Những Con Chữ Trong Đêm
Ánh đèn dầu hạt đỗ trên gác lửng hắt bóng ba người lên vách ván ép loang lổ vết ẩm, xấp morasse đầu tiên mở ra với chi chít những dòng chữ chì sắc sảo nhưng đang nhòe đi trước mắt người thầy giáo già.
Một khoảng im lặng chết chóc bao trùm căn gác nhỏ của tiệm Mộc. Tiếng bấc dầu nổ tí tách xen lẫn tiếng gió đêm đầu hạ thổi xạc xào qua khe liếp cửa sổ chỉ càng làm cho không khí thêm phần trĩu nặng. Trên mặt bàn gỗ thông ghép thô ráp, chiếc kính lão cũ kỹ mà gọng bên phải vừa được Vĩnh dùng một mẩu dây kẽm mảnh cột chắp vá nằm trơ trọi cạnh lọ mực tím Cửu Long đã cạn quá nửa. Cạnh đó, ba tay sách morasse bốn mươi tám trang đầu tiên vừa được thợ phụ của xưởng in An Thành đạp xe giao sang lúc chập tối vẫn còn phả ra thứ mùi hăng nồng quen thuộc của dầu hỏa pha muội than, thứ mùi đặc thù của những xưởng in typo thủ công thời bao cấp kéo dài sang những năm chín mươi.
Ông giáo Trịnh ngồi bất động, đôi bàn tay gầy guộc chằng chịt những đường gân xanh nổi cộm khẽ run rẩy trên mặt giấy Bãi Bằng ráp nhẹ. Đôi mắt sau hàng mi bạc chớp lia lịa, cố gom lại chút ánh sáng vàng vọt le lói từ ngọn đèn con, nhưng đáp lại nỗ lực tuyệt vọng ấy chỉ là một màn sương mờ đục xám xịt như có dải voan phủ kín đồng tử. Từng con chữ Didot mười hai chấm sắc sảo, vốn là niềm kiêu hãnh của kỹ nghệ đúc chữ và sắp chữ chì xưởng An Thành, lúc này trong mắt người thầy già lại bết dính vào nhau thành từng vệt muội than loang lổ, méo mó và nhảy múa hỗn loạn.
“Mắt tôi... mờ đặc rồi Tuệ Anh à.” Giọng ông giáo Trịnh run run, nghẹn đắng nơi cuống họng. Ông cố ngẩng đầu lên, nhưng ánh nhìn không còn định vị chuẩn xác gương mặt cô gái trẻ đối diện, mà chỉ lướt qua một khoảng không vô định nơi vách ván. “Không phải tại chiếc kính gãy đâu con. Mấy tháng nay, tôi cứ ngỡ chỉ là chứng viễn thị thông thường của tuổi già, mua thêm tròng tăng số ở mấy tiệm kính dạo đường Lê Thánh Tôn là qua khỏi. Nhưng mấy hôm rày, nó giáng xuống nhanh quá. Cứ như có ai đem tro bếp rắc vào đáy mắt... Dấu hỏi, dấu ngã, dấu chấm phẩy... tôi không còn phân biệt nổi nữa rồi.”
Một giọt nước mắt đục mờ ứa ra từ khóe mắt nhăn nheo của người học giả đã dành trọn cả cuộc đời để phụng sự sách vở. Đó không chỉ là nỗi đau đớn thuần túy của thể xác đang rệu rã theo quy luật nghiệt ngã của thời gian, mà là sự sụp đổ kinh hoàng của một niềm kiêu hãnh tri thức. Ông Huỳnh Tấn Sĩ từ Đà Lạt gửi gắm toàn bộ niềm tin và gia tài tinh thần của người cha quá cố vào cái tên Trịnh Văn Nghiêm; xưởng in An Thành chấp nhận giữ kíp thợ, ưu tiên dàn khuôn chữ chì cũng vì nể vì trọng danh tiếng cẩn trọng từng chân tơ kẽ tóc của cựu giáo sư Petrus Ký. Vậy mà ngay ở thời khắc định đoạt số phận của thiên khảo cứu *Hồn Đất Phù Sa*, đôi mắt từng đọc hàng vạn trang tư liệu Hán Nôm và Pháp văn ấy lại phản bội ông.
“Thầy đừng vội lo, để sáng mai con mượn xe đưa thầy ra bệnh viện mắt Điện Biên Phủ khám xem sao ạ,” Vĩnh sốt sắng lên tiếng, bàn tay thô ráp của chàng sinh viên kiến trúc khẽ chạm vào bả vai đang run rẩy của ông Trịnh để trấn an. “Bên đó có mấy bác sĩ chuyên khoa mắt giỏi lắm, biết đâu chỉ là viêm bờ mi hay cườm nước giai đoạn đầu...”
Ông Trịnh cười cay đắng, khóe miệng méo xệch trong một cái lắc đầu tuyệt vọng:
“Vô ích thôi Vĩnh. Bác sĩ quen ở Chợ Rẫy tháng trước đã dặn tôi rồi, đáy mắt bị thoái hóa võng mạc tuổi già, tế bào thần kinh đã teo dần, không mổ xẻ hay đổi kính nào cứu vãn được trong ngày một ngày hai đâu. Chỉ có điều... tôi không ngờ nó lại sập xuống đúng lúc này, ngay giữa canh bạc sống còn của chúng ta.”
Ông Trịnh run rẩy co những ngón tay khẳng khiu lại, úp trọn khuôn mặt hốc hác vào lòng bàn tay khô khốc. Lưng ông còng rạp xuống, chiếc áo sơ mi màu cỏ úa đã sờn rách ở cổ áo run lên bần bật theo từng nhịp thở ngắt quãng.
“Năm ngày... Thành An chỉ cho chúng ta đúng năm ngày để trả toàn bộ bản sạch. Trễ một buổi thôi là chiếc máy Heidelberg lớn của xưởng phải tháo khuôn chữ để chạy đợt sách giáo khoa cho kịp mùa khai giảng niên khóa mới. Mất lượt này, chữ chì phải rã vào hòm, giấy Bãi Bằng phải hoàn lại kho cho mối khác, công sức gom góp từng đồng của con bé Tuệ Anh, những đêm thức trắng vẽ bìa của cậu Vĩnh, và cả tâm nguyện cuối đời của chị Mộc Lan... coi như tan thành mây khói vì đôi mắt phế thải này của tôi!”
Lời tự trách đau đớn ấy như lưỡi dao cùn cứa vào không gian tĩnh mịch của căn gác. Dưới tầng trệt, tiếng mọt nghiến gỗ trong kẹt tủ vang lên từng hồi khô khốc. Tuệ Anh ngồi yên lặng, hai bàn tay đan chặt vào nhau trên đầu gối. Cô nhìn bờ vai run rẩy của người thầy già, nhìn ba tay sách morasse bốn mươi tám trang đầu tiên còn vương mùi dầu hỏa và mực in nồng hắc đang nằm phơi mình dưới ánh đèn dầu leo lét.
Trong tâm trí cô, hàng loạt áp lực thực tế cuộn lên như một cơn lốc dữ dội: Một triệu rưỡi tiền mặt đặt cọc vật tư vừa nộp trưa nay tại văn phòng xưởng An Thành—số tiền mồ hôi nước mắt chắt bóp từ việc bán từng tập sách cũ, từng manh chiếu rách; ba trăm bản sách ký gửi đầy kỳ vọng với Nhà sách Minh Châu trên đường Nguyễn Huệ; khoản nợ tiền nhà ba tháng treo lơ lửng của bà Tư Lành với lời đe dọa xiết tiệm vào cuối tháng sáu; và trên hết là linh hồn của bốn trăm trang di thảo đang phập phồng chờ được hồi sinh sau hơn hai mươi năm chìm trong bóng tối lãng quên của thời cuộc.
Một ý nghĩ đầy cám dỗ thoảng qua đáy mắt cô: Liệu có nên cứ thế nhắm mắt cho qua? Thợ xưởng in An Thành vốn toàn những tay sắp chữ chì kỳ cựu đất Chợ Lớn, việc vào khuôn đã tương đối cẩn thận. Nếu ba người chỉ lướt sơ qua phần chính tả cơ bản, đối chiếu qua loa vài đề mục lớn rồi nhắm mắt đóng dấu duyệt morasse cho xong chuyện để kịp ca máy sáng thứ năm, liệu có ai ngoài đời kia đủ uyên thâm để phát hiện ra vài ba lỗi chính tả vụn vặt, một vài con chì sứt mẻ hay những khoảng trống con thoi bị chêm lệch?
Không! Ngay lập tức, bản năng của một biên tập viên chuyên nghiệp từng làm việc suốt mười năm trong ngành xuất bản giật nảy lên phản đối quyết liệt. Dù ở năm 2026 với những phần mềm soát lỗi tự động bằng trí tuệ nhân tạo, hay ở năm 1996 với những hộp chữ chì thủ công bám đầy bụi than chì độc hại, nguyên tắc cốt tử của nghề làm sách vẫn không hề thay đổi: Một cuốn sách khảo cứu ra đời với sự cẩu thả là một sự sỉ nhục tột cùng đối với tác giả, và là hành vi lừa dối bạn đọc không thể dung thứ. Cụ Huỳnh Tấn Nghĩa đã dành cả đời để lặn lội điền dã khắp các cù lao sông Tiền, sông Hậu, chắt lọc từng thuật ngữ Chăm, Nôm, từng phương ngữ Tây Nam Bộ cổ; nếu để con chữ chì đúc sai lạc trôi nổi trên trang in thương mại, cuốn sách sẽ biến thành một phế phẩm văn hóa, một vết nhơ vĩnh viễn không thể gột rửa trên thanh danh của di cảo.
Tuệ Anh hít một hơi thật sâu, luồng không khí ẩm mát của đêm Sài Gòn tràn vào lồng ngực xua tan mọi nỗi hoang mang dao động. Cô vươn tay qua mép bàn, nắm lấy bàn tay gầy guộc, lạnh ngắt của ông giáo Trịnh. Dưới lớp da mỏng như giấy bóng kính của ông, những vết chai sần vì mấy mươi năm cầm bút chấm mực sắt vẫn hằn sâu rõ rệt, cứng cỏi và kiên định.
“Thầy Trịnh, thầy nghe con nói này.” Giọng Tuệ Anh vang lên rành rọt, trầm tĩnh và kiên định đến lạ lùng, phá tan bầu không khí tang tóc trên căn gác. “Mắt thầy không đọc được mặt chữ đúc nhỏ li ti mười hai chấm trên bản morasse, nhưng toàn bộ linh hồn của *Hồn Đất Phù Sa* đang nằm nguyên vẹn trong trí nhớ của thầy. Từng đoạn khảo dị, từng gốc từ cổ, từng cách đặt câu và nhịp điệu văn phong của cụ Huỳnh Tấn Nghĩa mà thầy đã miệt mài nghiên cứu suốt mấy chục năm qua, không một cỗ máy in hiện đại nào hay đôi mắt sáng tinh tường của người trẻ chúng con có thể thay thế được.”
Ông Trịnh ngơ ngác ngẩng lên, đôi mắt mờ đục ướt nhòe hướng về phía phát ra giọng nói đanh thép của cô:
“Nhưng không nhìn thấy mặt chữ trên bản morasse kéo thử, làm sao tôi biết thợ xếp chữ có lộn con chì, có rớt dấu hay gắp nhầm chữ hoa chữ thường hay không?”
Tuệ Anh mỉm cười, nụ cười toát ra sự tự tin của một người làm nghề lâu năm đã trải qua bao phen khủng hoảng tiến độ ở những nhà xuất bản lớn nhất:
“Chúng ta sẽ không hiệu đính bằng mắt thường của một người nữa. Chúng ta sẽ làm bằng tai và mắt của cả ba người hợp lại. Con sẽ là đôi mắt đọc chữ của thầy, anh Vĩnh sẽ là đôi tay rà soát hình học cơ học, còn thầy... thầy sẽ là bộ não phán xét tối cao bằng đôi tai và ký ức học thuật trác tuyệt của mình!”
***
Quy trình hiệu đính đặc biệt lập tức được Tuệ Anh thiết lập ngay trên chiếc bàn gỗ thông thô mộc của gác lửng, vận dụng triệt để kỹ năng kiểm soát văn bản đa tầng mà cô từng được tôi luyện khắt khe ở tương lai.
Cô đứng dậy, kéo chiếc bàn dài ra sát chính giữa phòng, tháo chiếc bóng đèn dầu hạt đỗ đặt xuống sàn. Thay vào đó, Tuệ Anh treo ngọn đèn măng-sông mượn tạm của chú Dũng thợ điện dưới ngõ lên chiếc đinh móc chính giữa xà gồ. Tiếng bơm hơi rít lên khe khẽ, chiếc áo măng-sông bừng sáng một thứ ánh sáng trắng chói lòa, tỏa đều khắp mặt giấy, triệt tiêu hoàn toàn mọi bóng đổ tù mù của góc gác. Ba người ngồi vào ba vị trí đối xứng như một tam giác khép kín: Tuệ Anh ngồi chính diện, cầm trên tay bản morasse kéo thử thứ nhất của xưởng in; đối diện cô là ông giáo Trịnh, ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế đẩu, hai mắt nhắm nghiền để tập trung toàn bộ thính giác; còn Vĩnh ngồi bên tay phải cô, tay lăm lăm chiếc thước gỗ mộc mỏng bốn mươi phân và cây bút chì ruột mềm 2B đã được vót nhọn hoắt.
“Nguyên tắc làm việc của chúng ta như sau,” Tuệ Anh dứt khoát phân công, giọng điệu mang phong thái sắc sảo của một trưởng ban biên tập dày dạn kinh nghiệm. “Con sẽ đọc to rành rọt từng chữ, từng âm tiết, đọc rõ cả tên dấu thanh và dấu câu. Chỗ nào ngắt câu bằng dấu phẩy, dấu chấm phẩy, dấu hai chấm, gạch ngang hay mở ngoặc kép, con sẽ xướng tên dấu đó lên bằng âm lượng chuẩn. Thầy Trịnh chỉ cần lắng nghe nhịp điệu và từ ngữ: hễ thấy từ nào lệch so với bản thảo gốc của cụ Huỳnh Tấn Nghĩa, hoặc phát hiện ngữ nghĩa không thông, ngữ pháp gượng gạo, thầy lập tức hô ‘Dừng!’. Còn anh Vĩnh, anh dùng mép thước gỗ này rà sát dưới từng chân dòng chữ chì. Mắt anh không cần bận tâm đến nghĩa của từ, mà tập trung kiểm tra hình học: khoảng cách giữa các chữ có đều đặn không, chân chữ chì có bị mẻ hay nhòe mực không, và đặc biệt là canh lề hai bên có bị thụt thò hay rớt dòng vô lý không.”
Vĩnh gật đầu dứt khoát, ánh mắt ánh lên sự khâm phục kín đáo trước cách tư duy mạch lạc, khoa học đến lạnh lùng của cô gái trẻ. Anh tì cạnh thước gỗ mộc vào hàng đầu tiên của trang số một, ngón tay cái giữ chặt mép giấy Bãi Bằng ráp nhẹ:
“Tôi hiểu rồi. Con mắt của dân vẽ kỹ thuật chúng tôi vốn rất nhạy với những đường gióng thẳng hàng và sai số milimét. Cứ để tôi canh chừng phần cơ học và khoảng cách con thoi!”
Ông giáo Trịnh hít một hơi dài, lồng ngực gầy guộc phập phồng sau lớp áo sơ mi bạc màu. Nỗi tuyệt vọng và sự cay đắng ban nãy dần nhường chỗ cho một sự trang nghiêm, thiêng liêng kỳ lạ. Ông khẽ gật đầu, hai mi mắt khép chặt lại, hai bàn tay đặt ngay ngắn lên đầu gối theo thói quen của người ngồi thiền:
“Được rồi... Tuệ Anh, con bắt đầu đi. Bản thảo *Hồn Đất Phù Sa*, phần một: ‘Dấu tích phù sa và những bước chân mở đất’. Tôi đã thuộc nó từ khi còn ngồi đàm đạo với chị Lan bên ly trà mạn năm một chín tám mươi.”
Tuệ Anh hắng giọng, ngón tay trỏ đặt dưới dòng chữ đầu tiên, bắt đầu cất giọng đọc đều đặn, rành rọt, nhả từng âm tiết với độ vang vừa phải:
“Chương một hai chấm xuống dòng mở ngoặc kép. *Từ thuở những đoàn ghe bầu vượt sóng Cửa Hàn phẩy xuôi về phương Nam tìm miền đất hứa phẩy...*”
Giọng Tuệ Anh vang lên trong đêm vắng, âm sắc trầm ấm của người con gái sông Hương hòa quyện với chất giọng Sài Gòn nhẹ nhàng, từng thanh âm nhả ra tròn vành rõ chữ như tiếng chuông khánh điểm trong đêm.
“*...mùi sình lầy ngai ngái trộn lẫn với hương tràm nước mặn đã phả vào cánh mũi những lưu dân nét hoang sơ khôn tả chấm...*”
“Dừng!”
Tiếng ông Trịnh cất lên dứt khoát, sắc bén như một nhát cắt ngang không gian. Hai mắt ông vẫn nhắm nghiền, nhưng vầng trán nhăn lại đầy vẻ nghiêm cẩn:
“Chữ ‘tràm nước mặn’ là sai hoàn toàn! Cụ Huỳnh Tấn Nghĩa không bao giờ viết tràm nước mặn. Tràm là loài cây chỉ mọc ở vùng nước ngọt hoặc nước lợ phèn chua như U Minh, Đồng Tháp Mười; còn vùng đất bãi bồi duyên hải ngập mặn là giang sơn của rừng đước, rừng mắm! Bản thảo gốc cụ Nghĩa viết là: ‘hương mắm nước mặn’. Thợ xếp chữ xưởng An Thành là người Chợ Lớn, không rành thổ nhưỡng Tây Nam Bộ nên đã tự ý sửa chữ ‘mắm’ thành chữ ‘tràm’ vì nghĩ cùng là cây cỏ xứ này!”
Tuệ Anh lập tức cúi sát mắt xuống trang giấy dưới ánh đèn măng-sông. Quả nhiên, trên mặt chữ chì in rõ chữ “tràm” với con chì chữ “t” hơi nghiêng nhẹ. Cô cầm cây bút chì đỏ vót nhọn, vẽ một vòng tròn chuẩn xác quanh từ sai, kéo một đường chỉ dẫn thẳng thắp ra mép lề bên phải và nắn nót ghi ký hiệu hiệu đính quốc tế: gạch bỏ chữ chì sai, viết chữ thay thế “mắm” kèm ký hiệu morasse chuẩn mực cho thợ sửa khuôn.
“Thầy chuẩn xác tuyệt đối!” Tuệ Anh thốt lên, trong lòng dâng trào niềm thán phục khôn xiết. Trí tuệ của người học giả chân chính không nằm ở đôi mắt nhìn con chữ bề mặt, mà nằm ở sự thấu hiểu tường tận đến từng thớ vỏ, từng cọng rễ của đời sống văn hóa và tự nhiên Nam Bộ.
Cùng lúc đó, Vĩnh cũng gõ nhẹ đầu thước gỗ xuống mặt giấy Bãi Bằng:
“Chỗ này nữa Tuệ Anh. Nhìn dòng thứ tư từ trên xuống: khoảng trắng giữa chữ ‘lưu’ và chữ ‘dân’ bị hở tới gần ba milimét. Thợ sắp chữ đã chêm nhầm con chì đệm hai chấm thay vì một chấm rưỡi, làm hàng chữ bị loãng toạc ra, mất thế chân vạc của dòng Didot. Đánh dấu sửa khoảng cách cơ học luôn đi cô!”
Tuệ Anh nhanh thoăn thoắt chấm bút chì đỏ, ghi ký hiệu nén khoảng cách dạng hai dấu ngoặc ôm sát. Bộ ba vận hành nhịp nhàng như một cỗ đồng hồ cơ khí tinh xảo: Mắt nhìn, tai nghe, thước rà, óc phán xét. Từng dòng chữ chì như đi qua một chiếc máy quét ba chiều vô hình nhưng vô cùng chuẩn xác, không một hạt bụi hay vết xước nào có thể lọt qua kẽ lưới nghiêm cẩn của họ.
***
Suốt ba đêm liền, căn gác lửng của tiệm Mộc không hề tắt đèn.
Sài Gòn về khuya dần chìm vào giấc ngủ sâu sau một ngày lăn lộn mưu sinh. Tiếng còi xe máy thưa thớt trên đường Trần Nhân Tôn rồi tắt hẳn vào khoảng một giờ sáng, chỉ còn lại tiếng rao đêm ngậm ngùi, đơn độc của người bán bánh khúc từ con hẻm sâu vọng lại trên nền sương lạnh. Nhưng trên căn gác gỗ nhỏ hẹp, nhịp điệu của những con chữ vẫn đều đặn ngân vang như nhịp chèo khua trên sóng.
Áp lực thời gian đè nặng lên từng canh giờ trôi qua. Năm ngày cho gần bốn trăm trang bản thảo dày đặc tư liệu, với hàng chục ngàn từ cổ, chữ Chăm phiên âm La-tinh và địa danh Nam Bộ biến âm, đồng nghĩa với việc mỗi đêm họ phải duyệt sạch ít nhất tám mươi trang sách. Mắt Tuệ Anh bắt đầu cay xè, mi mắt nặng trĩu vì khói đèn và bụi giấy Bãi Bằng; cổ họng cô rát buốt, khan đặc sau nhiều giờ đọc to liên tục không ngừng nghỉ. Những ngón tay cầm bút chì đỏ của cô đã chai cứng, hằn sâu một vết lõm đỏ ửng. Nhưng cứ mỗi khi ngước nhìn lên, thấy ông giáo Trịnh vẫn ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế đẩu mục, lưng thẳng tắp, đôi mắt nhắm nghiền nhưng tinh thần mẫn tiệp đến phi thường, cô lại tự cắn chặt môi, nuốt ngụm nước lạnh để tiếp tục dấn bước.
Sự kiên trì của họ không hề cô độc giữa xóm nghèo lao động này. Cả con hẻm dường như cùng thở chung một nhịp thở thầm lặng với căn gác nhỏ của tiệm Mộc.
Chị Thu Cúc buôn bán vất vả cả ngày ngoài chợ Nancy, đôi quang gánh oằn trĩu trên vai từ tờ mờ sáng đến chập tối, nhưng cứ tầm mười một giờ đêm, khi đã dọn rửa xong xuôi nồi niêu gánh bắp luộc, chị lại lặng lẽ xách chiếc phích Rạng Đông tráng men hoa hồng bước lên những bậc cầu thang gác ọp ẹp. Tiếng bước chân trần của chị nhẹ tênh, khẽ khàng như sợ làm vỡ tan bầu không khí tập trung cao độ của ba người bên bàn chữ.
“Tôi có ấm trà tim sen pha với chút mật ong rừng u Minh đây, cô Tuệ Anh uống một hớp cho nhuận cổ họng mà đọc tiếp,” chị Cúc thì thầm, đặt chiếc mâm nhôm nhỏ đựng ba tách sứ men lam cáu bẩn cùng đĩa khoai mì hấp nước cốt dừa thơm nức lên góc bàn. “Thầy Trịnh ráng uống miếng nước nóng cho ấm tỳ vị. Mấy người thức đêm thức hôm liên tù tì kiểu này coi chừng trúng gió độc thì khổ lắm.”
Ông Trịnh hé mắt, mỉm cười đón lấy chén trà nóng bốc khói nghi ngút từ tay người phụ nữ tảo tần:
“Cảm ơn chị Cúc. Trà thơm và thanh lắm... Nhờ có chén trà ấm này của chị mà cái đầu già nua đầy tro trấu của tôi mới không bị mụ mị đi đấy.”
Dưới chân cầu thang, bé Hạnh ngồi bệt trên ngạch cửa gỗ lim mòn vẹt, đôi mắt đen láy trong veo chăm chú theo dõi từng cử động trên gác lửng. Con bé mười tuổi gầy gò, hiểu chuyện đến mức khiến người ta phải chạnh lòng thương xót. Suốt mấy ngày qua, Hạnh không hề vòi vĩnh đòi xem ké mấy cuốn truyện tranh *Dũng sĩ Hesman* hay chạy nhảy ồn ào như mọi bận. Sau khi đi bán xong sáu mươi tờ vé số kiến thiết buổi chiều về, em tự giác lấy chổi quét tước sạch sẽ gian tiệm trước, dùng giẻ ướt lau sạch từng chiếc ghế gỗ cho khách ngồi đọc, rồi lặng lẽ ngồi thu lu một góc dưới ánh đèn hắt ra từ quầy thu ngân.
Trên manh chiếu nhỏ, Hạnh cặm cụi với chiếc lưỡi dao lam Croma cùn đã được chị Cúc quấn băng keo cẩn thận một đầu để con bé khỏi cứa vào tay. Em tỉ mẩn gọt sẵn từng cây bút chì đỏ cho Tuệ Anh. Con bé gọt khéo léo lạ lùng: đầu chì đỏ được chuốt nhọn hoắt như đầu kim may bao bố, từng thớ gỗ tuyết tùng được gọt phẳng phiu, mịn màng, rồi xếp ngay ngắn thành một hàng mười cây thẳng tắp trong chiếc hộp thiếc bánh Danisa cũ rỉ sét. Cứ hễ thấy cây bút chì trên tay Tuệ Anh mòn đi một chút, phát ra tiếng sột soạt hơi tù trên mặt giấy, Hạnh lại rón rén bước từng bước êm như mèo lên cầu thang, lặng lẽ đổi cây bút chì mới nhọn hoắt vào tay cô rồi lùi xuống, tuyệt nhiên không phát ra một tiếng động nhỏ nào.
Mỗi khi có mấy đứa trẻ con hiếu động trong xóm đuổi bắt nhau ngang qua cửa tiệm, reo hò ầm ĩ ngoài ngõ, Hạnh liền lập tức bật dậy như một chiếc lò xo, chạy vụt ra trước cửa, dang hai tay ra chặn lại và đưa ngón tay trỏ lên môi suỵt thật khẽ:
“Đi khẽ thôi tụi mày! Chị Tuệ Anh với ông giáo đang làm việc đại sự cứu sách cho tiệm đó, đứa nào mà làm ồn là tao méch má tao, mốt không cho mượn đọc cọp truyện tranh nữa đâu!”
Sự bao bọc thầm lặng, vụng về mà tha thiết của mẹ con chị Cúc và cả góc phố lao động nghèo này đã biến căn gác lửng của Mộc thành một pháo đài bình yên kỳ lạ giữa lòng đô thị đang chuyển mình dữ dội. Giữa những bộn bề lo toan của cơn lốc cơm áo gạo tiền thời mở cửa, con chữ và tri thức vẫn được nâng niu, gìn giữ bằng thứ tình cảm mộc mạc, thuần khiết và thiêng liêng nhất của những con người dưới đáy xã hội.
***
Đêm thứ tư, canh ba.
Cơn gió ẩm từ hướng bến Hàm Tử và kênh Tàu Hủ thổi thốc về mang theo hơi nước mát lạnh, làm dịu bớt cái ngột ngạt của căn phòng kín bưng mùi dầu hỏa. Bầu trời ngoài khung cửa sổ đen kịt như mực tàu, lấp lánh vài đốm sao le lói qua tầng mây mỏng trôi dạt về phương Nam. Trên bàn gỗ, xấp morasse gốc đã vơi đi trông thấy; tập giấy đã được hiệu đính sạch sẽ xếp cao thành một chồng dày dặn bên tay trái Tuệ Anh, mép giấy chi chít những ký hiệu sửa morasse bằng mực đỏ sắc nét, ngay ngắn như hàng quân duyệt binh.
Họ đang đi vào những trang cuối cùng của phần khảo cứu phương ngữ Tây Nam Bộ—phần phức tạp và gai góc nhất của toàn bộ công trình, nơi chứa đựng vô số từ cổ đã biến mất khỏi đời sống thị thành hiện đại.
“Trang ba trăm sáu mươi tám,” giọng Tuệ Anh đã khản đặc, từng sợi thanh quản như căng ra hết mức, nhưng từng âm tiết vẫn giữ nguyên độ chuẩn xác lạnh lùng. “Đoạn nói về tục cúng việc lề của cư dân ven sông Vàm Cỏ phẩy... *Người nông phu dọn mâm cúng trên chiếc trảng cỏ phẩy lễ vật gồm có chè xôi phẩy một con gà luộc và ba chén ‘nước mắm nhỉ’ nguyên chất chấm...*”
“Khoan đã!”
Ông giáo Trịnh giơ ngón tay trỏ khẳng khiu lên giữa không trung, hàng chân mày bạc nhíu chặt lại thành một nếp gấp sâu hoắm trên trán. “Chữ ‘nhỉ’ ở đây trên bản morasse viết bằng dấu hỏi hay dấu ngã?”
Tuệ Anh chớp chớp đôi mắt mỏi nhừ, ghé sát mặt xuống dòng chữ chì dưới luồng sáng trắng của đèn măng-sông:
“Dạ, trên bản in thử thợ dùng con chì chữ ‘nhỉ’ có dấu hỏi ạ.”
Ông Trịnh lắc đầu dứt khoát, giọng ông đanh lại, trang nghiêm như đang đứng trước bục giảng năm xưa:
“Sai! Đó là cái sai phổ biến của người miền ngoài hoặc những người không hiểu cội nguồn sâu xa của phương ngữ Nam Bộ. ‘Nước mắm nhỉ’ mà người ta hay viết tràn lan trên biển hiệu bây giờ là cách hiểu sai lệch theo nghĩa rỉ ra tí tách. Trong văn cảnh khảo cứu văn hóa ẩm thực cổ truyền của cụ Nghĩa, từ này bắt buộc phải viết là ‘nước mắm nhĩ’ với dấu ngã! Chữ ‘nhĩ’ ở đây mượn từ gốc Hán tự có nghĩa là lỗ tai, để chỉ những giọt nước mắm cốt đầu tiên, tinh túy và đậm đà nhất rỉ ra từ chiếc lỗ lù—tức cái lỗ nhỏ như lỗ tai đục sát đáy thùng gỗ lều ủ cá cơm! Cụ Huỳnh Tấn Nghĩa là người cực kỳ duy mỹ và cẩn trọng về văn tự cổ, cụ viết chữ ‘nhĩ’ dấu ngã để bảo tồn trọn vẹn cái hình ảnh chiếc lỗ lù đáy thùng ủ chượp. Sửa lại ngay lập tức cho tôi, không được phép để sót một dấu câu hay thanh âm nào làm tổn thương phong vị cổ điển của văn phong cụ!”
Tuệ Anh mỉm cười trong lòng, một niềm kính phục sâu sắc dâng trào nơi đáy mắt. Cô cẩn thận dùng đầu bút chì đỏ sắc nhọn vạch một nét móc chuẩn xác, nắn nót sửa chữ “nhỉ” dấu hỏi thành chữ “nhĩ” dấu ngã ra ngoài mép lề, kèm theo dòng ghi chú rõ ràng cho thợ sửa khuôn xưởng An Thành.
Ngay lúc đó, chiếc thước gỗ của Vĩnh bỗng khựng lại ở dòng áp chót của trang sách. Chàng sinh viên kiến trúc nheo mắt, cúi gập người xuống, rút trong túi áo ra chiếc kính lúp nhỏ mượn của bác thợ sửa đồng hồ Liên Xô đầu ngõ:
“Tuệ Anh, nhìn kỹ con chữ này xem! Chữ ‘v’ trong từ ‘ven sông’... hình như thợ sắp chữ đã gắp nhầm con chì chữ ‘u’ lộn ngược đầu thì phải!”
Tuệ Anh lập tức cầm kính lúp soi sát vào mặt giấy Bãi Bằng. Dưới độ phóng đại của thấu kính thủy tinh, sự thật hiện ra mồn một: Bụng của con chữ chì bị bè tròn ra ở phần đáy, hai chân chữ phía trên không hề có ngấn sắc và nét thanh nét đậm đặc trưng của phông Didot mười hai chấm. Thợ sắp chữ trong lúc mỏi mắt giữa ca đêm đã vô tình gắp một con chì chữ “u” thường từ khay bên cạnh, lộn ngược đầu lại và nhét vào hàng chữ thay cho chữ “v”.
Trong kỹ thuật in typo sắp chữ chì thủ công, đây là một trong những “tai nạn ma quái” tinh vi nhất. Những con chữ có hình dáng tương đồng khi quay ngược góc độ rất dễ đánh lừa thị giác người đọc lướt, nhất là dưới ánh đèn vàng vọt tù mù của xưởng in. Nếu không có con mắt đo đạc khắt khe, nhạy bén từng góc cạnh hình học của một người học kiến trúc như Vĩnh, lỗi lộn chữ chì quái ác này chắc chắn sẽ trôi qua trơn tru và in hằn lên hàng ngàn bản sách chính thức.
“Phát hiện tuyệt vời lắm anh Vĩnh!” Tuệ Anh khẽ reo lên, nhanh tay đánh dấu ký hiệu đảo chiều con chì vào mép lề trang sách.
Cứ như thế, từng lỗi lộn con chì, từng dấu hỏi dấu ngã bị thợ gắp sai hộp, từng khoảng cách dòng bị chêm lệch bởi những thỏi chì mỏng... đều bị bộ ba lôi ra ánh sáng dưới ngọn đèn măng-sông rực rỡ, uốn nắn lại cho ngay ngắn, chuẩn mực. Phong vị cổ điển, vẻ đẹp uy nghi, trầm tích và thanh thoát của ngôn ngữ Nam Bộ đầu thế kỷ hai mươi dần dần hiện hình nguyên vẹn trên từng trang giấy, tinh khiết như chưa từng bị thời gian hay sự cẩu thả của con người làm hoen ố.
Khi Tuệ Anh đọc to dấu chấm câu cuối cùng kết thúc trang Lời Bạt của cuốn sách, chiếc đồng hồ quả lắc treo dưới vách gỗ tầng trệt bắt đầu điểm những tiếng chuông chậm rãi, ngân vang và trầm buồn. Bốn tiếng. Bốn giờ sáng.
Toàn bộ ba trăm chín mươi sáu trang morasse đã được rà soát sạch bóng, không còn sót lại một vết gợn nhỏ nào!
Một cảm giác nhẹ nhõm, thanh thản kỳ diệu ùa vào lồng ngực Tuệ Anh, khiến những mệt mỏi rã rời tích tụ suốt mấy đêm trắng dường như tan biến sạch sẽ. Cô cẩn thận xếp lại toàn bộ tập morasse dày cộm cho thật phẳng phiu, gõ nhẹ bốn cạnh giấy xuống mặt bàn gỗ thông cho ngay ngắn thành một khối vuông vức, rồi trân trọng đẩy tập bản thảo sang trước mặt người thầy già.
“Thưa thầy Trịnh, ba trăm chín mươi sáu trang bản thảo *Hồn Đất Phù Sa* đã hoàn tất hiệu đính sạch lỗi. Xin thầy ký duyệt bản morasse cuối cùng để sáng nay chúng con mang sang xưởng in An Thành lên máy.”
Ông giáo Trịnh chầm chậm mở mắt ra. Đôi mắt ông vẫn đục mờ một màn sương xám xịt, nhưng sâu thẳm bên trong đồng tử lại ánh lên một niềm xúc động nghẹn ngào khôn tả. Ông run run đón lấy cây bút máy Hero bơm mực tím Cửu Long từ tay Vĩnh. Bàn tay già nua lần mò theo sự dẫn dắt nhẹ nhàng của ngón tay Tuệ Anh, chạm vào góc dưới cùng bên phải của trang in thử cuối cùng—nơi có dòng chữ in sẵn bằng mực đen: *Đại diện hiệu đính văn bản ký duyệt*.
Ngòi bút kim tinh màu vàng khẽ chạm xuống mặt giấy Bãi Bằng ráp nhẹ. Ông Trịnh nín thở, nắn nót ký từng nét chữ quen thuộc, mềm mại và thanh thoát mà cả đời ông đã từng ký lên hàng ngàn bài thi của các thế hệ học trò Petrus Ký: *Trịnh Văn Nghiêm*. Nét mực tím tươi rói thấm sâu vào từng thớ xơ của vỏ cây, dứt khoát và kiêu hãnh như một lời cam kết danh dự của người trí thức trước lịch sử và thời gian.
Ký xong nét gạch dưới cuối cùng, ông Trịnh buông cây bút máy xuống bàn. Ông không kìm nén được cảm xúc nữa, hai cánh tay gầy guộc vươn ra, run rẩy nắm chặt lấy bàn tay nhỏ bé của Tuệ Anh. Những ngón tay xương xẩu của người thầy già siết mạnh, truyền sang cô một luồng hơi ấm nồng nàn và mãnh liệt:
“Tuệ Anh à... Tôi cả đời đi dạy văn, yêu chữ nghĩa đến mức cố chấp và gàn dở, nhưng chưa bao giờ trong cuộc đời bảy mươi năm này, tôi thấy con chữ lại có sức mạnh gắn kết con người kỳ diệu như mấy đêm nay. Con đã cứu sống công trình này, con đã giữ trọn lời thề danh dự cho dì Mộc Lan của con nơi chín suối...”
Giọng người thầy già nghẹn lại, hai giọt lệ đục mờ lăn dài trên đôi gò má nhăn nheo:
“Nhớ lấy lời tôi nghe con... Sách vở hay chữ nghĩa, dù có in bằng mực vàng giấy bạc, cũng chỉ là đống giấy vụn vô tri nếu không có người đọc và người thực sự hiểu nó. Tri thức chỉ thực sự bất tử khi nó tìm được người truyền thừa xứng đáng, biết cúi đầu kính cẩn trước từng dấu phẩy, dấu chấm. Tiệm Mộc này có con... là cái phúc lớn nhất của những cuốn sách cũ trôi dạt giữa cõi đời này!”
Tuệ Anh cảm thấy sống mũi mình cay xè, một ngọn lửa ấm áp bùng lên nơi đáy ngực. Những lời gan ruột của ông giáo Trịnh chạm thẳng vào nỗi cô đơn sâu kín nhất mà cô hằng chôn giấu từ cái ngày định mệnh bị cuốn trôi về năm 1996. Ở cái thời đại không internet, không máy vi tính, không có những công cụ tìm kiếm tự động hay mạng xã hội ồn ào này, cô đã từng có những đêm thức trắng trong hoảng loạn, tự hỏi liệu mình có phải chỉ là một bóng ma lạc loài, một kẻ xa lạ bị thời gian bỏ rơi. Nhưng ngay lúc này, khi nhìn thấy ánh mắt tin cậy tuyệt đối của ông Trịnh, nhìn thấy nụ cười hiền hậu, vững chãi của Vĩnh bên cạnh, cô hiểu rằng mình đã tìm thấy cội rễ. Cô thuộc về nơi này, thuộc về từng trang sách đang phập phồng sự sống giữa lòng thành phố thân thương này.
Vĩnh nhìn Tuệ Anh, ánh mắt chàng sinh viên kiến trúc dịu dàng lạ thường dưới ánh sáng trắng của ngọn đèn măng-sông. Anh không nói một lời hoa mỹ nào, chỉ lặng lẽ rút chiếc khăn tay vải bông màu xanh nhạt giặt sạch trong túi áo, khẽ khàng chấm những vệt mồ hôi li ti còn đọng trên trán và thái dương cô. Cử chỉ tự nhiên, vụng về nhưng tràn ngập sự che chở ấy khiến trái tim Tuệ Anh khẽ rung lên một nhịp xao xuyến bình yên đến lạ kỳ.
***
Sáu giờ ba mươi phút sáng ngày thứ năm.
Sài Gòn thức giấc trong màn sương sớm bảng lảng mỏng như dải lụa. Ánh bình minh vàng óng như mật ong mới rót rải đều xuống những vòm me xanh mướt mát dọc theo đường Trần Nhân Tôn. Tiếng chuông xe đạp leng keng rộn rã hòa cùng tiếng máy nổ giòn giã của những chiếc xe Honda Super Cub, tiếng chổi tre quét đường loẹt xoẹt và tiếng rao bánh mì nóng giòn của những đứa trẻ đầu ngõ bắt đầu khuấy động một ngày mới tràn đầy nhựa sống.
Trước cửa tiệm Mộc, chiếc xe đạp Martin 107 khung inox sáng bóng của Vĩnh đã được anh lau chùi sạch sẽ từ lúc năm giờ sáng, xích líp được tra dầu máy êm ru không một tiếng kêu rít. Tuệ Anh bước ra từ gian tiệm, trên tay ôm chặt chiếc cặp da lớn màu nâu sẫm của cố hiệu trưởng Mộc Lan, bên ngoài bọc cẩn thận hai lớp bao nilon dẻo để chống nước mưa bất chợt. Bên trong chiếc cặp da ấy là toàn bộ ba trăm chín mươi sáu trang morasse đã được chỉnh sửa sạch bóng, mang theo chữ ký mực tím tươi rói của ông giáo Trịnh Văn Nghiêm.
Chị Thu Cúc đứng đợi sẵn bên bậc cửa, hai tay dúi vào lòng Tuệ Anh và Vĩnh hai gói xôi bắp nóng hổi bọc trong lá chuối tươi, thơm nồng mùi hành phi và đậu xanh:
“Hai đứa cầm theo ăn lót dạ dọc đường kẻo đói lả người. Đi đứng cho cẩn thận nghen con, qua mấy ngã tư nhớ dòm trước ngó sau. Cầu trời khấn Phật cho chuyến in này xuôi chèo mát mái!”
Bé Hạnh đứng tựa lưng vào bậu cửa gỗ, hai bàn tay nhỏ xíu vẫy rối rít, khuôn mặt rạng rỡ dưới nắng mai:
“Anh Vĩnh đạp xe cho nhanh nha! Nhớ canh chừng mấy chú thợ in đừng làm rách sách đẹp của tiệm mình nghen anh!”
Vĩnh cười rạng rỡ, để lộ hàm răng trắng đều đặn. Anh gạt chân chống, nhấn mạnh bàn đạp. Chiếc xe đạp Martin 107 lướt êm ru trên mặt đường nhựa còn đọng hơi sương sớm, chở Tuệ Anh thẳng hướng đường Lý Thái Tổ. Gió sớm đầu hạ mơn man trên mái tóc ngắn của Tuệ Anh, mang theo hương hoa lài thanh khiết từ những khu vườn biệt thự cổ và mùi thơm ngai ngái của đất trời phương Nam. Cô ngồi nép nhẹ sau lưng Vĩnh, cảm nhận tấm lưng rộng vững chãi của chàng trai đang chắn từng cơn gió ngược cho mình, trong lòng ngập tràn một niềm tin mãnh liệt vào ngày mai.
Bảy giờ kém mười lăm phút, chiếc xe đạp rẽ vào con hẻm sâu quen thuộc và dừng lại trước cánh cổng sắt đồ sộ sơn màu xanh xám của Xưởng in An Thành.
Khu xưởng in đã bắt đầu một ngày làm việc mới trong bầu không khí hối hả, khẩn trương. Tiếng máy móc kim loại va đập leng keng, tiếng mô-tơ điện gầm rú và tiếng công nhân gọi nhau rộn rã át cả tiếng gió ngoài sân. Khi Tuệ Anh và Vĩnh bước vào văn phòng điều hành ở gian giữa, chủ xưởng Ngô Thành An đang đứng bên chiếc bàn gỗ lim lớn, tay lăm lăm chiếc kính lúp soi từng chi tiết trên một bản kẽm vừa ăn mòn axit, vẻ mặt đầy căng thẳng và khó tính quen thuộc.
“Hai cô cậu đến sớm thế?” Thành An ngẩng đầu lên, liếc nhìn chiếc đồng hồ treo tường hiệu Poljot của Liên Xô rồi nhướng mày nhìn Tuệ Anh với ánh mắt dò xét. “Hôm nay là hạn chót ngày thứ năm rồi đấy nhé. Tôi nói trước một lần cuối: nếu xấp morasse này còn lem nhem lỗi chính tả, hoặc chưa xử lý dứt điểm mấy cái dị bản phương ngữ lùng bùng thì đừng có trách tôi nhẫn tâm. Đúng tám giờ ba mươi, tôi sẽ cho kíp thợ rã toàn bộ khuôn chữ chì Didot để lên máy in đợt sách giáo khoa mới. Ca máy Heidelberg của tôi là tiền tươi thóc thật, không thể vì một cuốn sách khảo cứu tư nhân mà làm trễ hợp đồng với Ty Giáo dục đâu!”
Tuệ Anh không hề tỏ ra nao núng hay bối rối trước thái độ gay gắt của người thợ in già. Cô điềm tĩnh bước lại gần bàn, từ tốn cởi bỏ hai lớp nilon bọc ngoài, trân trọng mở khóa chiếc cặp da và đặt tập bản thảo dày cộp, vuông vức lên mặt bàn gỗ lim ngay trước mắt Thành An:
“Thưa chú An, chúng cháu nộp bản morasse đúng hẹn như đã cam kết. Toàn bộ ba trăm chín mươi sáu trang sách đã được rà soát tỉ mỉ từng con chữ, từng dấu thanh, từng khoảng cách con chì và canh lề hình học, có chữ ký duyệt bản in cuối cùng của chính thầy Trịnh Văn Nghiêm.”
Thành An nhìn xấp giấy Bãi Bằng phẳng phiu, mép giấy ngay ngắn không một nếp gấp, ánh mắt thoáng chút nghi ngờ lẫn kinh ngạc. Ông đặt chiếc kính lúp xuống, kéo chiếc kính lão đồi mồi xuống sát sống mũi, với tay cầm lấy tập morasse đầu tiên và bắt đầu lật giở từng trang.
Ban đầu, những ngón tay thô ráp, chai sạn vì mấy chục năm tiếp xúc với chì và dầu máy của người thợ già lật rất nhanh, vẻ mặt đầy vẻ hoài nghi. Nhưng chỉ sau năm trang đầu tiên, tốc độ lật của ông bắt đầu chậm dần, chậm dần. Đôi lông mày rậm rạp của Thành An nhíu chặt lại, ánh mắt sắc sảo dừng lại rất lâu ở từng dòng, từng mép lề có ghi chú bằng mực đỏ.
Từng ký hiệu hiệu đính morasse của Tuệ Anh hiện lên vô cùng chuẩn mực, sắc sảo và mang tính chuyên môn tuyệt đối: ký hiệu đảo chữ chì con thoi, ký hiệu bỏ dấu thanh thừa, ký hiệu nén khoảng cách hai chấm thành một chấm rưỡi, ký hiệu canh thẳng lề khối chữ... Tất cả đều được vẽ bằng những nét mực đỏ dứt khoát, thanh mảnh theo đúng quy chuẩn biên tập của các nhà xuất bản hiện đại. Không hề có một vết tẩy xóa nhem nhuốc, không có một dòng chỉ dẫn mơ hồ nào khiến thợ sắp chữ phải đoán mò. Đặc biệt, ở những chỗ đính chính các từ ngữ cổ phức tạp như “rừng mắm”, “nước mắm nhĩ”, Tuệ Anh còn cẩn thận ghi chú xuất xứ đối chiếu từ bản in khảo cứu năm 1974 của Viện Khảo cổ để kíp thợ hoàn toàn tâm phục khẩu phục.
Thành An lật đến trang cuối cùng của tập bản thảo. Dòng chữ ký mực tím thanh thoát, bay bổng nhưng đầy uy lực của học giả *Trịnh Văn Nghiêm* đập thẳng vào mắt ông.
Bàn tay thô ráp của người thợ in già khẽ run lên. Ông buông tập giấy xuống mặt bàn gỗ lim, từ từ ngả lưng ra sau chiếc ghế tựa. Ông tháo chiếc kính lão xuống, ngẩng đầu lên nhìn trừng trừng vào Tuệ Anh, rồi lại nhìn sang Vĩnh. Sự lạnh lùng, sắt đá và thực dụng trên gương mặt từng trải ấy bỗng chốc tan biến hoàn toàn, thay vào đó là một vẻ sững sờ, khâm phục chân thành lộ rõ trong từng nếp nhăn nơi khóe mắt.
“Xuất sắc... Thực sự là quá xuất sắc!” Thành An thở phào một hơi dài, giọng ông trầm xuống, run run vì xúc động. “Tôi làm nghề thợ in này hơn ba mươi năm nay ở đất Chợ Lớn, Sài Gòn, từng kinh qua đủ loại bản thảo từ thời Pháp, thời Cộng hòa cho đến tận bây giờ, qua tay không biết bao nhiêu nhà xuất bản lớn nhỏ, nhưng quả thực chưa từng thấy một bản morasse nào được sửa chữa sạch sẽ, cẩn trọng và đạt trình độ nhà nghề thượng thừa đến mức này! Cô gái à, cô không đơn thuần là người đi làm sách thuê đâu... Cô chính là một chuyên gia biên tập bậc thầy mà xưởng in chúng tôi hằng mong mỏi được hợp tác!”
Ông bật dậy khỏi ghế, quay ngoắt người ra phía cửa thông xuống xưởng máy, cất giọng sang sảng quát to át cả tiếng ầm ĩ của động cơ:
“Anh Bảy đâu! Thằng Hưng đâu! Tụi bây bỏ hết việc ở tổ kẽm đó, chạy ngay ra đây nhận lệnh cho tao mau!”
Hai người thợ sắp chữ chì kỳ cựu mặc áo bà ba xanh đã bạc phếch, hai bàn tay dính đầy dầu luyn đen nhánh lập tức chạy vội vào văn phòng, vẻ mặt đầy thảng thốt:
“Dạ có tụi em đây chú An! Có chuyện gì gấp vậy chú?”
Thành An vỗ mạnh bàn tay to bản xuống xấp bản thảo dày cộp của tiệm Mộc, mắt rực sáng lên một ngọn lửa tự hào nghề nghiệp đã nguội lạnh từ lâu:
“Mang toàn bộ tập morasse ba trăm chín mươi sáu trang này xuống phòng sắp chữ chì ngay! Tập trung toàn bộ kíp thợ giỏi nhất, chia nhau chỉnh sửa lại những con chì đánh dấu mực đỏ trong vòng đúng hai tiếng đồng hồ cho tao. Sau đó, mang toàn bộ các khuôn chữ Didot ra máy in số hai...”
Ông dừng lại một nhịp, hít một hơi thật sâu lồng ngực căng tràn rồi dằn từng tiếng đầy uy lực:
“Cho lệnh khóa chặt toàn bộ khuôn đúc! Đổ mực ngoại cao cấp, lên giấy Bãi Bằng loại một, khởi động cỗ máy Heidelberg dập trọn gói một ngàn cuốn *Hồn Đất Phù Sa* cho tiệm Mộc!”
“Dạ rõ! Tụi em làm liền!” Hai người thợ reo lên đầy phấn khởi, cẩn thận nâng niu ôm lấy tập bản thảo morasse chạy như bay xuống gian xưởng máy.
Thành An quay lại nhìn Tuệ Anh và Vĩnh, nở một nụ cười sảng khoái, đôn hậu hiếm hoi trên khuôn mặt gồ ghề đầy sẹo muội than. Ông đưa bàn tay thô ráp, nồng nặc mùi dầu máy ra bắt chặt lấy bàn tay nhỏ nhắn của Tuệ Anh:
“Chúc mừng tiệm Mộc! Chúc mừng các bạn trẻ! Đi theo tôi xuống xưởng, hôm nay hai đứa phải tận mắt chứng kiến đứa con tinh thần này chào đời trên máy Heidelberg!”
Khi cánh cửa sắt ngăn cách gian xưởng mở toang, một thế giới cơ khí kỳ vĩ và choáng ngợp hiện ra trước mắt Tuệ Anh. Cỗ máy in Heidelberg khổng lồ màu xanh lục thẫm đứng uy nghi sừng sững giữa gian phòng rộng lớn, những bánh răng thép sáng loáng bắt đầu chuyển động nhịp nhàng theo tiếng rền vang trầm hùng của khối động cơ điện ba pha. Người thợ cả thoăn thoắt đôi bàn tay điêu luyện gạt cần điều khiển, dùng chiếc cờ-lê siết chặt những chiếc ốc hãm bằng đồng thau sáng bóng, khóa chặt bộ khuôn chữ chì Didot phẳng phiu trên bàn máy.
Tiếng máy dập cơ khí vang lên đều đặn, mạnh mẽ và dứt khoát như nhịp đập của một trái tim khổng lồ vừa được đánh thức sau một giấc ngủ đông dài dằng dặc. Trục lăn bọc cao su đen bóng cuộn qua máng mực, dàn đều một lớp mực in màu đen tuyền óng ả lên bề mặt hàng vạn con chữ chì đang kiêu hãnh ngẩng đầu chờ đợi. Những tờ giấy Bãi Bằng trắng ngà, dày dặn được hệ thống nhíp sắt gắp vào nhịp nhàng theo từng vòng quay của trục máy.
Mùi mực in tươi nồng nàn và tiếng giấy xào xạc tràn ngập xưởng in khi những trang sách đầu tiên rời khỏi trục lăn.