Xuyên Về Làm Chủ Tiệm SáchCh.34 / 36
Chapter 34

Tiếng Mực Mới Trên Đường Trần Nhân Tôn

Tiếng xích xe lôi chở những thùng các-tông thơm nức mùi mực in mới dừng bánh kịch trước cửa tiệm Mộc trong ánh nắng sớm trong vắt của đường Trần Nhân Tôn.

Mặt đường nhựa sau một đêm đọng hơi sương mát lạnh bắt đầu bốc lên thứ hơi ấm nồng nàn đặc trưng của phố xá Sài Gòn những ngày chớm hạ năm một chín chín sáu. Ánh dương buổi ban mai rọi xiên qua những vòm me già xanh biếc rải rác phía bên kia lề đường, hắt xuống mặt vỉa hè từng đốm sáng lấp lánh như dát bạc, nhảy nhót trên biển hiệu gỗ mộc mạc khắc bốn chữ “Tiệm Sách Cũ Mộc” đã sậm màu mưa nắng.

Bác tài xế xe lôi gạt chiếc chân chống sắt nghe một tiếng “chát” giòn tan xuống mặt đường nhựa, lấy vạt áo bà ba lau mồ hôi trán rồi ngoái đầu vào trong tiệm hô lớn:

“Cô Tuệ Anh ơi! Sách từ xưởng An Thành bên Lý Thái Tổ chở qua đây! Mười thùng nguyên đai nguyên kiện, dây đai nhựa còn niêm phong kẹp chì đàng hoàng nghen!”

Trái tim Tuệ Anh khẽ nảy lên một nhịp thảng thốt.

Cái cảm giác hồi hộp chạy dọc sống lưng, lan tỏa xuống từng đầu ngón tay đang cầm chiếc chổi lông gà. Cô buông vội chiếc chổi lông gà đang quét dở trên gờ tủ kính, hai bàn tay vô thức siết chặt mép tạp dề bằng vải thô màu cỏ úa. Mọi âm thanh của phố xá dường như trong một tích tắc bỗng lùi xa, nhường chỗ cho tiếng máu chảy rần rật nơi thái dương. Từ trên gác lửng, Vĩnh phóng như bay xuống cầu thang gỗ, từng bậc thang rung lên bần bật dưới bước chân gấp gáp của chàng sinh viên kiến trúc. Chiếc áo sơ mi xắn tay áo ngang khuỷu của cậu còn vương một vệt mực vẽ kỹ thuật chưa kịp giặt, mái tóc rũ xuống trán vì vội vã.

Ở góc bàn thấp gần cửa, ông giáo Trịnh Văn Nghiêm đang nhấp ngụm trà sen sớm cũng vội vàng đặt tách xuống đĩa, đôi bàn tay gầy guộc run rẩy vịn vào tay vịn ghế mây nhổm dậy, ánh mắt mờ đục bừng lên một tia sáng rực rỡ hiếm hoi. Tách trà bằng gốm Lái Thiêu khẽ va vào đĩa lót một tiếng leng keng khô mảnh, nước trà sóng sánh hắt ra một giọt vàng trong veo trên mặt bàn gỗ.

“Tới rồi... Sách về tới thật rồi sao con?” Ông giáo run giọng hỏi. Giọng ông nghẹn lại ở âm cuối, đôi bờ vai gầy guộc nhô cao dưới lớp áo sơ mi trắng đã sờn cổ áo.

“Dạ, chú An cho chở sang sớm hơn dự kiến một tiếng!” Tuệ Anh đáp, giọng cô nghẹn lại vì một làn sóng xúc động bất ngờ dâng lên ứ nghẹn nơi cuống họng.

Cô bước vội ra ngưỡng cửa, hai chân như muốn vấp vào mép gỗ gờ cửa quen thuộc. Gió sớm từ ngoài phố lùa vào, mang theo thứ mùi xăng pha nhớt của những chiếc xe máy cũ, nhưng ngần ấy thứ tạp âm và mùi vị đời thường lập tức bị đánh bạt bởi luồng hơi thở tươi rói toát ra từ cỗ xe lôi thùng gỗ đang đỗ sát lề đường.

Vĩnh đã lao xô ra vỉa hè từ lúc nào. Cậu trai trẻ thoăn thoắt ghé vai cùng bác tài đỡ lấy kiện hàng đầu tiên. Chiếc thùng các-tông dày dặn, bọc kín bằng băng keo giấy nâu và niêm phong bằng dây đai nhựa màu vàng chanh, bên trên có dòng chữ viết bằng bút lông dầu to tướng của chính xưởng trưởng Ngô Thành An: *“Hồn Đất Phù Sa – Tiệm Sách Cũ Mộc – 100 cuốn/thùng”*.

Từng thớ cơ bắp trên cánh tay rắn rỏi của Vĩnh gồng lên. Chàng sinh viên cẩn trọng bưng chiếc thùng vào trong như đang khiêng một khối pha lê dễ vỡ, từng bước chân đặt xuống thềm gạch tàu đều nhẹ nhàng, nương nhẹ.

Từng kiện sách khâu chỉ tay bìa mộc mạc lần lượt được dỡ xuống, xếp ngay ngắn thành hai hàng ngay trên khoảng hiên lát gạch tàu còn đẫm hơi sương sớm. Bác tài xế xe lôi quệt mồ hôi trên sống mũi, nhìn theo từng chiếc thùng chuyển vào trong nhà với ánh mắt đầy vẻ kính nể:

“Thiệt tình, chạy xe lôi chở sách cho người ta cả chục năm nay, hiếm thấy cuốn nào đóng thùng mà nặng trịch, vuông vức từng góc cạnh như cái đống này nghen cô. Mùi giấy mới ngửi từ ngoài ngõ đã thấy thơm nức mũi!”

Không ai bảo ai, cả Tuệ Anh, Vĩnh và ông giáo Trịnh đều nín thở đứng vây quanh kiện hàng đầu tiên vừa được đặt lên chiếc bàn gỗ dài giữa gian tiệm. Bụi nắng mai rọi nghiêng qua khung cửa sổ, nhuộm vàng lớp bìa các-tông xù xì. Không gian tiệm Mộc chùng xuống trong một sự tĩnh lặng gần như trang nghiêm, chỉ còn lại tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ quả lắc Odo cũ kỹ treo trên vách ván và tiếng thở nhè nhẹ của ba con người đang đứng trước ngưỡng cửa của một cuộc hồi sinh.

Vĩnh rút chiếc dao rọc giấy bằng thép đã mòn vẹt ở túi quần sau, cẩn thận rọc nhẹ theo đường mép thùng để không phạm vào bên trong. Lưỡi thép sắc lẹm lướt êm qua lớp băng keo giấy nâu, phát ra tiếng rôm rốp khe khẽ.

Lớp giấy xi măng lót chống ẩm màu cánh gián vừa được gạt sang hai bên, một mùi hương ngạt ngào, nồng đậm lập tức ùa ra, choán ngợp cả không gian: mùi mực in Typo tươi mới pha dầu lanh, mùi giấy Bãi Bằng ngà dày dặn và mùi keo gáy hữu cơ ấm sực. Đó là thứ mùi hương của lao động chân chính, của mồ hôi người thợ sắp chữ, của sức nặng nghìn cân từ những con ốc máy dập cơ khí, và của những đêm trắng ròng rã bên ngọn đèn dầu. Đó là mùi hương thiêng liêng nhất mà bất kỳ người làm sách nào trên cõi đời này cũng từng khát khao được hít hà vào lồng ngực.

Tuệ Anh run run đưa hai bàn tay ra, đón lấy cuốn sách nằm trên cùng.

Cuốn sách khổ 13x19 cm nằm gọn ghẽ, đầm chắc trong lòng bàn tay cô. Độ nặng của nó mang lại một cảm giác vững chãi khó tả, khác hẳn với cảm giác nhẹ bỗng, xốp rỗng của những cuốn sách in vội bằng giấy tái chế công nghiệp ngoài thị trường tự do. Bìa sách làm bằng giấy mỹ thuật ngà mộc mạc hơi nhám ráp dưới đầu ngón tay, in hình khắc kẽm hai màu nâu gạch và xanh rêu do chính tay Vĩnh tỉ mẩn vẽ bằng bút sắt suốt những đêm thức trắng: hình bóng một con thuyền ba lá chơ vơ giữa mênh mông sông nước Cửu Long, những rặng bần ngập mặn đan cài vào làn sương khói mờ ảo.

Từng mảng màu khắc kẽm ăn sâu vào thớ giấy thô ráp, không bóng bẩy trơn tuột mà có độ lún nhẹ, tạo nên một hiệu ứng thị giác vừa cổ kính vừa chan chứa chất thơ hoài niệm. Từng đường nét typography cổ điển thời thuộc địa hiện lên sắc sảo, thanh thoát nhưng đầy cốt cách. Tên tác phẩm *Hồn Đất Phù Sa* được xếp theo lối chữ chân phương có gạch chân trang nhã, tên tác giả Huỳnh Tấn Nghĩa khiêm nhường nằm nép mình ở góc dưới bên phải, tạo nên một tổng thể cân đối đến từng milimét.

Và đặc biệt nhất là phần gáy sách. Không phải loại dán keo nhiệt công nghiệp giòn gãy rẻ tiền, mà toàn bộ hai mươi tư tay sách đã được những người thợ thủ công lành nghề nhất của xưởng An Thành xâu chỉ tép bằng tay, từng múi chỉ dù màu cháo lòng đan chặt lấy nhau qua các lỗ đục tinh xảo, mép sách được xén thẳng tắp, vuông vức như một thanh gỗ quý vừa qua lưỡi bào phẳng lì. Khi mở cuốn sách ra, phần gáy sách cong nhẹ một cách mềm mại, từng trang sách ngả ra phẳng lì trên mặt bàn mà không hề có dấu hiệu bung tróc hay kêu răng rắc của lớp keo chết.

Tuệ Anh hít một hơi thật sâu, ngón tay run rẩy lật giở trang bìa lót.

Tiếng giấy mới cọ vào nhau phát ra một âm thanh sột soạt ngọt lịm. Trên trang giấy Bãi Bằng màu ngà dịu mắt, từng con chữ đúc bằng chì Didot hiện lên đen nhánh, sắc sảo như những nét khắc sâu vào thớ giấy. Chữ in Typo không phẳng lì vô hồn như công nghệ offset hiện đại của thế kỷ hai mươi mốt; mỗi con chữ chì dưới lực dập nghìn cân của cỗ máy Heidelberg cơ khí đều để lại một vết hằn tinh tế, gồ nhẹ ở mặt sau trang giấy—một thứ “xúc giác chữ nghĩa” sống động mà chỉ những ai trân quý linh hồn sách mới có thể cảm nhận trọn vẹn. Ngón tay của người đọc lướt qua mặt sau của trang sách có thể cảm nhận được từng nhịp dập nổi chìm, như mạch máu đang đập âm ỉ dưới lớp da thịt của văn tự.

Ánh mắt Tuệ Anh dừng lại ở trang đề từ. Mắt cô bỗng nhòe đi, từng dòng chữ bắt đầu nhạt nhòa sau làn nước mắt rưng rưng:

*“Kính dâng hương hồn cô Lương Mộc Lan — Người đã gieo hạt mầm đầu tiên và dốc cạn tâm can gìn giữ từng trang di cảo.*

*Trân trọng tri ân học giả Trịnh Văn Nghiêm — Bậc tôn sư đã đem trọn vẹn nhãn lực của tâm hồn và bốn mươi năm học thuật để soi sáng từng câu chữ cho ngày tác phẩm tái sinh.*

*Và gửi đến những tấm lòng tha thiết với văn hóa Nam Bộ — Những người đã bảo trợ cho cuốn sách này tìm lại được hình hài đích thực giữa cuộc đời.”*

Từng dòng chữ in chữ nghiêng thanh nhã như tạc vào không gian tiệm sách một tượng đài vô hình của lòng tri ân.

“Con đọc... đọc cho thầy nghe trang đề từ đi, Tuệ Anh...” Giọng ông giáo Trịnh run bần bật bên tai cô.

Ông giáo già đứng tựa hẳn người vào mép bàn, đôi mắt đã mờ đục sau lớp kính dày cố gắng chớp chớp để bắt lấy những bóng chữ đen trên nền giấy ngà. Tuệ Anh cắn chặt môi để ngăn tiếng nấc nghẹn, khẽ khàng quỳ một gối xuống bên cạnh chiếc ghế mây của ông giáo. Cô cẩn thận đặt cuốn sách còn ấm mùi mực vào đôi bàn tay gầy gò, nổi đầy đốm đồi mồi của người thầy già. Những ngón tay xương xẩu của ông Trịnh khẽ mơn man trên mặt giấy, rà qua từng con chữ hằn sâu. Ông không nhìn thấy rõ từng nét chữ nhỏ, nhưng các đầu ngón tay của người cả đời gắn bó với văn bản học dường như có khả năng “đọc” được độ sâu của vết chì dập.

“Dạ... con đọc cho thầy nghe...” Tuệ Anh cất giọng, từng lời nghẹn ngào nhưng rành rọt vang lên giữa gian tiệm Mộc tĩnh lặng.

Giọng cô gái trẻ thanh trong, từng âm tiết nhả ra chậm rãi, hòa vào tiếng xào xạc của những tán me ngoài phố, hòa vào tiếng chuông nhà thờ xa xăm điểm tám giờ sáng. Khi cô đọc xong chữ cuối cùng, một giọt nước mắt đục mờ đã rơi xuống từ khóe mắt nhăn nheo của ông giáo Trịnh, lăn dài trên gò má tóp teo rồi đọng lại ngay bên cạnh dòng tên của chính mình. Giọt nước mắt thấm nhanh vào thớ giấy Bãi Bằng, tạo thành một quầng sẫm nhỏ như một dấu triện vô hình của số phận.

“Tốt rồi... Tốt lắm rồi...” Ông Trịnh gật đầu liên hồi, đôi môi run rẩy mấp máy. Bàn tay ông run run áp chặt cuốn sách vào ngực mình, như muốn ôm lấy linh hồn của một người tri kỷ đã khuất. “Bản in trang trọng, đàng hoàng lắm... Chị Lan ơi, hương hồn chị dưới suối vàng hôm nay đã có thể mỉm cười thanh thản được rồi. Chúng tôi không làm hoen ố một chữ nào của cụ Huỳnh Tấn Nghĩa, cũng không để đứa con tinh thần của chị phải chịu phận in chui, in lậu rách rưới...”

Vĩnh đứng tựa lưng vào giá sách pallet bên cạnh, hai mắt cũng đỏ hoe. Cậu lặng lẽ đưa tay quệt ngang sống mũi, rồi bất giác nhìn sang Tuệ Anh. Trong khoảnh khắc bốn mắt nhìn nhau giữa gian tiệm ngập tràn mùi giấy mới, không cần một lời nói nào, một sợi dây liên kết vô hình nhưng bền chặt lạ kỳ như vừa được thắt nút giữa hai tâm hồn cùng chung một chí hướng. Bao nhiêu tủi nhục, bao nhiêu hiểm nguy từ những đêm bị đe dọa, bao nhiêu mồ hôi đổ xuống bên cỗ máy in rệu rã trong con hẻm Chợ Lớn—tất cả đều đã tan biến, nhường chỗ cho một cảm giác thanh thản và kiêu hãnh khôn cùng.

***

Đúng tám giờ ba mươi phút sáng, buổi phát hành đầu tiên chính thức diễn ra tại tiệm Mộc.

Không có băng rôn rực rỡ, không có loa phóng thanh gầm rú như những chiến dịch đại hạ giá rầm rộ của các nhà sách lớn ngoài phố lớn, tiệm Mộc đón ngày trọng đại của mình trong một bầu không khí ấm cúng, trang nhã và tràn ngập tình người.

Trên chiếc bàn dài kê sát ô cửa sổ nhìn ra tán me xanh mát, Tuệ Anh đặt ngay ngắn cuốn sổ *Bảng Vàng Tri Ân* bằng bìa bọc gấm hoa, một nghiên mực tàu và cây bút lông cán trúc do ông Trịnh mang từ nhà sang. Bên cạnh là những chồng sách *Hồn Đất Phù Sa* thơm nức, từng cuốn đều được bọc một dải bìa đai (obi) in hoa văn mây sóng Đông Dương trang nhã, đánh số thứ tự từ 001 đến 100 dành riêng cho những độc giả đỡ đầu bản in. Những chiếc obi này do chính tay Tuệ Anh và Vĩnh ngồi cắt, gấp mép và dán gáy bằng hồ nếp suốt đêm hôm qua.

Từ đầu giờ sáng, ngõ nhỏ Trần Nhân Tôn đã rộn ràng tiếng chuông xe đạp lách cách. Những độc giả cầm trên tay tờ *Phiếu Đăng Ký Đỡ Đầu Bản In* bằng giấy bìa nâu kéo lưới lần lượt tề tựu về tiệm.

Đó là nhóm sinh viên kiến trúc của Tuấn, Nam, Khang trong những chiếc áo sơ mi bạc màu nhưng gương mặt rạng ngời phấn khởi. Đó là những cựu giáo chức trường Petrus Ký tóc bạc phơ, mặc áo sơ mi ủi thẳng nếp, chống gậy bước vào tiệm với vẻ tề chỉnh, nghiêm cẩn. Và đó còn là những người dân lao động trong con hẻm nghèo: bác thợ đóng giày đầu ngõ với bàn tay chai sạn nhuộm đen xi đánh giày, chú thợ may áo dài gom góp từng hào cọc sách từ những ngày đầu. Mỗi người mang theo một hoàn cảnh, một mảnh đời khác nhau, nhưng ánh mắt họ khi bước qua bậu cửa tiệm Mộc đều lấp lánh chung một niềm trân trọng đối với một công trình chữ nghĩa được sinh ra từ sự tử tế.

“Chào cô Tuệ Anh! Thầy Trương trên khoa dặn tụi em bằng mọi giá phải mang cuốn số mười hai về cho thư viện trường nội trong sáng nay!” Tuấn hào hứng chìa ra tờ phiếu đỡ đầu đã được vuốt phẳng phiu, giấu cẩn thận trong một chiếc bìa kẹp hồ sơ bằng nhựa.

“Có ngay cho các bạn đây!” Tuệ Anh mỉm cười rạng rỡ.

Cô đón lấy tờ phiếu, ngón tay thoăn thoắt lật cuốn sổ kiểm tra, đối chiếu cùi phiếu rồi trao tận tay nhóm sinh viên cuốn sách mang số hiệu 012.

Tuấn đón lấy cuốn sách bằng cả hai tay, cẩn thận mở ngay trang cuối cùng nơi in danh sách những người bảo trợ. Cậu reo lên khi nhìn thấy dòng chữ *“Khoa Lịch sử Kiến trúc — Trường ĐH Kiến trúc TP.HCM”* được sắp bằng chữ chì ngay ngắn: “Đẹp quá trời đất ơi! Chữ chì dập xuống thớ giấy nhìn có chiều sâu khác hẳn sách in máy cuốn offset ngoài chợ!”

Nam và Khang xúm lại, đầu chụm vào nhau, những ngón tay trẻ tuổi mơn man trên từng vết mực chì đen nhánh. Nam trầm trồ: “Cậu nhìn đường chỉ khâu này, mũi kim đều tăm tắp. Thảo nào thầy Trương bảo phải mua cho bằng được bản in thủ công này về làm mẫu tham khảo cho sinh viên năm cuối làm đồ án đồ họa sách!”

Từng người, từng người một lần lượt bước lên quầy. Tiếng cười nói, tiếng lật giở trang sách xào xạc hòa cùng tiếng trao đổi học thuật say sưa của các cụ đồ già khiến không gian tiệm Mộc như một ngày hội non trẻ của giới chuộng chữ. Mọi người cầm sách trên tay, trân trọng lật từng trang khảo cứu về vùng cù lao Nam Bộ, về những rặng tràm, rặng mắm, về lịch sử di dân mở đất mà tác giả Huỳnh Tấn Nghĩa đã đúc kết cả đời người.

Một cụ giáo già tóc bạc trắng, nguyên là giảng viên văn khoa trước năm bảy lăm, sau khi nhận cuốn sách số 005 đã kính cẩn nghiêng mình trước ông giáo Trịnh đang ngồi trên ghế mây: “Thưa anh Nghiêm, anh và các cháu ở đây đã làm được một việc đại nghĩa. Văn hóa phương Nam nếu không có những con người dám lội ngược dòng giữ gìn từng dị bản thế này, e rằng vài mươi năm nữa con cháu chúng ta chỉ còn biết đến cội nguồn qua những trang tóm tắt sơ sài in trên giấy vụn.”

Ông Trịnh chắp hai tay trước ngực đáp lễ, nụ cười thanh thản nở trên gương mặt già nua: “Đa tạ anh. Nhờ phúc ấm của tiên hiền, và nhờ tấm lòng của các bạn trẻ thời nay mà chữ nghĩa không bị chôn vùi.”

Đến khoảng mười giờ trưa, khi dòng người nhận sách đỡ đầu vừa tạm vơi bớt thì một chiếc xe máy Honda Cub 81 màu xanh dưa hấu quen thuộc dừng xịch trước cửa tiệm. Tiếng máy nổ êm ru đặc trưng của dòng xe Nhật Bản thu hút ánh nhìn của nhiều người đang đứng trên vỉa hè. Người bước xuống không phải ai xa lạ mà chính là cô thư ký riêng của Trần Minh Châu, đi cùng hai nhân viên nam vạm vỡ mặc đồng phục của Nhà sách Minh Châu.

Cô thư ký bước vào tiệm, chiếc váy công sở màu xanh than lịch thiệp, mỉm cười nhã nhặn gật đầu chào Tuệ Anh:

“Chào chị Tuệ Anh. Cô Minh Châu cử chúng em sang tiếp nhận ba trăm cuốn *Hồn Đất Phù Sa* phân phối độc quyền tại Quầy Sách Tinh Tuyển theo đúng biên bản ghi nhớ hai bên đã ký ạ.”

Tuệ Anh gật đầu, đưa tay mời: “Sách đã được chúng tôi kiểm đếm, đóng gói cẩn thận thành ba kiện lớn ngay tại gian kho sau. Mời cô và các anh vào kiểm tra chất lượng bản in trước khi bàn giao.”

Cô thư ký bước đến bên kiện sách đã mở sẵn, rút ngẫu nhiên ba cuốn ở ba vị trí khác nhau—một cuốn ở đáy thùng, một cuốn ở giữa và một cuốn trên mặt—để kiểm tra độ sắc nét của chữ chì Didot, đường chỉ khâu gáy và độ vuông vắn của mép xén. Đôi mắt người làm nghề phát hành chuyên nghiệp lướt qua từng lề trang, kiểm tra độ cân xứng của các lề trong ngoài, độ bám của mực in và sự đồng đều của sắc độ đen. Ánh mắt cô khẽ lóe lên sự thán phục. Cô quay sang Tuệ Anh, giọng chân thành:

“Bản in hoàn mỹ ngoài mong đợi của cô Châu chúng em, chị Tuệ Anh ạ. Giữa thời buổi người ta đua nhau chạy theo sách in offset giấy xốp mỏng dính để hạ giá thành, tiệm Mộc và xưởng An Thành làm được một ấn phẩm thủ công chỉn chu thế này quả thực là của hiếm. Cô Châu có dặn em chuyển lời khen ngợi đến xưởng in và sự kiên định của chị.”

Nói đoạn, cô thư ký mở chiếc xắc tay da, lấy ra một phong bì dày cộp đặt lên bàn thu ngân:

“Theo thỏa thuận, tổng giá trị lô hàng ba trăm cuốn sau chiết khấu ba mươi phần trăm là một triệu hai trăm ngàn đồng. Đợt trước cô Châu đã gửi cọc sáu trăm ngàn đồng tiền mặt. Hôm nay, chúng em xin thanh toán nốt sáu trăm ngàn đồng tiền hàng còn lại theo đúng biên bản bàn giao.”

Từng cọc tiền cotton mệnh giá mười ngàn và hai mươi ngàn đồng màu đỏ và xanh lá cây được đếm rành rẽ trên mặt bàn gỗ. Mùi giấy tiền cotton hơi ngai ngái hòa vào không khí, những góc tiền thẳng thớm được vuốt lại cẩn thận. Tuệ Anh kiểm đếm nhanh chóng, ký vào biên nhận giao hàng ba liên, đóng dấu mộc vuông của tiệm rồi trao cho phía Minh Châu một bản lưu.

Hai người thanh niên nhanh nhẹn khuân ba kiện sách chất lên giá chở hàng phía sau chiếc xe máy chuyên dụng, chằng dây cao su chắc chắn. Khi chiếc Cub nổ máy hòa vào dòng người đông đúc trên đường phố, Tuệ Anh nhìn xuống cọc tiền mặt nằm ngay ngắn trên bàn, bên cạnh chiếc hộp thiếc Danisa đã đầy ắp những tờ tiền lẻ từ sáng đến giờ.

Dòng tiền của tiệm Mộc đã thực sự hồi sinh.

Đó không phải là thứ tiền bạc kiếm được từ những toan tính chụp giật, không phải từ việc xả kho phá giá để triệt hạ những tiệm sách cũ lân cận, càng không phải từ sự thỏa hiệp với những đường dây in lậu nhan nhản khắp các bến xe. Nó đến từ sự kiên định bảo vệ phẩm giá của tri thức, từ mồ hôi của những người lao động chân chính và sự đồng lòng của cả một cộng đồng trân trọng cái đẹp. Cầm những đồng tiền sạch sẽ, phẳng phiu trên tay, Tuệ Anh cảm thấy một luồng sinh khí mới mẻ đang thực sự chảy qua từng mạch máu của căn nhà cổ kính này.

***

Đầu giờ chiều, trời Sài Gòn đổ một cơn nắng gắt gỏng đặc trưng của những ngày chuyển mùa.

Mặt đường bốc lên làn khói mờ ảo vì nhiệt lượng tích tụ. Gió đứng im lìm khiến những chiếc lá me rủ xuống bất động. Nhưng cái nóng hầm hập của buổi trưa không làm giảm đi ngọn lửa phấn chấn đang bừng cháy trong lòng Tuệ Anh.

Cô cẩn thận xếp một triệu rưỡi tiền mặt vào chiếc túi vải bố đeo chéo vai. Đây là toàn bộ số tiền công nợ in ấn giai đoạn hai cần thanh toán cho Xưởng in An Thành để khép lại trọn vẹn hợp đồng một nghìn cuốn sách. Chiếc túi vải bố tuy thô sơ nhưng được may bằng chỉ dù chắc chắn, Tuệ Anh kéo khóa lại rồi kiểm tra thêm một lần nữa vị trí của chùm chìa khóa và cuốn sổ cái ghi chép công nợ.

Vĩnh dắt chiếc xe đạp Martin 107 ra trước cửa, gạt chân chống chờ sẵn. Chiếc xe đạp khung nhôm màu xanh lam—tài sản quý giá nhất mà Vĩnh tích cóp từ những ngày làm phụ hồ và vẽ đồ án thuê—đã được cậu lau chùi sạch bóng, xích líp tra dầu trơn tru không một tiếng kêu cọt kẹt.

“Để anh chở em qua Lý Thái Tổ. Trưa nắng chang chang thế này, đi bộ mang theo nhiều tiền mặt không an toàn đâu,” Vĩnh nói, ánh mắt kiên định. Cậu kéo chiếc mũ lưỡi trai sụp xuống trán để che đi cái nắng chói chang đang dội xuống mặt đường.

Tuệ Anh mỉm cười, không từ chối. Cô ngồi nghiêng trên gác-ba-ga phía sau chiếc xe đạp, hai bàn tay vô thức bám nhẹ vào vạt áo sơ mi đã bạc màu nắng gió của Vĩnh. Chiếc xe lướt êm qua những con phố rợp bóng me bay, gió lùa qua làn tóc mai của Tuệ Anh, mang theo hương vị ngai ngái của đất trời sau cơn mưa bão mấy hôm trước, lòng cô nhẹ bẫng như trút được một tảng đá nghìn cân.

Dưới vòng quay đều đặn của bánh xe, những cảnh sắc quen thuộc của Sài Gòn thập niên chín mươi trôi qua chầm chậm: những quầy nước sâm với những chiếc tủ kính nhỏ dán chữ decal đỏ, những người phụ nữ đội nón lá gánh chuối nếp nướng thơm lừng, những quán cóc liêu xiêu bên lề đường rộn rã tiếng radio phát thanh chương trình ca nhạc thiếu nhi buổi trưa. Tựa đầu nhìn bờ vai vững chãi của Vĩnh đang nhấp nhô theo từng nhịp đạp, Tuệ Anh bất giác thấy lòng mình bình yên đến lạ lùng. Giữa dòng xoáy dữ dội của lịch sử và sự va đập khốc liệt của cơ chế thị trường sơ khai, họ đã cùng nhau đứng vững, cùng nhau bảo vệ được một thánh đường nhỏ bé của chữ nghĩa.

Xưởng in An Thành đón họ bằng tiếng máy dập cơ khí quen thuộc, nhưng hôm nay không còn là tiếng gầm rú căng thẳng của những ngày chạy đua hiệu đính. Cỗ máy Heidelberg số hai đang thong thả dập những trang sách giáo khoa mùa tựu trường, nhịp điệu đều đặn như hơi thở của một cỗ máy khổng lồ đang tận hưởng buổi trưa thanh nhàn.

Trong căn phòng làm việc nồng nặc mùi dầu máy và khói thuốc lá Điện Biên, Ngô Thành An đang ngồi kiểm tra các bản kẽm trên bàn làm việc. Ánh sáng vàng vọt từ ngọn đèn bàn neon phản chiếu lên mái tóc hoa râm và khuôn mặt khắc khổ, nghiêm nghị của ông. Nhìn thấy Tuệ Anh và Vĩnh bước vào, ông tháo cặp kính lão, ngước lên nhìn hai người với ánh mắt dò xét thường thấy.

“Sách phát hành sáng nay trót lọt hết chứ?” Thành An cất tiếng hỏi cộc lốc, nhưng trong đáy mắt đã thoáng một nét quan tâm khó che giấu. Điếu thuốc lá trên gạt tàn bằng nhôm vẫn còn nghi ngút một sợi khói xanh mỏng.

“Dạ, thưa chú An, mọi sự đều viên mãn ạ,” Tuệ Anh bước tới, nhẹ nhàng đặt chiếc túi vải bố lên mặt bàn gỗ lim.

Cô mở khóa kéo, lần lượt lấy ra từng cọc tiền mặt đã được buộc dây thun gọn gàng, xếp thành một chồng ngay ngắn trước mặt người thợ in già. Từng cọc tiền mười ngàn đồng đỏ thắm và hai mươi ngàn đồng xanh thẫm xếp cao dần, vuông vức và sạch sẽ.

“Hôm nay con sang xin phép được thanh toán sòng phẳng từng đồng công nợ cuối cùng của hợp đồng in một ngàn cuốn *Hồn Đất Phù Sa*. Tổng cộng đúng một triệu năm trăm ngàn đồng tiền mặt, không thiếu một xu nào ạ.”

Ngô Thành An sững người nhìn chồng tiền mặt nằm phẳng phiu trên bàn.

Ông không vội đếm tiền ngay. Bàn tay thô ráp đầy những vết chai sần và muội than đen nhánh của ông khẽ chạm vào mặt trên của cọc tiền, rồi từ từ trượt xuống mặt bàn. Đôi mắt người thợ cả dày dạn phong sương khẽ rung lên. Trong căn phòng nhỏ chỉ còn lại tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ treo tường vỏ nhựa và tiếng máy dập đều đặn vọng lại từ gian ngoài.

Một nụ cười hiếm hoi—rất chậm, rất sâu và ấm áp lạ thường—dần dần nở trên khuôn mặt gồ ghề, khắc khổ của người thợ cả đất Chợ Lớn. Đó là nụ cười của một người cả đời sống với chì, với mực, từng nếm trải đủ mọi cay đắng của thương trường lọc lừa, nay bất ngờ tìm thấy một ngọn lửa tín nghĩa thuần khiết giữa đời thực.

“Cô bé à... Tôi làm nghề in này hơn ba mươi năm, gặp qua không biết bao nhiêu người tới đây vẽ ra những dự án văn hóa trên mây trên gió. Nhưng mười người thì hết chín người sau khi nhận sách xong là tìm cách chây ì, khất nợ tiền công thợ, viện cớ sách bán chậm, viện cớ kẹt vốn lưu động...” Thành An lắc đầu, thở dài một hơi đầy cảm khái. “Chỉ có tiệm Mộc của các người, sách vừa rời xưởng chưa đầy nửa ngày, tiền mặt đã mang tới đặt sòng phẳng lên bàn không thiếu một hào.”

Ông kéo chiếc ngăn kéo sắt kêu két một tiếng, lấy ra cuốn sổ cái bọc da bò, rút cây bút bi Thiên Long gạch một đường dứt khoát qua dòng ghi nợ của tiệm Mộc, rồi đóng một con dấu đỏ thắm vuông vức: *“ĐÃ THANH TOÁN TOÀN BỘ”*. Tiếng cộp của con dấu dập xuống giấy dứt khoát như một lời khẳng định đanh thép cho nhân cách và danh dự.

Xong xuôi, Thành An xé liên biên nhận trao cho Tuệ Anh, rồi chìa bàn tay to bản, chai sạn ra trước mặt cô:

“Chữ tín của tiệm Mộc, Ngô Thành An này xin ghi nhận. Sau này, bất kể là di cảo của cụ Huỳnh Tấn Nghĩa hay bất kỳ tác phẩm văn hóa giá trị nào mà tiệm Mộc muốn phục dựng, chỉ cần cô Tuệ Anh mang bản thảo sạch tới đây, xưởng An Thành sẵn sàng giữ máy, ưu tiên kíp thợ giỏi nhất và cho gối đầu công nợ vật tư mà không cần đòi cọc ngặt nghèo như lần này nữa!”

Tuệ Anh siết chặt bàn tay thô ráp của người thợ in già. Bàn tay ông ấm sực, cứng như gỗ lim nhưng truyền sang cô một luồng hơi ấm tin cậy vô biên. Giữa lồng ngực cô, một cảm giác tự hào và vững chãi dâng tràn. Cô biết, mình không chỉ vừa trả xong một món nợ vật chất, mà tiệm Mộc vừa chính thức xác lập một vị thế danh giá, một chữ tín vàng mười trong giới làm sách đất Sài Gòn. Chữ tín ấy không mua được bằng bạc vạn, nó được đánh đổi bằng lòng trung thực, sự sòng phẳng và tình yêu cháy bỏng dành cho từng con chữ.

***

Khi chiếc xe đạp của Vĩnh đưa Tuệ Anh quay trở lại tiệm Mộc thì nắng chiều đã ngả sang màu vàng vọt như mật ong cuối mùa.

Gian tiệm sách lúc này đã vãn khách vãng lai, chỉ còn lại sự tĩnh lặng êm đềm cố hữu. Ánh hoàng hôn xiên qua song cửa gỗ bạc màu, rọi những vệt sáng vàng óng lên hàng ngàn gáy sách cũ xếp ngay ngắn trên các kệ pallet thơm mùi gỗ thông. Tiếng quạt trần quay đều đều trên trần nhà, phả ra những luồng gió mát rượi xua đi cái oi nồng của buổi xế chiều.

Ông giáo Trịnh Văn Nghiêm vẫn ngồi đó, bên chiếc bàn tròn nhỏ ở góc đọc sách quen thuộc. Nhưng chiều nay, trước mặt ông không phải là tách trà sen nguội hay tập bản thảo morasse quen thuộc, mà là một chiếc rương gỗ nhỏ bọc đồng đã lên nước bóng loáng, trên nắp rương có khắc chìm một đóa cúc đại đóa đã mờ nét theo thời gian. Bốn góc rương được gia cố bằng những miếng đồng hình lá bồ đề chạm trổ hoa văn tinh xảo, những chiếc đinh tán đồng đã ngả màu ten xanh cổ kính.

Thấy Tuệ Anh và Vĩnh bước vào, ông giáo Trịnh khẽ nâng chiếc kính mới—chiếc kính có gọng đồi mồi thanh mảnh mà Tuệ Anh đã trích tiền đưa ông đi đo lại thị lực hôm trước—nhìn hai người với ánh mắt trìu mến đặc biệt.

“Hai đứa lại đây với thầy một lát,” ông Trịnh cất giọng trầm ấm, vẫy tay gọi.

Tuệ Anh và Vĩnh bước lại gần, kéo hai chiếc ghế đẩu ngồi đối diện với ông.

Ông giáo già chậm rãi đặt hai bàn tay run run lên nắp chiếc rương gỗ nhỏ. Hơi thở của ông dường như chậm lại, từng lời nói thốt ra đều mang sức nặng của cả một đời người đã đi qua bao thăng trầm dâu bể:

“Sáng nay, khi nhìn thấy cuốn *Hồn Đất Phù Sa* nằm vẹn nguyên hình hài giữa những lời tán thưởng chân thành của bạn đọc, thầy biết... tâm nguyện lớn nhất của cô Mộc Lan đã thành, và sứ mệnh của thầy với tác phẩm ấy cũng đã trọn vẹn.”

Ông Trịnh dừng lại một nhịp, đưa tay xoay nhẹ chiếc khóa đồng nhỏ hình hoa mai trên nắp rương. Khóa bật mở phát ra một tiếng “tách” thanh mảnh, khô giòn.

Bên trong chiếc rương gỗ không phải là vàng bạc hay châu báu, mà là hàng chục cuốn sổ tay đóng bìa cứng bằng vải hoa văn cũ kỹ, những tập tài liệu viết tay bằng mực tím, mực cửu long đã ngả màu ố vàng, được sắp xếp ngăn nắp, bọc giấy kiếng bảo quản vô cùng cẩn mật. Từng gáy sổ đều có nhãn dán ghi chú tỉ mỉ bằng nét bút sắt mực tàu sắc sảo: *“Khảo cứu văn học Nam Bộ thế kỷ XIX”*, *“Chú giải điển cố chữ Nôm trong truyện thơ Lục Vân Tiên”*, *“Sưu tầm ca dao, dân ca vùng đồng bằng sông Cửu Long (1955 – 1975)”*, *“Thư từ trao đổi học thuật với các học giả phương Nam”*...

Mỗi trang viết là hàng ngàn dòng chữ ngay ngắn, những sơ đồ gia phả các dòng họ khai khẩn miền Tây Nam Bộ, những bản vẽ chi tiết các loại nông cụ, thuyền bè cổ truyền, và vô số những dị bản ca dao được ghi chép cẩn thận kèm theo địa danh điền dã và tên tuổi từng nghệ nhân dân gian đã truyền khẩu.

Tuệ Anh nín thở, mắt mở to nhìn khối tài sản đồ sộ đang hiện ra trước mắt. Là một biên tập viên xuất thân từ thời hiện đại, cô hiểu sâu sắc hơn bất kỳ ai giá trị vô song của những trang tài liệu này—đây không đơn thuần là những ghi chép cá nhân, mà là một kho tàng văn bản học, một khối di sản khảo cứu vô giá được đúc kết từ bốn mươi năm đứng trên bục giảng và miệt mài đi điền dã của một học giả chân chính. Trong thời đại kỹ thuật số mai sau, những tư liệu viết tay nguyên bản thế này sẽ trở thành những chứng tích độc bản không gì có thể thay thế nổi.

“Thầy ơi... đây là...” Giọng Tuệ Anh run lên, cổ họng nghẹn đắng vì xúc động.

“Đây là toàn bộ những tập sổ tay chú giải văn học cổ, những khảo cứu văn bản và tư liệu điền dã mà thầy tích lũy suốt hơn bốn mươi năm dạy học và nghiên cứu,” ông Trịnh mỉm cười hiền từ, ánh mắt lấp lánh niềm tin cậy tuyệt đối. “Đôi mắt này của thầy... thầy biết nó chẳng còn nhìn rõ được bao lâu nữa. Y học năm một chín chín sáu này có lẽ cũng chẳng cứu vãn được sự thoái hóa của tuổi già. Nhưng chữ nghĩa thì không thể để nó chết theo thể xác.”

Ông Trịnh nâng chiếc rương gỗ nhỏ lên bằng cả hai tay, trịnh trọng đẩy về phía Tuệ Anh:

“Thầy trao lại toàn bộ chiếc rương này cho tiệm Mộc. Trao lại cho con, Tuệ Anh. Và cho cả con nữa, Vĩnh. Suốt mấy tháng qua, thầy đã chứng kiến cách các con đối đãi với từng trang sách nát, cách các con thức trắng đêm vì một con chữ chì bị lệch, cách các con bảo vệ nhân cách của người làm sách trước những cám dỗ tiền bạc và thủ đoạn đê hèn... Thầy hiểu rằng, trên cõi đời này, không có nơi nào xứng đáng hơn mái nhà tiệm Mộc để lưu giữ linh hồn của những pho sách này.”

Tuệ Anh run rẩy đưa hai tay đón lấy chiếc rương gỗ. Chiếc rương nhỏ không quá nặng về thể xác, nhưng sức nặng tinh thần của nó khiến lồng ngực cô thắt lại trong một niềm xúc động khôn tả. Đó là sức nặng của bốn mươi năm thanh xuân, của hàng ngàn chuyến đò dọc ngang sông nước Cửu Long, của niềm tin sắt son vào sự trường tồn của văn hóa phương Nam. Một cảm giác thiêng liêng như sự truyền thừa ngọn lửa tri thức qua bao thế hệ đang chảy tràn qua huyết quản cô.

“Thầy... con... chúng con xin nhận...” Tuệ Anh nghẹn ngào, nước mắt một lần nữa trào ra nơi khóe mi. “Con xin hứa với thầy, tiệm Mộc sẽ gìn giữ từng trang viết này như bảo vật của tiệm, sẽ biến những chú giải của thầy thành nguồn tư liệu quý báu nhất cho các thế hệ bạn đọc mai sau.”

Vĩnh ngồi bên cạnh, lặng lẽ cúi đầu thật sâu trước người thầy già, hai bàn tay siết chặt như một lời thề danh dự của người đàn ông. Ánh hoàng hôn chiếu rọi lên vầng trán cương nghị của chàng sinh viên trẻ, khắc sâu một cam kết âm thầm nhưng thiêng liêng giữa những thế hệ người gìn giữ văn hóa.

Trong khoảnh khắc thiêng liêng ấy, ánh mắt Tuệ Anh tình cờ hướng ra phía con hẻm ngoài cửa tiệm.

Nụ cười trên môi cô bỗng khựng lại.

Dưới gốc cây me già đầu ngõ, giữa ánh chiều tà chập choạng, một chiếc xe máy Honda Dream II bóng loáng đang dựng nghiêng bên lề đường. Màu sơn đỏ đô bóng loáng của chiếc xe đắt tiền tương phản gay gắt với vẻ rêu phong, trầm mặc của con ngõ nghèo.

Người đàn ông mặc bộ âu phục màu xám tro—gã môi giới của công ty điện máy quận Nhất—đang đứng tựa lưng vào thân xe, cúi rạp người thì thầm to nhỏ điều gì đó với bà Tư Lành. Gã vừa nói vừa khua tay múa chân, thỉnh thoảng lại chỉ trỏ về phía mặt tiền của tiệm Mộc với vẻ mặt đầy toan tính, tham lam.

Bà Tư Lành tay xách chiếc làn đi chợ bằng nhựa màu đỏ bên trong có mớ rau muống và vài lạng thịt heo, gương mặt đăm chiêu, khó đốn, đôi mày cau chặt lại khi lắng nghe những lời gạ gẫm đầy toan tính của gã môi giới. Thỉnh thoảng bà lại lắc đầu, rồi lại gật đầu ngập ngừng, ánh mắt đảo quanh khu nhà với một vẻ giằng xé rõ rệt.

Trái tim Tuệ Anh khẽ thắt lại một nhịp.

Cái lạnh buốt quen thuộc của thực tế nghiệt ngã bất ngờ ùa về, kéo cô tụt xuống khỏi niềm hân hoan vừa chớm nở. Cô nhớ đến chiếc phong bì thư dày cộp kẹp trong cuốn sổ tay bìa da của dì Mộc Lan trên bàn làm việc của mình—khoản tiền một triệu tám trăm ngàn đồng tiền thuê nhà cũ mà cô đã chuẩn bị sẵn sàng, tính toán từng đồng chi tiết cho cuộc gặp quyết định với người chủ nhà khó tính. Đó là toàn bộ tiền vốn dự phòng mà cô đã chắt bóp từng đồng sau khi trừ đi chi phí in ấn và tiền trả thợ.

Cơn sóng gió này vừa đi qua, một thử thách sinh tử khác về số phận của chính căn nhà này đã cận kề trước mắt. Nếu mất đi mặt bằng này, bao nhiêu kệ sách pallet, bao nhiêu tâm huyết gầy dựng, và cả cái nôi văn hóa mà họ vừa mới hồi sinh sẽ biết đi đâu về đâu giữa đất Sài Gòn tấc đất tấc vàng đang từng ngày chuyển mình trong cơn sốt giá?

***

Nhưng bầu không khí âu lo chỉ kịp thoảng qua như một vệt mây mỏng rồi nhanh chóng bị xua tan bởi tiếng cười giòn giã vang lên từ bậc thềm.

“Chị Tuệ Anh ơi! Chú Vĩnh ơi! Em về rồi nè!”

Tiếng bước chân lẹp xẹp của đôi dép lào quen thuộc đập trên mặt thềm gạch xua tan đi sự căng thẳng đặc quánh. Bé Hạnh tay ôm chặt cuốn sách *Hồn Đất Phù Sa* có dán nhãn Thẻ Bạn Đọc Danh Dự số 001 vào trước ngực như một báu vật, chiếc túi vải bán vé số đeo chéo bên hông đã trống trơn, lon ton chạy tọt vào trong tiệm.

Mái tóc ngắn cháy nắng của cô bé bay lòa xòa, hai bím tóc nhỏ lúc lắc theo từng nhịp chạy. Theo sau em là chị Thu Cúc, trên tay bưng một chiếc khay nhôm nhỏ bốc khói nghi ngút mùi thơm ngọt ngào của xôi bắp nước cốt dừa rắc mè rang.

“Mẹ con em bán hết vé số sớm, ghé qua tiệm mừng công với cô Tuệ Anh và thầy Trịnh đây!” Chị Thu Cúc tươi cười xởi lởi, đặt chiếc khay xôi nóng hổi lên chiếc bàn phụ cạnh quầy cà phê. “Nghe đâu sáng nay sách bán đắt như tôm tươi, người ta tới xếp hàng đông nghịt đầu hẻm, cả xóm ai cũng mừng rỡ lây!”

Chiếc khay nhôm sáng loáng bốc lên làn khói thơm dịu. Những hạt bắp nếp hầm nhừ trắng ngần quyện chặt với đậu xanh giã nhuyễn vàng ươm, bên trên rưới một lớp nước cốt dừa béo ngậy sền sệt và rắc đều những hạt mè rang vàng thơm lừng. Đó là món quà mừng mộc mạc, bình dị nhưng chứa chan tất cả tấm lòng của hai mẹ con người bán vé số dạo đối với mái nhà đã cưu mang tâm hồn họ suốt những ngày tháng qua.

“Mẹ ơi, con nói mẹ nghe nè!” Bé Hạnh nhảy chân sáo lại kéo vạt áo chị Cúc, gương mặt lem luốc mồ hôi nhưng đôi mắt sáng ngời như hai vì sao nhỏ. “Trang đầu cuốn sách này con học thuộc lòng rồi đó! Để con đọc cho mẹ nghe nha!”

Chị Cúc ngượng ngùng đỏ mặt, lấy tay xoa đầu con gái: “Cha bố cô, học thuộc hồi nào mà đòi khoe? Trước mặt thầy Trịnh với cô Tuệ Anh mà đọc sai là thầy phạt đó nghen!”

Không đợi mẹ cho phép, bé Hạnh đã đứng thẳng người, hai chân chụm lại nghiêm trang, hai tay ôm cuốn sách trang trọng trước ngực, cất giọng đọc lảnh lót, từng từ từng chữ phát âm tròn vành rõ chữ mà không hề vấp váp:

“*Kính dâng hương hồn cô Lương Mộc Lan... Trân trọng tri ân học giả Trịnh Văn Nghiêm... Và gửi đến những tấm lòng tha thiết với văn hóa Nam Bộ...*”

Từng câu, từng chữ ngây thơ nhưng đong đầy sự kính cẩn của đứa trẻ mười hai tuổi vang vọng khắp gian tiệm Mộc.

Chị Thu Cúc đứng lặng người nhìn con gái, đôi mắt của người mẹ nghèo không biết chữ bỗng rưng rưng vì niềm tự hào kiêu hãnh khôn xiết. Bàn tay thô ráp của chị khẽ run lên, vạt áo vá vụng về áp chặt vào lồng ngực. Đứa con gái lam lũ bán vé số của chị, đứa trẻ từng phải chịu bao ánh mắt kỳ thị ngoài đầu đường góc chợ, nhờ có tiệm sách này, nhờ có những con người nơi đây dạy dỗ từng nét chữ i tờ, nay đã biết đọc, biết yêu quý từng trang sách, biết trân trọng những giá trị tốt đẹp của cuộc đời. Con chữ đã không phụ lòng người nghèo, nó đã gieo vào tâm hồn non nớt của đứa trẻ một hạt mầm tự trọng và ước mơ về một tương lai sáng sủa hơn.

Ông giáo Trịnh bật cười sảng khoái, tiếng cười vang ấm xua tan đi mọi mệt mỏi tuổi già. Ông vẫy tay gọi bé Hạnh lại gần, xoa đầu cô bé bằng bàn tay gầy gò: “Giỏi lắm, cháu gái của thầy giỏi lắm. Đọc tròn vành rõ chữ, có ngữ điệu đàng hoàng. Mai mốt thầy sẽ dạy cho con đọc tiếp những bài ca dao Nam Bộ trong chiếc rương này, chịu không?”

“Dạ chịu! Em cảm ơn thầy Trịnh!” Bé Hạnh reo lên, ôm chầm lấy cánh tay ông giáo già.

Vĩnh thoan thoắt châm thêm nước sôi vào những chiếc phin nhôm Hải Phòng trên quầy bar gỗ pallet, từng giọt cà phê đen sánh bắt đầu nhỏ tong tòng xuống đáy ly thủy tinh, tỏa ra một làn hương thơm nồng nàn quyện chặt với mùi giấy mới. Tiếng nước sôi reo tí tách, tiếng muỗng khuấy lách cách vào thành ly hòa cùng tiếng cười nói râm ran tạo nên một bản hòa âm ấm áp lạ lùng.

Mùi cà phê phin đậm đặc, mùi xôi bắp ngọt bùi, mùi gỗ thông pallet và hương mực in Typo tươi mới hòa quyện vào nhau, dệt nên một bức tranh sinh hoạt bình dị mà thiêng liêng đến nao lòng.

Giữa góc phố Trần Nhân Tôn nghèo nàn của năm một chín chín sáu, tiệm Mộc không chỉ đơn thuần là một nơi buôn bán sách cũ sắp phá sản như những ngày đầu Tuệ Anh đặt chân đến; nơi đây đã thực sự bừng sáng, trở thành một mái nhà văn hóa đích thực, một nơi dung dưỡng tâm hồn cho những con người bình dị tìm thấy sự an trú và phẩm giá của tri thức. Ở đây không có ranh giới giữa học giả uyên bác và người thợ đóng giày, giữa cô gái trí thức và em bé bán vé số; tất cả đều được bình đẳng và gắn kết dưới ánh sáng soi rọi của những con chữ chân chính.

Tuệ Anh đứng tựa vào mép quầy, khẽ nhấp một ngụm trà sen ấm áp, đưa mắt nhìn ngắm từng gương mặt thân thương đang rôm rả chuyện trò quanh chiếc bàn tròn.

Ánh mắt cô dừng lại trên gương mặt rạng rỡ của ông Trịnh, nụ cười hiền hậu của chị Cúc, đôi mắt sáng lấp lánh của bé Hạnh và bóng lưng rắn rỏi của Vĩnh đang cẩn thận chia từng phần xôi ra những chiếc đĩa con. Một cảm giác thuộc về—chân thật, sâu sắc và bình yên đến tận cùng—nhẹ nhàng bao bọc lấy tâm can cô, khiến cô hiểu rằng dù thời gian có đưa cô đi xa đến đâu, dù nghịch cảnh có xô đẩy cô qua bao nhiêu biến cố của không gian và lịch sử, đây chính là mảnh đất mà linh hồn cô đã trọn vẹn chọn làm quê hương. Cô sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ nơi này, bảo vệ từng trang sách và từng con người đang nương tựa dưới mái hiên Mộc.

Nhưng đúng lúc buổi tiệc trà đầm ấm vừa bắt đầu lắng xuống trong tiếng chuyện trò râm ran, tiếng guốc mộc nện dồn dập, khô khốc từ ngoài bậc thềm bỗng vang lên, cắt ngang bầu không khí êm đềm.

Cốc... cốc... cốc...

Âm thanh đanh thép, lạnh lùng ấy nện thẳng xuống mặt thềm gạch tàu, dập tắt tiếng cười đùa của bé Hạnh trong một tích tắc. Cả gian tiệm bỗng chốc im bặt.

Bóng một người phụ nữ to đậm in dài trên nền gạch tàu, chắn ngang luồng ánh sáng hoàng hôn cuối cùng đang hắt vào cửa tiệm.

Bà Tư Lành bước vào tiệm giữa lúc buổi tiệc trà vừa dứt, gương mặt sắt lại lạnh lùng không một chút biểu cảm. Đôi mắt sắc lẹm của người chủ nhà quét một vòng qua gian phòng khách, lướt qua vẻ lúng túng của chị Thu Cúc, vẻ e dè của bé Hạnh, rồi dừng lại trên chiếc bàn thu ngân nơi Tuệ Anh đang đứng.

Không nhìn đĩa xôi bắp bốc khói, cũng chẳng thèm liếc mắt qua những chồng sách mới thơm nức trên bàn, bà bước thẳng tới trước mặt Tuệ Anh, dứt khoát đặt bản hợp đồng thuê nhà cũ đã ố vàng lên mặt bàn thu ngân kèm theo một tiếng “cộp” đanh gọn:

“Hết hạn rồi, cô Tuệ Anh. Bây giờ chúng ta phải nói chuyện đi hay ở.”

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories