Tiếng Máy In Chữ Chì An Thành
Tiếng gõ kim loại chan chát cùng mùi dầu nhớt ngai ngái pha lẫn mùi mực in nồng đậm xộc thẳng vào mũi Tuệ Anh ngay khi cô vừa bước qua cánh cổng sắt hoen gỉ của xưởng in An Thành.
Khu đất xưởng lọt thỏm giữa một con hẻm ngoằn ngoèo rợp bóng lồng đèn đỏ và những biển hiệu chữ Hán viền vàng bạc màu nằm sâu bên đường Lý Thái Tổ. Bên ngoài con hẻm, nhịp sống Sài Gòn năm một chín chín sáu đang cuồn cuộn trôi qua với tiếng chuông xe đạp lách cách, tiếng nổ lẹt đẹt của những chiếc Honda Cub cánh én xả khói mù mịt, cùng tiếng chào mời lanh lảnh của các quầy hủ tiếu mì gõ. Tiếng dao gõ lách cách trên vành xe đẩy, tiếng rao chè đậu đen đá, tiếng máy may xập xình từ các tiệm may gia công quần áo mọc san sát bên hông cư xá cũ tạo nên một bản hòa âm xao xác, hỗn độn của một đô thị đang cựa mình trong cơn sốt thương mại hóa đầu thời kỳ mở cửa. Nhưng vừa lách mình qua cánh cổng sắt sơn xanh tróc lở từng mảng lớn của xưởng An Thành, thế giới của phố xá dường như bị nuốt chửng bởi một trường âm thanh cơ khí nặng nề, dồn dập và nghẹt thở.
Đó là tiếng đập huỳnh huỵch nhịp nhàng của những cỗ máy Typo ép phẳng đời cũ, tiếng kim loại va chạm khô khốc khi các thanh chuyền gạt giấy lướt qua bàn ép, và tiếng rào rào tựa như mưa rào mùa hạ của hàng chục ngàn con chữ chì đang được những bàn tay thợ thoăn thoắt gắp, thả vào các khay phân dòng. Khắp gian xưởng rộng chừng trăm mét vuông lợp mái tôn xi măng fibro thấp tè, không khí đặc quánh thứ hơi nóng tỏa ra từ động cơ điện ba pha và mùi dung môi rửa bản in hăng nồng làm cay xè khóe mắt. Hơi nóng hầm hập bị nén chặt dưới vòm mái tôn lâu năm đóng váng bồ hóng, biến gian xưởng thành một cái lò sấy khổng lồ lưu giữ mọi phế phẩm của nền công nghiệp in ấn cơ khí: mùi dầu hôi dùng để lau chùi các trục truyền động, mùi mực in gốc dầu béo ngậy pha lẫn mùi mồ hôi chua nồng toát ra từ lớp áo của những người thợ đang cởi trần trùng trục. Bụi giấy bay li ti trong những luồng sáng vàng vọt rọi xuống từ các bóng đèn sợi đốt chao chụp nhôm treo lơ lửng bằng dây thép gai. Từng dải bụi trắng mờ lơ lửng, cuộn xoáy mỗi khi bánh đà máy dập vung lên một vòng quay trớn, tạo ra một màn sương mờ ảo bao phủ khắp những dãy kệ gỗ chất đầy các khuôn in đã khóa chặt bằng nêm gỗ.
Phía trước Tuệ Anh, ông giáo Trịnh Văn Nghiêm trong bộ âu phục kaki sẫm màu đã là ủi phẳng phiu cẩn thận né một vũng dầu máy loang lổ trên nền xi măng nứt toác. Dù đã bước sang tuổi thất thập, dáng đi của người thầy cũ vẫn giữ được nét mực thước, ung dung của một nhà Nho thị thành. Ông quay lại, đưa bàn tay gầy gò khẽ giữ lấy khuỷu tay Tuệ Anh, hạ giọng căn dặn:
“Đi sát mép tường bên phải nghen cô Tuệ Anh. Coi chừng vấp phải mấy cuộn dây cu-roa truyền động dưới sàn. Thằng An nó làm ăn bề bộn vậy đó, nhưng máy móc trong tay nó đều là đồ gia bảo từ thời Pháp, chạy dập chữ nét như khắc đá.”
Vĩnh vừa khóa xong chiếc xe đạp cuộc mượn của bạn bên ngoài gốc cây trứng cá trước cổng, vai đeo lỉnh kỉnh chiếc túi vải thô đựng thước chữ T và sổ tay, vội vã sải bước đuổi kịp hai người. Cậu đảo mắt quan sát dàn vì kèo thép của xưởng in với thói quen nghề nghiệp của một sinh viên kiến trúc, rồi khẽ nhíu mày khi nhìn thấy những mảng bồ hóng bám dày đặc trên vách tường gạch chưa trát vữa. Hệ kết cấu nhà xưởng này nguyên thủy là một nhà kho chứa da thuộc của người Hoa trước năm bảy lăm, kèo sắt chữ I đã rỉ sét nhiều chỗ, những sợi dây điện bọc vải đi trần câu móc chằng chịt như mạng nhện chạy dọc các xà gồ gỗ. Tiếng gầm rú của dàn máy in truyền qua mặt đất xi măng tạo thành những đợt rung chấn khe khẽ dội thẳng vào lòng bàn chân qua lớp đế giày vải mỏng manh. Vĩnh đưa tay khẽ vén lọn tóc mái ướt đẫm mồ hôi, bước sát ngay sau lưng Tuệ Anh như một người cận vệ thầm lặng, ánh mắt không giấu nổi sự dè chừng trước khung cảnh ngổn ngang và đầy bất trắc của nơi này.
“Thầy Trịnh! Chú Trịnh tới!”
Một tiếng gọi khàn đặc vang lên từ phía sâu trong xưởng. Một người đàn ông trạc bốn mươi nhăm tuổi, vóc người đầm chắc, mặc chiếc áo thun ba lỗ màu cháo lòng lấm lem dầu máy và mực đen đang bước ra từ sau giàn máy ép cánh bướm. Bắp tay ông ta cuồn cuộn những thớ gân nổi rõ như rễ cây, dấu vết của hàng chục năm vần những bàn khuôn chì nặng trịch và quay bánh đà cơ khí. Ông ta quệt cánh tay gân guốc đầy lông lá lên trán, để lại một vệt muội than lem nhem ngang chân mày, rồi vội vã kéo chiếc giẻ lau nhét vào túi quần sau khi nhận ra bóng dáng quen thuộc của người thầy cũ.
“Dạ, con chào thầy. Bữa nay gió nào đưa thầy ghé cái xưởng hôi dầu hôi nhớt này của con dữ vậy? Thầy nhắn một tiếng qua quán nước dì Năm đầu ngõ là con đạp xe chạy sang hầu trà thầy liền chứ đâu dám phiền thầy lặn lội tới đây.”
Ngô Thành An cúi đầu thật thấp, hai bàn tay chắp lại trước bụng với sự kính cẩn thuần thành của một học trò trường Petrus Ký trước năm bảy lăm. Sự lễ phép ấy dường như đã ăn sâu vào tiềm thức, vượt qua mọi bụi bặm cơ khí và sự thô ráp của đời thợ thuyền. Nhưng khi ánh mắt sắc sảo, đỏ ngầu vì thiếu ngủ của ông ta lướt qua người Tuệ Anh và Vĩnh, nét hồ hởi lập tức chùng xuống. Đôi mày rậm của người chủ xưởng khẽ cau lại, ánh lên sự dè chừng, cảnh giác rất đặc trưng của một người lăn lộn với thương trường cơ khí đất Chợ Lớn. Ánh mắt ông ta quét qua chiếc sơ mi trắng giản dị nhưng tươm tất của Tuệ Anh, dừng lại trên gương mặt thanh tú phảng phất nét mệt mỏi nhưng kiên nghị của cô, rồi hạ dần xuống chiếc cặp da sờn mép cô đang ôm chặt trước ngực. Đó là chiếc cặp da bò thuộc màu nâu sẫm đã ngả màu cánh gián, góc cặp bị mòn trơ cả lớp chỉ viền — một vật bất ly thân quá đỗi quen thuộc.
“An này,” ông giáo Trịnh khẽ mỉm cười, giọng ông ấm áp át đi phần nào tiếng gầm gừ của động cơ máy dập. “Hôm nay tôi đưa cô Tuệ Anh sang đây. Cô Tuệ Anh là cháu gái ruột, đồng thời là người thừa kế hợp pháp tiệm sách Mộc của cô Lan. Chắc anh cũng nghe tin cô Lan đã tạ thế tháng trước rồi…”
Gương mặt Ngô Thành An thoáng giật nhẹ một nhịp. Bàn tay đang nắm chiếc giẻ lau trong túi quần khẽ siết lại, cơ hàm ông ta bạnh ra rồi chùng xuống. Ông ta nhìn Tuệ Anh từ đầu đến chân, ánh mắt dừng lại hồi lâu trên chiếc cặp da sờn mép cô đang ôm chặt trước ngực — chiếc cặp da cũ kỹ màu nâu đất mà ngày xưa dì Mộc Lan vẫn thường mang theo mỗi lần ghé xưởng in. Ngày ấy, mỗi bận bà Mộc Lan bước qua cánh cổng sắt này, trong cặp bao giờ cũng có một gói kẹo đậu phộng giòn tan mua ở đầu chợ Cầu Muối cho đám thợ xếp chữ, cùng những tập bản thảo được bao bọc cẩn thận bằng giấy báo cũ.
“Dạ, chuyện cô Lan… con có nghe mấy anh em ngoài chợ sách Đặng Thị Nhu nhắc,” Thành An thở dài một hơi, giọng trầm hẳn xuống, mang một âm sắc nặng trĩu. “Nghĩa tử là nghĩa tận, con cũng tính bữa nào rảnh sang thắp cho cô nén nhang. Nhưng mà… cô Tuệ Anh đây tìm con có việc gì không? Nếu là chuyện tiệm Mộc muốn in hóa đơn, phiếu mượn hay tờ rơi quảng cáo cho thuê truyện, con xin nói thẳng là xưởng con đợt này kẹt máy dữ lắm. Toàn đơn hàng của các xí nghiệp lớn bao trọn ca ngày ca đêm.”
Tuệ Anh bước lên nửa bước, giữ cho lưng mình thẳng tắp, ánh mắt nhìn thẳng vào Thành An không chút né tránh:
“Thưa chú An, cháu đến đây không phải để in giấy tờ vụn vặt. Cháu đến để tiếp tục công việc dang dở mà dì Mộc Lan cháu đã ký thác tại xưởng in An Thành: tái bản tác phẩm ‘Hồn Đất Phù Sa’ của cố học giả Huỳnh Tấn Nghĩa.”
Vừa nghe đến bốn chữ “Hồn Đất Phù Sa”, Thành An bỗng giật thót, lùi lại nửa bước như thể vừa chạm phải một thanh sắt nung đỏ. Khuôn mặt vuông vức đầy dầu mỡ của người chủ xưởng co rút lại, đôi mắt mở to đầy vẻ sửng sốt xen lẫn bực bội. Ông ta đưa tay gãi mạnh mớ tóc hoa râm bù xù, đảo mắt nhìn quanh những người thợ đang cắm cúi sắp chữ chì ở các dãy bàn dài, rồi hạ giọng gắt gỏng:
“Trời đất ơi! Cô Hai ơi là cô Hai! Cô tưởng in một pho sách khảo cứu dày cộp như vậy dễ như nướng cái bánh tráng hay sao? Con số mười lăm triệu tiền ứng trước của cô Lan đợt tháng Tư, con vẫn giữ nguyên trong sổ, chưa suy suyển một cắc một đồng. Nhưng cô có biết tình hình ngoài thị trường bây giờ nó nghiệt ngã cỡ nào không? Tiệm Mộc của cô dạo này nợ nần ra sao, người ta phao tin đồn ầm ĩ ngoài đường Trần Nhân Tôn kia kìa! Con nói thiệt tình trước mặt thầy Trịnh đây, xưởng An Thành của con là xưởng làm ăn kiếm cơm nuôi mấy chục miệng thợ, không phải hội văn bút từ thiện. Con không mặn mà gì với mấy cái đơn hàng dưới một nghìn bản đâu cô ơi!”
Thành An vung cánh tay đen đúa, chỉ thẳng về phía những chiếc giá gỗ nhiều tầng kê sát vách xưởng, nơi hàng ngàn hộp chữ chì nhỏ xíu đang nằm ngay ngắn theo từng bộ:
“Cô có nhìn thấy mấy cái khay kia không? Để in một cuốn sách ba bốn trăm trang bằng kỹ thuật Typo chữ chì, thợ của con phải nhặt từng con chữ một! Từng dấu sắc, dấu huyền, dấu hỏi, dấu ngã, từng dấu phẩy, dấu chấm đều phải gắp bằng nhíp, đặt vào thước composter, canh từng mi-li-mét khoảng cách dòng bằng những lá chì mỏng dính. Sắp xong một trang phải buộc dây gai, đưa lên bàn đá bình bản, quét mực in thử bản morasse để thầy Trịnh đây dò từng chữ. Sai một dấu là phải bới tung cả khuôn ra mà sửa lại từ đầu. In một nghìn bản hay in ba trăm bản thì công thợ xếp chữ chì nó cũng cực như nhau, hao mòn mặt chữ cũng y như nhau! In ít thì chỉ có nước lỗ sặc gạch, tiền điện chạy máy ba pha còn không đủ bù, lấy đâu ra tiền trả lương thợ hả cô?”
Những lời lẽ gai góc, bộc trực đến tàn nhẫn của Ngô Thành An như những gáo nước lạnh tạt thẳng vào bầu nhiệt huyết. Từng câu từng chữ của ông ta văng ra chan chát giữa tiếng máy dập ầm ầm, không hề kiêng nể hay nương nhẹ thân phận một cô gái trẻ mới bước vào nghề. Vĩnh đứng phía sau khẽ siết chặt quai túi, mặt hơi biến sắc vì tự ái thay cho Tuệ Anh; hai bàn tay cậu nắm chặt lại trong túi áo khoác, toan bước lên phân bua. Nhưng ông giáo Trịnh khẽ giơ một bàn tay gầy gò ngăn Vĩnh lại. Ông giáo vẫn đứng im lìm như một pho tượng cổ giữa làn khói dầu, chòm râu bạc khẽ rung rinh theo nhịp thở đều đặn, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười kín đáo, như thể ông đang chờ đợi xem cô gái trẻ đến từ một thế giới khác sẽ phản ứng ra sao trước bức tường thực tế trần trụi này.
Tuệ Anh không hề nao núng. Bản năng của một biên tập viên xuất bản kỳ cựu từng lăn lộn qua hàng chục cuộc đàm phán nảy lửa với các nhà in lớn giúp cô giữ được sự bình tĩnh tuyệt đối. Nhịp tim cô có đập nhanh hơn đôi chút trước sự bộc phát hung hăng của người thợ già, nhưng ánh mắt cô vẫn phẳng lặng như mặt nước hồ thu. Cô hiểu rằng, với một người thợ in cơ khí coi trọng kỹ thuật và tiền bạc như Thành An, mọi lời lẽ hoa mỹ về lý tưởng văn hóa hay sự van nài tình nghĩa đều hoàn toàn vô nghĩa. Thứ duy nhất có thể khuất phục được ông ta chính là ngôn ngữ của nghề nghiệp: chuẩn mực, chính xác và chuyên nghiệp đến từng chi tiết.
“Chú An nói rất đúng,” Tuệ Anh cất giọng, âm lượng không quá lớn nhưng tròn vành rõ chữ, vang lên đanh thép giữa tiếng máy dập ầm ì. “Nếu cháu đến đây với tư cách một người mơ mộng nghiệp dư, bắt chú phải mò mẫm dàn trang từ một đống bản thảo viết tay lộn xộn, thì chú từ chối là hoàn toàn xác đáng. Nhưng xin chú hãy dành cho cháu đúng năm phút để xem qua tập hồ sơ này trước khi đưa ra quyết định cuối cùng.”
Nói đoạn, Tuệ Anh không chờ Thành An đồng ý, cô bước tới một chiếc bàn gỗ dài phủ đầy bụi chì và vệt dầu máy đã khô kê ngay giữa xưởng. Động tác của cô dứt khoát và điềm tĩnh lạ kỳ. Cô cẩn thận trải một tờ giấy xi măng sạch lấy từ trong cặp ra để lót bàn, phủi sạch những vụn chì li ti rơi rớt, rồi mở khóa chiếc cặp da sờn mép. Tiếng khóa đồng kêu một tiếng “tách” khô giòn. Từ trong lòng cặp, cô nhấc ra một tập hồ sơ dày cộp, đóng gáy cẩn thận bằng bìa các-tông cứng màu xanh xám.
Đó không phải là một tập giấy pơ-luya ố vàng lộn xộn chép tay như Thành An từng mường tượng. Đó là một tập hồ sơ kỹ thuật được phân chia tỉ mỉ thành từng phần rõ ràng bằng các tab giấy màu thủ công, mép giấy được cắt thẳng tắp bằng dao trổ chuyên dụng, từng đề mục được viết bằng mực đen với nét chữ kỹ thuật sắc sảo.
Ngô Thành An khẽ nhíu mày, bước lại gần chiếc bàn gỗ với vẻ tò mò không giấu giếm. Ánh mắt ông ta quét qua lớp giấy xi măng lót bàn sạch sẽ rồi dừng lại trên tập hồ sơ. Sự chuyên nghiệp trong từng cử chỉ nhỏ nhặt của Tuệ Anh đã vô tình chạm vào lòng tự ái nghề nghiệp của một người thợ in kỳ cựu. Ông ta rút chiếc kính lão gọng đồi mồi giắt ở túi ngực ra đeo lên mắt, cúi rạp người xuống trang giấy đầu tiên mà Tuệ Anh vừa lật mở.
“Thưa chú An, đây là bản thiết kế quy cách kỹ thuật toàn diện cho ấn bản ‘Hồn Đất Phù Sa’,” Tuệ Anh dùng đầu ngón tay trỏ lướt nhẹ trên mép bản vẽ kỹ thuật được cô kẻ bằng mực tàu đen nhánh. “Khổ sách chúng cháu định dạng là mười ba nhân mười chín xăng-ti-mét, khổ chuẩn mực của các ấn phẩm khảo cứu văn học miền Nam trước đây. Chúng cháu không in tràn lan, mà chia toàn bộ tác phẩm ba trăm tám mươi tư trang thành đúng hai mươi bốn tay sách, mỗi tay sách đúng mười sáu trang, phù hợp hoàn hảo với quy cách gấp giấy của máy dập cơ khí xưởng chú.”
Mắt Thành An mở to hơn một chút sau tròng kính lão. Ngón tay trỏ thô ráp đầy vết chai sần của ông ta khẽ chạm vào các thông số ghi chú bên lề trang sách, nơi Tuệ Anh đã cẩn thận vẽ đồ thị phân bổ từng trang in trên một khổ giấy phẳng tiêu chuẩn.
“Chú xem ở đây,” Tuệ Anh tiếp tục, giọng điệu tự tin và rành rọt như đang thuyết trình trước một hội đồng in ấn cấp cao. “Lề trong của trang sách chúng cháu trừ đúng hai mươi mốt mi-li-mét để tính độ cong của gáy khi khâu chỉ và dán keo nhiệt, bảo đảm khi độc giả mở sách ra không bị khuất chữ vào rãnh gáy. Lề ngoài mười lăm mi-li-mét, lề trên mười tám mi-li-mét và lề dưới hai mươi hai mi-li-mét để tạo khoảng thở quang học theo đúng tỷ lệ vàng của nghệ thuật in ấn phương Tây. Co chữ toàn văn cháu đề xuất dùng cỡ chữ mười một point, khoảng cách dòng một phẩy ba, khoảng hai mươi sáu dòng mỗi trang. Định dạng này giúp tiết kiệm diện tích giấy in tối đa nhưng mắt người đọc không bị mỏi khi đọc các đoạn văn dài.”
Thành An bỗng nín thở. Lồng ngực vạm vỡ sau lớp áo thun ba lỗ ngừng phập phồng trong vài giây. Ông ta lật nhanh sang trang thứ hai, rồi trang thứ ba. Những ngón tay đen nhẻm vì mực in lật từng tờ giấy pơ-luya can vẽ kỹ thuật một cách run rẩy. Ở đó, Tuệ Anh đã cẩn thận ghi chú toàn bộ hệ thống ký hiệu quy ước sửa morasse chuẩn mực quốc tế: ký hiệu đảo dòng, ký hiệu thụt đầu dòng, ký hiệu thay đổi phông chữ, và đặc biệt là bảng danh mục các từ cổ Nam Bộ, chữ Nôm phiên âm cùng tiếng Chăm, tiếng Khmer đã được đánh dấu rõ ràng, có ghi chú vị trí đặt chữ nghiêng hoặc chữ hoa chân phương.
Từng trang tài liệu là một công trình lao động trí óc đồ sộ, chuẩn xác đến mức kinh ngạc. Không có bất kỳ một dấu vết nào của sự tài tử hay ngẫu hứng. Mọi sự trừ hao cơ học, từ độ co dãn của thớ giấy khi dập ướt đến độ lún của mặt chữ chì trên bàn nén đều đã được tính toán với độ chính xác đến từng phần mười mi-li-mét.
“Đặc biệt,” Tuệ Anh chỉ vào một trang bảng biểu, “toàn bộ phần cước chú chân trang đã được chúng cháu tách riêng thành một hệ thống font chữ nhỏ hơn, cỡ chín point, có độ dài dòng cố định để thợ sắp chữ của chú không phải mất công đo đạc, căn chỉnh thủ công từng dòng ở đáy trang như cách làm mò mẫm thông thường. Thợ của chú chỉ việc nhìn vào bảng phân đoạn tay sách này mà nhặt con chữ chì, tốc độ sắp chữ sẽ nhanh hơn ít nhất ba mươi phần trăm so với các bản thảo thông thường, và tỷ lệ sai sót morasse sẽ giảm xuống dưới hai phần trăm.”
Sự im lặng bao trùm quanh chiếc bàn gỗ dài, chỉ còn lại tiếng máy in xa xa đang dập đều đặn và tiếng rào rào của những con chữ chì từ những người thợ bên dãy bàn đối diện. Những người thợ sắp chữ gần đó cũng tò mò ngẩng đầu lên nhìn về phía chiếc bàn, ngạc nhiên trước vẻ thừ người hiếm thấy của ông chủ An xưởng in.
Ngô Thành An từ từ tháo cặp kính lão xuống, cầm trong tay chiếc kính xoay xoay, ánh mắt nhìn Tuệ Anh đã hoàn toàn thay đổi. Không còn sự trịch thượng, xoi mói hay dè bỉu của một chủ xưởng in cáo già trước một cô gái trẻ. Trong mắt ông ta lúc này là sự kinh ngạc tột cùng pha lẫn niềm kính nể sâu sắc của một người thợ lành nghề khi bất ngờ gặp được một bậc thầy am tường tường tận từng ngóc ngách của công việc mình đang làm.
“Cô… cô học nghề in ở đâu ra vậy?” Thành An lắp bắp, giọng nghẹn lại trong cổ họng, vệt muội than trên trán nhăn nhúm lại theo nét mặt bàng hoàng. “Mấy cái quy chuẩn trừ hao lề gáy này, cách chia tay sách mười sáu trang này… ngay cả mấy ông biên tập viên gạo cội ở mấy nhà xuất bản lớn trên đường Nguyễn Thị Minh Khai bây giờ nhiều khi còn nộp bản thảo đánh máy lung tung beng, bắt thợ xưởng tôi phải tự đo tự tính phát khùng phát điên. Vậy mà cô…”
Ông giáo Trịnh đứng bên cạnh khẽ bật ra một tiếng cười trầm ấm, vuốt nhẹ chòm râu bạc, ánh mắt lấp lánh niềm tự hào:
“Tôi đã nói với anh rồi mà, anh An. Cô Tuệ Anh không phải người làm văn nghệ tài tử cưỡi ngựa xem hoa đâu. Cháu nó làm việc cẩn trọng và nghiêm cẩn hơn cả những người làm sách nhà nghề mà anh từng gặp đấy.”
Thành An thở dài một hơi dài, đặt cặp kính xuống mặt bàn, rồi kéo một chiếc ghế đẩu bằng gỗ thông đã bong tróc nước sơn lại gần:
“Dạ… con nhận con có mắt như mù, chưa chi đã vội nói lời xẵng xọng. Cô Tuệ Anh làm được tới mức này thì thợ xưởng con đỡ khổ biết chừng nào. Nhưng mà cô ơi…”
Người chủ xưởng ngập ngừng, ánh mắt lại lướt qua gian xưởng đầy khói bụi, nơi một cỗ máy in Typo bốn trục cỡ lớn đang chạy hết công suất ở góc trong cùng. Những tờ áp phích quảng cáo bóng bẩy, in hình những cuốn sách giáo khoa và tiểu thuyết diễm tình rực rỡ màu sắc đang tuôn ra xối xả từ đầu máy ép. Tiếng xén giấy roạc roạc vang lên từ góc cắt xén bán tự động.
“Nghề này nó nghiệt lắm cô,” Thành An hạ giọng, kéo một cuốn sổ bìa cứng đã quăn góc từ ngăn kéo dưới bàn ra, mở ra một trang chi chít những con số ghi bằng bút bi xanh đỏ. “Tay nghề cô giỏi, bản thảo cô chuẩn mực tới đâu thì tới, nhưng bước chân vào sản xuất thực tế, cô phải đối mặt với bài toán cơm áo gạo tiền nghiệt ngã này đây.”
Ông ta lấy cây bút bi, gõ cộc cộc lên một dòng số liệu trên trang giấy:
“Thứ nhất: Tiền cọc mười lăm triệu của cô Lan ngày trước, con đã dùng mười triệu để nhập về ba tấn giấy in ruột Bãi Bằng loại tốt, định lượng sáu mươi lăm gam trên mét vuông, còn năm triệu là để đúc riêng bộ phông chữ chì mới theo yêu cầu của cô ấy. Giấy và chì hiện giờ vẫn nằm nguyên trong kho của con, không thiếu một cân một lạng. Nhưng khổ nỗi là giá giấy Bãi Bằng cuối năm một chín chín sáu này đang biến động kinh hoàng lắm cô ơi! Bột giấy ngoài Bắc khan hiếm, cước xe tải đường sắt Bắc - Nam tăng vọt vì giá xăng dầu. Ba tấn giấy đó nếu in đúng quy cách của cô thì chỉ vừa đủ cho số lượng một nghìn bản ruột sách, chưa hề có giấy bìa!”
Thành An ngước nhìn Tuệ Anh, ánh mắt đầy áp lực:
“Để in một cuốn sách khảo cứu tầm cỡ này, bìa bắt buộc phải dùng giấy Couche ngoại nhập định lượng hai trăm ba mươi gam, cán màng mờ, in hai màu hoặc ba màu để ép kim chữ nổi. Riêng tiền giấy mặt này, cộng với tiền mực in loại một của Đức và tiền công thợ rọc xén, gia công khâu chỉ đột gáy, xưởng con phải yêu cầu tiệm Mộc đặt cọc trước năm mươi phần trăm tiền giấy mặt ngay khi ký hợp đồng chính thức!”
“Con số cụ thể là bao nhiêu thưa chú?” Tuệ Anh hỏi, giọng cô vẫn giữ được vẻ bình thản nhưng lồng ngực đã bắt đầu thắt lại. Từng đầu ngón tay cô bấu chặt vào mép bàn gỗ, cảm nhận rõ rệt sự thô ráp của mặt gỗ và cái lạnh buốt của lớp bụi chì.
Thành An hí hoáy đặt bút tính toán trên góc trang sổ. Chiếc ngòi bút bi gai góc cào rách một vệt nhỏ trên mặt giấy ố vàng:
“Tiền giấy bìa Couche nhập khẩu: một triệu hai trăm ngàn. Tiền mực in ngoại và hóa chất bình bản kẽm cho bìa: bốn trăm ngàn. Tiền điện ba pha và dầu máy chạy thử hai mươi bốn tay sách: năm trăm ngàn. Tiền ứng trước tiền công cho kíp thợ sắp chữ chì ba người làm việc liên tục trong hai tuần: chín trăm ngàn. Tổng cộng chi phí khởi động sản xuất đợt một là ba triệu đồng chẵn. Trừ đi một phần nhỏ chi phí quản lý con hỗ trợ thầy Trịnh, xưởng con bắt buộc phải thu tiền mặt cọc trước năm mươi phần trăm tiền giấy mặt và vật tư chạy máy, tức là đúng một triệu năm trăm ngàn đồng tiền tươi thóc thật ngay khi cô ký vào bản giao kèo sản xuất!”
Một triệu năm trăm ngàn đồng.
Con số ấy như một tảng đá ngàn cân rơi thẳng xuống tâm trí Tuệ Anh. Trong túi cô lúc này, chiếc hộp thiếc Danisa đặt dưới ngăn kéo tiệm Mộc chỉ còn vỏn vẹn ba mươi tám ngàn sáu trăm đồng tiền mặt tự do. Trưa ngày mai, cô còn phải đối mặt với hạn chót nộp tiền điện để không bị cắt dây, và đến trưa Chủ nhật — tức là chỉ còn chưa đầy hai ngày nữa — bà Tư Lành sẽ sang tiệm đòi ráo riết món nợ thuê nhà một triệu tám trăm ngàn đồng.
Giờ đây, một khoản chi phí một triệu năm trăm ngàn đồng khác lại sừng sững chắn ngang lối đi, đe dọa bóp nghẹt toàn bộ kế hoạch phục sinh di cảo của dì Mộc Lan.
Chưa dừng lại ở đó, Thành An đưa ngón tay trỏ đen nhẻm chỉ về phía cỗ máy in lớn đang chạy rầm rập ở gian giữa, nơi hàng chồng tờ rơi quảng cáo in hình logo Nhà sách Minh Châu đang được công nhân xếp ngay ngắn vào các thùng các-tông:
“Chưa hết đâu cô Tuệ Anh. Cô nhìn bên kia kìa. Nhà sách Minh Châu của cô Trần Minh Châu ngoài đường lớn vừa ký với con hợp đồng in năm mươi ngàn tờ bướm quảng cáo sách mới và khai trương đợt giảm giá xả hàng cuối năm. Họ chồng đủ tiền mặt một cục ba mươi triệu đồng ngay trên bàn làm việc của con hôm qua. Thằng quản lý Khôi của họ ép con phải chạy máy liên tục ca ba để kịp giao hàng trước ngày mười lăm tháng sau.”
Thành An nhìn Tuệ Anh với ánh mắt ái ngại nhưng dứt khoát:
“Con nể mặt thầy Trịnh, và con kính trọng cái tâm làm nghề của cô Lan cũng như sự am tường chuyên môn của cô hôm nay. Con sẵn sàng chừa riêng cho tiệm Mộc một ca máy dập Typo phẳng và giữ kíp thợ sắp chữ giỏi nhất xưởng cho cô. Nhưng con chỉ có thể giữ lịch máy này tối đa trong vòng ba tuần lễ! Nếu đúng ba tuần nữa, tức là trước ngày hai mươi tháng sáu, cô không mang đủ một triệu năm trăm ngàn đồng tiền cọc giấy mặt và ký hợp đồng liên kết xuất bản có dấu đỏ của Nhà xuất bản đem tới đây, con buộc lòng phải hủy lịch, xả ca máy đó cho Nhà sách Minh Châu hoặc các đơn vị khác thuê. Lúc đó, dẫu con có muốn giúp cô, máy móc cũng không còn chỗ trống để chạy nữa đâu!”
Áp lực thời gian ba tuần như một chiếc thòng lọng vô hình siết chặt thêm một nấc. Biến động giá giấy in cuối năm một chín chín sáu đang tăng từng ngày, và bất kỳ sự chậm trễ nào cũng có thể khiến chi phí đội lên gấp rưỡi, vượt xa mọi khả năng cứu vãn.
Nhìn thấy nét mặt trầm ngâm của Tuệ Anh, Thành An dường như cũng cảm thấy áy náy. Ông ta đứng dậy, khẽ ngoắc tay:
“Đi theo con. Con cho cô xem thứ này để cô hiểu là thằng An này chưa bao giờ có ý định ăn quỵt hay làm khó làm dễ gì tiệm Mộc của cô hết.”
Thành An dẫn Tuệ Anh, ông giáo Trịnh và Vĩnh bước sâu vào góc trong cùng của xưởng in, nơi có một căn phòng nhỏ ngăn bằng vách ván ép, khóa chặt bằng một ổ khóa đồng to tướng hiệu Việt Tiệp. Ông ta rút chùm chìa khóa lách cách mở cửa. Cánh cửa gỗ cót két mở ra một góc tối tăm, tách biệt hoàn toàn với tiếng gầm rú đinh tai nhức óc của dàn máy dập bên ngoài.
Bên trong căn phòng tối om và khô ráo, thoang thoảng mùi long não và dầu máy bảo quản. Thành An bật ngọn đèn sợi đốt hai mươi lăm oát, rồi tiến đến một chiếc tủ sắt chuyên dụng chống cháy hai cánh cao ngang ngực. Chiếc tủ được sơn màu xanh ô-liu quân đội, bốn góc gia cố bằng những thanh thép nẹp dày cộp. Ông ta tra chìa khóa, vặn mạnh tay nắm kim loại.
Cánh cửa tủ sắt nặng nề mở ra, để lộ ra những ngăn kéo bằng gỗ lim dày dặn, được đánh số thứ tự cẩn mật. Thành An kéo một ngăn ra, cẩn thận nhấc một lớp giấy dầu màu nâu sẫm đã ngả vàng.
Trước mắt Tuệ Anh là một kỳ quan cơ khí thu nhỏ khiến tim cô đập thắt lại vì xúc động.
Hàng ngàn con chữ chì sáng loáng ánh bạc xám, được xếp chật ních, ngay ngắn như những đội quân tí hon trong các ô ngăn gỗ. Từng con chữ được đúc vuông vức, sắc sảo đến từng đường nét mảnh mai. Đó là bộ font chữ chì Didot cổ điển kiểu Pháp — bộ font chữ quý phái, thanh thoát với những nét thanh mảnh như sợi tơ và những nét đậm dứt khoát, uy nghi, từng làm nên linh hồn của những áng văn xuôi tiền chiến và những ấn phẩm khảo cứu học thuật lừng lẫy của Sài Gòn thập niên sáu mươi. Dưới ánh sáng vàng leo lét của bóng đèn nhỏ, từng góc cạnh kim loại ánh lên một vẻ đẹp tôn nghiêm, tĩnh lặng, tựa như những hạt giống đang nằm yên trong lòng đất chờ ngày đâm chồi.
“Đây là bộ phông chữ chì cô Lan đặt đúc riêng từ lò đúc chữ của người Hoa bên Chợ Lớn hồi đầu năm ngoái,” giọng Thành An chùng xuống, đầy vẻ bùi ngùi. “Bộ chữ này có đầy đủ các dấu thanh tiếng Việt được thiết kế riêng theo lối chữ chân phương cổ điển, cực kỳ phù hợp với chất giọng tùy bút miệt vườn sông nước của cụ Huỳnh Tấn Nghĩa. Mấy tháng nay, có mấy tay lái buôn sách lậu ngoài Chợ Lớn đánh hơi thấy, mò tới đòi trả con giá cao gấp rưỡi để mua đứt bộ chữ này về in truyện chưởng lậu, nhưng con nhất quyết không bán. Con nói với họ: Bộ chữ này là của tiệm Mộc, người ta gửi ở đây chừng nào người ta tới lấy thì con giao, một con chữ sứt mẻ con cũng đền!”
Thành An đưa bàn tay thô ráp vuốt nhẹ lên mặt những con chữ chì mát lạnh, rồi quay sang nhìn Tuệ Anh:
“Con giữ lại bộ chữ này cho cô. Trong vòng ba tuần tới, con cam kết niêm phong chiếc tủ sắt này, không một ai trong xưởng được đụng tới một con chữ nào của ‘Hồn Đất Phù Sa’. Nhưng điều kiện tài chính và lịch máy thì con không thể phá lệ được. Mong cô hiểu cho con. Ở cái đất Sài Gòn này, chữ nghĩa có linh thiêng tới mấy thì cuối cùng thợ thuyền cũng phải có gạo bỏ vào nồi, máy móc cũng phải có dầu đổ vào trục mới chạy được cô ơi.”
Tuệ Anh nhìn sâu vào những con chữ chì đang lấp lánh dưới ánh đèn vàng vọt. Một cảm giác thiêng liêng và xót xa trào dâng trong đáy lòng cô. Dì Mộc Lan đã dồn trọn vẹn những đồng tiền mồ hôi nước mắt cuối cùng của đời mình vào chiếc tủ sắt này, gửi gắm toàn bộ danh dự và khát vọng của tiệm Mộc vào những khối kim loại nhỏ bé kia. Dì đã làm tất cả những gì có thể. Giờ đây, trách nhiệm biến những con chữ chì câm lặng này thành những trang sách thơm mùi mực in rực rỡ đang đè nặng lên đôi vai của cô.
“Cháu hiểu rồi, chú An,” Tuệ Anh khẽ nói, giọng cô run lên một chút nhưng ánh mắt lại bừng lên một ngọn lửa kiên định lạ lùng. “Cháu cảm ơn chú đã gìn giữ bộ chữ này cho dì Lan và cho tiệm Mộc suốt thời gian qua. Ba tuần nữa, cháu sẽ quay lại đây với bản hợp đồng liên kết xuất bản và đủ số tiền cọc một triệu năm trăm ngàn đồng để chú khởi động máy in.”
Thành An nhìn cô hồi lâu, rồi khẽ gật đầu, ánh mắt thoáng chút bùi ngùi:
“Được. Con tin cô là người trọng chữ tín. Đây là bảng chiết tính chi phí và điều khoản giữ máy, con ghi sẵn cho cô một bản để cô liệu tính.”
Ông ta xé một tờ giấy từ cuốn sổ tay, dùng bút bi ký roẹt một chữ ký dứt khoát rồi trao tận tay Tuệ Anh.
Mười lăm phút sau, cánh cổng sắt hoen gỉ của xưởng in An Thành khép lại sau lưng ba người với một tiếng rít khô khốc.
Họ bước ra ngoài con hẻm rợp bóng lồng đèn đỏ của khu người Hoa. Nắng trưa Sài Gòn đã bắt đầu đổ lửa xuống những mái ngói rêu phong, hơi nóng từ mặt đường nhựa phả lên hầm hập. Tiếng máy in cơ khí dập chan chát chói tai từ trong xưởng lùi dần về phía sau, nhường chỗ cho tiếng còi xe inh ỏi và tiếng rao bán hàng rong rộn rã của phố thị.
Ông giáo Trịnh bước chầm chậm bên cạnh Tuệ Anh, chiếc bóng gầy guộc của ông đổ dài trên vách tường loang lổ. Ông không nói một lời nào, chỉ lặng lẽ thở dài một hơi thật khẽ. Tiếng thở dài hòa tan vào luồng gió trưa bỏng rát phả ra từ các con hẻm lân cận. Ông hiểu quá rõ những con số nghiệt ngã mà người học trò cũ vừa đưa ra. Đối với một hiệu sách cũ ọp ẹp đang đứng bên bờ vực phá sản, một triệu năm trăm ngàn đồng tiền cọc giấy mặt trong vòng ba tuần lễ không khác gì một ngọn núi cao vời vợi chắn ngang trước mặt một người lữ hành kiệt sức.
Vĩnh dắt chiếc xe đạp đi bên cạnh, ánh mắt đầy vẻ âu lo nhìn sang Tuệ Anh:
“Chị Tuệ Anh… hay là để em về trường hỏi mấy anh em trên khoa Kiến trúc coi có ai cần vẽ phối cảnh hay làm mô hình thuê không? Em gom góp hết thù lao phụ chị…”
Tuệ Anh khẽ lắc đầu, nở một nụ cười dịu dàng nhưng đượm vẻ mệt mỏi:
“Cảm ơn em, Vĩnh. Nhưng tiền vẽ mô hình của sinh viên gom góp được bao nhiêu đâu, em còn phải lo tiền ăn, tiền đồ án tốt nghiệp nữa. Chuyện này là trách nhiệm của tiệm Mộc, của chị. Chị sẽ tìm ra cách.”
Cô cúi đầu, mở chiếc cặp da cũ kỹ, nhìn vào tờ giấy chiết tính chi phí bằng mực bi xanh mà Ngô Thành An vừa đưa. Tờ giấy mỏng manh gấp tư, mép giấy vương một vệt dầu máy đen mờ.
Từng con số hiện lên rõ mồn một, sắc lạnh và tàn nhẫn: Một triệu năm trăm ngàn đồng tiền cọc giấy mặt và chi phí vận hành giai đoạn một, hạn chót ba tuần; một triệu tám trăm ngàn đồng tiền nhà nợ bà Tư Lành, hạn chót trưa Chủ nhật; mười hai ngàn đồng tiền điện, hạn chót trưa mai. Trong khi đó, toàn bộ số tiền mặt tự do mà tiệm Mộc chắt bóp từng đồng bạc lẻ từ dịch vụ cho thuê truyện của bé Hạnh và góc cà phê phin của Vĩnh trong chiếc hộp thiếc Danisa chỉ vỏn vẹn có ba mươi tám ngàn sáu trăm đồng.
Nhìn con số tiền cọc giấy trên báo giá, Tuệ Anh hiểu rằng doanh thu bán sách cũ hằng ngày không thể nào bù đắp nổi.