Bổn Cung Không Cung Đấu, Bổn Cung Bán Trà SữaC.29 / 30
Chương 29

An Hòa không đứng tên ân sủng

Ngọn đèn dầu trong gian phòng chung của Nhà Công Nữ Quan soi tỏ từng đường vân thớ gỗ trên chiếc bàn dài và rọi sáng bản khế ước góp vốn thành lập quán mới được viết bằng nét chữ nắn nót, tròn trịa của Vũ Mai.

Bấc đèn bện bằng sợi bông thô cháy tí tách, thỉnh thoảng nổ lách tách những tiếng rất nhỏ, tỏa ra làn khói mỏng thơm mùi dầu trẩu quyện chặt với hơi nước ngai ngái của đêm đầu hạ. Bên ngoài song cửa mắt cáo, gió lướt qua rặng ngô đồng xào xạc, mang theo cái lành lạnh của màn sương đêm đang từ từ buông xuống những mái ngói thâm nghiêm nơi góc hoàng thành. Nhưng bên trong căn phòng này, quanh chiếc bàn dài ghép bằng những phiến gỗ thông mộc mạc đã nhẵn bóng vết tay vịn, tám thành viên của Hội nữ quan Đồng Công đang tề tựu đông đủ.

Không còn vẻ căng thẳng thắt ruột, không còn những ánh mắt dáo dác nơm nớp sợ sệt như những đêm chụm đầu giấu diếm đối soát từng tờ phiếu xuất kho để trốn tránh tai mắt hiểm độc của Đỗ Kính. Cũng không còn cái không khí ngột ngạt đến nghẹt thở của chuỗi ngày Ty Khảo Sổ giăng cờ kiểm tra từng gian vách, soi từng cân củi, hạt gạo. Trên gương mặt từng người lúc này, dưới ánh sáng vàng ấm áp của ngọn đèn dầu, là nét trầm tĩnh, nhẹ nhõm khôn tả. Đó là sự thanh thản của những người thợ, những người phụ nữ vừa cùng nhau chèo chống vượt qua một trận cuồng phong lớn, và giờ đây, họ đang đứng trước lằn ranh quyết định số phận cùng hướng đi của chính cuộc đời mình.

Tống Diệp ngồi ở đầu bàn, hai bàn tay thô ráp của người phụ nữ từng trải khẽ đặt hai chiếc chìa khóa đồng của chiếc tráp quỹ chung lên mặt gỗ. Đầu ngón tay nàng gõ nhẹ vài nhịp thong thả, âm thanh khô khốc mà rành rọt kéo sự chú ý của bảy cặp mắt còn lại về một mối.

Nàng đưa mắt nhìn một lượt quanh căn phòng, dừng lại ở An Trà một thoáng rồi cất giọng trầm tĩnh:

“Kỳ hạn bàn giao công việc của An Trà chỉ còn vỏn vẹn ba ngày nữa. Lệnh ân xá và thông cáo cải tổ kho tàng của Hộ Bộ cũng đã được niêm yết công khai khắp các viện ty từ sáng sớm hôm nay. Hội Đồng Công của chúng ta được lập nên trong những ngày cơ cực tăm tối nhất, mục đích ban đầu chỉ là để chị em nương tựa, bảo bọc lấy nhau qua cơn bĩ cực, tránh cho từng người bị nghiền nát dưới bánh xe quyền thế. Nay sóng gió kho lương đã dẹp yên, món nợ khổng lồ năm xưa đã dứt điểm, quy chế kho bãi cũng bắt đầu đi vào nề nếp mới. Đã đến lúc mỗi người đều có quyền tự do lựa chọn ngả rẽ cho riêng mình. Đêm nay, chúng ta họp phiên toàn thể để quyết định chuyện tương lai: ai đi, ai ở, phần vốn liếng và công sức tích lũy bấy lâu sẽ được phân định ra sao. Tất cả tuyệt đối dựa trên sự tự nguyện, không gượng ép và biểu quyết công bằng theo đúng điều lệ.”

Ánh mắt của cả bàn lập tức dồn về phía Vũ Mai.

Cô gái nhỏ nhắn từng run rẩy giấu từng mảnh giấy nháp hiện trường dưới đáy hòm tre mục nát ngày nào, từng khóc thầm bên đống sổ sách ngụy tạo của Đỗ Kính, giờ đây đang ngồi thẳng lưng. Đôi vai gầy không còn co ro rụt rè, ánh mắt sáng ngời vẻ tự tin của một người kế toán đã nắm vững nghiệp vụ và làm chủ được giá trị của chính mình. Vũ Mai mỉm cười, nụ cười phảng phất nét bẽn lẽn quen thuộc nhưng giọng nói phát ra lại vô cùng trong trẻo, rành rọt và dứt khoát:

“Muội xin phép được thưa trước với các tỷ. Sau vụ án thanh tra kho lương vừa qua, Ty Khảo Sổ cùng Nội Chánh Ty đã rà soát lại toàn bộ ngạch ghi chép của Bếp Đông. Triều đình đã quyết định chuẩn hóa kỳ sát hạch định kỳ, tuyển chọn người coi kho và kế toán dựa trên năng lực thực tế, tuyệt đối cấm việc bảo lãnh miệng hay cài cắm tay chân thân tín. Muội… muội đã nộp đơn xin dự hạch và muốn xin ở lại nội cung, tiếp tục làm nữ quan ngạch kế toán sổ sách. Thu nhập hàng tháng ở đây tuy không cao đột biến, nhưng đã có quy chế mới bảo vệ, không còn cảnh bị cấp trên ép ký khống, cũng không ai có quyền tùy tiện đe dọa cắt trừ bổng lộc hay bắt đền oan ức nữa. Hơn thế nữa…”

Vũ Mai ngừng lại một chút, ngón tay mân mê mép bàn gỗ, ánh mắt nhìn thẳng vào An Trà và Tống Diệp đầy vẻ biết ơn:

“Muội muốn dùng chính những phương pháp ghi chép minh bạch, những kỹ năng đối soát mà An Trà tỷ và Tống tỷ đã dày công chỉ dạy, để giữ cho những trang sổ của Kho Bếp Đông từ nay về sau luôn ngay thẳng, rõ ràng từng thăng gạo, từng bó củi. Muội muốn ở lại để không một người mới nào bước chân vào chốn này phải chịu cảnh oan ức, sợ hãi như chúng ta năm xưa.”

Ngay bên cạnh Vũ Mai, ba người chị em khác — hai người thuộc Ty Hoán Y và một người thuộc Ty Doanh Lực — cũng khẽ nhìn nhau rồi rụt rè nhưng kiên định giơ tay lên. Một người cất giọng bùi ngùi:

“Chúng muội cũng xin được ở lại cung. Gia cảnh ngoài quê nghèo khó, mẹ già đau ốm, các em còn nheo nhóc, chúng muội cần phần bổng lộc ổn định mỗi tuần trăng cùng định mức gạo muối cố định gửi về quê tiếp tế. Ở lại nội cung, dù sớm hôm vất vả giặt giũ, bửa củi, nhưng có quy chế bảo bọc và mức lương cố định, lòng chúng muội mới thấy yên ổn.”

An Trà ngồi đối diện, chăm chú lắng nghe từng lời chia sẻ gan ruột ấy. Không hề có một tia thất vọng hay trách móc nào gợn lên trong đáy mắt nàng. Trái lại, nàng mỉm cười rất ấm áp, ánh mắt chan chứa sự thấu hiểu sâu sắc. Nàng giơ bàn tay mình lên đầu tiên, tiếp theo sau là bàn tay rắn rỏi của Tống Diệp, bàn tay thon nhỏ của Xuân Cúc, và cuối cùng là Thụy Miên — người cung nữ nổi tiếng khéo tay, chuyên phụ trách việc đãi gạo và tuyển chọn ngũ cốc của Bếp Đông.

“Như vậy là đã rõ ràng,” An Trà cất giọng nhẹ tênh, âm điệu mềm mại như vừa trút bỏ được một khối đá nặng ngàn cân đè nặng nơi lồng ngực bấy lâu nay. “Bốn người chọn ở lại cung, bốn người chọn xuất cung bước ra ngoài đời sống dân gian. Ta muốn khẳng định một điều: không có chuyện người đi thì phụ nghĩa người ở lại, càng không có chuyện người ở lại là quay lưng bỏ rơi người ra đi. Mỗi người đều có gia cảnh riêng, mục tiêu riêng và giới hạn an toàn phù hợp với bản thân mình. Bất kỳ lựa chọn nào xuất phát từ sự tự chủ và tính toán chu đáo đều đáng được trân trọng như nhau.”

Một tiếng thở phào nhẹ nhõm đồng loạt vang lên, xua tan hoàn toàn chút ngượng ngùng e dè cuối cùng còn vương lại giữa các thành viên. Tống Diệp gật đầu tán thưởng, lập tức kéo chiếc tráp gỗ mun hai ổ khóa ra đặt ngay chính giữa bàn, đối diện với ngọn đèn dầu.

Theo đúng Điều lệ thứ tư và thứ năm của Hội Đồng Công đã được tám chị em cùng nhau xây dựng và thông qua ngay từ những ngày đầu lập hội: bất kỳ thành viên nào rút khỏi hội đều có toàn quyền nhận lại nguyên vẹn phần vốn gốc đã đóng góp ban đầu, cùng toàn bộ tiền lãi tích lũy theo tỷ lệ đóng góp công nhật và cổ phần, sau khi đã trừ đi phần trích lập hai phần mười vào quỹ dự phòng rủi ro chung.

Vũ Mai mở cuốn sổ cái bọc giấy dầu, lật đến trang quyết toán cuối cùng. Từng con số được viết ngay ngắn thành hai cột thu chi, bên dưới có đóng dấu mực đỏ đối soát giữa kỳ của cả tám người.

Nàng cất giọng đọc to từng khoản mục cho mọi người cùng nghe:

“Bốn chị em ở lại, tổng số vốn gốc ban đầu góp vào hội là sáu trăm bốn mươi đồng tiền kẽm. Phần lợi nhuận được chia theo tỷ lệ công nhật lao động và phần trăm vốn qua các ca bán hàng tại Hiên Trà Sau Bếp, cộng thêm phần thưởng hợp pháp mà Hộ Bộ trích thưởng từ khoản tiền hoàn ứng sau vụ án gian lận kho lương vừa qua, sau khi đã trích lập quỹ dự phòng theo đúng điều lệ, tổng cộng mỗi người được nhận về một quan hai trăm đồng tiền mặt.”

Tiếng kim loại va chạm lách cách giòn giã vang lên trên mặt bàn gỗ khi Tống Diệp và Vũ Mai cùng lúc cắm hai chiếc chìa khóa đồng vào ổ trên và ổ dưới của chiếc tráp mun. Nắp tráp bật mở. Những xâu tiền đồng và tiền kẽm được xâu bằng dây đay chắc chắn, xếp lớp ngay ngắn bên trong lòng tráp lấp lánh ánh kim loại dưới ánh đèn.

Từng xâu tiền được nhấc ra, đếm công khai trước sự chứng kiến của cả tám người. Tống Diệp tỉ mỉ kiểm tra lại từng dây xâu, gạt bỏ những đồng tiền sứt mẻ góc cạnh, chỉ giữ lại những đồng tiền lành lặn, rõ chữ. Từng cọc tiền được xếp ngay ngắn thành từng phần bằng nhau chằn chặn.

Vũ Mai thay mặt cho ba chị em ở lại nhận lấy phần tiền của mình. Nàng run run cầm lấy chiếc bút lông, chấm vào nghiên mực chu sa đỏ thắm, cẩn thận ký tên và điểm chỉ dấu vân tay cái của mình vào cuốn sổ thanh lý vốn góp. Ba người kia cũng lần lượt làm theo, từng dấu vân tay đỏ tươi in hằn trên trang giấy trắng tinh khiết.

Không hề có một lời kỳ kèo so đo, không có một ánh mắt nghi kỵ dò xét hay những lời xì xầm phán xét về sự phản bội hay chia rẽ. Mọi thủ tục rút vốn và thanh lý tài chính diễn ra một cách minh bạch, sòng phẳng, chính xác đến từng đồng tiền kẽm, nhưng lại ngập tràn sự ấm áp, tương kính của tình đồng nghiệp đã cùng nhau vào sinh ra tử.

Khi bốn người ở lại cẩn thận cất những xâu tiền nặng trịch vào túi vải buộc bên hông, không khí trong gian phòng nhỏ không hề chùng xuống vì sự chia ly, mà trái lại, ngập tràn một sự thanh thản và nhẹ nhõm hiếm thấy. Những người phụ nữ ôm lấy nhau, những giọt nước mắt lăn dài trên gò má họ không phải là những giọt lệ bi lụy, đau buồn của sự tan vỡ, mà là sự xúc động nghẹn ngào khi nhận ra rằng: chính sự rạch ròi, công bằng và tôn trọng các nguyên tắc kinh tế đã bảo vệ trọn vẹn tình cảm chân thành giữa họ, không để bất kỳ sự mập mờ hay vụ lợi nào làm hoen ố đi những ngày tháng thanh xuân cùng chung lưng đấu cật.

“Bây giờ,” An Trà đưa tay đón lấy chén trà nóng từ Xuân Cúc, nhấp một ngụm nhỏ để làm dịu cổ họng, ánh mắt nàng chuyển hướng sang ba người còn lại sẽ cùng mình bước qua cánh cổng hoàng thành để ra ngoài phố thị, “chúng ta bàn đến việc của bốn người xuất cung.”

Trên mặt bàn, Tống Diệp cất chiếc tráp rỗng sang một bên, trải phẳng một tờ giấy bản dày dặn, trắng mịn còn thơm nồng mùi vỏ dướng. An Trà, Tống Diệp, Xuân Cúc và Thụy Miên cùng chụm đầu bên ngọn đèn dầu đang tỏa sáng rực rỡ. Bản khế ước thành lập Trà quán An Hòa ngoài dân gian bắt đầu được khởi thảo từng câu, từng chữ ngay trong đêm tĩnh lặng.

Khác xa với những phường buôn gia đình trị khép kín, nơi người chủ nắm toàn quyền sinh sát và thợ thuyền chỉ là những kẻ làm thuê phụ thuộc, khế ước của Trà quán An Hòa được xây dựng hoàn toàn trên nền tảng đồng sở hữu văn minh và bình đẳng.

“Về phần vốn góp ban đầu,” Tống Diệp vừa chấm ngọn bút lông vào nghiên mực đen lánh, vừa đọc to từng điều khoản để mọi người cùng rà soát, “An Trà góp ba phần mười bằng tiền túi cá nhân sau khi đã tất toán xong xuôi mọi khoản nợ nần cũ; ta góp ba phần mười từ số tiền dành dụm tích cóp suốt tám năm phục dịch trong chốn cung cấm; Xuân Cúc và Thụy Miên mỗi người góp hai phần mười. Tổng số vốn khởi điểm bằng tiền mặt là mười hai quan tiền kẽm và tiền đồng lành lặn. Số tiền này sẽ được dùng để thanh toán tiền thuê căn nhà nhỏ tại phố Nam Thành trong vòng sáu tháng, sửa sang lại hệ thống quầy kệ, đóng bàn ghế và mua sắm lò than nung gốm.”

“Về việc phân công vận hành hàng ngày,” An Trà tiếp lời, ngón tay trỏ của nàng đặt lên từng dòng mực đen vừa ráo, vạch ra ranh giới công việc một cách rành mạch, “Xuân Cúc và Thụy Miên phụ trách khâu sơ chế nguyên liệu: nhào bột củ nhu để vò thành những viên hạt dẻo dai, hầm nước đường mía theo đúng độ lửa, và chuẩn bị toàn bộ nguyên liệu thô theo định mức quy định cho ca sáng. Tống tỷ quản lý kho củi than, kiểm soát bãi chứa nguyên liệu và chịu trách nhiệm đối soát toàn bộ sổ sách thu chi vào mỗi buổi tối trước khi đóng cửa quán. Ta phụ trách kỹ thuật sao ủ trà, canh chỉnh nhiệt độ thanh trùng sữa dê tươi và đứng quầy trước đón tiếp, chăm sóc khách hàng. Tiền công lao động của mỗi người sẽ được tính cố định theo từng buổi trực thực tế, hoàn toàn tách biệt và không bị lẫn lộn với phần trăm lợi nhuận chia theo tỷ lệ vốn góp vào cuối mỗi tháng.”

Xuân Cúc ngồi lắng nghe, đôi mắt từng ngập tràn nỗi hoảng loạn, sợ hãi trong cái đêm suýt bị xô ngã vào chảo đường sôi bỏng rẫy năm nào giờ đây sáng lên lấp lánh sự an tâm. Nàng ngước nhìn An Trà, ngập ngừng cất tiếng hỏi:

“An Trà tỷ, muội có một điều muốn hỏi cho thật tỏ tường. Sau này quán mở ra, nếu chị em chúng ta gặp phải chuyện bất đồng ý kiến thì sẽ giải quyết thế nào? Tỷ và Tống tỷ là người góp nhiều vốn hơn, vậy tiếng nói của hai tỷ có phải sẽ nặng hơn và có quyền quyết định thay phần của muội và Thụy Miên không?”

An Trà mỉm cười dịu dàng, nàng lắc đầu dứt khoát rồi chỉ ngón tay vào điều khoản thứ ba vừa được Tống Diệp hạ bút viết xuống mặt giấy:

“Hoàn toàn không. Tiền vốn góp nhiều thì được hưởng tỷ lệ chia lãi nhiều theo đúng phần vốn bỏ ra chịu rủi ro, nhưng quyền biểu quyết trong mọi quyết định trọng đại của quán — ví dụ như việc dời đổi địa điểm, tăng giảm giá bán các món trà, hay mở rộng thêm quy mô quầy sạp — đều phải áp dụng nguyên tắc bình đẳng tuyệt đối: một người một lá phiếu, phải đạt quá bán số phiếu biểu quyết thì quyết định đó mới có hiệu lực thi hành. Còn nếu không may xảy ra tranh chấp trong kinh doanh mà nội bộ bốn chị em không thể tự hòa giải được, chúng ta sẽ mang bản khế ước có chữ ký và điểm chỉ này ra Nha môn phủ Vân Kinh, hoặc nhờ Thẩm khế Hoàng Minh Khuê phân xử theo đúng luật thương ước dân sự của triều đình. Tuyệt đối không một ai, kể cả ta hay Tống tỷ, có quyền tự ý cậy nhiều vốn mà chiếm đoạt mặt bằng hay xua đuổi bạn đồng hành ra khỏi quán.”

Một khoảng lặng ấm áp bao trùm lấy gian phòng. Từng điều khoản, từng câu chữ đều được đẽo gọt cẩn thận, loại bỏ hoàn toàn mọi mầm mống bất công hay sự nhập nhằng tình cảm có thể làm tổn hại đến sự hợp tác lâu dài.

Bốn bàn tay phụ nữ lần lượt cầm lấy cán bút lông, nắn nót ký tên mình vào góc dưới của bản khế ước. Tiếp đó, từng người ấn ngón tay cái vào khay mực chu sa đỏ thắm, rồi dứt khoát ấn mạnh xuống trang giấy cạnh chữ ký của mình. Bốn dấu chỉ tay đỏ rực in nổi bật trên nền giấy trắng ngà, tựa như một lời cam kết danh dự sắt đá của những con người tự do, dám tự đứng vững trên đôi chân của chính mình để làm chủ cuộc đời.

* * *

Sáng sớm hôm sau, khi những dải sương mù xám nhạt còn bảng lảng quấn quýt trên những tầng mái ngói cong vút của các cung điện cổ kính, khu vực trạm gác Cửa Tây Dịch đã bắt đầu rộn rã âm thanh của một ngày mới.

Kể từ khi quy chế cải cách thương mại của Hộ Bộ được ban hành, triệt hạ hoàn toàn tình trạng độc quyền chỉ định thầu đầy mờ ám của Liên hiệu Vạn Phúc, khu đất trống trước cửa trạm dịch đã biến thành một khoảng sân giao dịch tự do nhộn nhịp. Những người nông dân, phường thợ ngoại thành không còn bị đám cai đội xua đuổi hay vòi vĩnh tiền mãi lộ vô lý như trước nữa.

Từ xa, tiếng vó ngựa gõ lách cách trên nền đường lát đá dăm vang lên đều đặn. Chiếc xe ngựa thùng gỗ quen thuộc của trang trại Thanh Khê chầm chậm tiến vào bãi đỗ. Vũ Lan ngồi trên càng xe, tay cầm dây cương, đầu quấn gọn gàng chiếc khăn vải nâu còn đẫm những hạt sương sớm li ti. Vừa nhìn thấy bóng dáng em gái Vũ Mai và An Trà đang đứng đợi bên chiếc bàn đá dưới gốc cây hòe cổ thụ, khuôn mặt rám nắng của Vũ Lan bừng lên một nụ cười rạng rỡ.

Nàng nhảy phắt xuống đất, buộc cương ngựa vào cột đá rồi cùng người làm khiêng hai thùng gỗ lớn bọc vải gai xuống đất. Bên trong thùng, mùi sữa dê tươi mới vắt còn ấm nóng, thơm ngậy mùi cỏ tươi thoang thoảng trong không khí ban mai.

Bản hợp đồng cung ứng sữa tươi dài hạn giữa Trà quán An Hòa và Trang trại Thanh Khê nhanh chóng được trải ra trên mặt bàn đá mát lạnh của trạm dịch.

An Trà cầm bản sao hợp đồng, ngón tay lướt theo từng dòng chữ đã được thảo sẵn từ trước, vừa đối chiếu vừa nói rõ từng điểm với Vũ Lan:

“Theo đúng những gì hai bên đã bàn bạc: giai đoạn đầu khi quán mới mở tại phố Nam Thành, mỗi buổi sáng trang trại Thanh Khê sẽ chịu trách nhiệm vận chuyển đúng bốn thăng sữa dê tươi loại một đến giao tại cửa ngõ phía Nam thành phố vào đúng giờ Mão ba khắc, không được trễ nải. Đơn giá mua sỉ cố định là hai mươi đồng tiền kẽm cho mỗi thăng sữa. Tiền hàng sẽ được thanh toán dứt điểm bằng tiền mặt theo chu kỳ mười ngày một lần, không gối đầu, không nợ đọng. Phía Trà quán An Hòa chúng muội sẽ đặt cọc trước một quan tiền để làm bảo đảm thực hiện hợp đồng.”

Vũ Lan gật đầu tán thành, nhưng nàng đưa ngón tay trỏ có vết chai dày chỉ vào điều khoản bổ sung ràng buộc về yếu tố mùa vụ mà chính nàng đã kiên quyết yêu cầu ghi thêm vào văn bản:

“Về việc này, ta cũng phải nói trước một lần nữa cho thật rõ ràng trên giấy trắng mực đen. Đến mùa thu đông hàng năm, đàn dê bước vào kỳ phối giống và mang thai sinh con, sản lượng sữa tự nhiên của bầy dê sẽ giảm sút nghiêm trọng. Khi đó, trang trại ta chỉ có thể cam kết cung cấp tối thiểu hai thăng mỗi ngày để đảm bảo các muội có hàng duy trì quán. Còn trong trường hợp thời tiết mưa bão cực đoan, đường sá từ Thanh Khê về thành phố bị sạt lở hay ngập lụt khiến việc vận chuyển bị trễ quá ba canh giờ, lượng sữa bị chua hỏng thực tế sẽ do cả hai bên cùng nhau gánh vác, mỗi bên chịu một nửa thiệt hại. Trang trại của ta làm ăn giữ chữ tín hàng đầu: ta không bao giờ ép bầy dê phải vắt kiệt sức bằng thuốc kích sữa, và càng không bao giờ nhận đơn hàng vượt quá khả năng của đàn dê rồi lén lút pha thêm nước lã vào thùng để lừa dối khách hàng.”

“Đó chính là lý do vì sao chúng muội từ chối mọi mối lái chào mời giá rẻ ngoài chợ để chọn ký kết hợp tác dài hạn với tỷ,” Tống Diệp đứng bên cạnh cười sảng khoái. Nàng lấy từ trong đãy vải ra một túi tiền được niêm phong bằng sáp cẩn thận, đặt trọn một quan tiền đặt cọc vào lòng bàn tay chai sần của Vũ Lan.

Hai bên cùng ký tên và đóng dấu điểm chỉ vào hai bản hợp đồng giống hệt nhau.

Đúng lúc ấy, từ phía con đường cái dẫn ra bến sông, một cỗ xe bò lọc cọc lăn bánh tiến lại gần. Bánh xe gỗ nghiến trên sỏi đá kêu lạo xạo rồi dừng lại sát mép bãi đất.

Trịnh Mộc trong bộ áo chẽn cộc tay của thợ gốm, hai bên ống tay áo và vạt trước vẫn còn vương vãi những vệt đất sét nung màu đỏ gạch, nhanh nhẹn nhảy phắt xuống đất. Ông tháo chiếc nón lá rách mép cầm trên tay quạt phành phạch, khuôn mặt phủ đầy bụi đường nở nụ cười hào sảng khi nhìn thấy đám người An Trà:

“Hàng của các cô nương Trà quán An Hòa đây rồi! Đêm qua cả phường gốm chúng ta phải thức trắng canh ngọn lửa lò mẻ cuối, sáng nay vừa dỡ lò nguội là lão Trịnh ta đánh xe sang đây ngay cho kịp giờ hẹn!”

Trịnh Mộc vỗ bôm bốp vào những thùng gỗ ghép thưa xếp chật ních trên thùng xe bò. Ông cẩn thận dỡ từng lớp rơm lót khô ráo, nhấc ra một chiếc bình gốm nhỏ đưa cho An Trà xem thử:

“Đúng sáu mươi chiếc bình gốm nhỏ tráng men xám tro mịn màng, miệng loe nhẹ vừa vặn để đậy khít nắp gỗ có bọc vải lanh, dưới đáy bình đều đã khắc chìm hoa văn một đóa hoa trà cách điệu theo đúng hình vẽ cô nương giao. Ngoài ra còn có bốn chiếc chum sành ủ nhiệt cỡ lớn, thành dày đúng ba tấc, bên ngoài đã được đan bọc một lớp rơm mịn bện chặt để giữ nhiệt cho nước trà suốt cả ngày buôn bán.”

An Trà đón lấy chiếc bình gốm xám từ tay người thợ già. Nàng dùng đầu ngón tay gõ nhẹ vào thân bình. Tiếng gốm nung đủ độ lửa phát ra âm thanh “coong coong” giòn tan, thanh thoát và ngân dài. Nước men xám tro phủ đều, bóng mịn không hề có một vết rạn chân chim hay bọt khí sần sùi.

Bản khế ước mua bán và cơ chế thu hồi vỏ bình giữa Trà quán An Hòa và xưởng gốm Trịnh Mộc lập tức được mang ra rà soát cẩn thận ngay bên thùng xe bò.

Đơn giá mỗi chiếc bình gốm nhỏ xuất xưởng được ấn định là mười hai đồng tiền kẽm. Điểm đặc biệt nhất trong thỏa thuận thương mại này là cơ chế tuần hoàn vỏ bình: Trà quán An Hòa sẽ khuyến khích khách hàng mang trả lại vỏ bình sau khi uống xong; đối với những chiếc bình bị mẻ miệng, nứt vỡ trong quá trình khách sử dụng, phường gốm của Trịnh Mộc cam kết sẽ thu gom lại toàn bộ với mức giá phế liệu ba đồng một chiếc để nghiền nát thành bột xương gốm tái sinh, đồng thời bù đắp bình mới cho quán với mức giá trợ giá ưu đãi. Mọi điều khoản về tỷ lệ hao hụt do va chạm khi vận chuyển, trách nhiệm bồi thường và phương thức thanh toán tiền mặt đều được quy định chặt chẽ dựa trên mặt bằng giá thị trường tự do, kèm theo phiếu xuất xưởng có chữ ký của hai bên.

Không còn bất kỳ sự nhập nhằng nào về việc cấn trừ nợ nần, không còn bóng dáng của những khoản nợ bảo lãnh vô căn cứ trong quá khứ trói buộc người thợ gốm vào những bản hợp đồng nô dịch của các thế lực ngầm.

“Lão Trịnh ta làm nghề nặn đất nung lò này ngót nghét ba chục năm trời,” Trịnh Mộc vừa ký tên vào tờ biên bản giao nhận vừa đưa mu bàn tay quẹt dòng mồ hôi đang chảy ròng ròng trên trán, nếp nhăn nơi khóe mắt ông xô lại thành một nụ cười ấm áp, chất phác, “chưa từng thấy ai buôn bán sòng phẳng, chữ nghĩa rõ ràng, phân định từng đồng kẽm rành mạch như các cô nương đây. Mua bán giấy trắng mực đen công bằng thế này, cánh thợ thuyền chúng ta mới yên lòng mà đỏ lửa lò nung, không sợ sáng làm tối đói!”

Sau khi việc kiểm đếm và ký nhận hoàn tất, tiếng roi ngựa vun vút xé gió và tiếng cọc cạch của bánh xe bò lại vang lên, đưa bóng hai cỗ xe dần khuất về hai ngả đường rợp bóng cây xanh.

Không gian trạm dịch thoáng chốc trở lại vẻ tĩnh lặng ban đầu. Từ phía trạm cân đối chứng cách đó không xa, một bóng người thong thả cất bước đi tới.

Lục Hoài Cẩn bước đi dưới vòm lá hòe râm mát. Hôm nay chàng không mặc phẩm phục giám sát quan màu tím sẫm của Ty Khảo Sổ, không đeo đai thao bằng bạc, cũng không có ngọc bội hay thẻ bài lại mục lắc lư bên hông. Chàng chỉ mặc một bộ thường phục bằng vải thô màu lam nhạt thanh nhã, mái tóc đen nhánh được búi gọn gàng bằng một dải lụa mộc đơn sơ.

Chàng dừng bước lại cách An Trà chừng ba bước chân, một khoảng cách vừa đủ trang trọng, lịch thiệp mà vẫn toát lên sự gần gũi vô hình. Ánh mắt chàng ấm áp, chăm chú dõi theo từng cử chỉ của nàng khi nàng cẩn thận xếp từng tờ khế ước đã ráo mực vào chiếc tráp tài liệu nhỏ bằng gỗ khảm trai.

Trong suốt những ngày An Trà bận rộn chạy vạy chuẩn bị mở quán, Hoài Cẩn chưa từng một lần có hành động nào vượt qua lằn ranh của sự tôn trọng chừng mực.

Chàng không hề mang đến những chiếc túi gấm đựng đầy những thỏi bạc vụn hay ngân phiếu để ngỏ ý “tài trợ” cho nàng; chàng không bao giờ đề nghị đứng tên chung trên tờ văn tự thuê căn nhà ở phố Nam Thành; và chàng càng không bao giờ dùng đến cái bóng uy thế của một viên quan thanh tra triều đình để gây sức ép lên chủ nhà trọ hay các phường thợ nhằm tạo ra những món ân huệ nặng trĩu gánh nặng ơn nghĩa.

Tình cảm mà chàng dành cho nàng là thứ tình cảm chín chắn, sâu sắc của một người đàn ông trưởng thành và hiểu biết. Chàng tôn trọng tuyệt đối sự độc lập và lòng tự trọng của nàng. Chàng chỉ đứng ở vị trí của một người bạn đồng hành đáng tin cậy nhất: khi An Trà cần tham khảo về cấu trúc câu chữ pháp lý trong bản khế ước thuê nhà, chàng tỉ mỉ chỉ cho nàng thấy những lỗ hổng ngữ nghĩa có thể bị kẻ gian lợi dụng; khi nàng thắc mắc về quy chế thu thuế môn bài và lệ phí chợ ngoài phố thị, chàng kiên nhẫn giải thích cặn kẽ từng điều luật trong ngạch Điển Lệ của Hộ Bộ để nàng nắm vững quyền lợi và nghĩa vụ của mình trước khi bước vào bàn thương lượng.

Không biến mình thành một đấng cứu thế bề trên, không đẩy nàng vào thế của một kẻ phải chịu ơn huệ tình cảm — chính sự thấu hiểu và nâng niu sự tự chủ ấy là điểm tựa vững chãi nhất khiến An Trà luôn cảm thấy bình yên, tự tin và kiêu hãnh mỗi khi đứng trước mặt chàng.

“Khế ước thuê mặt bằng ở phố Nam Thành đã xong xuôi cả rồi chứ?” Hoài Cẩn khẽ cất tiếng hỏi, nụ cười phảng phất nơi khóe môi chàng như ánh nắng sớm xuyên qua kẽ lá.

“Đều đã hoàn tất cả rồi,” An Trà ngẩng đầu nhìn chàng, đáy mắt nàng trong veo, lấp lánh niềm vui sướng tự hào. “Chủ nhà đã nhận tiền cọc ba tháng và giao chìa khóa cổng; sáng mai Trịnh thúc sẽ cho xe chở bàn ghế gỗ thông cùng chum vại đến sắp đặt; Vũ Lan tỷ tỷ cũng đã chốt giờ giao sữa cố định mỗi sáng. Mọi thứ… từng chiếc đinh, từng phiến gỗ, đều do chính bàn tay và công sức của bốn chị em chúng muội gây dựng nên.”

“Ta biết nàng nhất định sẽ làm được,” Hoài Cẩn nói nhỏ, giọng nói trầm ấm của chàng chứa đựng sự trân trọng xuất phát tự đáy lòng. “Một cơ nghiệp dù nhỏ bé đến đâu, nhưng nếu được dựng xây từ chính sức lao động chân chính và sự minh bạch công bằng, thì sẽ không bao giờ phải sợ hãi bóng ma quyền lực nào có thể tùy tiện tước đoạt, và càng không bao giờ phải cúi đầu phụ thuộc vào ân sủng thất thường của bất kỳ ai.”

An Trà mỉm cười, một nụ cười rạng rỡ như đóa hoa trà vừa hé nở trong sương sớm.

Chưa kịp để nàng đáp lời, từ phía con đường rợp bóng phi lao dẫn thẳng vào cổng hậu của Kho Bếp Đông, tiếng bước chân đĩnh đạc, khoan thai nhưng đầy uy nghiêm bỗng vang lên.

Quản sự Phạm Tĩnh trong bộ phẩm phục màu xanh sẫm viền đen của Nội đình đang chầm chậm bước tới. Dưới ánh nắng ban mai rọi xiên, khuôn mặt nghiêm nghị, lạnh lùng phủ đầy những nếp nhăn năm tháng của bà vẫn giữ nguyên vẻ uy nghiêm thường nhật. Thế nhưng, trong đôi mắt sâu thẳm đang nhìn thẳng vào An Trà lúc này, sự sắc lạnh, dò xét và hoài nghi của những ngày đầu tiên nàng mới bước chân vào gian bếp tăm tối đã hoàn toàn biến mất.

Bà dừng lại trước mặt An Trà, đứng thẳng người. Trên hai bàn tay đeo găng vải mỏng của bà là một chiếc khay gỗ sơn son bọc một tấm lụa điều đỏ thắm. Đặt ngay ngắn trên tấm lụa là một phong bì giấy lệnh khổ lớn có đóng dấu triện son vuông vức của Nội Thị Tỉnh, bên cạnh là chiếc thẻ bài bằng gỗ khắc tên “Nguyễn An Trà” — chiếc thẻ bài đã gắn liền với thân phận của nàng suốt tám tháng qua, nay các góc cạnh bằng gỗ đã được mài nhẵn bóng bởi mồ hôi và những vết chai sạn nơi bàn tay người lao động.

“Nữ quan Kho Bếp Đông Nguyễn An Trà nghe lệnh,” giọng Phạm Tĩnh cất lên rành rọt, âm lượng không quá lớn nhưng trang trọng và vang vọng giữa không gian trưa hè tĩnh mịch.

An Trà khẽ chỉnh lại vạt áo, đứng thẳng người, hai tay chắp lại trước ngực theo đúng quy chuẩn lễ nghi của nữ quan nội cung.

Phạm Tĩnh nhấc văn thư lên, mở dải dây niêm phong, cất tiếng đọc từng chữ rành mạch theo đúng chiếu lệ của triều đình:

“Nhiệm kỳ phục vụ tám tháng tại Kho Bếp Đông thuộc Nội Thị Tỉnh của ngươi tính đến giờ Ngọ hôm nay là tròn vẹn đầy đủ. Trong suốt thời gian tại nhiệm, đối soát kho tàng minh bạch, ghi chép củi nước rõ ràng, công - tư phân định rạch ròi, lại có công lớn phối hợp cùng Ty Khảo Sổ vạch trần gian lận tham ô, giữ nghiêm kỷ cương nội vụ. Nay theo lệnh ân giảm và quy chế công vụ của Hộ Bộ, Nội Thị Tỉnh chính thức cấp Văn thư mãn hạn phục vụ công vụ, hoàn trả toàn bộ quyền công dân tự do, cho phép xuất cung theo đúng pháp luật hiện hành.”

Phạm Tĩnh hạ hai tay xuống, tự mình cầm lấy tấm văn thư bằng giấy bản dày dặn, trang trọng trao tận tay An Trà.

Khi đầu ngón tay chạm vào bề mặt ráp nhẹ của tờ giấy lệnh còn thơm mùi mực mới và vết son triện hãy còn tươi, một luồng hơi ấm mãnh liệt bỗng chạy dọc khắp sống lưng An Trà.

Tám tháng ròng rã.

Kể từ cái ngày nàng mở mắt ra nơi căn phòng ẩm thấp tăm tối, đón nhận ký ức của một thân xác xa lạ cùng món nợ ba mươi sáu quan tiền oan khiên treo lơ lửng trên đầu, đứng trước nguy cơ mục xương nơi ngục tối thâm cung… Tám tháng trời nàng đã nhẫn nhịn, dùng từng giọt mồ hôi, từng mẻ hạt củ nhu vò nặn thâu đêm, từng chén trà sữa thơm lừng và từng nét bút chi li trên những trang sổ đối soát để đấu tranh sinh tồn. Nàng đã không dùng thủ đoạn đê hèn, không van xin ân huệ, mà dùng chính sự rạch ròi, minh bạch của công việc kế toán để từng bước phá tan xiềng xích, đổi lấy tờ giấy tự do đường hoàng này.

Nàng nâng tờ văn thư lên ngang trán, cúi đầu thật sâu trước người quản sự nghiêm khắc:

“Đa tạ Quản sự đại nhân đã bảo ban, dẫn dắt.”

Giọng nàng khẽ run lên vì xúc động, nhưng âm vang lại vô cùng vững chãi, kiên định.

Phạm Tĩnh nhìn thiếu nữ trẻ tuổi đang đứng trước mặt mình, khóe môi khẽ cong lên một nét cười hiếm hoi, ấm áp:

“Ra ngoài dân gian mở quán buôn bán, nhớ kỹ lấy cái tâm và sự rạch ròi này mà hành xử. Chợ đời gió bụi, cám dỗ và thủ đoạn khôn lường hơn chốn cung cấm này nhiều. Đừng bao giờ để bụi bặm của chốn chợ búa làm lem luốc, nhòe mờ đi những con số ngay thẳng mà ngươi đã dày công giữ gìn nơi đây.”

Nói đoạn, bà khẽ phất tà áo dài màu xanh sẫm, xoay người thong thả bước ngược trở lại con đường dẫn về phía viện sảnh.

Cùng đúng lúc bước chân bà vừa chạm vào ngưỡng cửa tam quan, trên chòi canh cao vút lợp ngói lưu ly của Kho Bếp Đông, ba hồi chuông đồng trầm hùng, ngân nga bắt đầu gióng lên.

*Boong… Boong… Boong…*

Tiếng chuông đồng vang vọng, thanh thoát xé toạc không gian tĩnh lặng của buổi trưa hè. Âm thanh ấy ngân dài, lan tỏa qua từng mái ngói thâm nghiêm, rền vang khắp các sân kho chất đầy củi gỗ, lướt qua những giàn phơi gạo trắng tinh và những rặng trúc xanh rì rào trong gió sớm.

Đó là tiếng chuông báo hiệu kết thúc ca làm việc.

Và đó cũng là tiếng chuông báo hết ca vang lên lần cuối cùng đối với nữ quan Nguyễn An Trà tại Kho Bếp Đông hoàng cung.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn