Bổn Cung Không Cung Đấu, Bổn Cung Bán Trà SữaC.30 / 30
Chương 30

Bổn cung bán trà sữa, hết giờ thì về

Ánh nắng ban mai rải một dải lụa vàng óng ả lên những phiến đá xanh nhẵn thín dẫn thẳng ra vòm cổng Cửa Tây Dịch. Nguyễn An Trà dừng bước, bàn tay khẽ siết chặt chiếc tay nải bằng vải thô mộc mạc đang đeo trên vai, chậm rãi quay đầu nhìn lại bức tường thành sừng sững của hoàng cung Tĩnh Minh lần cuối cùng. Những mái ngói lưu ly cong vút chạm trổ long vân vẫn uy nghiêm trầm mặc dưới nền trời biếc, những tầng lầu son gác tía vẫn lộng lẫy và xa xăm như một bức tranh thủy mặc ngàn năm không đổi. Thế nhưng, trước khi đôi chân nàng thực sự bước qua ranh giới gờ đá hoa cương lạnh lẽo phân định giữa chốn thâm cung cấm uy và cõi hồng trần tự do rộng lớn, ký ức của buổi sáng bàn giao trang trọng, ấm áp nơi Kho Bếp Đông vẫn còn đọng lại vẹn nguyên trong lòng nàng, ngát hương và lắng đọng hệt như một ấm trà mới ủ.

Mới chỉ đầu giờ Thìn, gian phòng sổ quen thuộc của Kho Bếp Đông đã ngập tràn ánh nắng sớm xuyên qua chấn song gỗ hình chữ thọ. Không khí trong phòng thoang thoảng mùi lá sen khô treo trên xà nhà, quyện lẫn mùi thơm bùi ngậy của mẻ bánh đậu xanh nướng giòn vừa được vớt ra khỏi khuôn đất. Trên mặt bàn gỗ mun đã qua bao năm tháng sử dụng, được lau chùi cẩn thận đến mức bóng loáng không vương lấy một hạt bụi nhỏ, An Trà khẽ thở dài nhẹ nhõm, nâng niu đặt xuống từng món đồ vật gắn bó với sinh mệnh mình suốt chuỗi ngày qua.

Đó là chùm ba chiếc chìa khóa bằng đồng thau đúc dày dặn, các răng khóa đã mòn nhẵn theo năm tháng, mở kho muối, kho đậu và chiếc tủ gỗ ba tầng chuyên cất giữ sổ sách trực ca. Đặt ngay ngắn cạnh đó là chiếc thẻ bài nữ quan khắc nổi ba chữ “Nguyễn An Trà” viền gỗ trắc đã lên nước đen bóng vì mồ hôi và hơi ấm từ lòng bàn tay nàng qua bao buổi trưa lăn lộn nơi kho bãi gập ghềnh. Và cuối cùng là ba cuốn sổ nhật trình nhập xuất vật tư ba chiều mới nhất, từng trang giấy bản dày dặn được kẻ ô mực đen ngay ngắn, mép sổ đóng gáy bằng chỉ ngũ sắc tề chỉnh, không hề có một vết quăn góc hay một giọt mực lem.

Ngồi đối diện nàng bên kia chiếc bàn gỗ, Vũ Mai khẽ đưa những ngón tay run rẩy vuốt phẳng mép giấy của cuốn sổ cái. Đôi mắt tròn xoe của cô gái trẻ long lanh ngấn nước, chóp mũi ửng đỏ, nhưng trong ánh nhìn ấy đã hoàn toàn vắng bóng nét nhút nhát, sợ sệt của kẻ từng bị các thế lực cũ đè nén, ép phải ký khống từng tờ phiếu xuất kho ngày nào. Vũ Mai của hôm nay đã đĩnh đạc khoác lên mình tấm áo lam sẫm của kế toán nội đình chính ngạch, đường hoàng ngồi vào vị trí tiếp quản toàn bộ phần việc nặng nhọc mà An Trà tin cậy để lại.

“Chìa khóa của kho số hai có khấc trong hơi rít một chút, muội nhớ định kỳ tra thêm vài giọt dầu mè vào ổ khóa mỗi tuần một lần, chớ dùng dầu trẩu kẻo bám bụi rồi kẹt bi đồng,” An Trà mỉm cười dịu dàng, thanh âm trầm bổng, tỉ mỉ dặn dò từng chi tiết nhỏ nhặt như một người chị cả đang trao gửi gia tài quý giá nhất cho đứa em gái ruột thịt. “Mỗi ca trực sớm, hễ có chuyến xe lừa hay xe bò chở ngũ cốc vào cổng, việc đầu tiên muội phải làm là đối chiếu cho chuẩn thẻ cân bằng gỗ của huynh Lê Thuận bên Cửa Tây Dịch. Định mức hao hụt mùa hè do thời tiết oi nồng chỉ được phép dao động dưới mức ba phần trăm. Bất kể là ai, dù mang theo danh nghĩa của tổng quản hay cung tài nào, tuyệt đối không ai có quyền dùng khẩu lệnh suông để ép muội ghi thừa ra một hạt gạo, hay bớt đi một lạng đường. Con số nằm trên trang giấy là sinh mạng của người giữ sổ, muội hiểu rõ điều này nhất mà.”

Vũ Mai nâng niu chùm chìa khóa đồng và tấm thẻ bài mới được chuyển giao trong lòng bàn tay, bờ vai khẽ rung lên vì xúc động. Nàng nghẹn ngào gật đầu thật mạnh, từng giọt nước mắt lăn dài trên má rồi nhanh chóng được mu bàn tay gạt đi:

“An Trà tỷ tỷ yên tâm. Những quy tắc đối soát số liệu ba chiều, những phương thức cân đo độc lập mà tỷ và Tống tỷ ngày đêm uốn nắn chỉ dạy cho muội, muội đều khắc cốt ghi tâm, từng nét chữ từng con số sẽ không bao giờ dám lơ là. Muội… muội chỉ mong tỷ khi bước chân ra ngoài mở quán, non nước thênh thang, vạn sự đều hanh thông thuận buồm xuôi gió. Cung cấm này dẫu lụa là ấm êm, nhưng không giữ nổi cánh chim trời như tỷ.”

Cánh cửa gỗ của gian phòng sổ khẽ kêu lên tiếng lách cách quen thuộc. Từng bóng người thân thương nối đuôi nhau bước vào, xua tan đi khoảng lặng bịn rịn. Chẳng hề có những mâm cao cỗ đầy xa hoa nơi điện ngọc, cũng chẳng có rượu nồng rót tràn chén ngọc chén ngà, bữa tiệc trà chia tay giản dị của những người phụ nữ lao động chân chính nơi Kho Bếp Đông mộc mạc đến nao lòng. Bác Lữ quệt mồ hôi trên vầng trán nhăn nheo, khệ nệ bê vào một chiếc chõ đất bốc khói nghi ngút, bên trong là đĩa khoai mài luộc trắng ngần chấm cùng bát mật mía vàng óng ánh như hổ phách. Mấy cô bé phụ bếp nhỏ tuổi của Ty Hoán Y bẽn lẽn giấu tay sau lưng, rồi ngượng ngùng bước tới trao cho An Trà một bọc vải điều. Mở ra bên trong là một đôi hài vải gai dày dặn, mũi hài thêu những đóa hoa trà trắng muốt viền chỉ xanh lục tinh tế, từng đường kim mũi chỉ sít sao, chắc nịch để nàng tiện bề đi lại, bươn chải nơi phố xá bụi bặm.

Giữa lúc tiếng cười nói đang râm ran, cánh rèm trúc lay động, Hà Tú trong bộ xiêm y bằng lụa màu cánh chả trang nhã của điện Ngọc Chiếu chậm rãi bước vào. Nàng không còn mang nét mặt kiêu kỳ, xa cách đầy phòng bị như những ngày đầu chạm trán nơi kho lương, mà khóe môi đã điểm một nụ cười dịu dàng, thanh thoát. Tự tay nàng trân trọng đặt lên bàn một chiếc bình gốm nhỏ tráng men ngọc bích, bên trong đựng loại trà búp hảo hạng ướp nhụy sen trăm cánh do chính tay Đoan phi ban tặng.

“Đây là phần búp sen hồ Tây ngự dụng còn dư trong định mức cho phép của quý điện tháng này,” Hà Tú nhìn thẳng vào mắt An Trà, ánh mắt rạng ngời vẻ kiêu hãnh của một đồng nghiệp cùng nghề đã thấu hiểu tài năng của nhau. “Bản thân ta đã đích thân làm biên bản thanh lý và khấu trừ ngân sách công khai, minh bạch theo đúng quy chế kế toán của Hộ Bộ, dẫu quan ngự sử có lật từng tờ chứng từ cũng không thể bắt bẻ được nửa lời. Ngươi hãy đem thứ này ra ngoài phố, dùng nước giếng lành mà pha một mẻ trà sen thơm ngát thết đãi bá tánh. Nguyễn An Trà, chốn phố chợ Nam Thành buôn bán xô bồ, người ngay kẻ gian lẫn lộn, nhưng ta tin với cái đầu lạnh biết tính toán con số và một trái tim ấm áp của ngươi, ngươi thừa sức đứng vững giữa sóng gió trần ai.”

An Trà mỉm cười đón lấy chiếc bình gốm mát rượi, hai tay nâng chén nước vối ấm nóng thơm mùi lá tươi, khẽ chạm nhẹ vào chén trà của Hà Tú, của Vũ Mai, của bác Lữ và tất cả chị em phụ bếp. Tiếng sành sứ va vào nhau lanh lảnh, tiếng chúc tụng hòa cùng chút ngậm ngùi bịn rịn lan tỏa khắp gian phòng nhỏ. Nơi góc bếp sâu nhất và tối tăm nhất của hoàng cung nguy nga này, thứ sau cùng còn đọng lại giữa những người đàn bà không phải là mưu mô hãm hại hay danh vọng hão huyền, mà chính là nghĩa tình đồng cam cộng khổ, là sự tự trọng nghề nghiệp đã được trui rèn qua muôn vàn giông bão.

Và giờ đây, khi bước chân nàng hạ xuống mặt đá dày cộm dưới vòm cuốn Cửa Tây Dịch, một luồng gió lộng từ phía bờ sông Hồng phóng khoáng ùa tới, mát rượi, mang theo hương vị ngai ngái của đất bãi và sự khoáng đạt vô ngần của đất trời bao la.

Đúng tám tháng nhiệm kỳ. Không thiếu một ngày, cũng chẳng dư một khắc nào.

Tám tháng trước, nàng tỉnh dậy giữa một cơn sốt rét mê man trong gian buồng ẩm thấp, hoảng loạn đối diện với một thân xác xa lạ gầy gò, nỗi sợ hãi nợ nần kiếp trước bủa vây cùng bản khế ước ba mươi sáu quan tiền nặng như chiếc thòng lọng siết nghẹt cổ họng. Tám tháng ấy, nàng từng bao đêm thức trắng, rơi vào vòng xoáy lo âu đến kiệt cùng, từng kinh hãi sợ rằng bóng ma của những chỉ tiêu nghiệt ngã, những hạn định chết người từ cuộc đời trước sẽ lại bóp nghẹt linh hồn mình một lần nữa chốn phong kiến này. Nhưng giờ đây, tờ khế ước năm nào đã được quan thẩm khế dập triện son đỏ chót tuyên bố vô hiệu, nợ gốc lẫn lãi đơn đã được thanh toán sòng phẳng bằng từng đồng tiền công chân chính do chính đôi bàn tay và trí óc nàng làm ra. Bản cáo trạng vạch trần đường dây tham ô lũng đoạn bấy lâu của phường Vạn Phúc đã khép lại nơi công đường bằng những phán quyết công minh nhất.

Bước hẳn qua cánh cổng sắt sơn đen nặng nề vừa mở toang, An Trà dừng lại, ngực phập phồng hít một hơi thật sâu. Không khí ngoài này đượm nồng mùi phù sa sông nước, mùi khói rơm rạ nướng ngô thơm lừng bên vệ đường cái quan, và trên hết là mùi vị của sự tự do thuần khiết. Nàng không còn là một nữ quan giữ kho luôn phải nơm nớp dè chừng từng ánh mắt sủng ái hay gièm pha nơi nội đình, mà là một thường dân tự do tự tại, hoàn toàn làm chủ sinh mệnh và tương lai của chính mình.

Theo sát ngay sau bước chân nàng, tiếng bánh xe bò bằng gỗ nghiến lọc cọc gõ đều trên nền đường đất nện. Chiếc xe chở đầy những chum vại sành tráng men da lươn, men xám tro và những hòm xiêm y mộc mạc của Tống Diệp, Xuân Cúc và Thụy Miên đang từ từ lăn bánh, hướng thẳng về phía khu dân cư buôn bán sầm uất ven sông của phố Nam Thành.

Trà quán An Hòa nằm nép mình yên bình ở một khúc quanh râm mát rợp bóng cây bàng và liễu rủ, cách bến sông bốc dỡ hàng hóa chỉ chừng trăm bước chân, ngay sát cạnh khu chợ thủ công lúc nào cũng tấp nập tiếng búa đập đe và tiếng dệt cửi. Tấm biển hiệu bằng gỗ mít già vàng óng, dày dặn, khắc nổi ba chữ lớn “Trà Quán An Hòa” được quét một lớp dầu trẩu bóng bẩy, lấp lánh phản chiếu ánh nắng trưa hè.

Quán được dựng theo kết cấu nhà gỗ ba gian thông thoáng, cột kèo bằng gỗ xoan ngâm chắc chắn. Gian phía trước kê bốn dãy bàn tre dài đã được mài nhẵn thín, bóng loáng màu mật ong, đi kèm những chiếc ghế đẩu tre mộc mạc xếp tề chỉnh. Gian phía sau là khu vực bếp nấu thoáng đãng, có cửa sổ đón gió sông và một ống khói bằng đất nung vươn cao vượt khỏi mái ngói âm dương để dẫn khói củi lên trời, không làm ám mùi gian trước. Bên hông quán là quầy pha chế đóng bằng gỗ thông ghép mộng, nơi những chiếc chum gốm ủ nhiệt dày dặn do đích thân thợ gốm Trịnh Mộc làm riêng được đặt ngay ngắn thành một hàng thẳng tắp.

Ngay tại thân cột gỗ lim vững chãi trước quầy thanh toán, một tấm bảng gỗ nhỏ treo ngang tầm mắt, niêm yết công khai ba quy tắc vận hành bằng nét chữ chân phương, dứt khoát của Tống Diệp: *“Một chén trà sữa củ nhu: Ba đồng tiền kẽm sòng phẳng.* *Thu đổi vỏ bình hoa trà nguyên vẹn: Trả lại năm đồng tiền cọc.* *Giờ mở quán: Đầu giờ Thìn. Giờ đóng quán: Đúng giờ Thân hạ rèm dọn dẹp, tuyệt đối không bán thêm.”*

Ngày khai trương đầu tiên của quán, tiếng pháo giấy nổ lách tách giòn tan rải những vụn hồng điều khắp bậc thềm đất, hòa quyện với mùi trà sao củi thơm nồng nàn xông thẳng ra ngoài ngõ lớn, quyến rũ khứu giác của cả một góc phố lao động. Khách hàng tìm đến quán chẳng phải những tài tử giai nhân áo gấm lụa là, cũng không có bóng dáng kiệu hoa lọng tía của giới quyền quý, mà là những con người lao động lam lũ, chất phác nhất của đất kinh thành. Đó là những người thợ rèn bắp tay cuồn cuộn gân guốc, mồ hôi nhễ nhại ướt đẫm manh áo nâu; bác phu xe gầy guộc vừa dỡ xong chuyến hàng nặng nhọc dưới thuyền buồm; những bà, những chị tiểu thương gánh rau quả từ ngoại ô vào bán; và đám trẻ con xóm thợ gốm chân đất lấm lem.

“Chao ôi, cái bát nước trà này sao mà nó lạ miệng và đã khát thế này bà chủ ơi!” Một bác thợ mộc ngực áo phanh trần vỗ đùi đánh đét sau khi ực liền một hơi cạn nửa bát sành men da lươn mát lạnh. Bác khoan khoái dùng mu bàn tay quẹt ngang mồ hôi trán, tấm tắc khen: “Vừa béo ngậy mùi sữa dê bùi bùi, lại thơm lừng cái vị chát ngọt của búp trà đồi, đặc biệt là mấy cái hạt củ nhu này, nhai vào nó dẻo quánh, sần sật sướng cả chân răng!”

“Uống một bát thế này mát ngọt thấu tận ruột gan mà tính ra chỉ có ba đồng tiền kẽm, rẻ hơn cả bát chè đậu đen nấu đường ngoài chợ lớn!” Một bà thím gánh cá tươi vừa đặt đòn gánh xuống đất, xởi lởi móc trong dải yếm ra tám đồng tiền kẽm đặt cạch lên mặt bàn gỗ: “Cô nương cho tôi mua thêm hai bình sứ hoa trà đậy nút lá chuối mang về cho hai đứa nhỏ ở nhà nhé, tính luôn cả tiền cọc vỏ bình đây!”

Xuân Cúc và Thụy Miên đứng sau quầy thoăn thoắt đôi tay. Một người dùng muôi đồng vớt từng muỗng củ nhu ngào đường óng ánh cho vào đáy bát, người kia nhanh nhẹn mở nắp chum gốm múc từng gáo trà sữa sóng sánh rót vào. Tiếng lách cách của bát sành chén gốm va chạm vào nhau giòn giã như một khúc hòa tấu vui tươi giữa trưa hè oi ả. Từng người một việc nhịp nhàng, chuẩn xác. Dòng người mua trà ra vào tấp nập nhưng tuyệt nhiên không hề có cảnh chen lấn, xô đẩy nhờ một lối đi một chiều được phân luồng ngăn nắp bằng hàng rào tre thấp bao quanh hiên quán—hệt như nếp nhà trật tự và kỷ cương mà họ đã từng cùng nhau xây dựng nơi Hiên Trà Sau Bếp năm nào.

Dẫu vậy, việc kinh doanh thực tế nơi phố chợ đời thường chưa bao giờ là một bức tranh màu hồng êm ả chỉ toàn những nụ cười, và càng không phải là một trò chơi viển vông, kỳ ảo nào cả. Hiện thực của việc tự lập, tự mình bươn chải luôn đòi hỏi sự cọ xát chân thực đến từng giọt mồ hôi rơi trên trán và từng que củi nhóm trong lò.

Ở gian bếp sau, mẻ trà sữa thứ ba nấu từ sữa dê Thanh Khê hôm nay gặp phải một vấn đề phát sinh: lô trà khô mới nhập từ đồi chè sau đợt mưa rào có lượng búp non ngậm nhiều nước, khiến vị trà khi sắc lên có độ chát gắt hơn hẳn thường lệ. An Trà cầm chiếc gáo gỗ khuấy nhẹ lớp váng sữa đang lăn tăn sôi sủi bọt trên chiếc nồi đồng lớn, khẽ nghiêng đầu nếm thử một thìa con rồi thoáng chau mày lại.

“Vị trà mẻ này hơi gắt ở cuống họng. Nếu giữ nguyên tỷ lệ sữa và nước đường như công thức cũ, khách phu phen lao động uống vào lúc bụng đói cồn cào sẽ rất dễ bị say trà hoặc cồn ruột,” nàng lẩm bẩm tính toán nhanh trong đầu.

“Thế thì gia giảm thêm mật mía chứ còn sao nữa?” Tống Diệp đứng bên cạnh, một tay cầm chiếc kẹp sắt gắp than đỏ, một tay quạt lò phì phò, cất giọng càu nhàu nhắc nhở theo thói quen tính toán chi li không bao giờ thay đổi: “Nhưng này cô nương của tôi ơi, thêm nửa muôi mật mía xứ Đoài là giá thành nguyên liệu của mẻ này lập tức đội lên sáu đồng tiền kẽm đấy nhé! Lại còn than củi nữa, hôm nay trời nồm ẩm ướt, củi nghiến cháy chậm làm hao hụt thêm của chúng ta tròn nửa sọt rồi! Sáng nay bên Hộ Bộ vừa mới dán cáo thị thông báo thuế môn bài bến bãi Nam Thành tăng nhẹ hai phân. Chúng ta nhất định phải giữ đúng tỷ lệ quỹ dự phòng hai phần mười trên tổng doanh thu, em đừng có mà mềm lòng thấy khách khen rồi khuyến mãi tùy tiện, đến cuối tháng kết sổ lại thâm hụt vào tiền công chia cho chị em thì biết tay tôi!”

Lắng nghe Tống Diệp cằn nhằn cẩn thận từng đồng từng cắc, An Trà không những không hề bực bội mà trái lại bờ môi nàng còn nở một nụ cười rạng rỡ. Nàng thuần thục dùng muôi đong chính xác một muôi rưỡi nước mía cô đặc khuấy đều vào lòng nồi đồng, lớp mật sẫm màu lập tức hòa tan, làm dịu hẳn vị đắng chát của búp trà rừng, tỏa ra một mùi hương ngọt lành, đầm ấm.

“Tỷ cứ yên tâm, em đã cân đo đối soát kỹ rồi,” An Trà cười đáp, đôi mắt lấp lánh niềm vui. “Mẻ sữa dê này hàm lượng béo đặc hơn mẻ sáng một chút, nên ta hoàn toàn có thể bù trừ vào phần định mức hao hụt tự nhiên cho phép của nguyên liệu mà không làm thay đổi thể tích bán ra. Tuyệt đối không chạm đến một đồng nào trong quỹ dự phòng của tỷ đâu!”

Tống Diệp lườm yêu nàng một cái, rồi chính nàng cũng không nhịn được mà bật cười thành tiếng, tay cầm chiếc kẹp sắt quẳng thêm một thanh củi gõ khô giòn vào đáy lò. Cả gian bếp ngập tràn hơi ấm nồng nàn của khói củi và hương sữa thơm ngát. Phải rồi, dù manh áo vải có ướt đẫm mồ hôi sau lưng, dù gót chân có mỏi nhừ sau hàng giờ đứng quầy, dù đôi bàn tay có vướng chút muội than hay thỉnh thoảng lại phải đau đầu tính toán giá than củi trồi sụt theo con nước mùa lũ, nhưng cảm giác được tự tay làm chủ toàn bộ sức lao động của chính mình, được cầm trên tay những đồng tiền công chân chính không một tì vết gian dối, không phải nơm nớp lo sợ ai đó gài bẫy gièm pha hay tước đoạt thành quả—đó thực sự là một niềm hạnh phúc chữa lành không gì trên đời có thể đánh đổi được. Khởi nghiệp bằng sự minh bạch và đôi bàn tay lao động, không vướng nợ nần, thanh thản và tự do giữa đất trời.

Khi bóng mặt trời ngả dần về phía bờ tây, ráng chiều dát một màu đỏ cam rực rỡ và ấm áp lên khắp mặt nước lăn tăn sóng của bến Liễu, dòng người lao động tan ca rải rác ghé quán cũng dần thưa thớt. Những chiếc ghế đẩu tre ngoài hiên được Thụy Miên xếp gọn gàng vào góc tường, các chum gốm ủ trà lớn đều đã được múc sạch đến giọt cuối cùng, chỉ còn lại lớp cặn trà phủ dưới đáy được tráng rửa sạch sẽ.

Từ phía đầu con đường rải sỏi dẫn ra bến sông, một bóng người cao ráo, đĩnh đạc trong bộ thường phục bằng vải thô màu lam sẫm đang chầm chậm cất bước đi tới. Lục Hoài Cẩn vừa hoàn thành ca trực tại Ty Khảo Sổ. Không khoác trên mình phẩm phục quan lại lộng lẫy, không có lính thị vệ gươm giáo tiền hô hậu ủng, và cũng rũ bỏ hoàn toàn vẻ mặt nghiêm nghị, sắc lạnh như dao khắc nơi công đường đối chất số liệu, chàng lúc này chỉ là một thanh niên kinh thành điềm đạm và nho nhã, vạt áo dài còn vương vấn mùi mực tàu và mùi giấy bản quen thuộc.

Chàng không hề bước thẳng vào quán với tư thế của một vị khách đặc biệt, mà lặng lẽ dừng chân ở cuối hàng người mua trà muộn còn sót lại hai ba bác thợ phu, kiên nhẫn đứng chờ đến lượt mình như tất cả mọi người. Khi bác phu xe phía trước đã cầm bình nước rời đi, Hoài Cẩn mới tiến lại gần quầy, cẩn thận đặt xuống mặt bàn gỗ ba đồng tiền kẽm mới tinh, sạch bong không dính chút bụi bẩn. Giọng chàng trầm ấm vang lên giữa buổi chiều tà:

“Làm phiền chưởng quầy cho một chén trà sữa, không cần hạt dẻo.”

An Trà đang cúi đầu dùng khăn vải trắng lau sạch mặt bàn pha chế, nghe thấy âm thanh trầm ấm quen thuộc ấy liền giật mình ngẩng lên. Đôi mắt nàng lập tức cong lại thành hai vầng trăng khuyết, nụ cười rạng ngời bừng nở trên gương mặt thanh tú lấm tấm vài giọt mồ hôi mịn:

“Vị khách quan này đến muộn quá rồi, trà sữa trong các chum lớn đã bán hết sạch từ nửa khắc trước. Bây giờ chỉ còn lại một bát nhỏ ta nấu riêng bằng búp trà sen ngự dụng mà Hà Tú gửi tặng hồi sáng thôi. Ngài có chê nước trà thanh đạm không?”

“Được uống trà do chính tay nàng nấu thì dù chỉ là nước sôi tráng ấm ta cũng không chê bao giờ,” Hoài Cẩn khẽ mỉm cười, ánh mắt chàng nhìn nàng ngập tràn sự dịu dàng, ấm áp và chở che vô bờ bến. Ở chàng luôn toát ra sự đàng hoàng, mực thước, một sự kiên nhẫn hiếm có giữa cõi đời đầy rẫy toan tính, trước sau như một luôn nâng niu và tôn trọng nàng từ những điều bình dị nhất.

Chàng tự tay đón lấy bát gốm tráng men xanh đựng thứ trà sen thơm ngát, bước theo An Trà ra chiếc bàn tre nhỏ đặt dưới giàn hoa thiên lý ở góc hiên bên hông quán. Những chùm hoa thiên lý li ti xanh biếc tỏa hương thơm dìu dịu trong gió chiều, từng đợt gió sông mát rượi thổi qua xua tan đi cái ngột ngạt, bức bối còn sót lại của ngày hè đổ lửa. Phía bên trong gian nhà chính, Tống Diệp và Xuân Cúc đang tíu tít ngồi chụm đầu bên chiếc tráp gỗ chung có hai ổ khóa đồng, chăm chú kiểm đếm từng xâu tiền kẽm vừa thu về, tiếng đồng xu va chạm nhau leng keng giòn tan như một khúc nhạc vui tai.

Hoài Cẩn nhấp một ngụm trà sen ấm, khẽ nhắm mắt cảm nhận vị chát thanh tao nơi đầu lưỡi và hậu vị ngọt sâu lắng đọng lại nơi cổ họng. Chàng mở mắt, đưa ánh nhìn chăm chú ngắm nhìn An Trà. Chàng nhìn thấy đôi bàn tay mảnh dẻo của nàng nay đã điểm thêm vài vết chai nhỏ nơi ngón trỏ vì những ngày dài cầm dao thái củ nhu và khiêng nhấc chum vại, nhưng đôi mắt nàng thì sáng trong vắt, tĩnh lặng, tự do và ngập tràn nhựa sống của một người hoàn toàn làm chủ số phận mình.

“Công việc kiểm toán bên Ty Khảo Sổ hôm nay có bận rộn lắm không chàng?” An Trà khẽ tựa cằm lên mu bàn tay, nghiêng đầu mỉm cười hỏi.

“Vẫn là những con số và những trang sổ sách đối chiếu thường nhật thôi,” Hoài Cẩn đặt bát trà xuống mặt bàn tre, giọng nói chậm rãi, thong thả kể cho nàng nghe. “Mô hình trạm cân đối chứng độc lập tại Cửa Tây Dịch vận hành rất ổn định. Hôm nay đã có ba phường buôn nhỏ lẻ của thường dân ngoài chợ Nam Thành mạnh dạn nộp hồ sơ xin cung ứng gạo và củi khô cho nội đình theo gói thầu mở mới, không còn cảnh một vài mối lái quen thuộc bao thầu lũng đoạn như trước nữa. Lê Thuận ghi chép sổ cổng rất nghiêm cẩn, đối soát đâu ra đấy, không sai lệch dù chỉ nửa cân củi.”

Chàng ngừng lại một thoáng, ánh mắt chuyển từ mặt sông lấp lánh ánh hoàng hôn sang gương mặt người con gái đối diện. Dưới ánh chiều tà dịu ngọt, vài sợi tóc mai buông lơi bên má An Trà khẽ đung đưa theo từng ngọn gió sông. Trái tim của người thanh niên làm nghề kiểm toán vốn quen với sự chính xác tuyệt đối, quen với những phép tính khô khốc và lạnh lùng bỗng chốc đập chậm lại một nhịp đầy xao xuyến.

Hoài Cẩn khẽ đưa bàn tay thon dài, vững chãi của mình đặt lên mặt bàn gỗ thông thô mộc, dừng lại ở vị trí cách bàn tay nàng chừng nửa đốt ngón tay. Chàng không hề có một cử chỉ nào đường đột hay vội vã lấn lướt, mà dừng lại ở ranh giới của sự tôn trọng cao nhất, ánh mắt chân thành và tha thiết nhìn sâu vào mắt nàng, khẽ thì thầm bằng tất cả sự trân trọng từ đáy lòng:

“An Trà… ta có thể nắm tay nàng được không?”

Đó là một câu hỏi giản dị, mộc mạc và có phần vụng về, nhưng lại chứa đựng sự tôn trọng và đồng thuận tuyệt đối. Ở con người chàng, không hề có sự áp đặt của quyền uy kẻ cả, không có sự ban ơn trịch thượng của người mang thân phận quan trường, mà chỉ có một tình yêu chân thành, bình đẳng và chậm rãi của hai tâm hồn đồng điệu đã cùng nhau đi qua những tháng ngày gian khó, thấu hiểu và nâng niu từng vết thương sâu kín trong lòng nhau.

An Trà nhìn bàn tay chàng đang nằm yên trên mặt bàn gỗ, rồi ngước lên nhìn thẳng vào đôi mắt đen láy thăm thẳm ngập tràn chân tình ấy. Trong lòng nàng, bóng ma sợ hãi của một kẻ từng mang gánh nặng nợ nần kiếp trước đã tan biến tự bao giờ, sự e dè phòng thủ quen thuộc cũng hoàn toàn sụp đổ. Nàng mỉm cười rạng rỡ, chủ động vươn bàn tay nhỏ nhắn của mình ra, lồng những ngón tay mềm mại vào từng kẽ tay chàng, siết chặt lấy bàn tay Hoài Cẩn.

Hơi ấm từ lòng bàn tay chàng lập tức truyền qua làn da nàng, vững chãi, ấm áp và bình yên như một bến đỗ an toàn sau chuỗi ngày dài lênh đênh giữa giông bão. Cả hai cứ thế lặng yên ngồi bên nhau dưới giàn hoa thiên lý ngát hương, cùng nhau ngắm nhìn dòng nước sông Hồng êm đềm vỗ sóng vào những mỏm đá hoa cương nơi bến đò, lắng nghe tiếng cười nói rộn rã của xóm thợ lúc phố xá bắt đầu lên đèn. Tình yêu đến với họ không ồn ào hay vội vã, mà đằm sâu, vững bền, được bồi đắp từ sự thấu hiểu, tự nguyện và trọn vẹn yêu thương.

Bên trong gian quán, tiếng gọi lanh lảnh và đầy hào sảng của Tống Diệp cất lên:

“An Trà ơi! Đã đối soát xong xuôi toàn bộ sổ sách thu chi của ngày hôm nay rồi này! Tổng cộng bán sạch sáu mươi chén tại chỗ và ba mươi bình mang về, trừ hết chi phí củi lửa, sữa dê và đường mật, chúng ta lãi ròng được hẳn bốn trăm tám mươi đồng tiền kẽm! Mau vào đây cùng khóa chiếc tráp tiền chung rồi tính chuyện nấu cơm tối nào!”

An Trà khẽ buông bàn tay ấm áp của Hoài Cẩn, quay đầu nhìn vào gian quán thân thương, nơi những người bạn đồng cam cộng khổ đang chờ đợi mình. Một cảm giác đủ đầy, tròn vẹn và bình yên chưa từng có trào dâng ngập tràn trong lồng ngực. Nàng đứng dậy, khoan thai bước ra trước hiên nhà, cẩn thận tháo chiếc dây gai buộc tấm biển gỗ nhỏ treo trên cánh cửa tre, xoay mặt chữ đỏ thắm quay ra phía ngoài con phố đang dần chìm vào hoàng hôn.

An Trà treo biển nghỉ bán trước cửa quán An Hòa, quay vào mỉm cười với mọi người:

“Hết giờ làm việc rồi, chúng ta dọn quán ăn cơm thôi!”

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn