghề của một bộ xương cơ khí khổng lồ đang phân hủy chậm chạp.
Bùi Duy trườn phía trước. Chiếc đèn pin chuyên dụng gắn trên đỉnh mũ bảo hộ của anh quét những luồng sáng trắng đục, cắt xé bóng tối dày đặc đang cuộn tròn trong lòng ống. Người đội trưởng Đội Neo di chuyển với sự cẩn trọng đã ăn sâu vào tủy sống: mỗi lần chống tay, mỗi lần kéo lê đầu gối, anh đều đặt chuẩn xác vào các gờ gia cường chịu lực của sàn ống bằng thép hình, tuyệt đối tránh né những búi dây cáp trần có vỏ bọc cao su đã mủn nát, nơi những dòng điện tích tĩnh điện tàn dư có thể phóng tia lửa bất cứ lúc nào.
Lâm An bám sát gót giày của Duy. Tay phải anh luôn ghì chặt chiếc máy đo mật độ từ trường cầm tay. Mặt đồng hồ kim cơ khí áp sát trước ngực anh báo hiệu mức oxy cục bộ đang dao động chập chờn ở ngưỡng 17,5% — một tỷ lệ vừa đủ để duy trì ý thức của não bộ nhưng bắt đầu khiến lồng ngực có cảm giác nặng trĩu, tức nghẹn sau mỗi chu kỳ hít thở dồn dập.
Họ vượt qua ngưỡng cửa kỹ thuật đầu tiên sau mười phút trườn liên tục trong bóng tối ngột ngạt. Tiếng rên rỉ cơ học của chu kỳ điện đêm từ các tầng sinh hoạt phía trên vọng xuống qua các vách ngăn thép dày hai mươi phân, trầm đục, run rẩy và ngắt quãng như tiếng tim đập chậm dần của một cơ thể khổng lồ đang rơi vào trạng thái chết lâm sàng.
Tuyến ống làm mát 11-C dẫn họ trườn theo một đường cong parabol thoai thoải, đi vòng qua khu vực van B-04 — nơi chiếc bẫy điện trường cao áp vừa bị vô hiệu hóa cách đây hơn một giờ đồng hồ — rồi đâm thẳng vào vùng ranh giới tranh chấp giữa khu bảo trì trung tâm và khoang bỏ hoang số K-09.
Tại khúc ngoặt vuông góc dẫn xuống trạm bơm tăng áp phụ, Bùi Duy đột ngột khựng lại. Bàn tay bọc găng da dày cộp của anh giơ lên cao, nắm chặt thành nắm đấm — ám hiệu dừng lại tuyệt đối.
Lâm An lập tức áp sát người vào lòng máng thép, nín thở.
Phía trước họ chừng năm mét là một nút giao ba nhánh của hệ thống dẫn khí nén. Ngay trên trần kim loại cong vút, một mắt camera giám sát hình bán cầu của Ban An ninh Nội bộ, bọc trong lớp vỏ chống bạo động bằng hợp kim magiê, đang chĩa thẳng ống kính xuống sàn grating. Khối thấu kính thủy tinh thể của nó đứng im bất động, nhưng một vệt đèn hồng ngoại quét ngang phát ra ánh sáng đỏ lờ mờ, quét qua quét lại trên sàn thép theo một chu kỳ lắc lư máy móc.
"Góc quét của nó đã bị can thiệp cơ học để cố định từ ba tuần trước," Bùi Duy ghé sát miệng vào ống dẫn âm bằng đồng nối giữa hai mũ bảo hộ, thì thầm bằng luồng hơi thở cực nhẹ, tuyệt đối không kích hoạt micro vô tuyến để tránh làm lay động các rơ-le cảm ứng âm thanh của hệ thống giám sát. "Nhật ký hệ thống báo cáo góc chết này là điểm mù tự nhiên do đường ống dẫn nước làm mát cưỡng bức che khuất tầm nhìn. Nhưng nhìn xuống chân vách kia kìa."
Lâm An từ từ hạ thấp trọng tâm, trườn từng xentimét một đến sát bên sườn Duy. Anh rút chiếc đèn rọi bề mặt có chùm sáng dẹt góc hẹp từ thắt lưng, bật nấc sáng tối thiểu rồi rọi là là mặt sàn kim loại theo phương nằm ngang.
Ngay tại chân vách ngăn nơi đường ống nước uốn cong một góc chín mươi độ — một điểm chết hoàn hảo nằm ngoài toàn bộ góc quét của thấu kính hồng ngoại phía trên — là một tấm ốp thông khí bằng nhôm kích thước sáu mươi nhân tám mươi xentimét. Tấm nhôm này vốn được thiết kế để các kỹ thuật viên kiểm tra định kỳ các van xả cặn của hệ thống làm mát từ mười bảy năm trước, theo nguyên tắc an toàn công nghiệp nó phải được cố định vĩnh viễn vào khung đỡ bằng sáu con ốc lục giác mạ kẽm cỡ lớn.
Dưới luồng sáng xiên sắc lẹm của chiếc đèn rọi dẹt, bốn trong số sáu con ốc nổi rõ những dấu vết cơ học hoàn toàn bất thường. Lớp bụi xám tích tụ nhiều năm quanh miệng lỗ bắt vít đã bị cạo sạch, tạo thành những vòng tròn méo mó để lộ bề mặt kim loại sáng bóng. Trên các cạnh giác của mũ ốc bằng nhôm mềm, những gờ xước mới tinh còn sắc lẹm, phản chiếu ánh sáng trắng lạnh — dấu vết không thể chối cãi của việc bị tác động lực cơ học cưỡng bức nhiều lần.
"Dấu tuốc-nơ-vít hai cạnh loại lớn," Lâm An ghé sát mắt quan sát từng vết hằn, ngón tay nhẹ nhàng miết qua miệng rãnh kim loại bị toét miệng. "Không phải đầu cờ-lê lực tiêu chuẩn của Đội Neo. Ai đó đã dùng một thanh thép dẹt mài vát hoặc một đầu tuốc-nơ-vít bị mẻ góc để nới lỏng những con ốc này lặp đi lặp lại. Vết trượt cắt chéo một góc năm độ về phía bên trái... góc tì này giống hệt vết cạy cơ học trên sáp niêm phong phong bì tài liệu mà bà Sương đã bí mật giao cho tôi tại khu chợ đen."
"Đỗ Minh," Bùi Duy lẩm bẩm, lồng ngực anh phập phồng sau lớp áo bạt, hơi thở phả ra làm đọng một lớp sương mờ trên kính chắn gió. "Cậu ấy luôn mang theo bộ đồ nghề kiểm toán cơ bản khi đi ca đêm để tự tay kiểm tra các hộp đấu nối tín hiệu. Trong túi đồ nghề đó có một cây tuốc-nơ-vít dẹt cán gỗ cách điện mười kilovolt."
"Không chỉ có thế," Lâm An chỉ đầu ngón tay vào hai con ốc nằm ở góc dưới cùng bên phải. "Hai con ốc này không hề được siết hết ren vào ngàm giữ. Ai đó chỉ vặn gá hờ đúng hai vòng ren bằng tay trần, vừa đủ lực để giữ cho tấm ốp không bị rung lắc rơi ra ngoài khi áp suất đường ống dao động."
Hai người đàn ông đưa mắt nhìn nhau trong bóng tối chật hẹp của đường ống. Dưới luồng sáng hắt ra từ ngực áo bảo hộ, không cần thêm bất kỳ lời suy diễn nào nữa. Cửa ngõ dẫn vào một khoang phụ trợ hoàn toàn bị xóa sổ trên các bản đồ tuần tra kỹ thuật hiện hành đang hiển hiện ngay trước mắt họ, chân thực và lạnh lùng.
Bùi Duy lặng lẽ rút chiếc kìm mũi nhọn bọc cao su cách điện từ thắt lưng đồ nghề. Bằng sự khéo léo chuẩn xác đến kinh ngạc của một người thợ máy đã dành nửa đời người để tháo lắp các chi tiết máy trong bóng tối, anh kẹp chặt từng đầu ốc lục giác, xoay nhẹ ngược chiều kim đồng hồ.
Tiếng ren ốc kim loại ma sát vào nhau phát ra những tiếng *rọt rẹt* cực nhỏ, chỉ vừa đủ để hai người nghe thấy, tựa như tiếng móng tay cào nhẹ trên mặt kính ẩm. Lần lượt từng con ốc rơi gọn vào lòng bàn tay bọc da của Lâm An, không một hạt bụi kim loại nào rơi xuống tấm grating sàn để phát ra tiếng động lọt vào micro thu âm của mắt camera an ninh.
Lâm An luồn hai ngón tay qua khe hở thông gió hẹp của tấm ốp nhôm, cẩn trọng dùng lực nâng nhẹ cánh cửa kim loại ra khỏi khung đỡ bằng thép hình chữ L. Tấm kim loại nhẹ bẫng nhưng lạnh ngắt như một tảng băng. Khi anh xoay ngược mặt sau của tấm ốp vào luồng sáng hẹp của chiếc đèn pin cầm tay, cả Lâm An và Bùi Duy đều đồng loạt nín thở.
Mặt trong của tấm ốp nhôm — nơi vốn là lớp kim loại phẳng được phủ lớp sơn tĩnh điện màu xám chuột nguyên bản của nhà máy chế tạo — đã bị cạo tróc nham nhở, để lộ phần lõi hợp kim sáng quắc bên dưới.
Trải dọc theo chiều dài của tấm kim loại là mười bốn vạch khắc thủ công sâu hoắm, được chia thành ba cụm thẳng hàng. Những nét khắc run rẩy, xiêu vẹo, chứng minh người tạo ra chúng phải dùng một lực ấn vô cùng ghê gớm từ một công cụ kim loại cùn, cào rách lớp sơn lót để chạm sâu vào thớ nhôm. Ở đầu mút của vài vạch khắc sâu nhất, những vệt màu nâu sẫm đã khô cứng lại, bong tróc thành từng mảng vảy nhỏ — dấu tích máu khô từ những đầu ngón tay bị bật móng, rách tủy sau những nỗ lực cào cấu tuyệt vọng vào kim loại đặc.
Mười bốn vạch. Mười bốn chu kỳ điện đêm trôi qua, hoặc mười bốn mốc thời gian luân chuyển dưỡng khí cưỡng bức của trạm Vành Khuyên.
Nhưng chi tiết đập vào mắt khiến sống lưng Lâm An lạnh toát lại là những ký hiệu nằm ngay phía dưới các vạch khắc thời gian. Đó là những hình vẽ mô phỏng giọt nước nhỏ li ti, được dập lõm vào bề mặt nhôm bằng đầu tù của chiếc tuốc-nơ-vít. Cứ sau ba vạch khắc chu kỳ lại xuất hiện một hình giọt nước kèm theo một gạch ngang dứt khoát. Có những mốc thời gian xuất hiện hai giọt nước, nhưng cũng có những quãng dài ba ngày chỉ có vỏn vẹn nửa giọt nước bị gạch chéo một cách căm phẫn và tuyệt vọng.
"Khẩu phần nước uống sinh tồn," Bùi Duy thì thào, giọng anh nghẹn đặc lại nơi cuống họng, bàn tay bọc găng run lên bần bật khi những ngón tay thô ráp chạm vào bề mặt kim loại lạnh giá. "Cậu ấy đo đếm từng giọt nước được cấp phát... Ai đó... ai đó đã đều đặn vào đây để cấp nước cho Minh theo định kỳ. Hắn không muốn Minh chết khát, nhưng chỉ cấp một lượng nước tối thiểu, vừa đủ để giữ cho các cơ quan nội tạng không suy kiệt hoàn toàn, nhưng khiến cậu ấy mất hết sức lực cơ bắp, không thể nào vùng vẫy hay tìm cách phá vỡ vách ngăn kỹ thuật."
"Phạm Khang," Lâm An siết chặt cạnh mép sắc của tấm ốp nhôm, các đốt ngón tay anh trắng bệch ra dưới áp lực. "Khang là người duy nhất nắm rõ chu kỳ chuyển động của các mắt camera và lịch tuần tra của các điểm mù để mang đồ tiếp tế vào khoang này mà không để lại bất kỳ dấu vết dữ liệu nào trên hệ thống máy chủ. Hắn giam giữ Minh ở đây để tra khảo, ép Minh phải cung cấp từng thói quen sinh hoạt, từng cách xưng hô với đồng nghiệp, từng số liệu kiểm toán ngầm... nhằm huấn luyện cho hình nhân hồi âm hoàn thiện đến mức tuyệt đối. Và sau mỗi buổi tra khảo, hắn mang tới cho Minh từng ngụm nước như một thứ ân huệ bệnh hoạn để duy trì sự sống của một nguồn dữ liệu sống."
Khoang bảo trì phụ trợ phía sau tấm ốp nhôm thực sự tồn tại. Khoảng không gian đen đặc, quánh đặc bên trong bắt đầu phả ra một luồng khí lạnh ngắt, mang theo mùi hôi hám đặc trưng của sự cầm tù kéo dài: mùi rỉ sét ẩm ướt của những thanh giằng kim loại bị ngưng tụ hơi nước, mùi mủ hoại tử từ những lớp băng gạc bẩn không được thay, và mùi amoniac nồng nặc bốc lên từ góc tường thép.
Đó là thứ mùi vị trần trụi, tanh tưởi của sự sống con người đang bị dồn nén đến tận cùng của bản năng sinh tồn sinh học — một thứ mùi hoàn toàn đối lập với cái chết vô cơ, sạch sẽ và lạnh lẽo của những hình nhân hồi âm tan rã thành tro bụi trong lồng kính thẩm vấn.
Đỗ Minh thật vẫn đang ở đây, bên trong khối kim loại bị trạm Vành Khuyên lãng quên suốt bốn mươi hai ngày qua.
Lâm An khom người, đưa một chân qua khung cửa thông khí vừa mở, chuẩn bị luồn người vào khoảng không gian tối đen bên trong thì một âm thanh bất thường bất ngờ phát ra từ thắt lưng của Bùi Duy.
*Rột... roẹt... xè...*
Chiếc máy quét sóng vô tuyến cục bộ băng tần cực hẹp — thiết bị cơ học chuyên dụng của Đội Neo dùng để dò tìm các dao động từ trường tần số thấp của nạn nhân bị vùi lấp trong bán kính mười mét — bỗng nhiên rung lên bần bật trên đai da. Kim đồng hồ đo cường độ tín hiệu trên mặt kính mica giật mạnh một góc bốn mươi lăm độ, vọt thẳng từ vạch số không lên ngưỡng màu đỏ rực.
Bùi Duy giật thót mình, theo phản xạ của người lính cứu hộ, anh lập tức đè ngón tay cái lên núm xoay chiết áp để dập tắt âm lượng, nhưng những âm thanh rè rè từ màng loa gốm nhỏ xíu vẫn lọt qua các khe hở của lớp vỏ nhựa chịu lực.
Đó không phải là một chuỗi mã dữ liệu kỹ thuật số đồng bộ của hệ thống trạm. Hoàn toàn không có mã nhận diện máy chủ, không có tín hiệu bắt tay giao thức, không có tiếng bíp báo hiệu gói tin hoàn chỉnh. Một đợt liên lạc vô tuyến xuyên qua các vách ngăn kim loại dày đặc và ngưỡng cửa đang đóng kín chỉ có thể thoát ra ngoài dưới dạng một đợt phát xung analog cực ngắn, méo mó, nghẹt thở và ngắt quãng do bị tiêu hao gần như toàn bộ năng lượng từ trường khi va đập vào các tấm chì cản sóng.
*... Phì... phò... khẹc...*
Tiếng thở dốc nặng nhọc, khô khốc và đứt quãng, nghe như thể từng ngụm dưỡng khí ít ỏi đang bị bóp nghẹt qua một khí quản sưng tấy, viêm nhiễm nặng nề. Đó là tiếng thở của một con người bằng xương bằng thịt, một sinh linh đang dùng hết tàn lực cuối cùng để duy trì nhịp đập của lồng ngực trong bóng tối đặc quánh.
Và ngay sau tiếng thở rên rỉ đầy đau đớn ấy, qua màng loa rè đặc tĩnh điện, là một chuỗi âm thanh cơ học sắc lạnh, vang lên dồn dập ba nhịp liên tiếp, dội thẳng vào màng nhĩ của hai người:
*Keng! Keng... Kẹttttt!*
Tiếng kim loại đặc va đập trực tiếp vào kim loại. Âm thanh đanh thép của một chiếc còng sắt hoặc một mắt xích neo hạng nặng đang bị kéo lê trên sàn grating, đập mạnh vào thành vách ngăn bằng thép của khoang bảo trì phụ trợ ngay phía sau lưng bức tường nhôm.
Đợt phát xung vô tuyến tắt ngấm đột ngột y như cái cách nó xuất hiện, để lại trong đường ống chỉ còn tiếng rít tĩnh điện đơn điệu, kéo dài và lạnh ngắt.
Lâm An đứng bất động giữa lòng ống kỹ thuật chật hẹp. Chiếc đèn pin trên tay anh rọi thẳng luồng sáng trắng đục vào khoảng trống đen ngòm vừa lộ ra sau tấm ốp nhôm. Trong luồng sáng bụi bặm ấy, hàng triệu hạt bụi li ti bắt đầu cuộn xoáy dữ dội theo luồng dưỡng khí vừa đối lưu qua khe cửa hở, minh chứng rõ ràng rằng có một lá phổi sống đang co bóp mãnh liệt ở phía bên kia bức tường.
Mười bốn vạch khắc vụng về trong bóng tối kim loại: người thật vẫn đang thở, cách nơi hình nhân hồi âm vừa tan rã chỉ vỏn vẹn ba chu kỳ cửa.