Bổn Cung Không Cung Đấu, Bổn Cung Bán Trà SữaC.28 / 30
Chương 28

Trả nợ không phải được ban ơn

Chiếc bàn đá dưới bóng râm Hiên Trà Sau Bếp hôm nay bày đầy những tập biên lai thu chi, nghiên mực đá xám và tờ khế ước bảo lãnh đã ố vàng suốt tám tháng qua.

Gió đầu hạ lướt qua rặng trúc xanh rì, làm xao động những tán lá râm mát rọi từng đốm nắng tròn lay động xuống mặt giấy dó cũ kỹ. Sau phiên xử chấn động tại công đường phủ Vân Kinh ngày hôm qua, góc sân sau dãy chái bếp này không còn bóng dáng lính canh bồng gươm, cũng không còn sự căng thẳng nghẹt thở của những cuộc áp giải hay thẩm vấn gắt gao. Thế nhưng không khí quanh chiếc bàn đá vẫn giữ nguyên vẻ trang nghiêm, chuẩn xác đến từng ly từng tí của một buổi làm việc hành chính đúng quy chuẩn của chốn nha môn.

Mùi đất ẩm sau cơn mưa rào đêm trước vẫn phảng phất dưới chân tường phủ rêu, quyện với hương thơm ấm nồng của bã trà phơi khô bên hiên và khói lò thoảng ra từ phía gian hầm chứa than. Nắng trưa bắt đầu rọi nghiêng qua giàn mướp đắng, dát một vệt sáng vàng nhạt lên mép bàn đá hoa cương mát lạnh.

Ngồi ở vị trí chủ tọa đối soát là Quan thẩm khế Hoàng Minh Khuê. Hôm nay bà không vận quan phục xanh thẫm thường thấy nơi công đường mà mặc một bộ thường phục bằng lụa mộc màu nâu sẫm nhã nhặn, mái tóc vấn cao cài chiếc trâm bạc trơn không chạm trổ, tôn lên vẻ từng trải, nghiêm nghị của một nữ quan nắm giữ sổ sách khế ước qua hai triều đại. Cạnh bà, Đặng Thu Vân – kiểm toán viên của Ty Khảo Sổ, người chính thức tiếp nhận thụ lý độc lập toàn bộ nhánh hồ sơ Hiên Trà Sau Bếp và khoản nợ bảo lãnh của Nguyễn An Trà sau khi tách khỏi tầm kiểm soát của Hộ Ty – đang thoăn thoắt lật giở từng trang chứng từ. Ngọn bút lông thỏ trong tay Thu Vân vừa chấm nhẹ vào nghiên mực đen sánh, mũi bút nhọn hoắt sẵn sàng ghi chú từng con số đối ứng vào mép giấy giáp lai.

Thợ gốm Trịnh Mộc ngồi đối diện bên kia bàn đá. Chiếc áo vải thô màu nâu sẫm của phường thợ lò Nam Thành trên người ông vẫn còn vương những vệt bụi đất sét nung màu đỏ gạch, gấu tay áo sờn chỉ được vén cao quá cổ tay, để lộ đôi cánh tay rắn chắc như rễ cây cổ thụ. Hai bàn tay thô ráp, chai sạn vì hàng chục năm nhào nặn đất sét và xoay bàn chuốt được ông đặt ngay ngắn, có phần gượng gạo trên đầu gối. Đôi mắt lão thợ gốm vốn quen lấm lét, bồn chồn trong những lần đi đòi nợ trước đây, hôm nay lại mở lớn, nhìn chằm chằm vào chiếc tráp gỗ đựng hồ sơ với vẻ chờ đợi thấp thỏm khôn nguôi.

Tống Diệp ngồi bên cạnh An Trà, vẻ mặt nghiêm cẩn nhưng đôi vai hơi căng cứng, hai ngón tay cái cứ vô thức xoa vào nhau – thói quen mỗi khi nàng bước vào một đợt kiểm kho lớn. Bên dưới vạt áo dài bằng vải thô nhuộm màu vỏ dà, đôi mắt Tống Diệp lấp lánh sự hồi hộp không hề giấu giếm. Đứng tựa lưng bên hàng hiên cách chiếc bàn đá chừng năm bước chân là Lục Hoài Cẩn. Chàng mặc bộ áo dài màu lam nhạt thanh nhã, vạt áo phẳng phiu buông rủ không một nếp nhăn, hai tay chắp sau lưng, ánh mắt tĩnh lặng như mặt hồ mùa thu dõi theo từng cử động trên bàn đá.

Đúng như văn bản cam kết chàng đã nộp lên Giám sát viện khi đệ đơn thoái thác vì xung đột lợi ích, Hoài Cẩn chỉ có mặt ở đây với tư cách một người chứng kiến độc lập được các bên mời tới. Chàng tuyệt đối không can thiệp vào bất kỳ câu hỏi nào, không ngồi chung bàn nghị án và không đặt tay vào bất kỳ thủ tục ký duyệt hay đóng dấu nào. Khoảng cách năm bước chân ấy được giữ gìn một cách nghiêm cẩn, vừa là bức tường ngăn cách sự dị nghị của chốn công quyền, vừa là sự bảo hộ âm thầm, vững chãi nhất dành cho sự độc lập của người con gái đang ngồi trước bàn đối soát.

“Hôm nay, ngày mùng sáu tháng Tư, trước sự chứng kiến của Quan thẩm khế phủ Vân Kinh và đại diện các bên liên quan, Ty Khảo Sổ chính thức mở phiên rà soát cuối cùng đối với khế ước mua chịu đồ gốm lập ngày mười sáu tháng Hai,” giọng Đặng Thu Vân vang lên đanh gọn, rành rọt từng chữ, âm sắc trong trẻo nhưng dứt khoát xé tan sự tĩnh mịch của buổi trưa hè. “Căn cứ vào bản giao nhận gốc của xưởng gốm Nam Thành do Trịnh Mộc giao nộp tại phiên tòa hôm qua, kết hợp với kết luận tái giám định kho số ba của Ty Khảo Sổ đã được công đường công nhận: toàn bộ bốn mươi hũ sành muối dưa loại năm mươi thăng và sáu mươi bộ bát đĩa gốm mộc tráng men xám là hàng hóa thực tế đã cấp phát đầy đủ, đúng quy cách phẩm chất, được đưa vào sử dụng phục vụ yến tiệc sứ bộ và công vụ Kho Bếp Đông từ đầu mùa xuân.”

Thu Vân ngẩng đầu lên khỏi xấp tài liệu, ánh mắt sắc sảo lướt qua gương mặt Trịnh Mộc rồi dừng lại nơi An Trà:

“Biên bản báo hỏng mười lăm hũ sành và hai mươi bộ bát đĩa do cựu quản kho Đỗ Kính lập vào cuối tháng Hai đã được ty thẩm tra xác định là hành vi ngụy tạo chứng từ nhằm chiếm đoạt tài sản công, đồng thời cố tình cản trở thủ tục hoàn ứng theo định mức. Do đó, lý do tắc nghẽn lệnh thanh toán từ ngân khố suốt những tháng qua hoàn toàn không xuất phát từ lỗi của bên giao hàng hay bên bảo lãnh.”

Hoàng Minh Khuê khẽ gật đầu. Bà đưa bàn tay thon gầy nhưng đầy uy lực nhấc một tờ công văn có đóng dấu son đỏ chót của Hộ Bộ và phủ Vân Kinh đặt sang bên cạnh:

“Chiểu theo Điển Lệ Đại Ninh về chế độ cấp phát vật tư công vụ khẩn cấp, phần hàng hóa này đã phục vụ trực tiếp cho hoạt động của quốc gia và nghi lễ triều đình. Nay bản thẩm khế công bố: Khoản tiền hoàn ứng ba mươi quan từ quốc khố chính thức được ký lệnh giải tỏa, chuyển trả thẳng vào tài khoản của tổ bếp để thanh toán đối trừ cho xưởng gốm Nam Thành.”

Bà đẩy tờ lệnh giải tỏa tài chính có chữ ký ba bên sang phía người thợ gốm.

Trịnh Mộc vội vàng chùi hai bàn tay vào vạt áo trước ngực cho sạch bụi đất rồi mới run rẩy đón lấy tờ giấy bằng cả hai tay. Mắt ông đảo nhanh qua những dòng chữ mực đen chân phương và dừng lại ở triện son tươi rói vuông vức in nổi bốn chữ “Vân Kinh Phủ Ấn”. Đôi vai vạm vỡ gánh gồng đất sét bao năm của ông bỗng chùng xuống, lồng ngực phập phồng, rồi ông thở hắt ra một hơi dài buốt ruột như vừa trút được cả tảng đá tảng đè nặng trên lưng suốt tám tháng trời ròng rã.

Ba mươi quan tiền công. Đó là tiền mua củi đốt lò suốt cả mùa đông, là tiền công đào đất sét của sáu gia đình thợ phụ, là tiền thuốc men cho đứa con gái nhỏ của người thợ tiện gỗ làm bàn xoay... Số tiền mồ hôi nước mắt ấy rốt cuộc đã không bị chôn vùi trong những xảo thuật bẩn thỉu của mớ sổ sách tham nhũng.

“Tiếp theo, xét đến phần nghĩa vụ dân sự còn lại của người đứng tên bảo lãnh là Nguyễn An Trà,” Hoàng Minh Khuê lật tiếp tờ khế ước gốc bằng giấy bản dày, bốn góc mép đã sờn rách và ngả màu ố vàng vì thời gian. Ánh mắt bà trở nên sắc lạnh, soi từng nét chữ nhỏ li ti ở phần ghi chú phụ lục. “Trong các lần đòi nợ và gửi đơn trình báo trước đây, bên chủ nợ Trịnh Mộc từng yêu cầu tính thêm tiền phạt quá hạn và các chi phí tổn thất do việc trễ nải giao tiền, đẩy tổng số tiền đòi bồi hoàn lên đến ba mươi chín quan sáu trăm đồng. Nay tòa xét: Việc chậm trễ hoàn ứng là do hành vi phạm pháp của cựu quản kho Đỗ Kính gây ra, hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát và ý chí chủ quan của các bên ký kết. Khế ước gốc lập ngày mười sáu tháng Hai chỉ ghi nhận mức lãi đơn ba phân mỗi tháng theo đúng khung pháp luật của triều đình, không hề có bất kỳ điều khoản nào quy định về tiền phạt quá hạn, phạt vi phạm thời gian hay tính lãi mẹ đẻ lãi con.”

Thẩm khế Hoàng Minh Khuê cầm chiếc thước gỗ mun dài một thước đặt trên bàn, gõ nhẹ một tiếng “cắc” khô khốc xuống mặt đá. Âm thanh gọn ghẽ vang lên khiến mọi người đều nín thở:

“Phán quyết của bản thẩm khế: Bác bỏ toàn bộ các khoản tiền phạt quá hạn và mọi chi phí phát sinh vô căn cứ nằm ngoài văn bản khế ước gốc. Về nghĩa vụ nợ gốc: Tổng giá trị hàng hóa ghi trên khế ước là ba mươi sáu quan tiền. Sau khi trừ đi ba mươi quan tiền hoàn ứng vừa được ngân khố giải tỏa chi trả theo trách nhiệm công vụ, số nợ gốc thực tế còn lại phải phân định trách nhiệm cá nhân là sáu quan tiền. Lại xét tiếp: Vào ngày hai mươi tháng Ba, Nguyễn An Trà đã thanh toán đợt một số tiền ba quan nợ gốc cho Trịnh Mộc, có giấy biên nhận mang dấu điểm chỉ đỏ hợp lệ hiện đang được Ty Khảo Sổ lưu trữ trong hồ sơ số bảy. Như vậy, trừ đi ba quan đã thanh toán đợt đầu, nghĩa vụ nợ gốc còn lại của Nguyễn An Trà đối với xưởng gốm Nam Thành tính đến ngày hôm nay chỉ còn đúng ba quan tiền.”

Nghe đến con số “ba quan tiền”, Tống Diệp ngồi bên cạnh An Trà không kìm được xúc động, bàn tay nàng bấu chặt lấy mép tay áo An Trà, bờ môi mím chặt lại để nén một tiếng reo vui mừng rỡ. Đằng sau tấm bình phong tre che nắng dựng ở lối vào hành lang phụ, Vũ Mai đứng lấp ló nãy giờ cũng vội vàng đưa hai tay lên che miệng, nước mắt lưng tròng, hai vai khẽ run lên vì nhẹ nhõm.

Đặng Thu Vân đặt chiếc bàn tính bằng gỗ mun lên bàn đá, những đốt ngón tay thon dài, trắng trẻo lướt thoăn thoắt trên các phách tính. Tiếng hạt gỗ gõ vào nhau “lách cách, lách cách” giòn tan, nhịp nhàng như hạt mưa rơi trên mái ngói:

“Căn cứ quy định về lãi đơn ba phân mỗi tháng, tính trên số dư nợ gốc thực tế qua từng mốc thời gian: Mức ba mươi sáu quan trong ba mươi ngày đầu tiên trước khi trả đợt một, và sau đó chỉ tính trên phần nợ thuộc trách nhiệm cá nhân chưa được giải tỏa. Ty Khảo Sổ đã đối chiếu chi tiết từng ngày theo lịch hành chính, đồng thời trích xuất toàn bộ thời gian hồ sơ bị đình chỉ trái pháp luật do Đỗ Kính gây khó dễ tại kho. Tổng số tiền lãi đơn hợp pháp mà Nguyễn An Trà có nghĩa vụ thanh toán cho Trịnh Mộc tính đến giờ ngọ hôm nay là hai trăm bốn mươi đồng tiền kẽm. Tổng cộng cả nợ gốc lẫn tiền lãi để tất toán dứt điểm khế ước này là ba quan hai trăm bốn mươi đồng.”

Thu Vân ngẩng mặt lên, đẩy bảng kê chi tiết có chữ ký của mình sang phía giữa bàn.

“Trịnh Mộc, ngươi có dị nghị hay khiếu nại gì về bảng tính toán của Ty Khảo Sổ và phán quyết của bản thẩm khế không?” Hoàng Minh Khuê nhìn thẳng vào mắt người thợ gốm, giọng nghiêm nghị hỏi.

Trịnh Mộc nhìn từng hàng chữ số mực son mực đen ngay ngắn, rõ ràng đến từng đồng kẽm con con trên trang giấy của Đặng Thu Vân, rồi lại ngước nhìn sang An Trà. Nét mặt cộc cằn, khắc khổ, vẻ hằn học bức bách của một con nợ bị dồn vào chân tường thường thấy ở ông hoàn toàn tan biến. Thay vào đó là một vẻ sững sờ, rồi chuyển thành sự kính trọng chân thành lộ rõ trong từng nếp nhăn nơi khóe mắt:

“Bẩm Quan thẩm khế, bẩm Đặng kiểm toán, thảo dân... thảo dân hoàn toàn tâm phục khẩu phục! Ba mươi quan tiền hoàn ứng từ quốc khố đã cứu sống cả cái lò gốm Nam Thành của chúng tôi, cứu sống cả chén cơm của mấy chục con người rồi. Thảo dân buôn bán kiếm miếng ăn nuôi thợ nuôi con, chỉ mong lấy lại mồ hôi nước mắt của mình, tuyệt đối không dám tham lam một cắc tiền phạt oan uổng của người ngay thẳng. Số tiền ba quan hai trăm bốn mươi đồng này, thảo dân xin nhận đúng như phán quyết, không dám có nửa lời dị nghị!”

“Tốt lắm,” Hoàng Minh Khuê khẽ gật đầu, ánh mắt thoáng lộ vẻ hài lòng. Bà quay sang phía An Trà: “Nguyễn An Trà, ba quan hai trăm bốn mươi đồng này là nghĩa vụ tài chính cá nhân cuối cùng của ngươi đối với vụ việc này. Ngươi có khả năng thanh toán ngay tại chỗ hôm nay để khép lại vĩnh viễn hồ sơ nợ bảo lãnh này không?”

“Bẩm Quan thẩm khế, thảo dân đã chuẩn bị đầy đủ không thiếu một đồng.”

An Trà hít một hơi thật sâu. Không khí đầu hạ mang theo hương trà mộc thanh khiết, ngai ngái mùi đất ấm và vị béo ngậy dịu dàng của sữa dê đang ninh trên bếp sau lưng khiến lồng ngực nàng căng tràn sức sống. Mọi âu lo dồn nén suốt bao tháng ngày dường như tan biến theo làn gió mát rượi thổi qua rặng trúc.

Nàng đứng dậy, hai tay nâng một chiếc túi vải thô màu chàm đã được giặt giũ sạch sẽ, gấp mép cẩn thận và buộc chặt bằng một sợi dây gai bện đôi, cung kính đặt lên mặt bàn đá.

Bên cạnh chiếc túi vải, An Trà đặt thêm một cuốn sổ tay nhỏ bọc bìa giấy dầu màu nâu cánh gián. Trên bìa sổ, nét chữ thanh thoát, cứng cỏi của nàng viết rõ bốn chữ: “Sổ tích lũy thu nhập cá nhân – Nguyễn An Trà”.

“Bẩm các vị quan nhân và các bên chứng kiến,” An Trà cất giọng điềm tĩnh, rành rọt, từng lời vang lên rõ ràng giữa khoảng sân tĩnh lặng. “Để đảm bảo tính độc lập và minh bạch tuyệt đối theo đúng điều lệ đã được phê chuẩn của Hội nữ quan Đồng Công, số tiền này hoàn toàn là tài sản cá nhân hợp pháp của thảo dân, tuyệt đối không trích lấy một đồng từ ngân quỹ chung của tập thể. Trong túi tiền này gồm có: một lượng bạc vụn đã được tiệm vàng bạc bến Liễu kiểm định phẩm cấp tám phần mười, tương đương giá trị quy đổi một quan tiền đồng theo thời giá hiện hành, trích từ tiền bổng lộc nữ quan sáu tháng qua thảo dân dành dụm sau khi trừ chi phí sinh hoạt tối thiểu. Hai quan một trăm đồng tiền đồng và một trăm bốn mươi đồng tiền kẽm còn lại là phần tiền công lao động cùng lợi nhuận được chia hợp pháp từ các ca trực bán trà tại Hiên Trà Sau Bếp, có chữ ký phê duyệt đối ứng của quản sổ Vũ Mai và thủ quỹ Tống Diệp trong sổ nhật ký chi trả.”

Nàng lật mở cuốn sổ bọc giấy dầu ra. Từng trang giấy được kẻ cột ngay ngắn theo lối sổ kép hiện đại: ngày nào nàng đứng bên lò than, ca trực nào pha chế trà sữa hạt dẻ, mỗi buổi thu về bao nhiêu, phần trích lập hai mươi phần trăm vào quỹ phòng ngừa rủi ro của hội là bao nhiêu, và số tiền công nàng nhận về cuối mỗi tuần là bao nhiêu đồng kẽm. Từng con số đều có chữ ký xác nhận của Tống Diệp bên cạnh, khớp khít từng ly từng tí với các trang sổ cái tổng hợp của Hội Đồng Công mà Đặng Thu Vân vừa niêm phong kiểm toán chiều hôm qua.

An Trà đưa tay cởi nút thắt dây gai. Nàng trút nhẹ những thỏi bạc vụn màu xám bạc cùng các xâu tiền đồng sáng loáng ra mặt bàn đá.

“Keng... lách cách...”

Tiếng kim loại va chạm vào mặt đá hoa cương vang lên thanh thúy, trong trẻo lạ thường. Đó không phải là thứ âm thanh lén lút của những phong bao hối lộ giấu dưới tay áo, cũng không phải là tiếng bạc nén nặng trĩu của quyền thế ban phát từ trên cao xuống. Đó là âm thanh của mồ hôi, của những đêm thức trắng canh lửa, của từng mẻ trân châu nhào nặn đến rộp cả bàn tay, của lòng kiên định không chịu khuất phục trước sự chèn ép.

Đặng Thu Vân khẽ mỉm cười – một nét cười hiếm hoi nở trên gương mặt vốn luôn giữ vẻ lạnh lùng như băng đá của người làm nghề kiểm toán. Nàng kéo chiếc cân tiểu ly bằng đồng thau lại gần, tự tay gắp từng mẩu bạc vụn đặt lên đĩa cân, lướt mắt kiểm tra vết cắt sắc cạnh chứng tỏ độ tuổi của bạc, rồi cầm từng xâu tiền đồng lên kiểm tra độ dày và vành chữ đúc.

Sau khi kiểm đếm nhanh chóng và chuẩn xác, Thu Vân ngẩng lên gật đầu với Hoàng Minh Khuê:

“Bạc đủ trọng lượng, phẩm cấp đạt chuẩn ngân lượng lưu hành. Tiền đồng đúc rõ chữ, đủ dây đủ xâu, tiền kẽm không pha lẫn tạp chất hay xỉ chì. Toàn bộ nguồn gốc tài chính hoàn toàn minh bạch, tách bạch tuyệt đối khỏi tài sản của tập thể.”

“Trịnh Mộc, mời ngươi tự tay kiểm đếm và nhận tiền,” Hoàng Minh Khuê ra hiệu.

Trịnh Mộc bước tới sát bàn đá. Hai bàn tay thô kệch vốn chỉ quen với đất sét và củi lửa cẩn thận nâng từng xâu tiền đồng lên. Những ngón tay thô ráp gạt từng đồng xu kêu lách cách, đếm đi đếm lại từng đồng kẽm nhỏ bé. Đếm xong, ông đặt số tiền vào chiếc túi vải của mình một cách trân trọng, rồi ngẩng đầu nhìn An Trà. Đôi mắt người thợ già ầng ậc nước:

“Nguyễn nữ quan... à không, sau này phải gọi là Nguyễn cô nương rồi. Lão Mộc này bôn ba buôn bán ở cái chợ Nam Thành này hơn hai mươi năm, từ thời tóc còn xanh đến khi râu tóc bạc phơ thế này, đã từng gặp qua không biết bao nhiêu hạng người. Kẻ quỵt nợ bỏ trốn có, kẻ lăn ra khóc lóc van xin khất nợ có, kẻ cậy quyền cậy thế đập bàn quát tháo ép giá thợ lò chúng tôi cũng chẳng thiếu. Nhưng một người dám đứng thẳng lưng đối mặt sòng phẳng từng hào từng cắc, dùng chính mồ hôi nước mắt, thức khuya dậy sớm bán từng bát nước trà để trả nợ sạch sẽ đến đồng kẽm cuối cùng như cô nương... quả thật đời lão Mộc mới thấy lần đầu. Lão già này khâm phục cô nương từ tận đáy lòng!”

Nói rồi, Trịnh Mộc cầm lấy cây bút lông thỏ mà Thu Vân đưa cho, nhúng đẫm mực đen, nắn nót viết từng nét chữ run run nhưng dứt khoát lên tờ biên lai thu tiền do Ty Khảo Sổ chuẩn bị sẵn:

*“Hôm nay ngày mùng sáu tháng Tư, xưởng gốm Nam Thành đã thu đủ số tiền ba quan hai trăm bốn mươi đồng cả gốc lẫn lãi từ Nguyễn An Trà. Nghĩa vụ bảo lãnh vật tư đồ gốm lập ngày mười sáu tháng Hai chấm dứt hoàn toàn từ giờ phút này. Hai bên không còn bất kỳ vướng mắc, khiếu nại nào về sau.”*

Viết xong, Trịnh Mộc dứt khoát ấn ngón tay cái bên phải vào hộp chu sa đỏ thẫm, điểm một dấu vân tay đỏ rực, sắc nét ngay bên cạnh chữ ký của mình.

Hoàng Minh Khuê nhấc tờ khế ước bảo lãnh ba mươi sáu quan tiền – tờ giấy từng là nỗi ám ảnh đè nặng lên số phận của An Trà suốt tám tháng trời – giơ cao lên ngang tầm mắt. Bà đưa mắt nhìn quanh một lượt, từ Đặng Thu Vân, Tống Diệp, cho đến Lục Hoài Cẩn đang đứng lặng im bên hàng hiên:

“Các bên chứng kiến có ai còn điều gì nghi vấn hay khiếu nại về thủ tục này nữa không?”

“Ty Khảo Sổ không có ý kiến gì,” Đặng Thu Vân đáp gọn gàng.

“Tiểu nữ không có ý kiến gì ạ!” Tống Diệp nghẹn ngào thốt lên, hai hốc mắt đã đỏ hoe từ lúc nào.

Ánh mắt nghiêm cẩn của Hoàng Minh Khuê dừng lại nơi Lục Hoài Cẩn. Chàng không bước tới, vẫn đứng nguyên ở vị trí cách chiếc bàn năm bước chân, khẽ nghiêng mình cúi đầu chào theo đúng lễ nghi của quan viên giám sát. Đó là một cử chỉ lặng lẽ, minh định cho sự chứng kiến công minh, không một lời can thiệp thừa thãi nhưng lại mang sức nặng của một lời bảo chứng kiên định như núi đá.

Quan thẩm khế gật đầu tán thành. Trước sự chứng kiến của tất cả mọi người, bà cầm con dấu đồng nặng trịch của nha môn phủ Vân Kinh, chấm ngập vào nghiên chu sa rồi dập một dấu mộc đỏ thẫm, vuông vức lên chính giữa tờ khế ước. Hai chữ “HỦY BỎ” màu son đỏ tươi hiện lên rõ ràng, đè bẹp những dòng chữ viết nợ năm xưa.

Tiếp đó, bà đưa tờ giấy sang cho Trịnh Mộc. Lão thợ gốm không hề ngần ngại, hai tay nắm lấy mép trên của tờ giấy bản cũ kỹ, dứt khoát xé roẹt một góc lớn mang toàn bộ phần chữ ký bảo lãnh và điểm chỉ cũ của An Trà, cất phần góc giấy ấy vào tay áo, rồi trân trọng trao lại phần thân khế ước cho nàng.

Âm thanh “roẹt” giòn tan vang lên, xé toạc bầu không khí tĩnh mịch của trưa hè.

Tờ giấy bản rách góc, với vết mực son “HỦY BỎ” còn chưa kịp khô hẳn, nằm gọn gàng trong lòng bàn tay An Trà. Nàng ngơ ngẩn cúi nhìn nó, đầu ngón tay khẽ chạm vào mép giấy xơ xác.

Tám tháng trước, khi nàng vừa mở mắt ra giữa thế giới xa lạ này, nằm mê man trên chiếc chõng tre ọp ẹp trong cơn sốt rét tại Nhà Công Nữ Quan, thứ đầu tiên chào đón nàng không phải là gấm vóc lụa là của một tiểu thư quyền quý, cũng chẳng phải sự sủng ái của bậc quân vương trong cung cấm thâm sâu. Đón nhận nàng là mùi thuốc bắc đắng ngắt, là ánh nhìn thương hại lẫn e dè của những người xung quanh, và trên hết là tờ khế ước ba mươi sáu quan tiền nợ lơ lửng như một lưỡi gươm sắc bén chực chờ chém xuống cổ.

Nàng nhớ những đêm đông lạnh thấu xương, gió bấc lùa qua khe cửa liếp, nàng phải ngồi co ro bên ngọn đèn dầu tính toán từng bát gạo, từng lạng đường. Nàng nhớ những buổi trưa hè oi nồng, mồ hôi ướt sũng lưng áo khi đứng đảo những chảo mật đường sôi sùng sục, hơi nóng bốc lên làm rát bỏng cả mặt mày. Nàng nhớ những ánh mắt nghi kỵ của các nữ quan quản sự, những cạm bẫy tinh vi của bọn người Đỗ Kính giăng ra để ép nàng phải cúi đầu nhận tội hoặc chấp nhận làm quân cờ cho họ...

Tất cả những gánh nặng đè trĩu tinh thần, những nỗi sợ hãi mơ hồ về một ngày bị tống giam vào ngục tối, nay đã thu nhỏ lại thành một mảnh giấy vô hại, rách nát nằm gọn trong lòng bàn tay.

Một luồng hơi ấm kỳ lạ bỗng từ lồng ngực dâng lên, lan tỏa khắp các mạch máu, xua tan đi sự mệt mỏi tích tụ suốt bấy lâu. Cảm giác nhẹ nhõm vô bờ bến tràn ngập trong tâm trí nàng, nhẹ bẫng như thể nàng vừa trút bỏ được một tấm giáp sắt nặng ngàn cân.

Nàng không cần phải quỳ gối van xin sự thương hại của bất kỳ ai. Nàng không cần phải bán mình làm thiếp cho những kẻ quyền quý để đổi lấy vài nén bạc chuộc thân. Nàng không phải tham gia vào những trò cung đấu dơ bẩn, đạp lên xương máu của người khác để tìm đường sống. Và nàng cũng không cần Lục Hoài Cẩn – người nàng thầm trân quý – phải vì nàng mà bẻ cong ngòi bút, phá vỡ phép tắc công minh của triều đình để che chở cho nàng.

Bằng chính sự am hiểu về quy trình vận hành, bằng sự chuẩn xác đến từng đồng kẽm trên những trang sổ kế toán, bằng mồ hôi lao động chân chính bên bếp lửa, và bằng sự đùm bọc, sẻ chia keo sơn của những người chị em cùng chung số phận nghèo hèn, nàng đã tự tay chặt đứt sợi xích nợ nần giam cầm số phận mình.

Tự do này là do chính nàng giành lấy. Sạch sẽ, đường hoàng, minh bạch và kiêu hãnh biết bao.

Bên hàng hiên rợp bóng trúc, Lục Hoài Cẩn lặng lẽ nhìn nàng. Chàng không bước vội lại gần để ôm lấy nàng hay cất lên những lời chúc tụng hoa mỹ trước mặt quan thẩm khế. Chàng chỉ đứng yên ở đó, nhưng đôi mắt chàng sáng lên một thứ ánh sáng ấm áp lạ thường, chan chứa sự thấu hiểu, trân trọng và cả niềm tự hào sâu sắc. Chàng trân trọng nàng không phải vì nàng là một nữ tử yếu đuối cần sự bao bọc của một đấng nam nhi quyền thế, mà vì nàng là một con người kiên cường, sòng phẳng, biết đứng vững bằng chính đôi chân của mình giữa giông bão cuộc đời. Khoảng cách năm bước chân giữa hai người lúc này không phải là sự xa cách lãnh đạm, mà là một ranh giới tôn trọng tuyệt đối mà cả hai đã cùng nhau gìn giữ, để chiến thắng hôm nay của nàng hoàn toàn thuộc về nàng, không tì vết.

“Được rồi, mọi thủ tục đối soát và thanh toán đã hoàn tất đúng luật định,” Hoàng Minh Khuê thu dọn ấn tín, đứng dậy phủi nhẹ vạt áo dài. “Hồ sơ nợ bảo lãnh số không bảy chính thức được đóng lại và lưu trữ vĩnh viễn tại kho hồ sơ dân sự. Bổn quan xin chúc mừng Nguyễn nữ quan.”

“Đa tạ Quan thẩm khế, đa tạ Đặng kiểm toán!”

An Trà cúi người thật sâu hành lễ theo đúng quy thức. Giọng nàng nghẹn lại trong cổ họng vì xúc động, nhưng nụ cười rạng rỡ như nắng sớm đầu hạ đã bừng nở trên gương mặt thanh tú.

Đặng Thu Vân xếp gọn các tập chứng từ vào tráp gỗ, cài then cẩn thận. Trước khi bước chân rời khỏi chiếc bàn đá, nàng dừng lại bên cạnh An Trà, đưa tay vỗ nhẹ lên vai nàng hai cái. Khóe môi vốn luôn mím chặt của viên nữ kiểm toán viên nghiêm khắc bỗng cong lên một nét cười đầy ý vị:

“Làm tốt lắm. Sau này mãn hạn ra ngoài thành mở quán trà, nhớ giữ đúng định mức hao hụt ba phần trăm như bản giải trình hôm trước đấy nhé. Ta nhất định sẽ đích thân tới uống trà để kiểm tra xem sổ sách của cô nương có còn chuẩn xác như khi ở trong cung hay không.”

“Dạ, nhất định rồi ạ! Thảo dân xin pha ấm trà ngon nhất để chờ đón Đặng kiểm toán ghé thăm!” An Trà cười tươi rói, hai mắt cong cong hình bán nguyệt.

Sau khi Hoàng Minh Khuê và Đặng Thu Vân rời khỏi Hiên Trà Sau Bếp, Trịnh Mộc vẫn nán lại. Lão thợ gốm cẩn thận nhét túi tiền vào sâu trong đai lưng, buộc chặt lại, rồi đưa tay gãi gãi mái tóc hoa râm lấm tấm bụi tro, vẻ mặt có chút ngập ngừng, lúng túng. Ông bước lại gần bàn đá, nhìn An Trà rồi khẽ tằng hắng một tiếng:

“Nguyễn cô nương này...”

“Bác Mộc cứ tự nhiên nói, có chuyện gì vướng mắc nữa sao ạ?” An Trà vội rót một bát nước trà xanh ướp hoa sói mát lạnh từ chiếc ấm đất đặt trên bàn đưa sang cho ông.

Trịnh Mộc đón lấy bát nước bằng hai tay, ngửa cổ uống một hơi cạn sạch rồi đưa mu bàn tay lau ngang miệng. Đôi mắt lão sáng lên đầy vẻ hào hứng và toan tính nhà nghề:

“Chẳng giấu gì cô nương, ban nãy đứng ngoài hiên nghe loáng thoáng chuyện các cô nương sắp mãn hạn nữ quan, chuẩn bị ra ngoài lập nghiệp mở một quán trà lớn ở mạn phố Nam Thành. Lão già này mạo muội muốn hỏi một câu... Quán mới ngoài cung của các cô nương đã tìm được mối cung cấp chén bát, bình ủ và hũ đựng trà chưa?”

Nghe câu hỏi bất ngờ ấy, An Trà và Tống Diệp nhìn nhau, rồi cả hai cùng bật cười giòn giã.

Tống Diệp khoanh hai tay trước ngực, nghiêng đầu trêu chọc:

“Sao thế bác Mộc? Vừa mới thoát khỏi món nợ này xong, bác chưa sợ tụi cháu mua chịu hàng hay sao mà lại vội vàng đến chào hàng tận nơi thế này?”

“Ấy chết, Tống quản ca xin đừng trêu lão già này nữa!” Trịnh Mộc xua tay lia lịa, khuôn mặt ngăm đen đỏ rần lên vì ngượng ngùng nhưng giọng điệu thì vô cùng khẩn khoản, chân thành. “Nói thật lòng với các cô nương, thương hiệu gốm Nam Thành của chúng tôi đất sét đồi son dẻo mịn, nung bằng củi gỗ nghiến đủ lửa, men da lươn hay men mộc xám đều bền bỉ, giữ nhiệt giữ hương cực tốt, dùng pha trà nấu nước thì không chê vào đâu được! Sau vụ án lò gốm Vạn Phúc bị tước quyền bao thầu hôm qua, các phường thợ tự do như chúng tôi cũng dễ thở hơn nhiều, không còn bị ép giá hay chèn ép đường buôn bán nữa. Nếu quán mới của các cô nương cần đặt bát sành men mộc, ấm đất quai mây hay bình ủ trà cỡ lớn có khắc chìm dấu hoa trà riêng biệt... lão Mộc này xin bảo đảm bằng cả danh dự của phường thợ: giá xuất xưởng rẻ nhất chợ Nam Thành, giao hàng đúng hẹn tận cửa quán, cho phép các cô nương gõ thử từng chiếc một, nứt vỡ một chiếc đền hai chiếc! Lão Mộc này chỉ muốn được làm ăn lâu dài với những người trọng chữ tín và sòng phẳng như Hội Đồng Công các cô nương thôi!”

An Trà đưa mắt nhìn sang Tống Diệp. Người đàn chị dày dạn kinh nghiệm khẽ gật đầu, trong mắt ánh lên tia nhìn tán thưởng. Quả thật, tìm được một lò gốm có tay nghề vững, đất nung già lửa lại hiểu rõ tính nết sòng phẳng của nhau như xưởng Nam Thành của Trịnh Mộc ở đất Vân Kinh này không phải là chuyện dễ.

An Trà mỉm cười, bước tới chìa bàn tay nhỏ nhắn nhưng chai sần vì lao động ra trước mặt người thợ già:

“Được chứ ạ! Quán mới của chúng cháu chắc chắn sẽ cần một lượng bát đĩa, chén tống và bình ủ trà rất lớn để phục vụ giới thợ thuyền và dân buôn bán. Có xưởng gốm Nam Thành của bác Mộc nhận cung ứng đồ đựng thì chúng cháu yên tâm quá rồi. Bác cứ chuẩn bị sẵn bàn xoay và thợ lò đi ạ. Đợi cháu ra ngoài thành khảo sát xong mặt bằng, cháu sẽ đích thân tới tận lò gốm của bác để ký hợp đồng cung ứng rành mạch, sòng phẳng!”

“Tốt quá! Quyết định như thế nhé cô nương!”

Trịnh Mộc cười vang sảng khoái, tiếng cười vang cả một góc vườn trúc. Lão chắp tay chào từ biệt mọi người rồi rảo bước thoăn thoắt ra phía Cửa Tây Dịch, bước chân thoăn thoắt, lưng thẳng tắp như vừa trẻ ra cả chục tuổi.

Khi bóng áo nâu của người thợ gốm khuất sau khúc quanh rặng trúc, khoảng sân sau Hiên Trà bỗng chốc trở lại vẻ thanh bình vốn có.

Gió trưa hiu hiu thổi, mang theo tiếng lá trúc xào xạc hòa cùng tiếng sôi ùng ục nhè nhẹ từ chiếc ấm đồng đun nước trên bếp lò. Tống Diệp đứng nhìn An Trà đang cẩn thận gấp tờ khế ước rách góc làm tư, khóe môi khẽ mỉm cười nhưng trong ánh mắt lại thoáng chút bùi ngùi xúc động:

“Thế là xong... Mối lo lớn nhất đè nặng lên ngực muội suốt bao tháng qua cuối cùng cũng được gỡ bỏ sạch sẽ rồi nhé. Tính từ ngày hôm nay, thời hạn nhiệm kỳ nữ quan tám tháng của muội tại Kho Bếp Đông này... chỉ còn lại đúng mười ngày nữa thôi đấy.”

“Mười ngày nữa thôi sao tỷ?” An Trà giật mình, khẽ lẩm bẩm, ngón tay dừng lại trên nếp gấp của tờ giấy bản.

“Ừ, đúng mười ngày nữa là đến kỳ chuyển giao thẻ bài mùa hạ của Nội Thị Tỉnh,” Tống Diệp mỉm cười, bước tới nắm lấy bàn tay nàng, ánh mắt tràn ngập sự dịu dàng của người đi trước nhìn đàn em ruột thịt. “Muội sẽ chính thức nộp lại thẻ bài gỗ, nhận giấy chứng nhận mãn hạn phục vụ công vụ, rồi bước chân ra khỏi cánh cổng hoàng cung này với tư cách một thường dân tự do, không còn chịu bất kỳ ràng buộc nào của chốn cung cấm nữa. Vũ Mai mấy hôm nay đã bắt đầu học cách đối soát sổ sách và nhập liệu xuất kho thay muội rồi, con bé tiếp thu nhanh lắm. Còn ta thì mấy hôm nay cũng phải lo thu xếp dần hòm xiểng, để chuẩn bị cùng muội ra ngoài ‘chốt đơn’ lớn mở quán trà đây!”

Tống Diệp tinh ý liếc nhìn Lục Hoài Cẩn vẫn đang đứng lặng lẽ bên hàng hiên, bèn giả vờ đưa tay lên xoa xoa bụng, nháy mắt tinh nghịch với An Trà:

“Thôi, ta phải vào trong bếp xem nồi chè đậu xanh của Xuân Cúc đã ninh nhừ chưa, rồi còn giục Vũ Mai mang sổ nhập liệu ra đối soát nốt. Để cho hai người nói chuyện một lát đấy.”

Nói dứt lời, Tống Diệp thoăn thoắt quay người bước vào trong chái bếp, tiện tay khép hờ cánh cửa liếp tre lại, trả lại không gian riêng tư cho khoảng sân nhỏ rợp bóng mát.

Khoảng sân bỗng chốc trở nên yên ắng lạ thường. Tiếng chim chuyền cành lích chích trên ngọn trúc càng làm tăng thêm vẻ thanh tịnh của buổi trưa hè.

Lục Hoài Cẩn chậm rãi cất bước. Chàng không còn giữ khoảng cách năm bước chân nguyên tắc như lúc nãy nữa mà bước lại gần chiếc bàn đá, dừng lại đối diện với An Trà. Ánh mắt chàng dừng lại trên tờ khế ước rách góc mà nàng đang cầm, rồi ngước lên, nhìn sâu vào đôi mắt trong veo, kiên định của người con gái trước mặt.

“Chúc mừng nàng,” giọng Hoài Cẩn trầm ấm, dịu dàng như một làn gió mát thổi qua buổi trưa oi ả, từng thanh âm như thấm sâu vào lòng người nghe. “Hôm nay, nàng đã làm được một việc thực sự phi thường.”

“Chàng thấy phi thường thật sao?” An Trà ngước nhìn chàng, khóe môi khẽ cong lên một nét cười duyên dáng pha chút tự trào nhẹ tênh. “Chẳng qua cũng chỉ là gom góp tiền bạc để trả cho xong một món nợ cũ mà thôi.”

“Không,” Hoài Cẩn khẽ lắc đầu, ánh mắt chàng sáng rực lên vẻ kiên định và chan chứa sự kính phục chân thành từ tận đáy lòng. “Trong chốn thâm cung đầy rẫy toan tính này, người ta thường lầm tưởng rằng muốn thoát khỏi nghịch cảnh thì phải dựa dẫm vào quyền uy của kẻ mạnh, phải dùng mưu mô chước quỷ hoặc đánh đổi phẩm giá để cầu xin sự nâng đỡ của kẻ bề trên. Nhưng nàng thì khác. Nàng đã chọn con đường gian nan, chông gai nhất: dùng sự minh bạch của sổ sách, dùng sức lao động chân chính và phẩm giá nghề nghiệp không tì vết để tự cứu lấy chính mình. Trả xong nợ không phải là sự ban ơn của quan trường. Nàng không nợ bất kỳ ai một sự bố thí nào cả.”

Trái tim An Trà khẽ run rẩy một nhịp. Từng lời nói của chàng như chạm đúng vào góc sâu kín, nhạy cảm nhất trong tâm hồn nàng – nơi từng chất chứa biết bao nỗi sợ hãi, cô đơn và mặc cảm về một thân phận bèo bọt bị nợ nần bủa vây, cả ở kiếp sống trước lẫn kiếp sống này. Chàng hiểu nàng. Chàng hiểu sâu sắc từng nguyên tắc, từng ranh giới kiêu hãnh mà nàng luôn cố công gìn giữ, mà không cần nàng phải tốn công phân trần hay giải thích nửa lời.

“Cảm ơn chàng, Hoài Cẩn,” An Trà khẽ nói, hai gò má ửng hồng dưới ánh nắng hè xuyên qua kẽ lá. “Cảm ơn chàng vì đã luôn đứng ở vị trí của một người giám sát công tâm nhất, không vì tình riêng mà phá vỡ nguyên tắc, để ngày hôm nay ta có thể ngẩng cao đầu tự hào về từng đồng tiền mình làm ra, không phải hổ thẹn với lương tâm.”

Hoài Cẩn khẽ mỉm cười, một nụ cười hiền hòa làm bừng sáng cả gương mặt thanh tú. Chàng vẫn giữ sự chừng mực đúng đắn, không vội vàng vượt qua giới hạn lễ nghi, chỉ đưa tay chỉ về phía dãy nhà công vụ râm mát:

“Mười ngày nữa nàng sẽ rời cung. Ta nghe Tống tỷ nói các nàng đã nhắm được một căn nhà nhỏ có khoảng sân trước râm mát ở phố Nam Thành?”

“Vâng!” Mắt An Trà sáng rực lên ngay lập tức khi nhắc đến kế hoạch tương lai. Mọi nỗi mệt mỏi, lo toan của quá khứ dường như tan biến sạch sành sanh, nhường chỗ cho ngọn lửa nhiệt huyết khởi nghiệp đang bùng cháy mạnh mẽ trong huyết quản. “Chỗ đó vị trí đắc địa lắm chàng ạ! Nằm ngay sát bến xe ngựa chở khách từ ngoại thành vào, lại gần chợ gốm và phường thợ mộc, lượng người lao động qua lại tấp nập suốt từ sáng sớm đến chiều muộn. Giá thuê lại rất phải chăng vì chủ nhà là người quen cũ của gia đình Tống tỷ. Chúng muội đã cùng nhau lên phương án bố trí mặt bằng, tính toán cả khu pha chế, khu bàn ghế cho khách ngồi nghỉ chân và khu rửa chén bát riêng biệt rồi!”

Nàng hào hứng xoay người, vạt áo tung nhẹ theo từng bước chân thoăn thoắt:

“Đi, muội dẫn chàng vào xem qua bản thảo sơ bộ! Tống tỷ và Vũ Mai vừa thức khuya vẽ xong tối hôm qua đấy, muội muốn nghe thử ý kiến đóng góp của một vị Giám sát quan đại nhân xem luồng di chuyển và thoát hiểm đã đạt chuẩn chưa!”

Hoài Cẩn bật cười thành tiếng, ánh mắt tràn ngập vẻ nuông chiều, thích thú xen lẫn tự hào. Chàng rảo bước đi theo sau bóng lưng nhỏ nhắn, thoăn thoắt của nàng bước vào khu nhà công vụ rợp bóng cây xanh.

Bên trong gian sinh hoạt chung ngập tràn ánh nắng ấm áp rọi qua khung cửa sổ dán giấy trắng, chiếc bàn ăn bằng gỗ thông mộc mạc đã được thu dọn sạch sẽ bát đĩa từ sớm. Tống Diệp và Vũ Mai đang chụm đầu bên góc bàn, háo hức chờ đợi với nụ cười rạng rỡ trên môi.

Một bản vẽ sơ đồ mặt bằng quán trà mới được trải ra trên bàn ăn của gian nhà công vụ.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn