Đám Cưới Ở Làng Không NgườiC.15 / 20
Chương 15

Chuyến Thuyền Cuối

Cơn đau đầu dịu đi nhưng sự thật vừa thoáng hiện trong ảo ảnh thôi thúc An phải nhìn tận mắt khúc sông định mệnh, nơi chiếc thuyền cứu hộ cuối cùng đã rời bến mười hai năm trước.

Cái buốt giá của thứ bùn lầy tâm tưởng vẫn chưa chịu tan biến hẳn. Nó đọng lại thành một lớp nhờn lạnh bám chặt nơi cuống họng, trườn qua vòm họng khô khốc và riết chặt hai bên thái dương anh như một vòng đai sắt nung dở trong nước đá. Gió đêm từ lòng chảo Vĩnh Trầm thốc qua những khung cửa sổ không chấn song của ngôi trường tiểu học hoang phế, rít lên từng hồi ghê rợn qua các khe vữa nứt nẻ. Gió mang theo đủ mọi mùi vị tàn khốc của một vùng đất chết: mùi rêu ẩm mốc bám trên lớp gạch vồ rã mục, mùi vôi rữa nồng nặc tử khí, và trên hết là thứ mùi tanh tao ngai ngái không thể trộn lẫn của bùn đáy sông mùa nước lũ. Thứ mùi của phù sa chôn xác người.

Ngoài sân trường, sương mù xám đục dâng cao ngang hông người, cuộn tròn, vặn vẹo như những dải băng tang bị một bàn tay vô hình xé rách tả tơi ném vung vãi giữa trời đêm. Tiếng gáy thứ hai của con gà trống tế giam sâu trong hậu cung đình làng đã tắt từ lâu, nhưng dư âm quái đản, the thé của nó dường như vẫn còn mắc kẹt lại trong không gian. Nó rung lên từng chập trong màng nhĩ An, nhọn hoắt và sắc lạnh như một chiếc kim sắt nung nguội chọc thủng ranh giới mong manh giữa thực tại của người sống và ký ức vùi lấp của kẻ chết.

An hít một hơi thật sâu, luồng khí lạnh buốt xộc vào lồng ngực làm phổi anh thắt lại từng cơn, rồi quay đầu nhìn lại căn phòng học tối om.

Dưới ánh sáng lờ nhờ, chập chờn hắt ra từ đốm nến tàn cắm trên bệ gạch nứt, Vy đang ngồi tựa lưng vào mảng tường loang lổ vết nước lũ năm xưa. Khuôn mặt cô nhợt nhạt đến mức tưởng chừng dưới lớp da mỏng manh kia không còn lấy một giọt máu lưu thông. Chiếc cẳng chân trái của cô – nơi vừa bị thanh then lim bọc sắt của tuần đinh Bảy đập gãy lìa ở bãi rước rể – giờ đã sưng phù, biến dạng. Nó được nẹp tạm bợ bằng hai mảnh thước gỗ gãy nhặt được dưới sàn lớp học và những dải vải xé vội từ vạt áo khoác dày của An. Mỗi nhịp thở dốc của Vy đều kéo theo một cơn rùng mình run rẩy truyền từ lồng ngực xuống tận gót chân. Hàm răng cô cắn chặt vào môi dưới, cắn đến bật máu tanh nồng để ngăn những tiếng rên rỉ đau đớn không bật ra thành lời.

Thế nhưng, khi ánh mắt cô chạm phải ánh nhìn của An, đôi mắt nâu kiên định ấy vẫn mở to trừng trừng. Chúng tỉnh táo một cách phi thường, một sự tỉnh táo đến gai người. Cơn đau thể xác dữ dội từ vết gãy xương thịt nát tan bỗng nhiên lại trở thành chiếc mỏ neo sắt đá nhất, ghìm chặt tâm trí cô ở lại với cõi dương gian. Chính cái đau nhức buốt óc ấy đã dựng lên bức tường thành vững chãi, cản lại làn sóng tử khí ngạt nước mà hồn ma tên Bảy vừa cố dồn vào đại não cô trong trận giằng co sinh tử trước đó. Cô không lịm đi. Cô cự tuyệt việc để bóng tối của dòng sông nhấn chìm mình.

Cách đó nửa sải tay, Loan đang quỳ mọp trên nền xi măng ẩm ướt bên cạnh Vy. Hai bàn tay nhỏ thó lấm lem bồ hóng và bùn đất của cô gái trẻ siết chặt lấy quai chiếc xô nhựa cáu bẩn đựng nước mưa. Sau hành động dứt khoát xé toạc tấm khăn cưới màu đỏ máu và lời tuyên bố từ chối đanh thép của linh hồn Lê Thị Hạnh tại sân đình, mối liên kết tâm linh ràng buộc trên người Loan đã bị luật trừ của cõi âm bẻ gãy hoàn toàn. Hơi thở của cô vẫn còn ấm nóng, lồng ngực phập phồng đều đặn. Cô là người duy nhất trong số họ còn giữ được nguyên vẹn sinh khí của một con người trần thế, không bị những ảo giác chết chìm tàn khốc xâm thực vào từng thớ thịt.

Ở góc cửa sổ đối diện, Phúc ngồi bệt dưới nền đất, hai đầu gối co quắp áp sát vào lồng ngực, hai cánh tay đầy những vết cào xước rướm máu do chính móng tay gã cào cấu trong cơn hoảng loạn điên dại lúc nãy. Gã thở dốc từng hồi ngắt quãng, bả vai run lên bần bật. Cứ cách vài giây, từng ngụm nôn khan lại trào ngược lên cổ họng gã, tống ra thứ chất dịch dạ dày chua loét lẫn với mùi nước bùn thối rữa mà gã đã nuốt phải trong cơn mê sảng bị ma dìm nước. Sau cái tát nảy lửa của Loan và lời thức tỉnh đanh thép như búa tạ giáng xuống của An, vẻ hèn hạ trốn chạy trong đáy mắt Phúc đã vỡ vụn. Thay vào đó là một sự kinh hoàng tột độ, xen lẫn mặc cảm tội lỗi trần trụi của một kẻ vừa nhận ra mình suýt nữa đã biến thành đồ tể cho chính người thân ruột thịt.

“Chúng ta không thể cứ ngồi đây chờ đến lúc con gà đó cất tiếng gáy thứ ba,” An cất tiếng phá vỡ sự im lặng ngột ngạt. Giọng anh trầm xuống, khô khốc và sắc nhọn như tiếng hai mảnh ngói vỡ cọ xát vào nhau trong đêm vắng.

Anh cúi người, cẩn thận kiểm tra lại nút buộc trên chiếc túi bạt đựng bùi nhùi tẩm dầu hỏa lấy từ góc nhà kho trường học. Bàn tay còn lại của anh siết chặt chiếc chìa khóa đồng đen nặng trịch, gỉ sét – vật chứng mà Phúc vừa run rẩy móc ra từ túi áo trong để giao nộp cho anh.

“Nhưng trước khi quay lại hậu cung đốt cuốn sổ da trâu, tôi phải xuống bến,” An nói tiếp, mắt nhìn đăm đăm ra khoảng sương mù xám ngoét ngoài cửa sổ. “Tôi phải nhìn thấy bến Cây Gạo.”

Vy khẽ ngửa đầu ra sau bức tường gạch, mồ hôi lạnh rịn ra trên vầng trán bết vào những lọn tóc xơ xác. Cô nhìn An, giọng thì thào đứt quãng qua kẽ răng run rẩy: “Ảo ảnh vừa rồi... nơi góc sân trường... anh đã thấy những gì trong đó?”

“Tôi thấy Minh chìm xuống,” An siết chặt quai túi bạt, những đường gân xanh trên mu bàn tay gồ lên chằng chịt, căng cứng. “Tôi thấy bóng lưng của một người đàn bà buông tay khỏi mạn thuyền. Cô Duyên nói đúng, cuốn sổ điểm danh cứu hộ đó không hề nói dối. Nhưng Minh vẫn đang dùng sự thù hận, sự uất ức và cảm giác bị phản bội suốt mười hai năm qua để trói chặt lấy tôi. Nếu tôi không lôi được toàn bộ sự thật hoàn chỉnh ra ánh sáng ngay tại chính nơi anh ta đã trút hơi thở cuối cùng, bóng ma của anh ta sẽ không bao giờ buông tha thân xác này. Sự oán hận đó là sợi dây thừng siết cổ tôi. Và chúng ta sẽ không bao giờ có cơ hội tiếp cận cuốn sổ hộ gốc đang bị giam hãm dưới bàn thờ thánh.”

Vy nhìn thẳng vào đôi mắt vằn đỏ nhưng rực lửa của An. Trong đáy mắt người đàn ông ấy không còn sự bàng hoàng hay do dự của kẻ bị dồn vào chân tường, mà là ý chí sắt đá của một người sẵn sàng xé toạc màn sương dối trá để giành giật lại mạng sống. Cô khẽ gật đầu, hai bàn tay gầy guộc chống mạnh xuống nền gạch gồ ghề, dồn toàn bộ trọng lượng vào cánh tay để nhấc nửa thân mình dậy: “Đi thôi. Tuyệt đối đừng bỏ tôi lại căn phòng này một mình. Tôi thà chết khi đang đứng thẳng bằng một bên chân còn hơn là nằm đây đợi tử khí tràn vào lấp kín cổ họng.”

Loan lập tức buông chiếc xô nhựa, vội vã nhoài người tới đỡ lấy Vy. Cô luồn cánh tay chắc khỏe qua nách áo Vy, dùng bờ vai nhỏ bé của mình làm chiếc nạng vững chãi cho người bạn đồng hành: “Em sẽ dìu chị Vy. Chị đừng lo, hồi ở Đồng Mới em quen gánh nước từ sông lên đê rồi, em khỏe lắm. Phúc! Mau đứng dậy! Anh xách cái xô với cuộn dây thừng đi theo sau!”

Phúc giật nảy mình như vừa bị tạt một gáo nước sôi vào mặt. Gã trừng mắt nhìn chiếc xô nhựa cáu bẩn nằm trên đất, yết hầu giật lên liên hồi. Rồi như một cái máy được lập trình lại sau cơn chấn động, gã run rẩy gật đầu, lồm cồm bò dậy bằng cả hai tay hai chân. Gã cúi gằm mặt, không dám nhìn thẳng vào mắt An hay Vy, đôi vai so lại gầy guộc và co rúm như một con thú hoang bị dồn vào góc chuồng. Gã chộp lấy quai xô nước và cuộn dây thừng bện bằng xơ dừa, đôi chân run rẩy bước thấp bước cao bám sát phía sau.

Bốn người họ dìu nhau rời khỏi gian phòng học hoang tàn, bước qua bậu cửa đã mủn nát bởi rêu phong.

Họ men theo con đường mòn nhỏ hẹp rải đầy sỏi nhọn lởm chởm chạy vòng sau lưng gò đất của trường tiểu học để đi xuống triền sông. Mỗi bước chân của Vy đều là một cực hình; mặt đất gồ ghề dằn mạnh lên cẳng chân gãy khiến cả thân người cô giật nảy, nhưng cô chỉ nghiến răng ken két, không để một tiếng rên rỉ nào lọt qua kẽ môi. Loan cắn chặt răng bước từng bước vững chãi, ghì chặt lấy thân hình Vy. An đi đầu, tay cầm chiếc then gỗ gọt nhọn làm gậy dò đường, từng giác quan căng ra hết mức để bắt trọn mọi biến chuyển của màn đêm.

Không gian bên ngoài lúc này chìm trong một sự tĩnh lặng chết chóc đến nghẹt thở.

Trăng trên đỉnh trời đã tàn lụi từ lúc nào. Mảnh trăng khuyết mỏng dính, cong queo và nhợt nhạt như một mẩu móng tay của tử thi cào xước lên nền trời xám xịt không một ánh sao. Không có một tiếng ếch nhái râm ran nơi đầm lầy, không một tiếng côn trùng rỉ rả dưới những đám cỏ mục. Làng Vĩnh Trầm sau tiếng gáy thứ hai của con gà trống dường như đã bị rút cạn toàn bộ chút sinh khí giả tạo mà người ta cố dựng lên từ đám cưới ma quái hồi đầu hôm.

Những ngôi nhà mái ngói sụp xệ nằm rải rác hai bên triền dốc trơ trọi ra những bức tường đất tróc lở từng mảng phù sa lớn. Những cánh cửa gỗ mục nát đóng im ỉm, rêu xanh phủ kín bậc thềm. Những hàng rào dâm bụt khô quắt queo, trơ cành khẳng khiu như những bộ xương khô cắm thẳng vào lòng đất lạnh. Mọi dấu vết của sự sống dương gian đã bị đào thải; nơi này lúc này chỉ còn là một nấm mồ tập thể khổng lồ đang phơi mình trong gió buốt.

Càng tiến gần về phía sông Vĩnh Trầm, không khí càng trở nên đặc quánh, lạnh lẽo và ẩm ướt một cách bất thường. Gió không còn thổi thành từng cơn gián đoạn nữa mà biến thành một luồng khí hàn thổi liên tục từ mặt nước lên, buốt thấu tận xương tủy. Mùi bùn sình thối rữa và mùi lá mục bốc lên nồng nặc, xộc thẳng vào cánh mũi buốt rát.

Trước mặt họ, bóng cây gạo cổ thụ sừng sững hiện ra giữa màn sương mù xám đục như một gã khổng lồ dị dạng gãy gập cánh tay đang đứng canh giữ cửa ngõ địa ngục. Thân cây to lớn đến mức ba người ôm không xuể, lớp vỏ xù xì mốc thếch nứt toác từng mảng sâu hoắm. Cành lá trên ngọn hầu như đã trơ trọi sau trận đại hồng thủy mười hai năm trước, chỉ còn lại vài nhánh củi mục khẳng khiu, quằn quại chỉa thẳng lên nền trời tàn tạ như những ngón tay đang cào xé hư vô.

Dưới chân gốc gạo cổ thụ chính là bến nước.

Đó là một dải đất bồi thoải dần xuống mép sông, nơi những bậc đá xanh trơn trượt bám đầy một lớp rêu trâu màu đen xỉn nhờn nhợt. Mặt sông Vĩnh Trầm ở khúc uốn này phẳng lặng một cách rợn người. Không có một con sóng nhỏ nào vỗ bờ, không có một tiếng nước xao động. Mặt nước phẳng lì như một tấm gương làm bằng đồng đen khổng lồ nằm im lìm dưới đáy vực, phản chiếu ánh trăng khuyết úa tàn phía trên cao.

Thế nhưng, ẩn sâu bên dưới vẻ phẳng lặng ma quái ấy, những xoáy nước ngầm đen ngòm chốc chốc lại cuộn lên từ lòng sâu. Chúng sủi bọt ùng ục, kéo theo những đám bèo tây rách nát và rác rưởi trôi nổi xoay tròn thành từng vòng xoáy tít tắp rồi đột ngột bị hút chìm nghỉm vào bóng tối tăm tích dưới đáy sông.

An bước tới mép của bậc đá xanh cuối cùng. Mũi giày anh chạm sát vào làn nước sông lạnh ngắt. Một luồng tử khí buốt giá lập tức xông thẳng từ mặt nước lên mặt anh, khiến từng chân lông dọc sống lưng dựng đứng lên từng cơn ớn lạnh.

Sau tiếng gáy thứ hai của con gà trống tế thần, quy luật nghiệt ngã của giao ước đổi chỗ đã bóc trần tầng sâu nhất của không gian tâm linh nơi khúc sông này. Đôi mắt của người sống được ghép cặp tế lễ giờ đây không còn nhìn thế giới qua lăng kính vật lý thông thường nữa. Làn nước sông đục ngầu phù sa bỗng chốc trở nên trong vắt đến rợn người trong tầm mắt của An.

Đó là một sự trong suốt bệnh hoạn, giống như lớp thủy tinh dày của một chiếc quan tài băng khổng lồ, cho phép ánh nhìn của anh xuyên thấu qua lớp phù sa dày đặc cả chục mét để chạm tới tận đáy sông sâu thẳm.

Và ở đó, cách bờ đá chừng năm sải tay, ngay dưới một vùng xoáy nước ngầm đang sủi bọt u ám, An đã nhìn thấy.

Đó là một ảo ảnh ký ức đang đông cứng trong dòng chảy thời gian của cõi chết. Dưới đáy nước xám xịt và lạnh lẽo, bóng hình một chàng trai trẻ mặc chiếc áo sơ mi trắng đã ố vàng, bết chặt bùn lầy đang chới với giữa dòng nước xiết hung hãn. Đó chính là Hoàng Minh của mười hai năm về trước.

Một cánh tay của Minh vươn ngược lên trên mặt nước, những ngón tay gầy guộc, trắng bợt bám tuyệt vọng vào một nhánh củi mục đang trôi lơ lửng sát mép nước. Nhánh củi rung lên bần bật, uốn cong và sắp sửa gãy lìa dưới sức nặng nghìn cân của thân thể bị dòng xoáy ngầm bên dưới ghì chặt. Miệng Minh mở toang, từng chuỗi bọt khí lớn từ cổ họng trào ra dữ dội, biến thành những tiếng kêu câm lặng không thể dội lên khỏi mặt sông: *“Mẹ ơi... Mẹ ơi cứu con...!”*

Lồng ngực An thắt lại như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt. Cơn ngạt thở trong ký ức vừa bị đập tan ở trường học dường như lại chực chờ trỗi dậy, tràn vào từng phế nang. Bàn tay anh đưa ra giữa không trung, run rẩy hướng về phía bóng hình đang chìm nghỉm dưới làn nước trong suốt kia.

Đó là vị trí chính xác nơi Minh đã trút hơi thở cuối cùng. Đó là nơi linh hồn người anh họ của anh đã bị đày ải, giam hãm suốt hơn bốn ngàn ngày đêm trong bùn lầy băng giá, gặm nhấm sự cô độc và thù hận đến phát điên.

“Anh An... cẩn thận phía sau!”

Tiếng thét cảnh báo thất thanh của Vy xé toạc bầu không khí tĩnh mịch của bến sông.

Ngay từ rặng sậy rậm rạp phía bên trái bến nước, nơi những thân sậy cao ngút đầu người đang rạp mình xào xạc trong gió lạnh, một bóng đen to lớn lao vút ra như một mũi tên xé gió. Kèm theo đó là tiếng nước bắn tung tóe và một tiếng gầm gừ nghẹn đặc bùn đất, nhơ nhớp phát ra từ lồng ngực tử thi.

*XOẠT! XOẢM!*

Một bàn tay thâm tím, nhăn nheo phù thũng với những chiếc móng tay đen đúa bám đầy rêu rác chộp thẳng vào cổ áo của Trần Văn Phúc. Lực kéo kinh hoàng giật mạnh đến mức Phúc không kịp phản ứng, cả thân người gã ngã ngửa ra sau, gáy đập chan chát xuống nền đá xanh trơn trượt. Chiếc xô nhựa tuột khỏi tay gã, lăn lông lốc xuống mép nước.

“Á... Cứu tôi! Cứu em với anh An ơi!” Phúc rú lên một tiếng kinh hoàng tột độ, hai chân đạp loạn xạ trên mặt đá, móng tay cào cấu điên cuồng vào không khí.

Bóng ma của Trần Văn Quân – người phu đò năm xưa, người anh trai ruột thịt của Phúc – hiện hình rõ mồn một dưới ánh trăng tàn úa. Nửa khuôn mặt bên thái dương của Quân vẫn là một vết rách sâu hoắm lộ cả mảng xương sọ trắng bợt do bị then chèo đập vỡ trong đêm bão lũ kinh hoàng năm ấy. Từ khóe mắt sâu hoắm và lỗ tai biến dạng của gã, từng dòng nước bùn tanh nồng liên tục rỉ ra, chảy ròng ròng xuống cằm. Quân nghiến răng ken két, phát ra thứ âm thanh ghê rợn như đá nghiền xương. Hai hốc mắt gã đỏ ngầu như hai hòn than cháy dở, gân cổ nổi lên cuồn cuộn thành từng búi tím ngắt khi gã dùng cả hai cánh tay hộ pháp lôi xềnh xệch thân xác Phúc về phía mép nước sâu thẳm:

“Mày trốn đi đâu hả thằng Phúc? Mày tưởng mày dâng cái chìa khóa của bàn thờ cho thằng An là mày sống sót được sao? Mày đã ký tên vào sổ! Tên của mày đã bị tao dùng máu khóa chặt dưới đáy thuyền! Xuống đây với tao! Xuống đáy sông mà ngâm bùn với tao cho đủ cặp anh em nhà họ Trần!”

“Thả nó ra!”

An quát lớn, không chút do dự lao tới chộp lấy cánh tay đầy bùn lầy nhớp nhúa của Quân.

Cái lạnh từ da thịt tử thi truyền thẳng qua lòng bàn tay An buốt rát như thể anh vừa chạm vào một tảng băng trôi giữa dòng nước mùa đông bắc. Vy và Loan cũng không hề lùi bước. Bất chấp cơn đau xé thịt từ chiếc chân gãy, Vy chống mạnh một chân xuống đất, dùng hết sức bình sinh vung chiếc then gỗ gãy nện thật mạnh vào cẳng tay Quân. Cùng lúc đó, Loan lao tới nhặt chiếc xô nước mưa đọng ban nãy, hắt thẳng luồng nước tinh khiết vào khuôn mặt rách nát của gã ma chèo đò.

*XÈO!*

Nước mưa tự nhiên từ cõi sống vừa chạm vào lớp tử khí dơ bẩn lập tức bốc lên một làn khói trắng khét lẹt như mỡ cháy trên chảo than. Quân gầm lên một tiếng đau đớn dữ dội, thân thể gã giật nảy lên, nhưng năm ngón tay sắt đá của gã vẫn bấu chặt lấy cổ áo em trai, không chịu buông tha. Gã quắc đôi mắt đỏ ngầu nhìn trừng trừng vào mặt An. Nụ cười méo mó, quái đản trên khuôn mặt biến dạng của gã hiện lên đầy vẻ giễu cợt tàn độc và thù hận:

“Mày cứu nó làm gì hả thằng An? Mày tưởng chỉ có thằng em trai hèn hạ này của tao mới là kẻ phản bội sao? Mày tưởng trần gian này có kẻ nào thanh cao vô tội sao? Mày có biết tại sao thằng Minh phải chết rấp ở cái bến Cây Gạo này không? Mày có biết tại sao chiếc thuyền cứu hộ cuối cùng của làng lại nhẫn tâm bỏ rơi nó giữa dòng xoáy không?”

Toàn thân An khựng lại giữa không trung. Lực giằng co trên hai cánh tay anh bỗng chốc chùng xuống. Một linh cảm lạnh buốt chạy dọc từ đỉnh đầu xuống sống lưng: “Anh nói cái gì? Nói rõ ra!”

“Tao là người cầm lái chuyến thuyền đó!”

Quân rít lên qua kẽ răng khuyết thiếu, từng bọt bùn hôi thối văng ra tung tóe theo từng lời nói uất nghẹn ngập tràn oán khí:

“Đêm rằm tháng Bảy năm Thìn, tao chính là người chống cây sào gỗ trên chiếc thuyền cứu hộ số ba! Lúc thuyền chúng tao rời khỏi trường tiểu học, nước lũ từ thượng nguồn đã dâng ngập tới ngực tượng phật ngoài chùa làng! Thuyền chở quá tải, người ngồi chen chúc, mạn thuyền gỗ chỉ còn cách mặt nước hung hãn chưa đầy một gang tay! Khi thuyền trôi dạt ngang qua khúc uốn bến Cây Gạo này, nước lũ cuộn thành xoáy dữ dội, sóng đánh ầm ầm vào mạn!”

Quân trừng mắt nhìn xuống mặt nước phẳng lặng dưới chân họ, nơi ảo ảnh của Minh vẫn đang giãy giụa tuyệt vọng bám vào nhánh củi mục sắp gãy:

“Chính tai tao nghe thấy! Thằng Minh đang bám ở nhánh củi kia, nó gào khóc thảm thiết trong tiếng gió bão: *‘Mẹ ơi! Thuyền ơi quay lại cứu con! Con là Minh đây!’* Tiếng gào của nó xé toạc cả tiếng sấm sét rạch ngang trời! Tao đã định ngoặt mũi lái! Tao đã định đưa cây sào tre ra để kéo nó bám vào mạn thuyền!”

Quân quay phắt lại, ngón tay run rẩy bám đầy rêu rác chỉ thẳng vào mặt An. Giọng nói của gã biến thành một tiếng thét xé lòng chứa đựng nỗi uất ức bị dồn nén suốt mười hai năm dưới đáy sông sâu:

“Nhưng ai đã ngăn tao lại? Ai đã hét lên bảo tao chèo đi thật nhanh? Chính là bà Thoa! Mẹ ruột của thằng Minh! Bà ấy ngồi ngay khoang giữa của thuyền, hai tay ôm chặt lấy bọc đồ cưới bằng vải đỏ và đứa cháu nhỏ! Bà ấy nghe thấy tiếng con trai ruột của mình gọi rõ mồn một từng tiếng một! Nhưng bà ấy đã quay lưng lại! Bà ấy nhìn thấy bàn tay thằng Minh đang chới với giữa dòng nước xiết, nhưng bà ấy sợ! Bà ấy sợ thuyền quay mũi lại sẽ bị xoáy nước lật úp! Bà ấy sợ cả thuyền sẽ cùng chết đắm! Bà ấy đã gào lên ra lệnh cho tao: *‘Chèo đi! Đừng quay lại! Chèo mau không đắm thuyền bây giờ!’*”

Không gian trên bến sông như ngưng đọng lại hoàn toàn sau lời gầm thét kinh hoàng của người phu đò.

Từng chữ, từng câu rơi xuống mặt sông phẳng lặng như những khối đá ngàn cân ném thẳng vào tấm gương đồng đen. Phúc nằm bẹp dưới nền đá, miệng há hốc kinh hoàng, hai mắt dại đi không thốt nên lời. Vy sững sờ, bàn tay đang nắm chặt thanh then gỗ lim buông thõng xuống bên hông, ánh mắt chấn động nhìn An.

Bà Thoa...

Người mẹ dịu dàng, tảo tần suốt mười hai năm qua ở khu tái định cư Đồng Mới... Người mẹ đêm nào cũng ngồi bên ngọn đèn dầu ôm tấm áo sơ mi cũ của con trai mà khóc đến mờ cả mắt... Người mẹ đã tự tay sắm sửa từng mâm tráp cưới đỏ rực, miệng luôn nhắc đi nhắc lại về món nợ ân nghĩa mà An phải ghi tạc vào xương tủy để đền đáp cho Minh...

Chính người mẹ ấy đã ra lệnh bỏ rơi con trai ruột của mình giữa dòng nước lũ cuộn trào trong đêm giông bão?

“Không... không phải chỉ có một mình anh Quân nhìn thấy chuyện đó đâu.”

Một giọng nói trong trẻo nhưng run rẩy, nghẹn ngào vang lên từ phía bờ sậy đối diện bến nước.

Mọi người đồng loạt quay đầu nhìn lại.

Từ trong màn sương mù xám đục đang bảng lảng ven sông, bóng dáng một cô gái mặc áo dài cưới màu đỏ rực bước từng bước ra bến đá. Tà áo lụa của cô đã rách tơi tả, gấu áo bết đầy bùn đen của lòng sông, dải khăn trùm đầu màu đỏ thắm đã biến mất, để lộ mái tóc dài ướt sũng xõa buốt trên bờ vai gầy guộc. Đó là Lê Thị Hạnh. Linh hồn cô dâu chết đuối đã thoát khỏi sự kiềm tỏa của tuần phiên và ông Từ Lẫm tại sân đình, đôi chân trần đạp qua những bụi gai gai nhọn và sỏi đá lởm chởm để chạy một mạch xuống bến sông này.

“Chị Hạnh!” Loan nghẹn ngào thốt lên, toan lao tới đỡ lấy người chị họ bạc mệnh, nhưng Hạnh khẽ giơ một bàn tay nhợt nhạt lên ngăn lại.

Hạnh nhìn Loan bằng ánh mắt chan chứa tình thương máu mủ của một người cõi âm, rồi cô chầm chậm quay sang nhìn An và Quân. Nước mắt – thứ nước mắt trong suốt hiếm hoi của một linh hồn chưa bị hận thù và tử khí vấy bẩn – lăn dài trên gò má trắng bợt không chút sắc khí của cô dâu:

“Anh Quân nói đúng. Đêm đó... em cũng ở rất gần bến nước này.”

Hạnh nghẹn ngào, lồng ngực vô hình của cô phập phồng run rẩy như thể cô vẫn đang phải chịu đựng cái lạnh buốt của cơn bão năm xưa:

“Khi nước lũ tràn qua xóm ngoài làm sập căn nhà tranh của gia đình em, em bị kẹt lại trên một nóc chuồng bò xiêu vẹo. Anh Minh... anh ấy đã bất chấp nguy hiểm bơi từ trường học về xóm ngoài để tìm em... Anh ấy tìm thấy em, anh ấy đã nắm được tay em... nhưng dòng nước lũ cuộn xiết quá mạnh đã xé toạc chúng em ra khỏi nhau. Em bị nước cuốn dạt vào rặng sậy này rồi chìm nghỉm, còn anh ấy trôi dạt về phía gốc cây gạo cổ thụ.”

Hạnh run rẩy đưa ngón tay gầy guộc chỉ thẳng về phía mặt nước phẳng lặng:

“Khi chiếc thuyền của anh Quân trôi ngang qua đây, em lúc đó đã trút hơi thở cuối cùng, linh hồn em dạt trên ngọn sậy và nhìn thấy tất cả mọi chuyện qua một ánh chớp rạch ngang trời. Em thấy bà Thoa. Bà ấy ngồi co ro ở khoang giữa của thuyền. Ánh chớp sáng lòa rọi thẳng vào khuôn mặt tái mét của bà ấy. Bà ấy nghe thấy tiếng anh Minh gào khóc: *‘Mẹ ơi!’*. Em thấy rất rõ đầu bà ấy ngoảnh lại... đôi mắt bà ấy nhìn thẳng vào nhánh củi nơi anh Minh đang bám víu tuyệt vọng... Nhưng rồi, bà ấy rụt đầu lại. Bà ấy mím chặt môi, quay ngoắt mặt đi về phía hạ lưu sông, và giục giã người chèo thuyền đi tiếp thật nhanh.”

Hạnh cắn chặt môi dưới, từng giọt nước mắt rơi lách tách xuống đất bùn:

“Bà ấy không phải không nghe thấy. Bà ấy nghe thấy rất rõ từng tiếng gọi của con mình. Nhưng trong khoảnh khắc sinh tử tàn khốc đó, sự ích kỷ của người lớn đã chiến thắng. Họ đã chọn cách tự cứu lấy bản thân mình và những người đang ngồi an toàn trên thuyền. Quyết định quay lưng tàn nhẫn đó là của chính bà Thoa. Sự tàn nhẫn đó thuộc về người mẹ mà anh Minh đã tôn thờ, yêu thương suốt cả cuộc đời!”

Những lời nói nghẹn ngào của Hạnh rơi xuống như mảnh ghép cuối cùng, khớp khít hoàn hảo vào khoảng trống tăm tối nhất trong tâm trí An.

Tất cả những dữ kiện lịch sử, những vật chứng vật lý mà anh thu thập được trong suốt đêm kinh hoàng này bỗng chốc kết nối lại với nhau thành một chuỗi sự thật liền mạch, lạnh lùng và tàn nhẫn đến thấu tận tâm can.

Cuốn sổ điểm danh cứu nạn của cô giáo Duyên tại trường tiểu học: Hoàng Minh đã an toàn lên chiếc thuyền cứu hộ số hai vào lúc mười giờ mười lăm phút đêm rằm tháng Bảy. Minh không hề bị bất kỳ ai cướp mất chỗ ngồi. Minh đã có một suất sống trọn vẹn, hợp pháp trong tay. Nhưng vì tình yêu dành cho Hạnh, vì lời hứa của một người đàn ông sắp làm đám cưới, Minh đã tự ý nhảy xuống dòng nước lũ bơi ngược dòng để đi tìm cô dâu của mình. Đó là lựa chọn dũng cảm, cao đẹp nhưng cũng đầy bi kịch của chính bản thân Minh.

Còn An? Lúc đó An chỉ là một đứa trẻ mười tuổi ngơ ngác, hoảng loạn, toàn thân ướt sũng vì sợ hãi, được người lớn bế xốc đặt lên chiếc thuyền cứu hộ số ba vào lúc mười một giờ bốn mươi phút đêm – gần một tiếng rưỡi đồng hồ sau khi Minh đã rời khỏi trường học! An không hề chen lấn. An không hề giẫm đạp lên mạng sống của ai. An được sơ tán hoàn toàn hợp lệ theo danh sách điều phối của ban cứu trợ bão lũ.

Và rồi bi kịch ập đến tại khúc sông định mệnh này. Thiên tai tàn khốc đã đẩy Minh vào cửa tử, nhưng chính quyết định nghiệt ngã, ích kỷ của bà Thoa trên chiếc thuyền cứu hộ cuối cùng mới là nhát dao chí mạng dập tắt tia hy vọng sống sót duy nhất của con trai bà!

Thế nhưng, sau trận đại hồng thủy kinh hoàng ấy, khi những người sống sót dạt về vùng đất tái định cư Đồng Mới, làm sao bà Thoa có thể sống tiếp với tội lỗi tày trời là đã tự tay bỏ rơi con ruột của mình giữa dòng nước lũ? Làm sao bà Lan có thể đối diện với người chị gái ruột thịt khi con trai mình thì sống sót lành lặn còn đứa cháu ruột duy nhất lại bỏ mạng dưới đáy sông?

Họ cần một vật tế thần để trút bỏ gánh nặng. Họ cần một lý do để xoa dịu tòa án lương tâm đang cắn rứt đến nát vụn từng ngày từng giờ.

Và họ đã chọn An. Đứa trẻ mười tuổi năm ấy đã bị biến thành nạn nhân hoàn hảo.

Họ thêu dệt nên một câu chuyện dối trá ngọt ngào nhưng độc địa suốt mười hai năm ròng: rằng Minh đã cao thượng nhường lại chiếc vé sống trên thuyền cho em họ; rằng An sống sót được đến ngày hôm nay là nhờ cướp đi mạng sống của anh mình; rằng An mang trên vai một món nợ ân nghĩa vô biên phải trả bằng cả cuộc đời, bằng từng hơi thở.

Bà Thoa công khai săm soi từng tấc da tấc thịt trên thân xác An suốt nhiều năm qua, để rồi cấu kết với ông Từ Lẫm và hương lý làng Vĩnh Trầm lập nên giao ước ma quái này. Dụ dỗ An quay về làng cũ để “trả nợ mạng”, thực chất chỉ là một màn kịch đê hèn, bẩn thỉu để bà Thoa chuộc lại cảm giác tội lỗi của chính mình, để biến đứa cháu ruột vô tội thành kẻ thế mạng gánh chịu thay cho quyết định tàn nhẫn năm xưa của một người mẹ!

*Lách tách... xèo xèo...*

Một luồng khí lạnh đột ngột từ trên trời cao giáng mạnh xuống bến sông, khiến mặt nước vốn phẳng lặng như tấm gương đồng đen bỗng chốc rạn nứt thành muôn ngàn mảnh vỡ. Những xoáy nước ngầm sủi bọt cuồn cuộn dữ dội, kéo theo thứ bùn đen tanh tưởi dưới đáy trào ngược lên bề mặt, nhuộm sẫm cả một vùng bến nước Cây Gạo.

Từ giữa vòng xoáy đen ngòm nơi nhánh củi mục năm xưa từng trôi dạt, một bóng hình từ từ nhô lên khỏi mặt nước.

Hoàng Minh.

Bóng ma chú rể đứng lơ lửng trên mặt nước bến sông trong bộ áo dài gấm đỏ rách nát tả tơi. Lớp phù sa bám đầy trên tóc, trên bờ vai anh ta đang từ từ tróc lở, rơi rụng lả tả xuống dòng nước, để lộ ra khuôn mặt thật của chàng trai hai mươi tuổi năm nào. Nhưng khuôn mặt ấy lúc này không còn vẻ hung bạo, tàn độc của một kẻ đi đòi mạng như lúc ở trong căn nhà cũ hay giữa sân đình nữa.

Khuôn mặt Minh hoàn toàn vỡ vụn. Đôi mắt thâm quầng mở to hết cỡ, nhìn chòng chọc vào Quân, rồi chầm chậm quay sang nhìn Hạnh. Toàn thân bóng ma run rẩy bần bật như một chiếc lá khô đang chao đảo trước một cơn bão lớn.

Minh đã nghe thấy tất cả.

Từng lời vạch trần đanh thép của Quân, từng lời xác nhận đau đớn đến thấu xương của Hạnh đã xuyên thủng tấm màn u minh giam cầm linh hồn anh suốt mười hai năm qua. Suốt hơn một thập kỷ nằm dưới đáy bùn lầy lạnh giá, Minh đã ôm giữ mối hận thù mù quáng với An. Anh tin rằng chính người em họ đã cướp đi chiếc thuyền sống sót của mình. Anh tin rằng sự hy sinh của mình đã bị cõi trần phản bội một cách trơ tráo.

Anh tôn thờ hình bóng người mẹ tảo tần ở Đồng Mới, khao khát đến phát điên được đoạt lấy thân xác An để quay về sà vào lòng mẹ, để phụng dưỡng người mẹ mà anh ngỡ rằng đã khóc cạn nước mắt vì thương nhớ đứa con trai bạc mệnh.

Nhưng giờ đây, bức tượng đài thiêng liêng nhất, điểm tựa tinh thần duy nhất giúp linh hồn anh tồn tại qua mười hai năm đọa đày dưới bùn đen đã sụp đổ tan tành thành tro bụi.

“Không... không thể nào...”

Minh run rẩy thốt lên, giọng nói ma quái méo mó, nghẹn ngào vỡ vụn giữa tiếng gió rít qua cành gạo mục:

“Các người... tất cả các người đều nói dối! Mẹ tao... mẹ tao thương tao nhất trên đời! Mẹ đã tự tay may từng đường kim mũi chỉ trên chiếc áo cưới này cho tao... Mẹ đã chuẩn bị từng tráp trầu cau cho tao... Mẹ không thể... mẹ không bao giờ có thể bỏ rơi tao giữa dòng nước lũ!”

“Bà ấy đã bỏ rơi anh!”

An bước thẳng lên một bước dài, mũi giày đạp mạnh lên tảng đá xanh nhô ra sát mép nước sâu, cất cao giọng xé toạc màn sương đêm lạnh giá. Giọng nói của An không còn một chút run rẩy, không còn một chút sợ hãi nào nữa. Nó đanh thép, dõng dạc và vang dội như một lời tuyên án tối hậu của sự thật:

“Hoàng Minh! Hãy mở to mắt ra mà nhìn thẳng vào sự thật trần trụi đi! Tôi không hề cướp chỗ trên thuyền của anh! Tôi được đưa lên chiếc thuyền số ba theo đúng lệnh điều phối của cô giáo Duyên, còn anh đã tự ý nhảy khỏi chiếc thuyền số hai an toàn để bơi ngược dòng đi tìm chị Hạnh! Anh chết là vì sự khắc nghiệt của thiên tai, và vì chính quyết định tàn nhẫn của mẹ ruột anh trên chuyến thuyền cuối cùng đi qua bến nước này!”

An dứt khoát rút từ trong túi áo khoác ra mảnh giấy bản ghi chép danh sách sơ tán năm xưa của cô Duyên, giơ cao trước ngực cho bóng ma đối diện nhìn thấy:

“Mười hai năm qua, mẹ anh và mẹ tôi đã cùng nhau dựng lên một màn kịch dối trá ghê tởm để che đậy sự hèn nhát và ích kỷ của chính họ! Mẹ anh muốn dùng tôi làm vật tế thần để xoa dịu mặc cảm tội lỗi đang cắn rứt bà ấy từng ngày! Còn anh... anh đã lợi dụng sự hy sinh cao đẹp của chính mình dành cho chị Hạnh để biến nó thành một món nợ bẩn thỉu, dùng nó làm cái cớ để tước đoạt mạng sống của tôi!”

An chỉ thẳng ngón tay vào bóng ma đang chao đảo run rẩy trên mặt nước:

“Tôi thương anh! Tôi xót xa cho tuổi hai mươi đầy hoài bão của anh bị vùi lấp dưới đáy sông lạnh lẽo suốt mười hai năm qua! Nhưng sự thương hại đó kết thúc ngay tại giây phút này! Nỗi đau của anh không cho phép anh biến mình thành một kẻ giết người đê tiện! Sự phản bội của mẹ anh không cho phép anh có quyền cướp đoạt cuộc đời của tôi! Món nợ ân nghĩa mà anh vin vào để đòi xác tôi chưa từng tồn tại trên cõi đời này! Anh không có bất kỳ quyền hạn đạo đức nào để bắt tôi phải chết thay cho sự lựa chọn của anh!”

Từng lời nói của An như những nhát búa sét nện thẳng vào tâm thức u tối của Minh. Chúng tước đoạt hoàn toàn lý do ngụy biện đạo đức cuối cùng mà linh hồn anh ta đã bám víu suốt mười hai năm qua để biện minh cho hành vi đoạt xá tàn độc của mình.

Bóng ma của Minh lảo đảo dữ dội giữa không trung.

Chiếc áo dài gấm đỏ rực rỡ trên người anh ta bỗng chốc nhạt màu, chuyển dần sang màu xám xịt của tro tàn. Từng sợi chỉ tơ đỏ bung ra, rơi lả tả xuống dòng nước đang cuộn xoáy bên dưới. Bàn tay ma quái chới với giữa hư không lạnh lẽo, đôi mắt đờ đẫn, trống rỗng nhìn xuống xoáy nước ngầm dưới chân mình – nơi ảo ảnh của thân xác anh năm xưa vẫn đang tuyệt vọng bám vào cành củi mục sắp gãy.

Đêm đã cạn dần.

Phía chân trời xa xăm sau rặng núi đá bên kia sông, một vệt sáng mờ nhạt màu chì bắt đầu rạch ngang màn đêm tăm tối. Thời gian tới lúc rạng đông chỉ còn chưa đầy một canh giờ nữa.

Minh run rẩy cúi đầu nhìn xuống mặt nước bến Cây Gạo, thốt lên một câu hỏi nghẹn ngào tan biến vào trong gió lạnh:

“Mẹ... mẹ đã thực sự nghe thấy tiếng con gọi mà không quay lại sao?”

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn