Bảy Ngày Trước Khi Mặt Trăng RơiC.27 / 30
Chương 27

Chốt cuối cùng không dành cho một anh hùng

Khói làm mát bốc lên khét lẹt che mờ bảng điều khiển chốt động cơ, tia chất lỏng ăn mòn phun thành dòng từ vết nứt trên đường ống số 4.

Những giọt kim loại kiềm nóng đỏ vừa chạm xuống mặt sàn lưới thép đã phát ra những tiếng xèo xèo man dại, sủi bọt trắng xóa rồi gặm nham nhở từng mảng hợp kim chịu lực. Nhiệt độ xung quanh bệ trượt tăng vọt theo từng nhịp thở, ép thẳng vào lớp giáp bảo hộ dày cộp. Không khí trong buồng động cơ dự phòng số Không đặc quánh mùi lưu huỳnh và hơi muối kim loại, cay xè đến mức dẫu có màng lọc của mặt nạ dưỡng khí, sống mũi An vẫn bỏng rát như bị châm kim. Cứ mỗi nhịp thở rít qua van điều áp, màng phổi anh lại thắt lại; lồng ngực như bị một khối quặng vô hình đè nặng, vừa ngột ngạt vì khói độc, vừa căng cứng bởi áp lực gia tốc đang tăng dần khi toàn bộ cấu trúc trạm Bạch Luân rung bần bật dưới lực hút của tầng khí quyển hành tinh Nham.

Dưới ánh đèn pin công vụ gắn trên giáp vai quét qua màn khói xám đục, một đường hàn vảy cá xiêu vẹo, gồ ghề đập thẳng vào mắt anh. Mối nối thô thiển ấy không có lớp phủ thụ động hóa bề mặt, từng lớp kim loại xếp đè lên nhau như vảy rắn bị cháy xém—dấu vết cẩu thả không thể lẫn vào đâu được. Từng gợn xỉ hàn cháy dở bám chặt quanh chu vi ống, để lộ những rãnh rỗ khí li ti như tổ mọt, nơi dòng lưu chất làm mát cao áp đang rỉ rả khoét sâu thêm từng giây một.

Chính là nó. Ba năm trước, tại xưởng ngầm Hạ Lam, dưới áp lực chỉ tiêu tiến độ và những bức điện thúc ép dồn dập từ Vũ Thành, An đã tự tay đặt bút ký vào biên bản nghiệm thu tạm thời cho tuyến ống làm mát số 4 này cùng lô đệm polymer rẻ tiền PR-904-HL. Khi đó, anh tự nhủ một chữ ký thỏa hiệp sẽ cứu được công việc của cả kíp thợ, rằng một đoạn ống dự phòng cho cỗ máy phụ có lẽ chẳng bao giờ phải dùng đến. Trong gian hầm ngột ngạt của xưởng ngầm năm ấy, tiếng máy dập ầm ầm và những gương mặt hốc hác vì thiếu ăn của anh em thợ tiện đã biến sự xao lãng kỹ thuật thành một lựa chọn sinh tồn cay đắng. Nhưng giờ đây, quá khứ không biến mất; nó nằm trơ khấc ngay trước mắt anh, biến thành một vòi rồng lửa ăn mòn đe dọa nuốt chửng cơ hội sống sót duy nhất của cả hành tinh.

An không chớp mắt, cũng không để nỗi hổ thẹn làm tê liệt cơ bắp. Cảm giác hoảng loạn hay ý muốn chối bỏ—những thứ từng gặm nhấm anh suốt chặng đường bay—đã hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại sự tỉnh táo lạnh lùng của một người thợ đối diện với sai hỏng của chính mình. Sự ăn năn vô ích không vá được thép; chỉ có cờ-lê, lực siết và kỷ luật sắt của nghề mỏ mới có thể ngăn chặn thảm họa.

— Nhi, lùi lại hai bước, giữ chắc máy đo! Yến, chuẩn bị van chặn phân đoạn B-12! — An quát lớn qua kênh đàm thoại nội bộ, giọng khàn đặc nhưng rành rọt át cả tiếng gầm rú của dòng lưu chất xé rách đường ống.

Bàn tay phải của An bị bỏng điện độ ba, các ngón tay co quắp bất động bên trong lớp nẹp carbon và băng vô trùng dày cộp, mất hoàn toàn lực bóp. Từng thớ thịt cháy sém bên trong lớp gạc y tế dội lên những cơn đau giật buốt tận óc mỗi khi anh cử động khớp vai, biến bàn tay thuận thành một khối thịt chết vô dụng treo bên sườn. Không thể cầm kìm hay vặn ốc bằng tay thuận, An liền dùng tay trái quàng sợi xích thép tôi cứng của chiếc cờ-lê xích hạng nặng vòng qua cổ ống dẫn cao áp. Xích kim loại cọ sát vào lớp vỏ ống phát ra tiếng rít ken két rợn người giữa màn sương hóa chất mịt mù. Anh ghìm chặt đầu ngàm vào thân van chặn phân đoạn, tì toàn bộ lồng ngực bọc giáp cùng cẳng tay trái ghì xiết.

Thép nghiến vào thép ken két. Dưới sức nặng toàn thân của An, xích siết chặt lấy đường ống ngập dầu nóng. Đế ủng sắt của anh miết chặt trên mặt sàn thép trơn nhẫy dung dịch ăn mòn, hai đầu gối chùng xuống tạo thành một điểm tựa ba chân vững chắc. Anh gồng cơ bụng, dồn toàn bộ trọng lượng nửa thân trên vào tay đòn của chiếc cờ-lê xích, nghiến răng dồn một lực dứt khoát đẩy ngược chiều kim đồng hồ. Cần van rỉ sét phát ra một tiếng *khục* khô khốc rồi nhích dần. Tiếng ren kim loại nghiến vụn lớp vôi hóa khô khốc bên trong cổ van dội thẳng qua lớp giáp ngực anh như một luồng chấn động. Dòng lưu chất ăn mòn đang phun phì phì lập tức bị bóp nghẹt, tia lửa phụt yếu dần rồi tắt hẳn, chỉ còn lại những giọt dung dịch sền sệt nhỏ tong tòng xuống rãnh thoát nước sự cố. Vùng rò rỉ trên tuyến số 4 đã bị cô lập hoàn toàn trước khi ngọn lửa hóa chất kịp bén vào cụm dây điều khiển trung tâm.

— Phân đoạn B-12 đã ngắt! Áp suất đường chính đang dội ngược! — An thở dốc, mồ hôi bên trong mũ bảo hiểm chảy ròng ròng xuống khóe mắt cay xè, làm nhòe đi tầm nhìn sau lớp kính cường lực.

Từ buồng lái tàu Chim Vá neo ngoài cổng trạm, tín hiệu của Đỗ Linh bắt vào rành rọt, hòa cùng tiếng thở rít khàn đặc vì bệnh bụi phổi của thợ cả Bùi Sâm từ đài liên lạc Hầm Hạt Giống dưới mặt đất:

— An, hồ sơ nghiệm thu thật của cậu gửi về từ trạm Ba đã cho bọn tôi thông số chính xác! — Tiếng Linh vang lên dứt khoát trên nền tạp âm tĩnh điện, tiếng máy tính định vị trên tàu Chim Vá kêu tích tắc dồn dập sau lưng cô. — Áp suất tuyến 4 trước khi vỡ đạt ba mươi mốt bar. Nếu ngắt hẳn nhánh này, buồng đốt mồi sẽ quá nhiệt chỉ sau một trăm hai mươi giây!

— Đúng đấy, thằng nhóc! — Giọng chú Sâm chen vào, ngắt quãng bởi một cơn ho ngắn nhưng đanh thép mang theo tiếng rít sâu trong phế quản của một đời thợ mỏ kỳ cựu. — Đừng hoảng! Nhìn sang mạn phải buồng máy, có cụm cút nối ba ngả dự phòng D-08 mà hồi đó xưởng Hai lắp sẵn theo quy chuẩn an toàn mỏ. Mở tập hồ sơ thật ra, trang mười bốn, có đường hồi lưu chất làm mát phụ! Phải nối tắt ngay!

Nhờ việc An đã công khai toàn bộ tập hồ sơ lưu trữ chưa qua chỉnh sửa từ trước khi tiếp cận Bạch Luân, Linh và Sâm đã kịp tính toán sẵn một sơ đồ mạch vòng thay thế. Trên màn hình máy trắc đạc cầm tay của Nhi, sơ đồ 3D sáng rực lên với các chỉ số lưu lượng và điểm đấu nối được đánh dấu màu vàng cam rõ ràng. Từng thông số kỹ thuật về lưu lượng dung dịch kiềm, giới hạn chịu áp của vỏ ống mềm và nhiệt độ sôi tới hạn đều hiện ra rành mạch, không còn bị che giấu sau những con số gian lận của các biên bản nghiệm thu khống năm nào.

— Yến, lấy cuộn ống mềm chịu áp trên vách ngăn số 2! — An chỉ cùi chỏ trái về phía góc buồng máy. — Chuyển dòng lưu chất sang mạch phụ dự phòng ngay lập tức!

Nguyễn Yến gật đầu dứt khoát. Người nữ kỹ sư ca trực Bạch Luân thoăn thoắt kéo cuộn ống mềm bọc lưới thép bện aramid nặng trĩu. Lớp vỏ bện kim loại lạnh ngắt kêu lách cách trên mặt sàn khi cô kéo lê nó qua những vũng hóa chất đang bốc khói. Không một động tác thừa, cô lao tới họng van ba ngả D-08, vặn mở nắp bịt bằng đồng. Khí trơ xì ra một luồng ngắn buốt lạnh làm đóng một lớp sương trắng mỏng quanh miệng ren.

— Chú An, giữ đầu nối giúp cháu! — Yến hét lên, hai tay cô đang giữ chặt thân ống nặng trịch có đường kính bằng bắp tay người lớn.

An áp sát thân mình vào bệ máy, dùng cẳng tay trái bịt chặt thân ống mềm, ghìm chặt đầu ren côn vào miệng họng van bằng sức nặng cơ thể, tạo điểm tựa vững chắc để bù đắp cho bàn tay phải đã phế tật. Cơn đau từ vết bỏng điện dội lên như bị bàn ủi nung đỏ dí vào da thịt, nhưng anh cắn chặt môi đến bật máu, dùng cả xương sườn tì chặt lên co nối bằng đồng thau. Yến cầm cờ-lê móc, dồn toàn bộ sức mạnh của hai cánh tay siết mạnh ecu nối. Từng vòng ren xoay tròn, ép chặt vòng đệm làm kín bằng đồng lá, phát ra tiếng rít ken két đanh gọn của kim loại đạt độ siết tiêu chuẩn.

— Đã bắt ren kín! — Yến siết thêm một phần tư vòng định mức rồi giật mở van lách dòng.

Lưu chất làm mát lập tức đổi hướng, chảy rần rật bên trong lớp vỏ ống mềm chịu áp, vòng qua phân đoạn vỡ rồi lao thẳng vào mạch tản nhiệt phụ dự phòng. Ống mềm giật nảy lên dưới áp lực ba mươi mốt bar rồi căng cứng như một khúc gỗ lim. Tiếng kim loại rít lên rùng rợn vì giãn nở nhiệt dịu dần khi dòng kiềm lạnh tràn vào các rãnh tản nhiệt xung quanh vỏ buồng đốt mồi. Trên bảng đồng hồ đo nhiệt buồng đốt mồi, con số điện tử đang leo thang ở mức tám trăm chín mươi độ C khựng lại, rồi từ từ tụt xuống, neo vững chắc ở ngưỡng bảy trăm bốn mươi độ—mức an toàn tuyệt đối cho phép khởi động buồng đốt.

— Mạch phụ thông suốt! — Linh báo tin qua radio, giọng thở phào nhưng không giấu được vẻ căng thẳng tột độ. — Đồng hồ đếm ngược rơi quỹ đạo chỉ còn mười bốn phút. Các cậu phải giải phóng cụm ba chốt an toàn cơ học trước khi Bạch Luân chúi mũi qua mười lăm độ!

An quay lại nhìn bệ máy chính. Khối động cơ phản lực hạt nhân phụ trợ sừng sững như một ngọn tháp đen ngòm, bị khóa chặt vào khung thân trạm bằng ba chốt an toàn cơ học khổng lồ. Đó là ba trụ thép vonfram-titan đường kính hai mươi phân, được thiết kế để giữ cỗ máy hàng ngàn tấn không xê dịch khi trạm mẹ vận hành bình thường. Giờ đây, để buồng đốt có thể đẩy vòi phun ra ngoài vỏ trạm và tiếp nhận xung năng lượng laser từ Sáu Ngọn Đèn, cả ba chốt bắt buộc phải được rút lẫy bung ngàm hoàn toàn. Nếu buồng đốt không thể trượt tự do trên ray dẫn hướng, xung lực đẩy khổng lồ sẽ nghiền nát cấu trúc bên trong thay vì đẩy trạm thoát khỏi quỹ đạo tử thần.

— Bắt đầu từ chốt số 1 và số 2! — An ra lệnh, bước nhanh tới bệ đỡ mạn trái.

Cơ cấu nhả chốt cơ học gồm hai đòn bẩy bằng thép chữ I dài hơn một mét, kết nối trực tiếp với van xả áp thủy lực cao tần. Bình thường, chỉ cần một thao tác bấm nút điện tử là piston tự động kéo lẫy; nhưng toàn bộ rơ-le chấp hành đã cháy rụi sau bão bức xạ, chỉ còn lại lực cơ học thuần túy của con người. Những dây cáp điện tử xung quanh cháy đen thui, rủ xuống như những sợi dây leo khô héo sau đám cháy rừng, bốc mùi nhựa khét lẹt hòa vào màn sương kiềm.

Bàn tay phải băng kín của An buông thõng, vô lực. Cơn đau nhức buốt từ vết bỏng sâu độ ba dội lên từng cơn giật thấu tận màng tang, nhưng ánh mắt anh đanh lại như thép tôi. Không thể dùng bàn tay để nắm lấy tay cầm đòn bẩy, An luồn cả cẳng tay trái qua thân thép chữ I, khóa chặt khuỷu tay lại thành một gọng kìm xương thịt. Anh đạp mũi ủng sắt vào mép bệ máy, ghìm chặt trọng tâm cơ thể, biến cả phần thân trên thành một đối trọng cơ học.

— Yến, cầm đòn bẩy số 2! Đếm một hai ba, giật dứt khoát cùng lúc để tránh vặn xoắn ngàm đôi! — An gằn giọng, hơi thở nóng hổi phả mờ mặt trong kính mũ bảo hộ.

— Đã vào vị trí! — Yến nắm chặt hai tay vào cán thép số 2, hạ thấp trọng tâm, hai chân bọc giáp dạng rộng bám chắc vào sàn thao tác. Gân cổ cô nổi cộm dưới lớp vải cổ áo bảo hộ, ánh mắt tập trung cao độ vào chốt ngàm mạn phải.

— Một... hai... BA!

An hét lên một tiếng trầm đục, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể ngả mạnh về phía sau, cẳng tay trái siết cứng kéo ghì thân đòn bẩy. Cơ lưng và cơ đùi anh căng cứng như dây cung chịu tải tối đa. Cùng lúc đó, Yến nghiến răng gập người, cơ bắp căng phồng dưới lớp vải chịu nhiệt, giật phắt tay đòn số 2 với tất cả quán tính của mình.

*RẮC!*

Một tiếng nổ kim loại đanh gọn vang lên. Chốt an toàn cơ học số 1 và số 2 đồng loạt giật tung khỏi ngàm giữ. Tiếng rít xả áp thủy lực chói tai xé toạc không gian buồng máy, dầu áp lực cao phun ra thành đám sương mù trắng xóa qua các lỗ thoát hiểm. Khối kim loại nặng trịch của hai chấu hãm thụt lùi vào hốc vách ngăn, giải phóng hoàn toàn mạn trái và mạn phải của khối động cơ hạt nhân. Thân máy khổng lồ khẽ rùng mình, tách ra khỏi khung định vị với một khoảng hở hai mươi milimét hoàn hảo, để lộ rãnh trượt mạ crom sáng bóng dưới ánh đèn công tác.

— Hai chốt đầu đã bung! — Yến thở dốc, hai tay run lên bần bật vì phản lực cơ học quá lớn, nhưng mắt cô ánh lên niềm phấn khích tột cùng. Mồ hôi làm bết những lọn tóc ngắn trên trán cô bên dưới lớp đệm mũ bảo hiểm.

Chỉ còn chốt số 3. Đó là chốt trung tâm, then chốt khóa sống trượt chính diện của buồng đốt—nơi chịu mô-men xoắn lớn nhất của cả tổ hợp. Nếu hai chốt bên hông chỉ đóng vai trò định vị thăng bằng, thì chốt trung tâm này là một khối thép đúc liền khối chịu trách nhiệm neo giữ toàn bộ phản lực dọc trục của cỗ máy phản lực hạt nhân.

An chuyển vị trí, bước sang bệ trượt chính giữa. Mặt sàn thép dưới chân anh rung lên bần bật theo từng nhịp trồi sụt của trạm không gian. Yến vác chiếc xà beng hai đầu bằng thép hợp kim theo sát phía sau, sẵn sàng tiếp ứng cho thao tác cạy bẩy cuối cùng. Mọi thứ dường như đang diễn ra trơn tru theo đúng kịch bản cứu hộ khẩn cấp mà phi hành đoàn đã vạch ra trên đài quan sát. An chuẩn bị đưa cẳng tay vào lẫy giật cơ học của chốt số 3 thì một giọng nói the thé, dứt khoát vang lên từ phía sau lưng:

— DỪNG LẠI! CHÚ AN, ĐỪNG GIẬT CẦN!

Đó là tiếng của Tạ Nhi.

Người thợ điện tập sự đang quỳ gối trước hộp rơ-le kiểm soát và đo đạc mạch tín hiệu mạn dưới bệ máy. Hai đầu gối bọc giáp của cô cắm chặt xuống sàn thao tác ngập váng dầu. Trong ánh sáng nhấp nháy mờ ảo của các bảng mạch phụ trợ, mặt Nhi tái mét, đôi mắt dán chặt vào bảng đồng hồ hiển thị kép. Các đầu dây đo kiểm vạn năng cầm tay của cô vẫn đang cắm chặt vào các chân cắm thử nghiệm của cụm van điện từ số 3.

Nếu là những ngày đầu tiên trên tàu Chim Vá, khi đối mặt với sự nghi ngờ hay những chỉ số bất thường, Nhi có thể đã im lặng, tự trách bản thân chưa đủ trình độ, hoặc cố giấu giếm nỗi bất an vì sợ làm chậm trễ người khác. Cô từng là đứa trẻ luôn cúi đầu trước những người thợ cả dày dạn kinh nghiệm, sợ hãi rằng một câu hỏi ngây ngô hay một thắc mắc không đúng chỗ sẽ biến mình thành kẻ ngáng đường đáng ghét. Nhưng sau những lần vượt bão quặng, sau cái chết của đồng đội và những ca lao động ngoài không gian ngạt thở, cô gái trẻ đã hiểu ra một chân lý khắc nghiệt của nghề thợ mỏ: một sự nghi ngờ bị giấu đi đồng nghĩa với một bản án tử hình cho toàn đội. Trong lòng đất sâu hay giữa khoảng không vũ trụ vô tận, sự cả nể và thói quen phục tùng mù quáng chỉ dẫn đến một kết cục duy nhất—chôn vùi tất cả dưới đống phế liệu nát vụn.

Nhi chỉ thẳng tay vào cụm đồng hồ đo áp suất dầu xả:

— Đèn trạng thái điện báo màu xanh, báo hiệu rơ-le cơ học đã ở vị trí sẵn sàng mở! Nhưng kim áp suất dầu xả của chốt số 3... nó hoàn toàn đứng yên ở mức 0! Không có bất kỳ giọt dầu thủy lực nào đi vào khoang đẩy piston!

Yến khựng lại, nhìn sang chiếc xà beng trên tay mình rồi nhìn về phía bảng điều khiển:

— Nhưng đèn xanh nghĩa là mạch điện mồi đã thông... Cảm biến hành trình báo tiếp điểm đóng rồi mà!

— Không, chị Yến! — Nhi ngắt lời, giọng nói tuy run rẩy vì áp lực nhưng từng từ ngữ đều rõ ràng, mạch lạc lạ thường. Cô không hề chớp mắt, ngón tay bọc găng chỉ dứt khoát vào sơ đồ mạch in dán trên nắp hộp kỹ thuật. — Đây là tín hiệu giả! Tiếp điểm điện đóng mạch vì cần gạt bên ngoài bị rung chấn xô lệch, nhưng van áp lực dầu xả bên trong hoàn toàn không mở. Nếu chúng ta dùng đòn bẩy giật cưỡng bức lúc này, lẫy ngàm bên trong sẽ gãy ngậm vào rãnh trượt! Khối động cơ sẽ bị kẹt chết vĩnh viễn! Khi chốt gãy ngậm bên trong ống lót, áp lực hàng trăm tấn sẽ khóa cứng sống trượt, và chúng ta sẽ không còn bất kỳ cơ hội nào để nhả nó ra nữa!

Lời cảnh báo của Nhi như một xô nước đá dội thẳng vào buồng máy đang sôi sục.

An lập tức thu hồi cẳng tay trái, lùi lại nửa bước:

— Toàn bộ thao tác cơ học dừng lại! Nghe theo Nhi!

Không một chút do dự, không một lời hoài nghi. An tin tưởng tuyệt đối vào cặp mắt sắc sảo và kỷ luật kiểm soát chéo của người thợ trẻ mà anh đã đích thân hướng dẫn. Anh hiểu rằng sự nhạy cảm của người thợ điện trước các thông số nghịch lý chính là phòng tuyến sống còn cuối cùng. Anh quay ngoắt sang Yến:

— Lấy đèn nội soi quang học và kìm mỏ nhọn. Chúng ta kiểm tra cơ cấu lẫy bên trong ngay!

Yến lập tức rút thiết bị nội soi công nghiệp luồn qua khe hở dịch vụ của chốt số 3, hướng đầu camera sợi quang vào sâu bên trong ổ then thép vonfram-titan cỡ 45. Đầu dò quang học nhỏ như ngón tay út len lỏi qua lớp nẹp bảo vệ, luồn sâu vào khoang kín của cơ cấu khóa sống trượt. Màn hình cầm tay chập chờn một nhịp rồi hiện lên hình ảnh phóng đại bên trong hốc trượt.

Cả An và Yến đều nín thở.

Cảnh tượng hiện ra trên màn hình khiến sống lưng An lạnh toát. Then thép tôi cứng cáp bên trong không hề bóng loáng lớp mỡ bôi trơn công nghiệp như trong các tài liệu bảo dưỡng định kỳ. Thay vào đó, toàn bộ bề mặt rãnh trượt và thân then cài đã bị bao phủ bởi một lớp rỉ sét màu nâu sẫm, đóng tảng dày cộm như đá vôi đáy biển.

Dung dịch làm mát rò rỉ từ tuyến ống số 4—hậu quả của mối hàn vảy cá cẩu thả mà An đã ký duyệt năm xưa—đã âm thầm ngấm qua các gioăng cao su lão hóa, len lỏi vào hốc chốt số 3 suốt nhiều tháng trời mà không một cảm biến nào phát hiện ra. Kim loại kiềm kết hợp với hơi ẩm và nhiệt độ thất thường trong không gian kín đã tạo ra phản ứng hóa học ăn mòn khủng khiếp. Các hạt muối kim loại kết tinh, biến then thép chịu lực và thành vách trượt thủy lực hàn dính chặt vào nhau thành một khối kim loại kẹt cứng, trơ lì như đá tảng. Lớp muối kiềm trắng đục bao bọc quanh gờ then cài đã hóa đá dưới nhiệt độ môi trường, khóa chết hoàn toàn cơ cấu rút ngàm tự động.

— Then cài bị hàn nguội và rỉ sét đóng khối hoàn toàn... — Giọng Yến thì thầm, đặc quánh sự bàng hoàng. Bàn tay cô cầm máy nội soi khẽ run lên. — Hệ thống tự động không bao giờ có thể mở được nó. Cả đòn bẩy thủy lực thông thường cũng sẽ gãy vụn nếu cố bẩy. Đúng như lời Nhi nói... nếu lúc nãy chúng ta dùng sức giật đòn bẩy, trục ren định vị sẽ gãy gập ngay tại chân ren chịu lực.

An nhìn chằm chặp vào khối then kẹt chết bên trong màn hình. Bàn tay phải tàn phế của anh khẽ run lên dưới lớp băng gạc. Quá khứ đã đuổi kịp hiện tại, và chốt chặn cuối cùng này không chừa ra bất kỳ một lối thoát dễ dàng nào. Bản nghiệm thu khống ba năm trước không chỉ làm nứt một ống dẫn, nó đã âm thầm gieo mầm cho một khối u kim loại chết người nằm ngay tại yết hầu của cỗ máy cứu nạn. Từng sự cẩu thả, từng sự thỏa hiệp của con người cuối cùng đều biến thành những cái bẫy cơ học tàn nhẫn nhất.

Đúng lúc đó, một chấn động dữ dội chưa từng có hất văng cả ba người ngã chúi về phía trước. Tiếng rên rỉ của kết cấu trạm Bạch Luân vang lên xé ruột xé gan, như thể một con quái thú khổng lồ bằng thép đang bị bẻ gãy từng chiếc xương sườn. Áp suất khí quyển bên ngoài rít gào điên cuồng qua lớp vỏ trạm mỏng manh. Trọng lực giả lập chao đảo, các thanh dầm trần uốn cong có thể nhìn thấy bằng mắt thường dưới ứng suất vặn xoắn khủng khiếp khi toàn bộ tổ hợp trạm mẹ bị kéo tụt xuống những lớp khí quyển đậm đặc hơn.

*ẦM!*

Một tiếng nổ xé toạc trần buồng máy phụ phía trên đầu họ. Tấm tôn vách hợp kim dày ba phân bị lực cản khí động học và ứng suất vặn xoắn bẻ gãy gập, toác ra một vết nứt kết cấu dài hơn chục mét.

Một vết nứt kết cấu xé toạc trần buồng máy, để lộ bầu trời rực lửa của hành tinh Nham đang tiến lại gần đến nghẹt thở.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn