Hồi Âm Từ Xứ Ngàn Hoa
Mép phong bì xám tro dán kín bằng hồ nước mang con dấu tròn lem mực của bưu điện Đà Lạt nằm lặng lẽ bên cạnh cuốn sổ quỹ, khiến nhịp tim Tuệ Anh đập dồn dập sau nửa tháng đợi chờ trong khắc khoải.
Bên ngoài, cơn mưa dông chiều muộn đã bắt đầu ngớt hạt, chỉ còn lại những giọt nước mưa trĩu nặng từ mép mái tôn rỉ sét của hiên trước nhỏ tong tỏng xuống rãnh thoát nước bằng xi măng xám xịt. Mùi nhựa đường ướt át bốc lên nồng nặc từ mặt đường Trần Nhân Tôn quyện chặt với mùi bụi giấy cũ, mùi ẩm mốc đặc trưng của hàng ngàn trang sách mục chưa kịp hong khô sau những ngày trời nồm oi bức của đất Sài Gòn. Ngọn đèn bàn sợi đốt hai mươi lăm oát chụp bằng chao nhôm hoen gỉ tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, tù mù, run rẩy in bóng ba con người đổ dài ngoằng lên bức vách ván ép đã ố vàng ngăn giữa quầy thu ngân chật hẹp và dãy kệ sách khảo cứu đóng bằng gỗ tạp.
Không gian bên trong tiệm Mộc đặc quánh lại, dường như chỉ có tiếng thở nhè nhẹ của ba người cùng tiếng tí tách đều đặn của giọt nước mưa rơi ngoài thềm là còn đang chuyển động. Mỗi một giây trôi qua đều trĩu nặng như có chì đè lên lồng ngực. Mười lăm ngày ròng rã, kể từ khi bức thư bảo đảm khẩn thiết mang theo trọn vẹn tâm can của Tuệ Anh cùng chữ ký bảo chứng của ông giáo Trịnh Văn Nghiêm được gửi đi từ bưu điện trung tâm thành phố, tiệm Mộc đã sống trong trạng thái nửa như phập phồng hy vọng, nửa như nơm nớp đón chờ một bản án chung thẩm.
Tuệ Anh ngồi bất động sau quầy gỗ thông mộc mạc, nơi những đường vân gỗ đã mòn vẹt theo năm tháng buôn bán của dì Mộc Lan. Bàn tay gầy guộc của cô đặt hờ trên mặt gỗ mát lạnh, đầu các ngón tay chỉ cách mép chiếc phong bì chừng vài phân. Chiếc phong bì nằm đó, khiêm nhường nhưng chứa đựng sức nặng của một ẩn số mang tính định đoạt sinh mệnh của cả tiệm sách cũ lẫn số phận của một kiệt tác văn học lưu lạc. Từng vệt mực tím của con dấu bưu cục trung tâm Đà Lạt bị nhòe đi một mảng lớn ở góc trên bên phải, có lẽ bởi đã ngấm hơi ẩm và những giọt mưa rừng quất xối xả trong suốt chuyến xe thư liên tỉnh ì ạch vượt qua đèo Bảo Lộc đang mùa sạt lở. Nhưng hàng chữ viết tay gầy guộc, sắc lẻm, nghiêng đều một cách chuẩn mực bằng thứ mực Cửu Long xanh đen cổ điển vẫn hiển hiện rõ mòn mọt, găm thẳng vào thị giác: *Người gửi: Huỳnh Tấn Sĩ — Biệt thự 14, đường Yersin, Đà Lạt.*
Bên cạnh cô, Vĩnh đứng tựa lưng vào mép quầy gỗ. Chiếc áo sơ mi kẻ ca-rô xanh đã sờn rách ở cổ áo và hai bên nẹp tay được cậu xắn cao lên quá khuỷu, để lộ những vết trầy xước nông còn tấy đỏ và vô số dăm bào gỗ li ti bám trên bắp tay rắn rỏi. Cậu vừa từ xưởng thực hành của trường Đại học Kiến trúc đạp thục mạng chiếc xe đạp đòn dông cọc cạch về tiệm Mộc ngay khi nghe cô bán chè đầu ngõ báo tin có bưu tá liên tỉnh ghé qua giao thư bảo đảm. Đôi mắt Vĩnh mở to, chăm chú nhìn trân trân vào góc phong bì thư, lồng ngực vạm vỡ của chàng trai trẻ khẽ phập phồng dồn dập dưới lớp vải áo còn vương nồng mùi nước mưa, mùi mồ hôi và bụi cưa gỗ thông. Cậu không dám thở mạnh, dường như sợ rằng một làn gió nhẹ vô tình cũng có thể thổi bay đi chút cơ may mong manh mà cả bọn đang bấu víu.
Ngồi trên chiếc ghế đẩu bọc da nhân tạo Simili màu đỏ mận đã nứt nẻ những đường chân chim chằng chịt ở phía đối diện là ông giáo Trịnh Văn Nghiêm. Ông giáo già chắp hai bàn tay nổi đầy gân guốc và đồi mồi lên đầu chiếc ba-toong bằng gỗ mun tiện tròn. Cặp kính lão hai tròng gọng đồi mồi dày cộp trễ xuống tận sống mũi gầy gò. Hơi thở của ông chậm rãi, ngắt quãng qua từng nhịp ngực gầy guộc, nhưng đôi mắt sâu hoắm phía sau lớp thủy tinh dày không hề rời khỏi phong thư dù chỉ trong một phần mười giây. Sự điềm đạm, khoan thai thường ngày của một bậc túc nho cả đời gắn bó với nghiên cứu cổ thư dường như đang bị đè nặng bởi nỗi âu lo, nỗi khắc khoải đã tích tụ và dồn nén suốt hơn hai mươi năm ròng kể từ ngày đất nước đổi dời, kể từ ngày cụ Huỳnh Tấn Nghĩa trút hơi thở cuối cùng trong nỗi u uẩn của một kẻ ôm trọn pho trước tác dở dang xuống suối vàng.
"Cháu mở đi, Tuệ Anh," ông giáo Trịnh khẽ lên tiếng, phá vỡ bầu không khí tĩnh mịch quánh đặc như keo. Giọng ông trầm ấm, đượm chút chất giọng miền Tây xưa cũ, nhưng bên dưới cái vẻ trầm tĩnh ấy là một thoáng run rẩy kín đáo mà chỉ người tinh tế lắm mới nhận ra. "Dù là lời cự tuyệt nghiệt ngã hay là một sự chấp thuận mở lòng, chữ nghĩa gửi từ xứ lạnh mù sương ấy về đến được mặt bàn này thì cũng đã là một cái duyên tri ngộ sau ngần ấy năm trời dâu bể cách trở."
Tuệ Anh hít một hơi thật sâu, lồng ngực thắt lại trong một cảm giác hồi hộp đến nghẹt thở. Không khí ẩm ướt lùa vào phổi mang theo vị lạnh se sắt. Bằng một động tác dứt khoát nhưng vô cùng cẩn trọng, cô với tay lấy chiếc dao rọc giấy cán nhựa màu đỏ tươi nằm cạnh lọ hồ dán và xấp biên lai thu tiền. Lưỡi thép mỏng sáng loáng khẽ rung lên bần bật dưới ánh đèn vàng vọt khi mũi dao tiếp xúc với mép giấy krapt thô ráp.
Một tiếng *xoẹt* nhỏ, khô giòn vang lên giữa gian phòng tĩnh mịch, ngọt lịm và dứt khoát, xé toang sự im lặng ngột ngạt đang bóp nghẹt tâm can ba con người suốt nửa tháng qua.
Bên trong phong bì dày dặn là ba tờ giấy pơ-luya màu xanh da trời nhạt, loại giấy viết thư kẻ ô vuông mỏng tang và mịn màng thường thấy của những năm chín mươi, được người viết gấp làm tư một cách vuông vức, thẳng nếp đến từng góc cạnh. Tuệ Anh luồn hai ngón tay vào trong, cẩn trọng rút những tờ giấy mỏng manh ấy ra, nhẹ nhàng đặt phẳng phiu lên mặt quầy gỗ thông. Một mùi hương thoang thoảng bốc lên, lan tỏa nhè nhẹ giữa không gian ẩm ướt—đó tuyệt nhiên không phải là thứ mùi long não nồng gắt quen thuộc dùng để chống gián của tiệm sách cũ, mà là mùi tinh dầu gỗ thông khô phảng phất cùng hơi lạnh hanh hao, u buồn đặc trưng của vùng cao nguyên đất đỏ bazan. Mùi hương ấy dường như đã được ấp ủ cẩn mật qua hàng trăm cây số đường rừng quanh co, vượt qua những con đèo mù mịt sương lam để về tới một góc phố Sài Gòn oi nồng đầy khói bụi.
Nét bút sắt nét thanh nét đậm hiện ra trên nền giấy xanh nhạt, mực đen tuyền, từng con chữ nắn nót, nghiêm cẩn, sắc sảo đến mức toát lên vẻ lạnh lùng xa cách. Không có lấy một lời chào đãi bôi hoa mỹ hay những câu từ xã giao thường tình, bức thư đi thẳng vào vấn đề bằng giọng điệu cứng cỏi của một người đàn ông đã quen sống khép kín giữa sự cô độc, hoài nghi và những vết thương quá khứ chưa bao giờ lành miệng:
*"Gửi cô Lương Tuệ Anh và những người còn bận tâm đến bản thảo của thân phụ tôi,*
*Khi người đưa thư chuyển đến tận cổng sắt rỉ sét số 14 đường Yersin bức thư bảo đảm của cô, phản xạ đầu tiên của tôi là muốn châm lửa đốt nó ngay bên lò sưởi gang, giống hệt như cách tôi đã làm suốt mười lăm năm qua với hàng chục lá thư ngỏ, những lời ve vãn đề nghị mua đứt bản quyền từ các tay buôn chữ Chợ Lớn hay những nhà xuất bản tư nhân lách luật chỉ chực xâu xé di sản của cha tôi để kiếm chác trên sự hiếu kỳ rẻ tiền của đám đông.*
*Nhưng tôi đã không đốt.*
*Tôi đã đọc nó. Đọc đi đọc lại ba lần trong một đêm mưa lạnh thấu xương của Đà Lạt, khi ngoài vườn chỉ còn tiếng thông reo và tiếng gió rít qua khe cửa sổ gỗ.*
*Điều khiến một kẻ cay nghiệt, hoài nghi và chán chường nhân thế như tôi phải kinh ngạc, chính là việc giữa năm một chín chín sáu ồn ào và thực dụng này, khi người ta đổ xô ra đường để kiếm tiền bằng mọi giá, người ta sẵn sàng giẫm đạp lên các giá trị tinh thần để mưu cầu lợi ích trước mắt, lại có một người trẻ tuổi—mang danh nghĩa người thừa kế một tiệm sách cũ đang ngập trong nợ nần và khủng hoảng—hiểu được từng nhịp thở, từng vết rạn văn phong và nỗi đau trăn trở của Huỳnh Tấn Nghĩa trong 'Hồn Đất Phù Sa'.*
*Cô không nói về dung lượng thị trường, cô không đem lợi nhuận thương mại ra để ngã giá như mua một món hàng xén, và quan trọng nhất, cô không hề dùng sự khốn khó, cơ hàn của bản thân hay di nguyện của người đã khuất để nài ép lòng trắc ẩn rẻ mạt của tôi. Bằng kiến thức xuất bản và văn bản học thực thụ, cô đã phân tích sự biến đổi tinh vi của hệ thống thổ ngữ Tây Nam Bộ, chỉ ra nguy cơ mai một khôn lường của các cứ liệu văn hóa Chăm - Khmer trong các dị bản chép tay đang lưu lạc trôi nổi, và đề xuất một lộ trình khảo dị nghiêm cẩn như một người làm học thuật đích thực.*
*Quan trọng hơn cả, cô kiên quyết tìm kiếm sự đồng thuận hợp pháp từ gia đình tôi thay vì lén lút in chui, in lậu, cắt xén nội dung như cái cách bẩn thỉu mà người ta vẫn làm suốt bao năm qua với di sản của những người đã nằm dưới mộ phần.*
*Thân phụ tôi cả đời xem con chữ là sinh mệnh, thà chịu chôn vùi tác phẩm dưới đáy rương mục chứ nhất quyết không để nó xuất hiện trên cõi đời này một cách nham nhở, què quặt và ô danh. Sự kiên trì, hiểu biết và trên hết là lòng tự trọng nghề nghiệp của cô đã chạm được vào điều mà bấy lâu nay tôi tưởng như đã chết hẳn sau những biến cố dâu bể của gia đình."*
Đọc đến đoạn này, giọng Tuệ Anh khẽ nghẹn lại nơi cuống họng. Những ngón tay đang giữ mép giấy pơ-luya hơi run rẩy, làm mặt giấy mỏng phát ra tiếng sột soạt mơ hồ. Bên cạnh cô, Vĩnh thở phào một hơi thật dài, lồng ngực cậu hạ xuống, ánh mắt sáng bừng lên một tia hy vọng rực rỡ chưa từng thấy. Cậu khẽ liếc nhìn sang Tuệ Anh, thấy nơi khóe mắt cô gái trẻ đang lấp lánh một ngấn lệ mỏng manh nhưng kiên cường.
Ông giáo Trịnh Văn Nghiêm chầm chậm nhắm nghiền đôi mắt lại trong giây lát. Đôi môi mỏng của ông run rẩy, lồng ngực phập phồng như thể vừa trút bỏ được một khối đá tảng ngàn cân đè nặng trên vai suốt mấy mươi năm trời đằng đẵng.
"Cụ Nghĩa dưới suối vàng... có lẽ linh thiêng cũng đang mỉm cười lắng nghe," ông giáo già lẩm bẩm bằng một chất giọng khàn đặc, nghẹn ngào vì xúc động khôn xiết. "Cụ không nhìn lầm người, và già này... già này cũng không đặt niềm tin sai chỗ."
Thế nhưng, bức thư vẫn chưa dừng lại ở đó. Tuệ Anh nuốt khan một ngụm nước bọt, lật sang trang giấy thứ hai. Và ngay lập tức, bầu không khí ấm áp vừa nhen nhóm bỗng chốc bị dập tắt bởi một giọng điệu hoàn toàn khác—đanh thép, dứt khoát, sắc bén và mang tính nguyên tắc sắt đá của một người thừa kế đang kiên quyết dựng lên những hàng rào phòng thủ để bảo vệ danh dự gia tộc:
*"Tuy nhiên, sự xúc động nhất thời không đồng nghĩa với việc tôi sẽ dễ dãi buông lỏng những chuẩn mực tối thượng của gia đình. Tôi không phản đối việc hồi sinh 'Hồn Đất Phù Sa', nhưng để chữ ký của tôi xuất hiện trên văn bản chuyển giao quyền khai thác tác phẩm, tiệm Mộc của cô phải đáp ứng đầy đủ và trọn vẹn ba điều kiện tiên quyết sau đây. Chỉ cần thiếu sót một điều, giao ước này lập tức bị hủy bỏ vô điều kiện và vĩnh viễn:*
*Điều kiện thứ nhất: Toàn bộ công tác hiệu đính, khảo dị chữ Nôm, đối chiếu các thuật ngữ cổ và đặc biệt là bài Lời Giới Thiệu trang trọng ở đầu sách phải do chính tay ông giáo Trịnh Văn Nghiêm chấp bút và chịu trách nhiệm học thuật cao nhất. Tôi biết ông Trịnh từ thời cha tôi còn đàm đạo văn chương, xướng họa thi ca trước năm một chín bảy lăm tại Gia Định. Tôi chỉ tin cậy vào cái tâm sáng như gương và sự nghiêm cẩn cẩn trọng đến mức khắc nghiệt của ông ấy đối với từng dấu chấm, dấu phẩy, từng tự dạng cổ. Tuyệt đối không một biên tập viên tân thời nào khác được phép tự tiện can thiệp, thêm thắt hay thay thế vị trí học thuật này.*
*Điều kiện thứ hai: Cuốn sách tuyệt đối không được phép xuất bản dưới dạng tài liệu lưu hành nội bộ luồn lách hay in ấn tán phát trôi nổi ngoài vòng pháp luật. Tiệm Mộc bắt buộc phải ký kết hợp đồng liên kết xuất bản chính thức, hoàn toàn hợp pháp với một Nhà xuất bản quốc doanh được Nhà nước cấp phép đàng hoàng, có quyết định xuất bản chính thức và nộp lưu chiểu đúng theo Luật Xuất bản hiện hành của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Tên tuổi của thân phụ tôi—cố học giả Huỳnh Tấn Nghĩa—phải được phục hồi danh dự trên một ấn phẩm quang minh chính đại, đàng hoàng bước ra ánh sáng công luận của thời kỳ Đổi Mới, chứ không phải một ấn phẩm chui rúc bên lề.*
*Điều kiện thứ ba: Về vấn đề tài chính, dù tôi không màng đến việc làm giàu từ tro tàn di sản của cha mình, nhưng sự sòng phẳng và minh bạch về tác quyền chính là thước đo đạo đức căn bản nhất của kẻ làm sách. Nhuận bút tái bản phải được tính toán rạch ròi theo đúng khung quy định hiện hành của Nhà nước dựa trên số lượng bản in thực tế, có hợp đồng văn bản rõ ràng từng điều khoản và phải được thanh toán minh bạch bằng tiền mặt qua đường bưu điện ngay khi sách có quyết định phát hành chính thức. Tôi không chấp nhận bất kỳ sự nợ nần dây dưa, khất lần hay bất kỳ lý do khó khăn, eo hẹp nào được viện dẫn ra để chậm trễ.*
*Nếu cô Lương Tuệ Anh và ông Trịnh Văn Nghiêm chấp thuận đầy đủ ba điều kiện trên mà không có bất kỳ khiếu nại nào, hãy gửi ngược lại cho tôi bản dự thảo hợp đồng liên kết cùng cam kết pháp lý có xác nhận của cơ quan thẩm quyền. Khi ấy, tôi sẽ ký giấy ủy quyền tác quyền chính thức.*
*Ký tên:* *Huỳnh Tấn Sĩ."*
Gian phòng thu ngân chật hẹp lại một lần nữa rơi thõng vào một khoảng lặng sâu thẳm, nặng nề đến nghẹt thở sau khi Tuệ Anh đọc xong dòng chữ ký cuối cùng.
Cơn gió đêm từ ngoài đường thổi lùa qua khe liếp cửa gỗ, làm ngọn đèn sợi đốt khẽ chao đảo qua lại, kéo theo những vệt bóng đen đổ dài chập chờn, ma quái trên mặt bàn gỗ và những kệ sách bao quanh. Sự chấp thuận có điều kiện từ người thừa kế tác quyền ở Đà Lạt tựa như một cánh cửa hẹp bằng sắt vừa hé mở giữa bức tường thành kiên cố tưởng chừng bất khả xâm phạm. Đó rõ ràng là một chiến thắng vang dội, một bước ngoặt phi thường đối với Tuệ Anh và tiệm Mộc sau chuỗi ngày tăm tối sống trong nơm nớp lo sợ trước sự chèn ép bủa vây của chủ nợ và đối thủ cạnh tranh.
Thế nhưng, khi ba tờ giấy mỏng manh được đặt xuống mặt bàn gỗ thông, niềm vui vỡ òa ban đầu nhanh chóng tan biến, nhường chỗ cho một sức ép thực tế vô cùng tàn nhẫn và lạnh lùng giáng xuống. Ba điều kiện của Huỳnh Tấn Sĩ không đơn thuần là những yêu cầu mang tính đạo đức hay nguyên tắc học thuật suông, mà chúng chính là một bài toán kinh tế, hành chính và tổ chức sản xuất khổng lồ đè nặng lên đôi vai của những con người đang đứng trong căn tiệm sách cũ xập xệ này.
Ông giáo Trịnh chầm chậm thở ra một hơi dài dằng dặc, đưa bàn tay run rẩy đón lấy bức thư từ tay Tuệ Anh. Ông cẩn thận nâng tròng kính lão lên gần mắt, đọc đi đọc lại từng chữ ký gầy guộc, sắc nhọn của người con trai cố học giả. Khóe môi ông khẽ nhếch lên một nụ cười cay đắng xen lẫn niềm kiêu hãnh ngấm ngầm:
"Thằng Sĩ... cái nết của nó vẫn y hệt như hồi tôi gặp nó ở Cần Thơ năm nó vừa tròn mười tám tuổi. Cứng cỏi, tự trọng, kiêu hãnh và rạch ròi đến mức tàn nhẫn. Nhưng ngẫm cho cùng, nó nói hoàn toàn đúng. Huỳnh Tấn Nghĩa không thể nào tái sinh trên những trang sách in lậu giấy đen thô ráp, nham nhở chữ nghĩa, rồi bị người ta lén lút chuyền tay nhau dưới gầm bàn của giới buôn sách lậu Chợ Lớn. Đã làm, thì phải làm cho đàng hoàng, cho đường hoàng đĩnh đạc, cho xứng đáng với một đời chữ nghĩa thanh bạch của người đã khuất."
Ông giáo già ngẩng đầu lên, ánh mắt đăm chiêu nhìn thẳng vào đôi mắt đen sâu thẳm của Tuệ Anh:
"Về điều kiện thứ nhất, già này xin nhận lãnh trọn vẹn trước hương hồn cụ Nghĩa. Thân già này dù hai mắt có mờ đi, tay có run rẩy vì tuổi tác, nhưng từng trang bản thảo 'Hồn Đất Phù Sa' tôi sẽ cùng cô rà soát morasse từng từ, từng dấu thanh, từng tự dạng Nôm cổ một. Bài Lời Giới Thiệu, tôi sẽ thức trắng những đêm nay để chưng cất từng giọt tâm huyết, viết sao cho trọn vẹn nghĩa tình tri âm mấy mươi năm trời với cụ Nghĩa. Nhưng còn điều kiện thứ hai và thứ ba... Tuệ Anh à, cô có thực sự hiểu rằng để đáp ứng trọn vẹn hai điều ấy trong bối cảnh năm một chín chín sáu này, chúng ta đang phải đối mặt với cửa ải gian nan đến mức nào không?"
Tuệ Anh không trả lời ngay. Cô lặng lẽ kéo cuốn sổ tay bìa bọc vải thô màu nâu nhạt cùng một mẩu bút chì mòn vẹt nằm ở góc bàn lại gần. Vẻ mặt cô đăm chiêu, sự bàng hoàng hay xúc động ban nãy nhanh chóng được thay thế bằng nét điềm tĩnh, sự sắc sảo và tư duy logic của một người làm nghề xuất bản chuyên nghiệp đang vận hành hết công suất.
"Cháu hiểu rất rõ, thưa thầy," cô trầm giọng, đầu bút chì bắt đầu gạch những nét dứt khoát, sắc gọn lên mặt giấy xốp ngả vàng. "Thứ nhất là rào cản pháp lý và cơ chế xuất bản. Tiệm Mộc của chúng ta chỉ là một cơ sở kinh doanh cá thể, một tiệm sách cũ tư nhân đơn thuần, chúng ta hoàn toàn không có tư cách pháp nhân xuất bản để tự đứng tên xin hay cấp giấy phép. Muốn cuốn sách ra đời một cách danh chính ngôn thuận theo đúng Luật Xuất bản, chúng ta bắt buộc phải đi con đường 'liên kết xuất bản' với một Nhà xuất bản của Nhà nước—ở thành phố này khả dĩ nhất chỉ có NXB Trẻ hoặc NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh."
Cô ngước lên nhìn hai người đàn ông, giải thích cặn kẽ từng khâu:
"Quy trình không hề đơn giản: Chúng ta phải nộp toàn bộ bản thảo đã biên tập, chú giải hoàn chỉnh lên hội đồng biên tập của Nhà xuất bản để họ thẩm định tư tưởng, chính trị và nội dung học thuật. Sau khi duyệt, họ mới đưa vào chỉ tiêu kế hoạch xuất bản trong năm. Và để có được cái quyết định xuất bản cùng con dấu pháp lý ấy, chúng ta phải nộp một khoản gọi là phí quản lý xuất bản, phí đọc duyệt morasse và lệ phí nộp lưu chiểu. Trong thời điểm năm chín sáu này, khoản phí liên kết đó cho một đầu sách khảo cứu dày dặn, nhẹ nhất cũng phải mất từ một triệu đến một triệu rưỡi tiền mặt nộp ngay khi ký hợp đồng nguyên tắc."
Vĩnh đứng bên cạnh, nghe đến con số "một triệu rưỡi" thì giật thót mình, hai bàn tay vô thức bấu chặt vào gờ gỗ quầy:
"Một triệu rưỡi... chỉ riêng tiền xin cái quyết định xuất bản và con dấu lưu chiểu thôi sao chị Tuệ Anh? Chưa in một trang nào mà đã mất ngần ấy tiền rồi ư?"
"Đó mới chỉ là cái giá để bước qua cánh cửa đầu tiên thôi, Vĩnh," Tuệ Anh nhìn cậu, ánh mắt trĩu nặng âu lo nhưng giọng nói vẫn giữ được sự bình tĩnh sắt đá. "Áp lực khủng khiếp và tàn khốc nhất thực ra lại nằm ở khâu sản xuất thực địa. Năm một chín chín sáu này, chúng ta chưa có công nghệ chế bản điện tử CTP hiện đại hay in kỹ thuật số nhanh chóng như sau này. Bản thảo gần bốn trăm trang của cụ Huỳnh Tấn Nghĩa dày cộm, chứa đựng hàng chục bảng biểu đối chiếu, bản vẽ di tích Chăm, bản đồ cổ thư và hàng ngàn chú thích dị bản Hán Nôm vô cùng phức tạp. Muốn in đẹp, chuẩn xác và giữ đúng cái hồn cốt tôn nghiêm của một công trình khảo cứu, chúng ta bắt buộc phải dùng phương pháp in Typo cơ khí cổ điển—nghĩa là phải sắp từng con chữ chì thủ công bằng tay."
Đầu bút chì của Tuệ Anh gõ nhẹ từng nhịp đanh gọn xuống mặt bàn theo từng phép tính tài chính nghiệt ngã:
"Dì Mộc Lan trước khi qua đời đã dồn toàn bộ mười lăm triệu đồng tiền mặt tạm ứng cho Xưởng in An Thành để đặt mua giấy in ngoại nhập và giữ một bộ chữ chì đúc mới toanh. Nhưng mười lăm triệu đồng đó chỉ là tiền mua vật tư giấy trắng và tiền đặt cọc giữ khuôn chữ dự trữ nằm chết trong kho! Để cỗ máy in cơ khí khổng lồ ấy có thể chuyển động, chúng ta phải trả tiền công sắp chữ cho thợ. Gần bốn trăm trang sách, mỗi trang chứa hàng ngàn ký tự, người thợ sắp chữ phải dùng nhíp gắp từng con chữ chì nhỏ xíu từ hàng trăm hộc chữ tra vào cây cữ mi-li-mét suốt hàng tháng trời. Tiền công sắp chữ, tiền công thợ bình bản, tiền mực in ngoại nhập, tiền công thợ vận hành máy ép dập Heidelberg, rồi đến tiền công gia công hoàn thiện sau in—gấp từng tay sách, bắt chỉ khâu tay từng tép giấy, vô keo nhiệt gáy sách, bồi bìa cứng áo ôm... Nếu in với số lượng tối thiểu một ngàn bản để đạt điểm hòa vốn kinh tế, chi phí công thợ và phụ liệu phát sinh bắt buộc phải có thêm từ ba đến bốn triệu đồng tiền mặt trả trước!"
Tuệ Anh dừng bút. Bàn tay cô vô thức lướt nhẹ qua chiếc hộp thiếc tròn đựng bánh quy Danisa màu xanh dương đã tróc sơn nằm khiêm tốn ở góc trong cùng của ngăn kéo quầy thu ngân.
Bên trong chiếc hộp thiếc lạnh lẽo ấy, sau đợt biến động rút tiền cọc dữ dội của hàng loạt khách quen do những tin đồn thất thiệt mà tay buôn sách ma mãnh Lê Bá Khôi giật dây hòng thôn tính tiệm Mộc, cộng thêm chi phí mua dây điện, cầu dao an toàn cho Quốc Dũng sửa sang lại hệ thống phòng cháy cũ nát và một khoản cọc nhỏ gom góp sách khảo cứu hiếm, số tiền mặt tự do thực tế của tiệm Mộc hiện tại chỉ còn đúng ba mươi tám ngàn sáu trăm đồng.
Ba mươi tám ngàn sáu trăm đồng tiền mặt lẻ, gồm toàn những tờ bạc giấy bạc màu mệnh giá hai trăm, năm trăm, một ngàn và hai ngàn đồng nhàu nát.
Ba mươi tám ngàn sáu trăm đồng, đối mặt với khoản nợ tiền thuê nhà một triệu tám trăm ngàn đồng của bà Tư Lành đang cận kề hạn chót thanh toán vào đúng mười hai giờ trưa ngày Chủ nhật tới—nếu không trả đủ, bà sẽ khóa xích cổng sắt và tống khứ toàn bộ sách vở ra vỉa hè. Và giờ đây, thêm một dự toán sản xuất sách lên tới nhiều triệu đồng tiền tươi thóc thật cần phải chi trả ngay lập tức nếu muốn bức thư của Huỳnh Tấn Sĩ biến thành hiện thực.
Khoảng cách giữa giấc mơ phục hưng một kiệt tác văn hóa bất hủ và thực tế trần trụi, lạnh lùng của những tờ giấy bạc tài chính chưa bao giờ rộng hoác, nghiệt ngã và tàn nhẫn đến thế.
"Ba đến bốn triệu tiền công in cơ khí... cộng với một triệu rưỡi tiền lệ phí giấy phép liên kết... và tiền nhuận bút tác quyền trả trước cho ông Huỳnh Tấn Sĩ theo khung quy định của Bộ Văn hóa Thông tin," Vĩnh khẽ lẩm bẩm, giọng cậu run lên từng chặp. Bàn tay chai sần vì vót gỗ của cậu siết chặt lấy mép quầy đến mức các đốt ngón tay trắng bệch ra không còn giọt máu. "Tổng cộng chúng ta cần ngót nghét sáu triệu đồng tiền mặt ngay trong tháng tới. Trong khi tiệm mình... ngay cả tiền điện tháng này còn đang nợ bưu điện trung tâm, trưa mai là hạn chót họ dọa sẽ cắt cầu dao ngoài cột nếu không đóng đủ mười hai ngàn đồng tiền điện sinh hoạt."
Căn phòng thu ngân lại chìm sâu vào sự u uất nặng nề. Tiếng mưa rả rích bên ngoài hiên tôn dường như đang gõ từng nhịp đếm ngược vô tình vào sự tồn vong của tiệm Mộc.
Một cuốn sách vô giá của một học giả quá cố, một sự chấp thuận đầy khí phách và trượng nghĩa gửi về từ xứ sở ngàn hoa mù sương, một tập bản thảo gốc quý giá nằm nguyên vẹn, an toàn trong chiếc hộp bảo quản khử axit... tất cả những giá trị văn hóa thiêng liêng và cao khiết ấy đều đang đứng trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn trước bức tường thành lạnh lùng, vô cảm mang tên: Thiếu Tiền Mặt.
Giữa lúc bầu không khí ngột ngạt tưởng chừng như sắp bóp nghẹt lồng ngực Tuệ Anh, khiến cô cảm thấy một cơn choáng váng mệt mỏi dâng lên thái dương, thì ông giáo Trịnh Văn Nghiêm bỗng khẽ cựa mình trên chiếc ghế đẩu. Ông đặt chiếc ba-toong mun sang một bên góc bàn, chậm rãi thò bàn tay gầy gò vào túi áo bà ba xám tro, rút ra một chiếc hộp quẹt kim loại cũ kỹ bằng đồng thau cùng một bao thuốc lá rê tự cuốn. Nhưng rồi, khi đưa mắt nhìn sang những trang giấy bản thảo mỏng manh và hàng ngàn cuốn sách cũ đang im lìm chung quanh, ông lại lặng lẽ thở dài, cất bao thuốc lá vào túi áo.
Ông giáo già đưa mắt nhìn sâu vào ngọn đèn bàn sợi đốt. Ánh mắt ông trở nên trầm ngâm, xa xăm, đượm vẻ hoài niệm sâu kín như thể tâm trí ông đang ngược dòng thời gian, lần giở lại từng trang ký ức phủ đầy bụi bặm của đất Sài Gòn - Gia Định hơn ba mươi năm về trước.
"Mười lăm triệu đồng tiền giấy in và bộ chữ chì đúc mới đang nằm ở Xưởng in An Thành..." ông Trịnh cất giọng chậm rãi, từng tiếng một rành rẽ rơi vào không gian tĩnh mịch. "Dì Lan của cô ngày xưa tính toán không sai một ly nào đâu, Tuệ Anh à. Bà ấy chọn An Thành không phải vì cái xưởng đó nằm gần hay giá thành rẻ mạt, mà vì ở cả cái đất Sài Gòn - Chợ Lớn này, không còn một nơi nào giữ được những người thợ sắp chữ chì bậc thầy và dàn máy in Typo cổ điển chạy chuẩn xác từng vi-chỉnh cơ khí như ở đó."
Tuệ Anh ngước đôi mắt tròn, chăm chú nhìn ông giáo: "Thưa thầy, xưởng in An Thành... thầy có quen biết riêng với người chủ ở đó không ạ?"
Ông Trịnh khẽ thở dài, một nụ cười thoáng hiện trên khóe môi nhăn nheo nhưng đáy mắt lại đượm một vẻ phức tạp khó tả:
"Quen chứ. Sao lại không quen. Thằng Ngô Thành An—chủ xưởng in An Thành bây giờ—chính là học trò cũ của tôi từ thời trước năm một chín bảy lăm tại trường trung học Petrus Ký danh tiếng. Cha nó ngày xưa là một chủ nhà in người Hoa lai Việt có tiếng tăm lẫy lừng ở vùng Chợ Lớn, chuyên in kinh sách và tiểu thuyết dịch thuật. Khi ông cụ qua đời trong thời kỳ khó khăn sau chiến tranh, thằng An đứng ra tiếp quản cơ nghiệp điêu tàn, gom góp từng cỗ máy cũ, chuyển xưởng về một con hẻm sâu hút bên đường Lý Thái Tổ, kiên trì duy trì mô hình xưởng in cơ khí gia đình suốt bao năm qua."
Vĩnh nghe thấy vậy thì hai mắt sáng rực lên, cậu vội vã bước dấn lên một bước, sốt sắng cất lời:
"Nếu chú ấy là học trò cũ của thầy Trịnh thì tốt quá rồi! Lại là chỗ thâm tình thầy trò nhiều năm, từng in sách khảo cứu cho thầy, liệu chú An có thể vì nể tình nghĩa xưa mà châm chước cho tiệm Mộc gia hạn tiền công thợ, hoặc cho chúng ta gối đầu trả dần sau khi phát hành sách được không thầy? Nếu được vậy thì tiệm Mộc mới có đường thở!"
Trái ngược hoàn toàn với sự hào hứng ngây thơ, non nớt của chàng sinh viên kiến trúc, ông giáo Trịnh lắc đầu dứt khoát. Ánh mắt ông nhìn Vĩnh đầy vẻ nghiêm khắc nhưng chan chứa sự thấu triệt lẽ đời:
"Cậu Vĩnh à, cậu nhìn cuộc đời này bằng con mắt của một người trẻ tuổi thừa nhiệt huyết nhưng thiếu trải nghiệm va đập. Cậu chưa thể nào hiểu được quy luật khắc nghiệt đến mức tàn nhẫn của cái nghề cơ khí in ấn trong thời buổi kinh tế thị trường sơ khai của năm chín sáu này đâu. Ngô Thành An... nó là một người thợ in xuất chúng hiếm có, một kẻ mê chữ chì đến mức tôn sùng kỹ thuật cơ khí, nhưng đồng thời, nó cũng là một con buôn khét tiếng thực dụng và sắt đá bậc nhất về tiền bạc."
Ông Trịnh quay sang nhìn Tuệ Anh, giọng ông trầm hẳn xuống như một lời cảnh báo nghiêm túc:
"Năm năm trước, vào năm một chín chín mốt, chính tay nó đã đứng máy in tập chuyên khảo ngôn ngữ học do tôi hiệu đính cho một viện nghiên cứu. Từng con chữ chì đúc sắc lẹm không một vết ba-via, từng thớ giấy được máy ép phẳng phiu như lụa là, độ bắt mực đồng đều đến mức không một lỗi morasse nhỏ nào có thể lọt qua nổi mắt nó. Nhưng cũng chính thằng An, chỉ vì phía viện nghiên cứu chậm thanh toán năm ngày tiền công thợ do trục trặc thủ tục kho bạc, nó đã lạnh lùng thẳng tay niêm phong toàn bộ năm ngàn cuốn sách nằm chết gí trong kho ẩm. Nó thà chịu tốn tiền thuê kho bãi, chịu mang tiếng cạn tình cạn nghĩa, chứ dứt khoát không cho xuất xưởng dù chỉ một cuốn duy nhất nếu như chưa nhìn thấy đủ từng cọc tiền mặt đặt ngay ngắn trên mặt bàn làm việc của nó."
Tuệ Anh chăm chú lắng nghe, từng lời của ông giáo già như khắc sâu vào tâm trí cô. Trong đầu cô lập tức phác họa nên chân dung của một người làm nghề kỹ thuật điển hình của thời kỳ đầu Đổi Mới: một con người có lòng tự tôn nghề nghiệp cực cao, kỷ luật thép, tôn trọng tuyệt đối quy trình sản xuất cơ khí chính xác, nhưng hoàn toàn mất niềm tin vào những lời hứa hẹn suông, những viễn cảnh lãng mạn hão huyền của giới làm văn nghệ tài tử.
"Thằng An nó không phải là kẻ xấu xa hay vô đạo," ông Trịnh tiếp tục giải thích, giọng ông chùng xuống với sự cảm thông sâu sắc của một người thầy hiểu rõ từng nỗi truân chuyên của học trò mình. "Nó gánh trên vai cả một xưởng in cơ khí gia đình với hơn chục miệng ăn của thợ sắp chữ, thợ máy, thợ xén giấy. Máy móc thời buổi này hỏng một bánh răng là phải tự tìm sắt tiện lại bằng tay thâu đêm suốt sáng; mực in ngoại nhập phải mua từng thùng phuy bằng tiền đô-la Mỹ hoặc vàng lá; giấy in Bãi Bằng hay giấy nhập cảng đều phải thanh toán tiền tươi thóc thật ngay tại chân cầu cảng Bến Nghé. Nó không thể nào sống sót bằng tình nghĩa thầy trò suông, và càng không thể trả lương cho thợ, nuôi sống vợ con bằng sự xúc động thiêng liêng của chúng ta trước bức thư của Huỳnh Tấn Sĩ."
"Vậy... đối với món tiền cọc mười lăm triệu của dì Lan cháu, chú ấy xử sự ra sao ạ?" Tuệ Anh hỏi, ngón tay khẽ siết chặt lấy chiếc bút chì.
"Mười lăm triệu đồng tiền cọc của dì Lan cô, thằng An nó vẫn giữ nguyên vẹn đến từng đồng xu cắc bạc. Tôi biết rõ tính khí nó, nó sòng phẳng và minh bạch đến mức cực đoan. Tiền mua giấy đã nhập kho đúng chủng loại, bộ chữ chì đúc riêng cho 'Hồn Đất Phù Sa' vẫn được nó xịt dầu máy chống gỉ, bọc giấy dầu cẩn mật, niêm phong cất kỹ trong tủ sắt của xưởng. Nó không ăn chặn, không bớt xén một đồng nào của dì cô cả. Nhưng nếu cô bước chân đến đó với tư cách người thừa kế mà chỉ chìa ra một tấm lòng son nhiệt huyết cùng một chiếc ví rỗng không, nó sẽ không ngần ngại chỉ thẳng tay ra cửa hẻm mà tiễn khách."
Ông giáo Trịnh nhìn thẳng vào mắt Tuệ Anh, ánh mắt như muốn dò xét và đo lường bản lĩnh thực sự của cô gái trẻ trước thử thách cam go:
"Ngô Thành An ghét nhất hai loại người trên đời: thứ nhất là những kẻ in lậu, ăn cắp con chữ của người khác để kiếm tiền bẩn; và thứ hai là những kẻ làm văn hóa nghiệp dư, mở miệng ra là nói chuyện lý tưởng cao siêu nhưng không hề có lấy một phương án tài chính và tổ chức sản xuất rõ ràng. Bước chân vào xưởng của nó, nó sẽ đòi hỏi cô từng con số cụ thể đến từng xu: Tiến độ thanh toán tiền công thợ ra sao? Hợp đồng liên kết xuất bản với Nhà xuất bản nào, số quyết định bao nhiêu? Ai đứng ra bảo lãnh thanh toán? Và quan trọng nhất: Khoản tiền mặt đặt cọc vật tư tiếp theo để khởi động máy in dập chạy thử, cô lấy ở đâu ra?"
Tuệ Anh im lặng. Một luồng điện lạnh buốt chạy dọc sống lưng cô, khiến các đầu ngón tay khẽ co rút lại. Nhưng kỳ lạ thay, cảm giác ấy không hề mang lại sự sợ hãi, hoang mang hay ý muốn thoái lui. Trái lại, nó đánh thức trong cô bản năng thiện chiến, sự lỳ lợm và kinh nghiệm thực chiến của một biên tập viên xuất bản chuyên nghiệp từng lăn lộn qua hàng trăm dự án sách hóc búa, từng đối mặt với những giám đốc tài chính khắc nghiệt và những nhà máy in công nghiệp khổng lồ, phức tạp của thế kỷ hai mươi mốt.
Cô hiểu rất rõ quy tắc vận hành nghiệt ngã của cuộc chơi này. Dù là năm 1996 với những cỗ máy Typo rỉ sét chạy bằng bánh răng xích hay năm 2026 với những dây chuyền in offset bốn màu hiện đại, thì bản chất của ngành công nghiệp xuất bản chưa bao giờ thay đổi: Sự tôn trọng giữa những người làm nghề không bao giờ đến từ những lời nài nỉ, van xin hay sự thương hại, mà nó phải được xây dựng trên nền tảng của sự chuyên nghiệp, chuẩn mực văn bản pháp lý và năng lực giải quyết rủi ro thực tế một cách sòng phẳng.
Huỳnh Tấn Sĩ đã trao cho cô chiếc chìa khóa tác quyền bằng niềm tin, sự chân thành và lòng tự trọng của một trí thức cao nguyên. Giờ đây, để biến tập bản thảo ố vàng đang nằm im lìm trong hộp khử axit thành một cuốn sách thật sự, cô tuyệt đối không thể ngồi thụ động trong căn tiệm sách cũ ẩm mốc này mà mơ mộng về những điều kỳ diệu. Cô bắt buộc phải bước ra ngoài, đối mặt trực diện với cỗ máy cơ khí thực dụng nhất, gai góc nhất và khắc nghiệt nhất của thị trường in ấn Sài Gòn.
Tuệ Anh hít một hơi thật sâu, ánh mắt trở nên trong trẻo và kiên định lạ thường. Cô cẩn thận gấp ba tờ giấy pơ-luya màu xanh nhạt lại theo đúng nếp gấp ban đầu, nâng niu như cầm một báu vật, rồi lồng chúng trở lại vào chiếc phong bì xám tro mang dấu bưu điện Đà Lạt. Cô mở chiếc cặp da cũ kỹ sờn mép của dì Mộc Lan để lại, đặt phong thư vào ngăn chính, nằm ngay ngắn bên cạnh tập hồ sơ dự toán kinh tế viết tay và bản thảo hiệu đính chương đầu tiên của "Hồn Đất Phù Sa".
Cô ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào ánh mắt đầy lo âu của ông giáo Trịnh và sự bồn chồn của Vĩnh. Nụ cười trên môi cô tuy có thoáng chút mệt mỏi sau những ngày dài căng thẳng, nhưng ánh lên một sự kiên quyết sắt đá không gì lay chuyển nổi:
"Thưa thầy Trịnh, sáng mai, xin thầy viết cho cháu xin địa chỉ cụ thể của Xưởng in An Thành bên đường Lý Thái Tổ. Cháu sẽ trực tiếp đến gặp chú Ngô Thành An."
Vĩnh nhìn sâu vào mắt Tuệ Anh, trong đáy mắt chàng sinh viên kiến trúc lúc này vừa tràn ngập sự âu lo cho người bạn đồng hành, vừa dâng lên một niềm cảm phục sâu sắc:
"Để sáng mai em mượn chiếc xe đạp cuộc của thằng bạn cùng xưởng chở chị đi. Mấy con hẻm bên đường Lý Thái Tổ ngoằn ngoèo, sâu hun hút mà lại tập trung toàn xưởng cơ khí với lò đúc kim loại thôi, bụi bặm, dầu mỡ và nguy hiểm lắm. Chị đi một mình em không yên tâm đâu."
"Được, chúng ta cùng đi," Tuệ Anh gật đầu, giọng cô nhẹ nhàng nhưng dứt khoát.
Cô đứng dậy khỏi chiếc ghế gỗ, vươn tay vặn nhẹ chiếc công tắc xoay của ngọn đèn bàn sợi đốt. Ánh sáng vàng vọt lịm tắt. Gian phòng thu ngân chìm dần vào bóng tối êm dịu, mát lạnh của màn đêm Sài Gòn sau cơn mưa rào. Nhưng trong tâm trí Tuệ Anh, một trận chiến mới đầy khốc liệt đã chính thức điểm những hồi chuông đầu tiên. Để biến một bản thảo vô giá thành một cuốn sách hiện diện quang minh chính đại trên cõi đời, Tuệ Anh hiểu rằng mình sắp phải bước chân vào một xưởng in cơ khí nồng nặc mùi dầu mỡ, mực in và chát chúa tiếng va đập của kim loại.