Phiếu Đặt Trước Và Đòn Giảm Giá Lớn
Tấm báo giá chi phí giấy in của xưởng An Thành nằm đè lên trang sổ nợ mặt bằng tháng này, những con số tiền triệu viết bằng mực đỏ như những chiếc đinh ghim chặt sự lạc quan vừa nhen nhóm của Tuệ Anh.
Mùi giấy ẩm đặc trưng của gian gác lửng quyện vào hương dầu tràm thoang thoảng phát ra từ chiếc khăn quàng cổ của ông giáo Trịnh. Ngọn đèn bàn bóng tròn hai mươi lăm oát phả một quầng sáng vàng đục lên mặt chiếc bàn gỗ thông mà Vĩnh mới ráp tuần trước. Bên ngoài, tiếng xe cộ trên đường Trần Nhân Tôn đã thưa dần, chỉ còn tiếng lách cách của chiếc xe hủ tiếu gõ và tiếng rao đêm lạc lõng dội vào từ đầu hẻm.
Tuệ Anh gõ nhẹ đầu ngón tay trỏ xuống mặt bàn, nơi ba con số đang trơ trọi thách thức mọi phép tính cân đối: một triệu năm trăm ngàn đồng tiền cọc giấy bìa và chạy máy Typo giao cho xưởng An Thành trước ngày hai mươi tháng sáu; một triệu tám trăm ngàn đồng nợ gốc tiền nhà của bà Tư Lành phải thanh toán đúng trưa Chủ nhật; và mười hai ngàn đồng tiền điện còn lại trước khi đồng hồ bị bấm chì niêm phong. Trong khi đó, trong chiếc hộp thiếc bánh quy Danisa đặt dưới chân tủ sách, tổng số tiền mặt tự do của tiệm chỉ còn vỏn vẹn ba mươi tám ngàn sáu trăm đồng.
Từng tờ tiền lẻ hai trăm, năm trăm, một ngàn đồng bạc nhàu nhĩ nằm xếp lớp dưới đáy hộp thiếc, phẳng phiu nhờ bàn tay con bé Hạnh mỗi tối ngồi vuốt thẳng từng mép gấp rồi kẹp vào giữa hai cuốn tự điển dày. Nhưng gom góp cả thảy lại, chúng cũng chẳng thể làm dày thêm cái thực tế trơ khấc của một cơ sở đang đứng bên bờ vực đình đốn. Ba mươi tám ngàn sáu trăm đồng chỉ đủ mua vài cân gạo nàng thơm, đôi ba bó rau muống và chục viên than tổ ong cho góc bếp sau nhà, hoàn toàn vô nghĩa trước những khoản nợ lớn đang đổ dồn vào cùng một thời điểm.
“Nếu tính theo sức mua bình thường của tiệm,” Tuệ Anh mở lời, giọng cô bình thản nhưng nơi đáy mắt hằn lên những tia mệt mỏi, “tiền cho thuê truyện tranh của bé Hạnh mỗi ngày thu về chừng mười lăm đến hai mươi ngàn đồng. Trừ đi tiền dầu đèn, trà mạn và chi phí sinh hoạt dè sẻn nhất, mỗi ngày chúng ta dư ra không quá bảy ngàn. Ba tuần nữa xưởng in dỡ khuôn chữ chì, dù chúng ta nhịn ăn nhịn mặc cũng chỉ gom được chưa đầy một phần mười số tiền cọc giấy.”
Cô ngả lưng vào chiếc ghế đẩu, cảm nhận rõ rệt độ rung nhè nhẹ của sàn gác mỗi khi có chiếc xe tải chở hàng chạy vụt qua ngoài đại lộ Hùng Vương. Sự chênh lệch giữa dòng tiền ra và dòng tiền vào không đơn giản là một bài toán hụt thu; đó là một cái hố sâu hoắm có thể nuốt chửng toàn bộ công trình tái bản mà họ đã đánh đổi bằng biết bao mồ hôi và danh dự. Một triệu năm trăm ngàn đồng năm 1996 là một gia tài đối với một tiệm sách gia đình, đủ mua non nửa cây vàng bốn số chín ngoài tiệm kim hoàn đường An Dương Vương.
Ông giáo Trịnh nâng tách trà tim sen đã nguội ngắt lên nhấp một ngụm nhỏ, chiếc lưng còng khẽ tựa vào gối đệm mây. Đôi mắt sau tròng kính lão dày cộp của ông dừng lại rất lâu trên tập bản thảo *Hồn Đất Phù Sa* đang được bọc kỹ trong lớp vải dầu. Lớp vải xi xanh rêu đã sờn bốn góc, bên trong chứa đựng hàng trăm trang giấy pơ-luya ố vàng chi chít nét bút mực Cửu Long màu tím than của người bạn cố tri Huỳnh Tấn Nghĩa. Từng trang viết thấm đẫm hơi thở của những nhánh sông Tiền, sông Hậu, những cánh đồng năn lác hoang vu thời mở cõi, và cả cái bi kịch thầm lặng của một thế hệ cầm bút giữa những khúc quanh lịch sử.
“Thành An nó không phải đứa bội bạc,” ông giáo Trịnh chậm rãi nói, giọng trầm đục mang theo tiếng khò khè của chứng viêm phế quản kinh niên. “Nhưng nó là thợ cơ khí, lại gánh cả một xưởng máy mười mấy miệng ăn. Trong nghề in chữ chì, không có giấy mặt bìa Couche và không có tiền phụ cấp cho thợ sắp chữ ca ba thì cỗ máy dập Typo không thể tự xoay trục. Thằng An đã dám từ chối mấy tay đầu nậu in lậu Chợ Lớn để giữ vẹn nguyên bộ phông chữ Didot cho con bé Mộc Lan, đó đã là cái nghĩa tận cùng của người học trò cũ. Ta không thể trách nó thực dụng được.”
Ông giáo thở dài, ngón tay run rẩy mân mê vành tách trà sứt mẻ hàn gắn bằng keo vỏ ốc. Ông biết rõ cỗ máy in Typo Heidelberg bán tự động của xưởng An Thành tiêu tốn điện năng và nhân lực đến mức nào. Muốn lên một khuôn sách ba trăm trang khổ mười ba nhân mười chín xăng-ti-mét, người thợ gắp chữ phải ngồi ròng rã nửa tháng trời trước những khay chữ chì hàng ngàn ngăn, tay cầm chiếc cữ gắp từng con chữ con dấu nhỏ bằng đầu que tăm rồi xếp ngược chiều từ phải sang trái. Mỗi lần sai một dấu phẩy là phải dỡ cả dòng, chỉnh từng miếng lá chì chêm dòng mỏng như tờ giấy can. Công xá ấy, mồ hôi ấy, xưởng in không thể nào nợ lại thợ bạn giữa lúc vật giá Sài Gòn đang nhảy múa từng ngày theo từng đợt tăng giá xăng dầu.
“Cháu không hề trách chú An,” Tuệ Anh lắc đầu. “Trong kinh doanh, tôn trọng quy chuẩn dòng tiền của đối tác là nguyên tắc sống còn. Cháu chỉ đang tính cách để biến uy tín của chúng ta thành vốn.”
Vĩnh ngồi đối diện, hai bàn tay thô ráp đan vào nhau đặt trên đầu gối. Vết xước do dằm gỗ thông đâm hôm trước nơi lòng bàn tay anh đã bắt đầu lên da non, để lại một vệt sẹo màu hồng nhạt. Nghe Tuệ Anh nhắc đến từ “vốn”, Vĩnh ngước lên, đôi lông mày rậm hơi nhíu lại:
“Chị tính vay mượn thêm ai sao? Chỗ anh em trên trường Kiến trúc thì cùng lắm gom góp được vài trăm ngàn tiền vẽ đồ án thuê, nhưng tháng này ai cũng đang dồn tiền mua giấy can A0 và màu nước làm bài tốt nghiệp. Hay là… em mang bộ compa thước lá Thụy Sĩ ba em cho đi cầm tạm?”
Vĩnh nói dồn dập, trong giọng nói phảng phất sự sốt ruột và liều lĩnh của tuổi trẻ. Bộ compa hộp nhung màu mận chín hiệu Kern Swiss là báu vật mà người cha quá cố của anh — một kỹ sư cầu đường kỳ cựu — để lại trước khi mất. Cả khoa Kiến trúc Đại học Kiến trúc Sài Gòn thời ấy chỉ đếm trên đầu ngón tay những bộ đồ nghề bằng thép không gỉ sáng bóng, chuẩn xác từng mi-cro-mét như thế. Những ngày khó khăn nhất, khi bữa cơm trưa chỉ có đĩa rau luộc chấm nước tương kho quẹt, Vĩnh thà nhịn đói chứ chưa từng để một hạt bụi bám vào chiếc compa đo góc.
“Tuyệt đối không,” Tuệ Anh dứt khoát ngăn lại, giọng cô dứt khoát như một mệnh lệnh. “Bộ đồ nghề đó là mạng sống của dân kiến trúc, em còn phải làm đồ án tốt nghiệp. Chúng ta không đi vay nặng lãi, cũng không thể bấu víu vào sự hy sinh cá nhân như thế. Chúng ta sẽ huy động vốn từ chính độc giả.”
Ông Trịnh đặt tách trà xuống đĩa nghe một tiếng “cạch” khẽ khàng, ánh mắt thoáng lộ vẻ ngạc nhiên:
“Huy động vốn từ độc giả? Sách còn chưa lên khuôn, giấy phép liên kết với Nhà xuất bản mới nộp hồ sơ chờ thẩm định, người ta làm sao chịu bỏ tiền túi ra cho một thứ còn nằm trên giấy hả cháu? Người Sài Gòn mình cẩn thận lắm, tiền trao thì cháo mới múc.”
Tuệ Anh mỉm cười, ánh sáng phản chiếu từ bóng đèn tròn khiến gương mặt cô toát lên vẻ thông tuệ sắc sảo của một biên tập viên đã từng kinh qua bao chiến dịch phát hành gai góc ở thế kỷ hai mươi mốt. Ở thời hiện đại, mô hình gọi vốn cộng đồng (crowdfunding) hay phát hành đặt trước (pre-order) là chuyện cơm bữa của ngành xuất bản. Người ta dùng các nền tảng số, các cổng thanh toán trực tuyến và những chiến dịch truyền thông đa phương tiện để thu hút hàng ngàn người đóng góp vốn sản xuất trước khi sản phẩm ra đời. Nhưng ở năm 1996 này, giữa một Sài Gòn chưa có mạng internet, chưa có thanh toán điện tử, nơi mọi giao dịch đều neo vào sự cầm nắm cụ thể và lòng tin mặt-đối-mặt, việc bán một cuốn sách chưa in đòi hỏi một hình thức vừa cổ điển, vừa phải chạm đến lòng tự tôn của người yêu chữ.
Người đọc sách chân chính ở đô thành này không phải không có tiền, nhưng họ là những người khó tính và trọng thể diện bậc nhất. Họ không bao giờ bỏ tiền mua một sự bố thí, càng không chịu dốc túi cho những lời than nghèo kể khổ mang tính ủy mị. Muốn họ mở chiếc bóp da, rút ra những đồng bạc tích cóp sau những năm tháng nhọc nhằn, người làm sách phải trao cho họ một vị thế danh giá, một vai trò thiêng liêng trong việc đồng hành sáng tạo.
“Chúng ta không gọi đó là tiền trả trước,” Tuệ Anh lấy một tờ giấy trắng khổ A5, dùng bút chì vạch ra từng ô rành mạch. “Chúng ta gọi đó là ‘Phiếu Đăng Ký Đỡ Đầu Bản In’. Đây không phải tờ hóa đơn mua hàng thông thường, mà là một chứng chỉ tri ấn. Mỗi người bỏ ra mười ngàn hoặc hai mươi ngàn đồng để đỡ đầu cho cuốn sách không đơn thuần là người mua, họ là những người đồng sáng lập ấn bản này.”
Cô đẩy tờ giấy về phía ông giáo Trịnh và Vĩnh, chỉ ngón tay vào từng mục phác thảo:
“Phiếu sẽ được in trên loại giấy mỹ thuật dày dặn nhất mà chúng ta có thể tìm được ở Chợ Lớn. Phía trên sẽ ghi rõ tên tác phẩm *Hồn Đất Phù Sa*, tên tác giả Huỳnh Tấn Nghĩa và lời xác nhận hiệu đính của thầy Trịnh. Bên dưới là số thứ tự đánh tay từ số 001 đến số 200. Mỗi phiếu đều có chữ ký tươi của đại diện tiệm Mộc, chữ ký bảo chứng học thuật của thầy, và quan trọng nhất: tên của tất cả những người sở hữu tấm phiếu này sẽ được trang trọng in vào trang ‘Bảng Vàng Tri Ân’ nằm ngay đầu sách khi ấn bản chính thức xuất xưởng.”
Căn gác lửng bỗng chìm vào một khoảng lặng đặc quánh. Gió đêm lùa qua kẽ liếp gỗ thông, lay động sợi dây tóc bóng đèn khiến những cái bóng trên vách đu đưa nhè nhẹ.
Ông giáo Trịnh chầm chậm đưa bàn tay gầy gò sờ lên những dòng chữ Tuệ Anh vừa vạch ra. Những ngón tay khô ráp của người cựu giáo chức khẽ run lên. Trong suốt mấy mươi năm gắn bó với phấn trắng và sách vở, ông đã chứng kiến biết bao hội đoàn ái hữu, bao nhiêu nhóm văn thi sĩ tiền chiến từng in sách theo lối “bảo trợ đồng môn” hay “đặt mua giữ bản”. Những ấn bản đặc biệt của Tự Lực Văn Đoàn, những pho dịch thuật Hán học của các học giả Nam Bộ xưa kia đều từng nương tựa vào tấm lòng của những tao nhân mặc khách sẵn lòng ký tên bảo trợ trước ngày sách vào nhà in. Cái lối chơi chữ nghĩa thanh tao ấy tưởng chừng đã bị làn sóng kinh tế thị trường đầu những năm chín mươi cuốn phăng đi mất dạng, thay bằng lối bán mua chộp giật ngoài vỉa hè. Nay nghe một cô gái trẻ tuổi nhắc lại với một sự chuẩn mực và đàng hoàng đến thế, ông không khỏi xúc động.
“Đỡ đầu bản in… ‘Bảng Vàng Tri Ân’…” Ông Trịnh lẩm bẩm, giọng rưng rưng. “Ý tứ này hay lắm. Rất mực phong nhã mà lại giữ được cái thể diện cho người làm sách. Kẻ bỏ tiền ra không thấy mình bị lợi dụng hay thương hại tiệm Mộc, mà thấy mình đang gánh vác một phần trách nhiệm bảo tồn một áng văn hay cho hậu thế. Rất đàng hoàng!”
Vĩnh chăm chú nhìn vào bố cục tờ giấy, đôi mắt sáng rực lên dưới ánh đèn:
“Về phần mỹ thuật, cứ để em lo! Em sẽ sang khoa Đồ họa mượn bút kim ngòi sắt và mực tàu Pelikan của Đức. Em sẽ vẽ tay toàn bộ họa tiết viền hoa sen cách điệu theo phong cách mỹ thuật Đông Dương thập niên bốn mươi, bốn góc sẽ là họa tiết vân mây thời Nguyễn. Khi mang đi in kéo lưới trên giấy bìa gân xơ dừa màu ngà, tờ phiếu này sẽ đẹp như một bức tranh khắc gỗ. Người ta cầm trên tay sẽ thấy nó có sức nặng của một kỷ vật, không ai nỡ vứt đi đâu!”
Anh hào hứng nói thêm, ngón tay trỏ vô thức phác một đường cong trong không khí:
“Chúng ta sẽ chia làm hai hạng mức. Bản phổ thông bìa mềm dùng giấy ngà xốp, định giá cọc mười ngàn. Còn bản đặc biệt bìa cứng bọc vải bố gân thô, xén cạnh thủ công, đánh số thứ tự từ 001 đến 100, chỉ dành riêng cho những vị bảo trợ hai mươi ngàn đồng trở lên. Em sẽ đích thân ngồi kẻ chỉ đỏ từng cuốn một!”
“Đúng vậy,” Tuệ Anh gật đầu, trong lòng dâng lên một niềm tin mãnh liệt. “Mỗi phiếu chúng ta định giá cọc hai mươi ngàn đồng cho bản bìa cứng có đánh số, và mười ngàn đồng cho bản bìa mềm phổ thông. Chỉ cần vận động được một trăm độc giả đỡ đầu bản in, chúng ta sẽ có trong tay một triệu năm trăm ngàn đồng tiền mặt để nộp đúng hạn cho xưởng An Thành. Khi đó, dòng tiền lẻ hằng ngày từ tiệm sách và góc cà phê sẽ dành trọn vẹn để giải quyết nợ nần cho bà Tư Lành.”
Kế hoạch ấy vừa vặn khép lại thành một vòng tuần hoàn tài chính chặt chẽ. Nó không dựa trên sự may rủi, không cầu viện những nguồn vốn không tưởng, mà đặt cược toàn bộ vào giá trị nội tại của bản thảo và mạng lưới tri thức mà ông giáo Trịnh đã gầy dựng cả đời.
Một kế hoạch táo bạo nhưng hoàn toàn khả thi trong bối cảnh ngặt nghèo của năm 1996 đã thành hình trên căn gác gỗ.
Ngay sáng hôm sau, góc làm việc nhỏ của Vĩnh trên gác lửng biến thành một xưởng đồ họa thủ công thu nhỏ. Anh trải phẳng tấm giấy can bóng loáng, dùng băng keo giấy dán chặt bốn góc xuống mặt ván. Chiếc đèn bàn được kéo sát xuống sát mặt giấy, soi rõ từng đường tơ kẽ tóc. Bằng đôi bàn tay khéo léo của một sinh viên kiến trúc xuất sắc, Vĩnh nín thở rê từng nét bút kim ngòi 0.1 milimét.
Mùi cồn lau ngòi bút, mùi mực tàu đen sực bốc lên trong không gian hẹp. Từng đường viền hoa văn cánh sen uốn lượn mềm mại dần hiện lên dưới ngòi bút đen tuyền. Bốn góc tờ phiếu là bốn đóa cúc cách điệu mang phong vị cổ điển của mỹ thuật Huế đầu thế kỷ, ôm trọn lấy khung chữ nhật trang nghiêm. Ở giữa, dòng chữ “Phiếu Đăng Ký Đỡ Đầu Bản In — Tác Phẩm Hồn Đất Phù Sa” được Vĩnh nắn nót viết theo kiểu chữ chân phương thời tiền chiến, từng nét thanh nét đậm chuẩn xác như được đúc ra từ khuôn đồng.
Vĩnh làm việc suốt sáu tiếng đồng hồ không rời mắt khỏi trang vẽ, lưng áo phông ướt đẫm mồ hôi. Đến chiều muộn, khi bản vẽ nét hoàn tất, Tuệ Anh và Vĩnh mang sang một xưởng in lụa nhỏ của người bạn học cùng trường Vĩnh ở bên hẻm cư xá Nguyễn Thiện Thuật.
Đó là một gian phòng lụp xụp nồng nặc mùi xăng thơm, mùi keo chụp bản và phẩm màu công nghiệp. Người thợ in lụa là một cựu sinh viên Mỹ thuật Gia Định, chăm chút căng từng khung lưới tơ tằm số 120 lên khung gỗ lim. Họ chọn loại giấy mỹ thuật dày định lượng 250gsm mang về từ một kho giấy cũ đường Khổng Tử bên Chợ Lớn — thứ giấy bề mặt ráp nhẹ và có ánh xơ thực vật màu vàng ngà tự nhiên, khi sờ vào có cảm giác xốp ấm như lụa dệt tay.
Từng tờ phiếu được kéo lưới thủ công, mùi mực in gốc dầu thơm hăng nồng bốc lên ngây ngất. Người thợ dùng chiếc gạt cao su miết một đường dứt khoát qua mặt lưới, chất mực đen tuyền thấm sâu vào thớ giấy gân xơ dừa, để lại những đường nét sắc sảo đến từng chi tiết viền cánh sen. Khi mực khô, Tuệ Anh dùng con dấu mộc vuông bằng đồng của tiệm Mộc — di vật mà dì Mộc Lan để lại — thấm đẫm mực chu sa đỏ au, cẩn trọng đóng vào góc dưới bên phải từng tờ phiếu. Một vệt đỏ rực rỡ hiện lên, nổi bật trên nền giấy ngà: *Mộc Thư Quán — Trân Quý Tấm Lòng Bạn Đọc*.
Sáng thứ Hai, chiến dịch đỡ đầu bản in chính thức bắt đầu.
Không gian tầng trệt của tiệm Mộc được dọn dẹp tinh tươm từ lúc trời còn tờ mờ sương. Chiếc bàn dài bằng gỗ căm xe được phủ tấm khăn trải bàn bằng vải thô màu nâu nhạt. Bình hoa cúc bách nhật màu tím sẫm cắm trong chiếc lọ gốm Biên Hòa cổ đặt ngay chính giữa, bên cạnh là một khay trà sen tỏa khói nghi ngút cùng xấp phiếu đỡ đầu bản in phẳng phiu, thơm nồng mùi mực mới.
Người nhận tờ phiếu mang số thứ tự 001 không ai khác chính là ông giáo Trịnh Văn Nghiêm. Ông diện bộ âu phục màu xám tro tề chỉnh nhất của mình — bộ đồ mà ông chỉ mặc vào những dịp lễ trọng đại hoặc ngày Nhà giáo Việt Nam hằng năm — trên ve áo còn vương nhẹ mùi băng phiến chống gián, ngực áo cài chiếc bút máy Kim Tinh nắp vàng. Trước mặt Tuệ Anh và các thành viên của Câu lạc bộ Bạn Đọc Mộc đang ngồi quanh chiếc bàn dài dưới tầng trệt, ông giáo Trịnh trang trọng rút từ trong ví ra hai tờ tiền giấy mười ngàn đồng màu đỏ tươi còn mới cứng, đặt ngay ngắn lên mặt bàn.
“Tôi xin nhận tờ phiếu số 001,” ông giáo Trịnh cất giọng dõng dạc, ánh mắt nhìn quanh những người bạn già cùng thời đang có mặt. “Tôi mua không phải vì cô Tuệ Anh đây là cháu gái của bà Mộc Lan, mà vì tôi đã đọc từng trang di cảo của anh Huỳnh Tấn Nghĩa. Một áng văn trác tuyệt viết về từng hạt phù sa, từng khúc quanh của dòng sông Tiền sông Hậu mà phải chịu cảnh nằm mốc thếch trong ngăn kéo suốt hai mươi năm trời là cái tội của những kẻ có mắt mà không biết nhìn chữ như chúng ta. Hôm nay, tiệm Mộc dám đứng ra gánh vác việc này, những người đã ăn hưu bổng của nhà nước như tôi và các anh đây nếu không đỡ lấy một tay thì còn đợi ai đỡ nữa?”
Lời nói chân tình đầy nhiệt huyết của người cựu giáo chức như một que diêm làm bùng lên ngọn lửa trong lòng những người trí thức có mặt. Những mái đầu bạc phơ khẽ gật gù, những ánh mắt nhìn nhau đầy thấu hiểu. Giữa một Sài Gòn đang quay cuồng trong cơn sốt buôn bán nhà đất, xe máy bãi rác và đồ điện tử ngoại nhập, cái khao khát được níu giữ một giá trị văn hóa chân phương bỗng trở nên mãnh liệt hơn bao giờ hết.
Bác sĩ hưu trí Trần Văn Thọ, người vẫn thường ghé Mộc uống cà phê phin vào mỗi sáng thứ Tư, lập tức rút chiếc bóp da cũ:
“Thầy Trịnh đã nói thế thì tôi xin đỡ đầu hai bản! Một bản cho tôi đọc, một bản tôi gửi tặng đứa cháu ngoại đang học trường Sư phạm. Mấy chữ nghĩa căn cốt của tiền nhân này, tụi trẻ bây giờ phải đọc để biết gốc tích xứ sở mình!”
Bác Thọ cẩn thận gỡ từng nếp gấp của hai tờ mười ngàn đồng, đặt xuống bên cạnh chồng phiếu.
Cụ Vũ Đình Khiêm, cựu chuyên viên Nha Địa bạ trước năm 1975, chống gậy bước tới quầy thu ngân. Bàn tay run rẩy vì chứng bệnh Parkinson của cụ cẩn thận ký tên mình vào cuốn sổ theo dõi danh sách đỡ đầu bằng mực tím:
“Cho tôi một bản bìa cứng. Tôi muốn tên tôi được in trên cuốn sách này. Mai này tôi có trăm tuổi quy tiên, con cháu mở trang Bảng Vàng Tri Ân ra, vẫn thấy tên ông già này từng góp một viên gạch nhỏ giữ lại một pho sách hay.”
Cụ Khiêm nắn nót viết từng nét chữ nghiêng đều tăm tắp, rồi đón lấy tấm phiếu mang số 003 từ tay Tuệ Anh. Cụ đưa tờ giấy lên gần mắt, ngắm nghía họa tiết hoa sen và dòng chữ khắc mộc, khóe môi móm mém nở một nụ cười mãn nguyện.
Làn sóng đăng ký ấm áp lan tỏa nhanh chóng vượt ra ngoài dự liệu của Tuệ Anh. Trong vòng hai ngày đầu tuần, không chỉ các thành viên câu lạc bộ đọc sách mà cả những giáo viên dạy Văn từ trường Trung học phổ thông Lê Hồng Phong, trường Marie Curie do ông giáo Trịnh gửi thư tay vận động cũng lần lượt tìm đến tiệm Mộc. Họ bước vào tiệm, trân trọng nhận tấm phiếu mỹ thuật dày dặn có nét vẽ tay tài hoa của Vĩnh, ngắm nghía con dấu mộc đỏ au và trang trọng cất vào ví như cất một tấm chứng chỉ danh dự.
Có những cô giáo dạy Văn trẻ tuổi, đạp chiếc xe đạp sườn đầm lọc cọc dưới nắng trưa, ghé vào chỉ để gửi mười ngàn đồng dành dụm từ những buổi chấm thi học kỳ. Có những vị phụ huynh dắt theo con nhỏ, vừa đăng ký phiếu vừa giảng giải cho con nghe về ý nghĩa của việc nâng niu một tác phẩm văn chương viết về cội nguồn xứ sở.
Từng tờ mười ngàn đồng cotton màu đỏ, từng tờ hai mươi ngàn đồng polyme đời đầu màu xanh lam phẳng phiu bắt đầu đổ về chiếc két sắt nhỏ đặt dưới quầy thu ngân của Mộc. Đến chiều thứ Năm, cuốn sổ ghi danh đã kín bốn trang với hơn năm mươi cái tên.
Tuệ Anh ngồi bên bàn thu ngân, vừa thoăn thoắt ghi chép, vừa kiểm đếm số tiền mặt thu được trong tiếng cười nói râm ran của nhóm khách quen đang ngồi thưởng thức trà sen miễn phí. Bé Hạnh lăng xăng bưng từng tách trà nóng đưa cho các cụ già, đôi mắt đen láy lấp lánh niềm vui. Chưa bao giờ không khí của tiệm Mộc lại ấm cúng, phấn khởi và tràn trề hy vọng đến thế. Tổng số tiền cọc thu về từ phiếu đỡ đầu đã chạm mốc chín trăm ngàn đồng — tương đương sáu mươi phần trăm số tiền cần thiết để đặt cọc giấy cho xưởng An Thành. Cánh cửa hồi sinh cho *Hồn Đất Phù Sa* ngỡ như đã mở toang ngay trước mắt.
Nhưng sự bình yên ở góc phố này không kéo dài được bao lâu.
Sáng thứ Sáu, một buổi sáng oi ả và ngột ngạt đặc trưng của những ngày chớm hè Nam Bộ, không gian tĩnh lặng của con đường Trần Nhân Tôn bỗng bị xé toạc bởi tiếng loa phóng thanh công suất lớn rền vang từ phía ngã tư lớn.
Tiếng kim loại rè rè của chiếc loa nén phát ra thứ âm thanh the thé chói tai, đập chan chát vào những bức tường vôi cũ kỹ của dãy phố cổ. Mùi không khí hầm hập hơi nóng của mặt đường nhựa bốc lên hăng hắc.
Tuệ Anh ngẩng đầu lên khỏi trang sổ cái khi nghe tiếng xì xào bàn tán của mấy người bán hàng rong đầu hẻm. Vĩnh đang đứng trên thang gỗ chỉnh lại chốt cửa chớp gác lửng cũng giật mình trèo xuống, nét mặt đầy vẻ cảnh giác.
Từ đầu đường Trần Nhân Tôn đâm ra trục đường chính Hùng Vương, một dải băng rôn bằng vải simili đỏ rực, dài cả chục mét được giăng ngang mặt tiền bề thế ba tầng lầu của Nhà sách Minh Châu. Trên nền đỏ chói lọi là những dòng chữ in hoa màu vàng quét sơn nổi bật, đập thẳng vào mắt người đi đường:
“ĐẠI HẠ GIÁ MÙA HÈ — TRI ÂN KHÁCH HÀNG TOÀN KHU VỰC! CẮT GIÁ 30% ĐẾN 40% TOÀN BỘ SÁCH MỚI, SÁCH THAM KHẢO VÀ TOÀN BỘ TRUYỆN TRANH TỪ NGÀY 28/5 ĐẾN 10/6!”
Tiếng loa sắt gắn trên nóc tòa nhà Minh Châu liên tục phát đi bản thu âm với giọng đọc the thé, kích động:
*“Hạ giá chưa từng có! Bảy viên ngọc rồng, Dũng sĩ Hesman, Thám tử lừng danh Conan… đồng loạt giảm giá ba mươi phần trăm! Sách giáo khoa, sách tham khảo ôn thi đại học giảm giá ba mươi lăm phần trăm! Tặng kèm thước kẻ, bìa bao tập cho tất cả hóa đơn từ hai mươi ngàn đồng trở lên! Đến ngay Nhà sách Minh Châu để nhận ưu đãi lớn nhất năm!”*
Bản nhạc nền tiết tấu nhanh, dồn dập vang lên xen kẽ những đoạn quảng cáo, tạo nên một bầu không khí náo loạn khắp cả ngã tư. Tiếng còi xe bóp inh ỏi hòa cùng tiếng rao của loa phóng thanh biến cả một vùng vốn yên tĩnh thành một hội chợ ồn ào bậc nhất.
Đòn đánh úp diễn ra với tốc độ kinh hoàng và quy mô áp đảo. Giảm giá ba mươi đến bốn mươi phần trăm trên giá bìa — đó là một mức chiết khấu không tưởng, một đòn “bán phá giá” liều lĩnh mà chỉ những ông lớn có nguồn vốn dồi dào, ôm trọn nguồn hàng bao tiêu trực tiếp từ các nhà xuất bản lớn và sẵn sàng chịu lỗ ngắn hạn để bóp nghẹt các đối thủ xung quanh mới dám tung ra.
Ở thời điểm năm 1996, mức chiết khấu thông thường của các đại lý sách chỉ dao động từ mười lăm đến hai mươi lăm phần trăm. Bán hạ giá đến bốn mươi phần trăm đồng nghĩa với việc Minh Châu chấp nhận bán dưới giá vốn nhập hàng, bù lỗ hàng chục triệu đồng tiền chiết khấu chỉ để hút cạn dòng người mua sách trong khu vực quận Năm và quận Mười.
Nhưng Lê Bá Khôi không chỉ dừng lại ở việc giăng băng rôn và bật loa phóng thanh tại sào huyệt của mình.
Gã trực tiếp đẩy cuộc chiến vào tận cửa ngõ của tiệm Mộc.
Khoảng chín giờ sáng, khi lượng phụ huynh đi chợ sớm và học sinh tan ca học phụ đạo bắt đầu đổ về các con hẻm, bốn nhân viên của Nhà sách Minh Châu mặc đồng phục áo thun trắng viền đỏ, trên tay ôm từng chồng tờ rơi in offset màu rực rỡ, đã dàn hàng ngang ngay tại đầu hẻm đường Trần Nhân Tôn — cách cửa tiệm Mộc chưa đầy năm mươi mét.
Đích thân Lê Bá Khôi đứng bên chiếc xe máy Honda Dream II màu nho bóng lộn dựng sát lề đường. Gã mặc chiếc áo sơ mi lụa cộc tay kẻ sọc, chiếc cà vạt đỏ bầm buông hờ hững nơi cổ áo, hai tay khoanh trước ngực với nụ cười nửa miệng đầy vẻ trịch thượng. Ánh mắt gã sắc lạnh quét qua tấm biển gỗ mộc mạc của tiệm Mộc, rồi quay sang giục giã đám nhân viên dưới quyền:
“Phát mạnh tay vào! Cứ thấy phụ huynh nào chở con nhỏ hay học sinh mang cặp táp là nhét tận tay cho tôi! Nhắc cho họ nhớ: mua một cuốn truyện tranh mới tinh ở Minh Châu bây giờ còn rẻ hơn tiền họ bỏ ra đi thuê sách cũ rách mướn ở mấy cái xó xỉnh tồi tàn!”
Đám nhân viên răm rắp tuân lệnh. Từng xấp tờ rơi màu xanh đỏ in hình các nhân vật truyện tranh ăn khách được nhét vội vã vào giỏ xe đạp, túi xách của người qua đường. Những dòng chữ “Giảm giá 30% — Mua đứt rẻ hơn đi thuê” được in to tướng, đập ngay vào thị giác của những người dân lao động nghèo vốn phải đắn đo từng đồng bạc lẻ trong cơn bão giá.
Hiệu ứng của đòn giảm giá diễn ra ngay tức thì như một cơn lốc quét sạch mặt phố.
Một bà mẹ chở con gái học lớp năm trên chiếc xe đạp mini tạt ngang qua con hẻm. Đứa bé kéo áo mẹ, chỉ tay về phía tiệm Mộc:
“Mẹ ơi, ghé tiệm Mộc cho con trả tập năm Hesman rồi thuê tập sáu đi mẹ!”
Bà mẹ đang định quẹo ghi-đông thì bị một nhân viên của Minh Châu chặn lại, chìa tờ rơi ra đon đả:
“Chị ơi, sang Minh Châu ngay ngã tư đi chị! Hôm nay Minh Châu xả kho hạ giá ba mươi phần trăm toàn bộ truyện mới! Cuốn Hesman giá bìa ba ngàn rưỡi nay chỉ còn hai ngàn bốn trăm đồng thôi! Bỏ hai ngàn bạc ra mua đứt cuốn sách mới cáu đem về nhà cho cháu nó giữ làm kỷ niệm, tội gì phải tốn mấy trăm đồng tiền thuê lại còn phải đặt cọc cả mấy ngàn bạc tiền mặt ở tiệm sách cũ hả chị?”
Bà mẹ nhìn tờ rơi láng bóng, rồi nhìn lại tờ giấy thuê sách của tiệm Mộc trong tay con gái. Một phép tính kinh tế đơn giản lập tức hiện lên trong đầu người phụ nữ nội trợ: bỏ thêm vài trăm đồng bạc lẻ mà con mình có sách mới tinh đập hộp, không lo bị phạt trễ hạn, không sợ lây mầm bệnh từ sách cũ chuyền tay. Những cuốn truyện tranh thuê ở tiệm cũ thường bị dán băng keo chằng chịt, mép giấy quăn queo và lem nhem vết ngón tay; trong khi bên kia là những ấn bản bóng bẩy, thơm lừng mùi giấy mới, lại còn được tặng kèm bìa bao nilon và thước kẻ học sinh.
“Ừ hen! Rẻ dữ vậy hả em?” Bà mẹ reo lên, không chút do dự quay ngoắt đầu xe đạp về phía ngã tư lớn. “Đi con, sang Minh Châu mua sách mới luôn, khỏi mướn miếc gì nữa!”
Đứa bé ban đầu còn ngoái lại nhìn góc truyện tranh của tiệm Mộc với vẻ luyến tiếc, nhưng sự háo hức trước ý nghĩ sắp được sở hữu hẳn một cuốn truyện mới tinh thơm mùi mực đã nhanh chóng lấn át tất cả. Chiếc xe đạp lao nhanh về phía biển hiệu rực rỡ của Minh Châu.
Cảnh tượng ấy lặp đi lặp lại hàng chục lần suốt buổi sáng.
Những tốp học sinh trường Ba Đình, trường Mạch Kiếm Hùng đạp xe ngang qua hẻm đều bị những tờ rơi sặc sỡ và lời chào mời hấp dẫn chặn lại. Đám trẻ con nghèo vốn chỉ dám dành dụm năm trăm đồng ăn sáng để thuê sách đọc chung nay xúm xít quanh xấp tờ rơi, mắt sáng rực khi thấy giá bán đứt một tập truyện chỉ còn ngang với bát chè đậu đen ngoài chợ.
Đầu hẻm Trần Nhân Tôn trở thành cái phễu lọc khách tàn nhẫn của Lê Bá Khôi. Dòng người nườm nượp đổ về phía nhà sách lớn, tạo nên một khung cảnh chen lấn mua sắm ồn ã cách đó vài dãy phố. Trong khi đó, gian trước của tiệm Mộc dần dần rơi vào một sự im ắng đến rợn người.
Quầy cho thuê truyện tranh của bé Hạnh trơ trọi dưới mái hiên. Những cuốn *Doraemon*, *Hesman* được bọc nylon cẩn thận xếp ngay ngắn trên kệ thấp không có lấy một bàn tay trẻ thơ nào chạm tới. Bé Hạnh đứng nép bên cánh cửa gỗ, hai bàn tay nắm chặt mép chiếc tạp dề bằng vải thô, đôi mắt mở to nhìn dòng người đang ùa về phía nhà sách lớn. Con bé cắn chặt môi đến mức bật máu, uất ức nhìn gã đàn ông đeo cà vạt đỏ đang đứng cười cợt bên chiếc xe Dream ngoài đầu ngõ.
“Chị Tuệ Anh…” Hạnh chạy vào trong tiệm, giọng con bé nghẹn ngào vì tức tưởi. “Cái ông cà vạt đỏ hồi trước tới quậy tiệm mình lại cho người đứng chặn đường phát giấy rồi! Ổng nói sách tiệm mình là đồ ve chai cũ rích, ổng xúi mấy bạn học sinh sang bển mua sách mới hết rồi! Cả sáng nay con mới chỉ cho thuê được có một cuốn truyện chữ mỏng, thu được có hai trăm đồng bạc hà…”
Những giọt nước mắt ấm ức lăn dài trên đôi má đen nhẻm vì nắng của đứa trẻ. Con bé đã thức từ năm giờ sáng để lau chùi từng gáy sách, tỉ mẩn dùng hồ dán lại những góc bìa rách chỉ với hy vọng kiếm đủ mười lăm ngàn đồng cho vào hộp thiếc của tiệm.
Vĩnh từ trên gác bước xuống, hai nắm đấm của anh siết chặt lại, gân xanh nổi cộm trên cánh tay rắn rỏi:
“Khốn nạn thật! Đây rõ ràng là trò phá hoại trắng trợn! Để em ra đầu hẻm dẹp mấy đứa phát tờ rơi đó đi!”
Anh sấn bước về phía cửa, đôi mắt vằn lên những tia giận dữ. Bộ ngực phập phồng dưới lớp áo thun bạc màu, cơn phẫn nộ của chàng trai trẻ như một ngọn lửa chực bùng phát trước sự chèn ép bỉ ổi.
“Vĩnh! Đứng lại!” Tuệ Anh quát khẽ, giọng cô đanh lại nhưng vô cùng dứt khoát.
Vĩnh dừng bước ngay trước ngạch cửa, quay lại nhìn cô với vẻ bất mãn:
“Chị để yên cho hắn bóp nghẹt tiệm mình như vậy sao? Hắn cướp hết khách thuê truyện, cướp luôn cả khách mua sách học sinh! Cứ thế này thì đến tiền ăn hằng ngày của tiệm cũng cạn, lấy đâu ra tiền bù vào nợ nhà với tiền in sách?”
“Em ra đó định làm gì?” Tuệ Anh bước tới, ánh mắt nghiêm nghị nhìn thẳng vào mặt Vĩnh. “Đánh nhau với nhân viên của hắn? Hay đứng đôi co cãi lộn giữa đường để người ta xúm lại coi như xem gánh xiếc? Hắn phát tờ rơi trên vỉa hè công cộng, hạ giá hàng hóa của tiệm hắn, về mặt luật pháp hắn không hề vi phạm điều gì. Nếu em manh động ra gây gổ, hắn sẽ lập tức báo trật tự đô thị, vu cho chúng ta tội gây rối trật tự công cộng. Khi đó, hình ảnh một tiệm sách văn hóa đàng hoàng mà chúng ta dày công xây dựng suốt mấy tháng qua sẽ sụp đổ hoàn toàn trong mắt khu phố!”
Những lời phân tích lạnh lùng và sắc bén của Tuệ Anh như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào cơn thịnh nộ của chàng sinh viên trẻ. Vĩnh thở hắt ra một hơi nặng nhọc, cúi đầu nhìn xuống nền gạch bông cũ kỹ, hai bàn tay dần dần thả lỏng.
“Nhưng… chẳng lẽ chúng ta cứ ngồi trơ mắt nhìn hắn bóp chết tiệm mình sao chị?”
Tuệ Anh hít một hơi thật sâu, nén lại sự cay đắng đang trào dâng nơi cuống họng. Là một người từng trải qua những cuộc chiến giá tàn khốc trên sàn thương mại điện tử ở thế kỷ hai mươi mốt, cô hiểu rõ bản chất của đòn hạ giá này hơn bất kỳ ai. Lê Bá Khôi không hề có ý định kiếm lời từ đợt giảm giá này. Hắn đang dùng quy mô vốn áp đảo để “đốt tiền”, chấp nhận cắt đứt lợi nhuận của toàn khu vực trong hai tuần lễ chỉ nhằm một mục đích duy nhất: cắt đứt hoàn toàn dòng tiền mặt hằng ngày của tiệm Mộc.
Một tiệm sách nhỏ như Mộc sống sót và duy trì được là nhờ sự luân chuyển liên tục của từng đồng tiền lẻ: vài ngàn đồng thuê truyện của lũ trẻ, vài ngàn đồng bán cà phê phin cho người lao động, vài chục ngàn tiền mua sách cũ của khách vãng lai. Số tiền lẻ ấy chính là mạch máu nuôi sống cỗ máy, trang trải tiền ăn, tiền điện, tiền nước và bù đắp vào các khoản nợ định kỳ. Khi mạch máu đó bị đòn giảm giá của Minh Châu chặn đứng, tiệm Mộc sẽ bị dồn vào cảnh nghẹt thở tài chính ngay trước hạn chót của các chủ nợ.
Đó là chiến thuật "bao vây dòng tiền" kinh điển trong thương trường. Một kẻ có mười đồng sẵn sàng vứt ra hai đồng chịu lỗ để bức tử kẻ chỉ có một đồng trong túi. Kẻ yếu không chết vì thiếu lý tưởng hay thiếu năng lực, mà chết vì thiếu ô-xy tài chính trước khi kịp đưa sản phẩm của mình ra ánh sáng.
Đúng lúc đó, một tiếng động cơ xe máy bốn thì nổ êm ru vang lên ngoài cửa tiệm rồi tắt hẳn.
Tiếng máy tròn trịa, đầm chắc đặc trưng của dòng xe nhập khẩu nguyên chiếc từ Nhật Bản thu hút sự chú ý của mọi người.
Tuệ Anh ngước nhìn ra. Một người phụ nữ trạc ngoài ba mươi tuổi, vóc dáng cao ráo, thanh mảnh trong bộ âu phục công sở bằng vải lanh màu be trang nhã vừa chống chân chiếc xe máy Honda Astrea bóng lộn trước bậu cửa tiệm. Chiếc xe màu đen ánh kim, từng chi tiết ốc vít sáng choang, đối lập hoàn toàn với vẻ phong trần của những chiếc xe máy bãi rác thường ngày trong xóm.
Người phụ nữ không bước vào, chỉ khẽ tháo cặp kính mát đồi mồi xuống, để lộ gương mặt sắc sảo, đôi mắt phượng thông tuệ và đôi môi mỏng kiên nghị. Làn da trắng mịn cùng phong thái điềm tĩnh toát lên cốt cách của một người đàn bà quyền lực, quen nắm quyền điều hành những dự án tiền tỷ.
Đó là Trần Minh Châu — bà chủ thực sự của Nhà sách Minh Châu.
Khác xa với dáng vẻ hống hách, nhố nhăng của Lê Bá Khôi, ánh mắt của Minh Châu không hề có vẻ đắc thắng hay giễu cợt thô thiển. Người phụ nữ ấy chỉ im lặng đứng nhìn tấm bảng gỗ nhỏ đặt trước hiên tiệm Mộc, nơi dán trang trọng một tờ “Phiếu Đăng Ký Đỡ Đầu Bản In” mẫu cùng những dòng chữ giới thiệu nắn nót về tác phẩm *Hồn Đất Phù Sa*.
Đôi mắt sắc bén của người làm kinh doanh quy mô lớn dừng lại rất lâu trên con dấu mộc đỏ au và những nét hoa văn tinh tế do Vĩnh vẽ tay. Một thoáng trầm ngâm, một tia nhìn đăm chiêu phức tạp lóe lên trong đáy mắt cô. Minh Châu nhìn tờ phiếu đỡ đầu không phải bằng con mắt của kẻ tò mò, mà bằng sự mẫn cảm của một người kinh doanh sách dạn dày kinh nghiệm. Cô nhận ra sự nguy hiểm tiềm tàng đằng sau tờ giấy mỹ thuật mỏng manh ấy: đó là một thứ sức mạnh phi thị trường, một sự liên kết cộng đồng dựa trên uy tín văn hóa thuần khiết mà tiền tài của Minh Châu chưa thể mua được.
Tuệ Anh đứng sau quầy thu ngân, bình thản đón nhận ánh nhìn của người đối thủ lớn nhất. Hai người phụ nữ thuộc hai thế hệ, đại diện cho hai triết lý làm sách hoàn toàn đối lập, nhìn nhau qua khoảng cách mười mét của con hẻm nhỏ trong một khoảng lặng ngắn ngủi. Không một lời thách thức, không một cử chỉ thù hằn.
Ánh mắt của Tuệ Anh vững chãi, lạnh lùng như mặt hồ mùa thu, không hề lộ ra một mảy may nao núng hay sợ hãi trước sức ép tiền bạc của nhà sách lớn. Minh Châu khẽ gật đầu như một sự chào hỏi kín đáo nhưng đầy kiêu hãnh của giới làm ăn, rồi đeo kính mát vào, đạp cần khởi động xe máy và từ tốn lướt đi về phía đại lộ, để lại làn khói xám mỏng manh tan dần trong không khí oi nồng.
Sự xuất hiện chớp nhoáng của Trần Minh Châu càng khẳng định một điều: cuộc đối đầu này không còn là trò quấy rối vặt vãnh của một tay quản lý hiếu thắng, mà đã trở thành một bài toán sống còn về thị phần và bản lĩnh nghề nghiệp. Minh Châu đã đích thân đến thị sát chiến trường, và đòn hạ giá đang diễn ra chính là bước đi có chủ đích nhằm dập tắt mầm mống cạnh tranh ngay từ trong trứng nước.
Cả buổi chiều hôm đó, tiệm Mộc chìm trong sự ngưng trệ ảm đạm.
Mặt trời đứng bóng phả hơi nóng hầm hập xuống mái tôn, khiến căn nhà gỗ như một chiếc lò nung. Không một khách vãng lai nào ghé vào hỏi mua sách cũ. Những cuốn từ điển Pháp-Việt, những bộ sách văn học dịch của nhóm Lê Ngọc Trụ, Đào Duy Anh nằm im lìm phủ bụi trên kệ gỗ. Chiếc phin cà phê nhôm nằm nguội ngắt trên quầy pha chế, bã cà phê đã khô quắt lại từ trưa.
Tệ hại hơn cả, làn sóng khách đến mua phiếu đỡ đầu bản in — vốn đang bừng bừng khí thế suốt ba ngày qua — bỗng nhiên khựng lại đột ngột.
Khi thông tin về đợt đại hạ giá của Minh Châu lan rộng, tâm lý thị trường lập tức bị dao động. Một số độc giả thuộc tầng lớp trung lưu hoặc sinh viên vốn có ý định đăng ký mua trước bản in bắt đầu ngập ngừng. Người ta rỉ tai nhau rằng Minh Châu sắp tung ra hàng loạt đầu sách văn học mới tinh với giá rẻ như cho, liệu việc bỏ ra hai mươi ngàn đồng để chờ đợi một cuốn sách chưa biết ngày nào mới in xong của một tiệm sách đang ngập trong tin đồn nợ nần có phải là một quyết định mạo hiểm?
Tin đồn về việc tiệm Mộc sắp bị bà Tư Lành xiết nhà, xưởng in An Thành sắp dỡ khuôn Didot đã bị đám nhân viên của Khôi cố tình rỉ tai khắp các quán nước đầu hẻm. Giữa lúc lòng tin còn mong manh, một lời đồn thổi ác ý cũng đủ làm chùn bước những người hảo tâm nhất.
Từ trưa đến chiều muộn, chiếc chuông đồng trước cửa tiệm chỉ rung lên đúng hai lần: một lần là một cậu sinh viên vào trả lại cuốn sách giáo trình đã thuê từ tuần trước, và một lần là một cụ già vào xin một ngụm trà nóng để uống thuốc rồi vội vã rời đi.
Chiếc hộp thiếc Danisa đựng tiền cọc đỡ đầu không có thêm một tờ tiền mới nào rơi vào. Tiếng nắp thiếc đậy lại khô khốc như một lời nhắc nhở tàn nhẫn về thực tại ngặt nghèo.
Sáu giờ chiều, trời Sài Gòn bắt đầu sập tối nhanh một cách bất thường. Những đám mây đen kịt mang theo hơi nước nặng trĩu từ phía biển Cần Giờ cuồn cuộn kéo về, che kín cả một góc trời phía Nam. Gió bắt đầu bốc lên từng cơn, cuốn theo bụi đường, lá me khô và những tờ rơi hạ giá màu xanh đỏ của Nhà sách Minh Châu bay lả tả xao xác khắp mặt đường Trần Nhân Tôn.
Tuệ Anh kéo chiếc ghế gỗ ngồi xuống bên bàn thu ngân, bật ngọn đèn bàn nhỏ. Ánh sáng vàng đục rọi xuống trang sổ cái theo dõi chiến dịch phát hành phiếu đỡ đầu bản in.
Cô lật từng trang, đầu ngón tay lướt qua danh sách sáu mươi lăm cái tên đã đăng ký. Những cái tên quen thuộc, những nét chữ run rẩy của những bậc trí thức cao niên, những lời chúc mộc mạc ghi bên lề trang sổ: "Chúc tiệm Mộc chân cứng đá mềm", "Mong sớm cầm trên tay trang sách của Huỳnh tiên sinh"...
Mọi con số được cô cộng lại tỉ mỉ bằng chiếc máy tính bỏ túi Casio cũ mòn phím:
Tổng số tiền cọc thu được từ sáu mươi lăm phiếu đỡ đầu: chín trăm mười ngàn đồng.
Khoản tiền mặt tự do còn lại từ nguồn thu thuê truyện và cà phê sau khi đã trừ tiền ăn ba bữa đạm bạc của cả nhóm: bốn mươi hai ngàn đồng.
Tổng cộng quỹ khả dụng hiện tại: chín trăm năm mươi hai ngàn đồng.
Tuệ Anh đặt chiếc bút bi xuống mặt bàn, tựa lưng vào thành ghế, nghe một tiếng thở dài trĩu nặng thoát ra từ lồng ngực.
Chín trăm năm mươi hai ngàn đồng. Con số ấy mới chỉ vừa vặn cán mốc sáu mươi phần trăm số tiền cọc một triệu năm trăm ngàn đồng mà Ngô Thành An yêu cầu để mua giấy bìa Couche và chạy máy Typo đợt một.
Chiến dịch phát hành phiếu đỡ đầu — chiếc phao cứu sinh duy nhất của dự án tái bản — đã bị đòn giảm giá tàn khốc của Lê Bá Khôi đánh cho tê liệt ngay giữa dòng. Sức mua của nhóm khách quen đã cạn, trong khi lượng khách đại chúng hoàn toàn bị hút sạch về phía nhà sách lớn. Và điều nghiệt ngã nhất là thời gian: thời hạn ba tuần lễ giữ khuôn chữ chì Didot mà xưởng in An Thành cam kết đang trôi dần từng ngày như cát chảy qua kẽ tay. Hạn chót ngày hai mươi tháng sáu đang lơ lửng trên đầu như một chiếc thòng lọng vô hình.
Nếu không gom đủ năm trăm bốn mươi tám ngàn đồng còn lại trước hạn định, chiếc tủ sắt chống cháy chứa bộ phông chữ chì của dì Mộc Lan sẽ bị mở ra, những con chữ thiêng liêng sẽ bị đem bán tháo hoặc nấu chảy, và toàn bộ công sức, danh dự, tâm huyết của ông giáo Trịnh, của Vĩnh, của người thừa kế Huỳnh Tấn Sĩ tại Đà Lạt sẽ vĩnh viễn tan thành mây khói.
Từ góc quầy, chiếc máy radio cát-xét hai cửa băng hiệu Sharp cũ kỹ của ông giáo Trịnh bỗng phát ra những tiếng rè rè lẹt xẹt do nhiễu sóng từ trường. Giọng cô phát thanh viên của Đài Tiếng nói Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vang lên đều đều, lạnh lùng xuyên qua không gian tĩnh lặng của tiệm sách:
*“…Bản tin dự báo thời tiết khẩn cấp: Do ảnh hưởng của một rãnh áp thấp nhiệt đới đang di chuyển nhanh từ vùng biển phía Nam quần đảo Trường Sa vào đất liền, khu vực Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh từ đêm nay sẽ bước vào một đợt mưa dông diện rộng kéo dài trong nhiều ngày. Cảnh báo nguy cơ ngập úng nghiêm trọng tại các vùng trũng thấp và gió giật mạnh có thể làm tốc mái, sập đổ các công trình tạm bợ…”*
Bên ngoài hiên, một luồng gió mạnh bất ngờ thốc qua khe liếp, làm cánh cửa gỗ tiệm Mộc va đập vào vách tường một tiếng “rầm” khô khốc.
Trời sập tối nhanh bất thường, gió bốc lên từng cơn rít qua khe cửa sổ gác lửng.