Điều An Khuê chưa nói
An Khuê đứng cô độc trước tủ nuôi cấy vô trùng trong Khoang Sinh học Lam, hai bàn chân tê buốt dán chặt vào tấm sàn lưới thép phủ lớp polyme cách điện. Không gian buồng thao tác cách ly chật hẹp chỉ được thắp sáng bằng dải đèn LED khẩn cấp chạy ở hai mươi phần trăm công suất danh định, tỏa ra thứ ánh sáng đỏ bầm pha sắc tím sẫm lạnh lẽo theo quy chuẩn cắt tải Bravo-Bốn. Trong thứ quang phổ nghèo nàn ấy, mọi bề mặt kim loại đều phủ một lớp bóng nhờn mờ đục của hơi ẩm ngưng tụ, và da thịt con người hiện lên xám xịt như những xác ướp vừa được lôi ra từ hầm mộ ngầm.
Trên tay cô, ống nghiệm thạch anh dung tích năm mươi mililít chứa dịch huyền phù tảo *Spirulina platensis* sóng sánh một sắc xanh nhợt nhạt đáng báo động. Nó không còn là màu xanh lục bảo thẫm ngả sang ánh lam đặc trưng của những tế bào xoắn đẫm no phycocyanin mà cô từng tự hào chiêm ngưỡng suốt sáu tháng đầu của hải trình. Thay vào đó, nó nhờ nhờ, đùng đục như thứ nước rửa cọ vẽ đã bị pha loãng nhiều lần, để lộ những mảng cặn tế bào kết tụ bất thường lơ lửng giữa khối chất lỏng.
Lớp áo bảo hộ chống tĩnh điện mỏng dính cọ xát vào lớp áo lót nhiệt bằng sợi tổng hợp bên trong, tạo ra những xung điện tích li ti châm chích khắp cánh tay và bờ vai, mang lại cảm giác ngứa ngáy khô khốc đến khó chịu. Mỗi hơi thở của An Khuê phả vào lớp kính chắn mặt bằng vật liệu polycarbonate đều hóa thành một màng sương li ti mờ đục, che khuất tầm nhìn trong khoảnh khắc ngắn ngủi rồi tan biến rất chậm vào bầu không khí tù đọng. Nhiệt độ môi trường trong khoang lúc này đã bị hệ thống kiểm soát môi trường trung tâm ghìm chặt xuống ngưỡng mười hai độ C nhằm dành từng watt điện quý giá cho việc duy trì sự sống cốt lõi của lò phản ứng. Phía sau lưng cô, tiếng máy bơm nhu động của hệ thống tuần hoàn dinh dưỡng rù rì từng nhịp đứt quãng, uể oải và nặng nhọc như nhịp đập của một trái tim đang bước vào giai đoạn suy kiệt cuối cùng.
Khay tảo *Spirulina platensis* dự phòng mang mã hiệu B-09 — mẫu cấy thứ cấp được chính tay cô cứu vớt trong cơn hoảng loạn tột cùng khỏi tủ ươm số ba, ngay trước khi chấn động địa chấn làm sụp đổ hoàn toàn khớp nối mềm dẫn dịch dinh dưỡng — đang nằm bất động trong rãnh trắc quang của chiếc máy đo quang phổ phân tử cầm tay.
An Khuê dùng ngón tay cái miết mạnh lên khớp ngón trỏ đeo hai lớp găng cao su nitrile để xua tan cảm giác tê cóng đang gặm nhấm các đầu mút thần kinh. Động tác quen thuộc lặp đi lặp lại hàng nghìn lần trong các phòng thí nghiệm vô trùng trên mặt đất bỗng trở nên vụng về một cách thảm hại trong môi trường vi trọng lực một phần tám g của Europa. Cô cẩn thận gạt chốt khóa then cài của buồng đo quang học, khẽ lách ống nghiệm thạch anh vào khe cảm biến, đảm bảo bề mặt quang học ngoài của ống không vướng một giọt nước ngưng tụ nào trước khi đóng nắp che sáng.
Trên màn hình tinh thể lỏng đơn sắc của chiếc máy quang phổ, các xung tín hiệu bắt đầu quét qua dải bước sóng từ bốn trăm đến bảy trăm năm mươi nanômét. Đường cong hấp thụ quang học bước sóng 680 nanômét — đỉnh hấp thụ của chlorophyll-a — và bước sóng 620 nanômét — vạch nhận diện sống còn của phycocyanin — hiện lên bằng những nét đứt gãy xiêu vẹo, thấp lè tè dưới trục hoành chuẩn. Không còn những đỉnh nhọn kiêu hãnh của một quần thể đang trong pha sinh trưởng logarit. Thay vào đó là một đồ thị bẹt dí, tù túng và méo mó. Chỉ số huỳnh quang diệp lục khả biến trên cực đại $F_v/F_m$, thước đo phản ánh hiệu suất lượng tử tối đa của hệ quang hóa II, trượt dốc không phanh xuống mức 0,42.
Ngưỡng an toàn tối thiểu tuyệt đối để một quần thể vi tảo lam duy trì cơ chế tự sửa chữa các tổn thương quang hóa do gốc oxy hóa tự do gây ra là 0,68. Dưới mức 0,5, bộ máy quang hợp đã bắt đầu quá trình tự hủy hoại nội tại.
An Khuê nín thở, lồng ngực thắt lại như bị một vòng đai thép siết chặt. Cô rút ống nghiệm ra, đặt lên giá lắc từ tính trong ba giây để tái đồng nhất khối dịch huyền phù, rồi cắm đầu dò đo mật độ quang học $OD_{560}$ trực tiếp vào dung dịch. Con số kỹ thuật số màu xanh lục nhảy múa điên cuồng trên màn hình điện tử, dao động quanh các giá trị thập phân trước khi dừng lại một cách tàn nhẫn ở một mốc cố định: mật độ tế bào chỉ đạt 0,38 gam sinh khối khô trên mỗi lít dung dịch.
Con số này thấp hơn phân nửa so với đường chuẩn tăng trưởng tối thiểu mà cuốn Sổ bộ Nhiệm vụ Phân khu Sinh học từng vạch ra cho giai đoạn vận hành độc lập.
"Mây," An Khuê thì thầm vào chiếc micro thu nhỏ gắn ở cổ áo bảo hộ, cố gắng ghìm giữ thanh quản để âm thanh phát ra không bị rung rẩy trước sự tịch mịch đến gai người của căn phòng. "Trích xuất dữ liệu trắc lượng sinh khối của chủng B-09 trong ba chu kỳ chiếu sáng gần nhất."
Một tiếng tích điện rất nhỏ vang lên trong màng nhĩ, tiếp nối bằng giọng nói mềm mại, trầm tĩnh đến phi nhân tính của trí tuệ nhân tạo trạm qua bộ loa áp điện:
"Chào kỹ sư An Khuê. Dữ liệu trích xuất từ mạng lưới cảm biến đo độ đục quang học và trắc lượng lượng nitrat tiêu thụ trong bảy mươi hai giờ qua đã sẵn sàng. Kết quả phân tích cho thấy: tốc độ phân chia tế bào trung bình của mẻ cấy B-09 chỉ đạt 0,018 trên giờ. Tỷ lệ tích lũy sinh khối khô đạt 0,11 gam trên lít mỗi ngày."
An Khuê nhắm nghiền hai mắt lại. Một luồng khí lạnh buốt dường như không đến từ bầu không khí mười hai độ C của căn phòng, mà xuất phát từ sâu thẳm trong các khoang tủy sống, chạy dọc sống lưng và lan tỏa ra khắp các mao mạch.
"Mức độ sai lệch so với chỉ số thiết kế ban đầu trong Sổ bộ Nhiệm vụ Phân khu Sinh học là bao nhiêu?" Cô hỏi tiếp, dù trong thâm tâm cô đã tự nhẩm tính ra kết quả từ trước khi chiếc máy trắc quang hoàn tất chu kỳ quét.
"Độ lệch âm ba mươi chín phẩy tám phần trăm — xấp xỉ bốn mươi phần trăm," Mây đáp đều đều. Ngữ điệu của AI hoàn toàn không chứa đựng bất kỳ sắc thái lo âu, phán xét hay sợ hãi nào, nhưng chính sự chuẩn xác cơ học vô cảm ấy lại giáng xuống tâm trí cô như một chiếc búa tạ bọc nhung. "Năng suất tổng hợp protein thô ước tính giảm từ sáu mươi phần trăm khối lượng khô xuống còn ba mươi bảy phần trăm. Đồ thị tăng trưởng không còn tuân theo mô hình Monod tiêu chuẩn đối với cơ chất giới hạn nitơ và phosphor. Hệ số suy thoái quang hóa và chỉ số phân mảnh chuỗi nucleic acid trích xuất từ xét nghiệm điện di mao quản nhanh cho thấy quần thể tảo đang biểu hiện hội chứng trôi dạt di truyền tích lũy qua nhiều thế hệ vô tính liên tục dưới tác động của vi bức xạ ion hóa."
Bốn mươi phần trăm.
Một sự sụt giảm khủng khiếp, vượt quá mọi kịch bản dung sai tồi tệ nhất từng được chạy mô phỏng trên các siêu máy tính của Cơ quan Vũ trụ Quốc tế trước ngày phóng tàu.
Ở một nông trại thủy canh trên Trái Đất, hay thậm chí tại một tiền đồn quỹ đạo quanh Mặt Trăng, mức sụt giảm bốn mươi phần trăm sinh khối chỉ đơn thuần là một tổn thất kinh tế, một lỗi vận hành kỹ thuật cần lập biên bản sự cố, hoặc cùng lắm là một đợt thay thế giống cấy vô trùng từ ngân hàng gene dự trữ được chuyển phát nhanh bằng tàu con thoi. Nhưng ở đây, sâu ba cây số dưới nắp băng vĩnh cửu của Europa — nơi một trạm nghiên cứu đơn độc trôi dạt giữa sự cô lập tuyệt đối, cách Trái Đất hơn sáu trăm triệu kilômét không gian chết chóc — con số đó mang một định nghĩa hoàn toàn khác.
Tàu tiếp tế tự hành Umoja, mang theo lương thực tươi, bộ lọc tái sinh và các kén giống ngủ đông mới, hiện vẫn đang chật vật bò qua vành đai tiểu hành tinh. Theo các phép tính quỹ đạo mới nhất trước khi ăng-ten chính bị gãy, tàu Umoja phải mất đúng mười bốn tháng nữa — tức bốn trăm hai mươi lăm ngày Trái Đất — mới có thể chạm tới quỹ đạo Sao Mộc và thực hiện quá trình hãm phanh tiếp cận.
Bốn mươi phần trăm năng suất protein của hệ vi tảo mất đi đồng nghĩa với việc chiếc đồng hồ đếm ngược dẫn tới nạn đói đã được kích hoạt. Nó không phải là một cái chết đột ngột do nổ khoang hay rò rỉ áp suất, mà là một quá trình tàn rụi sinh học được lập trình sẵn theo từng tuần lễ: cơ bắp teo biến dần, hệ miễn dịch suy sụp, những tế bào lympho ngừng sản xuất kháng thể, và hệ thần kinh trung ương bị đầu độc bởi chính những sản phẩm thoái hóa của quá trình dị hóa mô mỡ nội tạng.
An Khuê chầm chậm đặt ống nghiệm trở lại giá đỡ bằng nhựa composite gia cường sợi carbon. Những khớp ngón tay cô siết chặt lấy gờ mép bàn thao tác bằng thép không gỉ. Lực ép mạnh đến mức lớp găng cao su căng ra, rít lên trên bề mặt kim loại lạnh ngắt.
Cô hít một hơi thật dài, cố gắng làm dịu cơn co thắt nơi thượng vị. Bàn chân cô kéo lê trên sàn, đưa cô bước lại gần góc bàn làm việc phụ — nơi đặt chiếc máy tính cá nhân đã khóa màn hình và một ngăn kéo kim loại nhỏ có gắn ổ khóa cơ học dùng mã số xoay.
Ánh sáng đỏ từ ngọn đèn LED khẩn cấp hắt lên mặt bàn, phủ một bóng đen dài ngoằng của thân hình cô lên vách ngăn bằng hợp kim titan. An Khuê đứng chôn chân ở đó vài giây. Các ngón tay cô chần chừ chạm vào ba vòng xoay kim loại của ổ khóa, xoay từng nấc một theo chuỗi số ngày sinh của người mẹ ở quê nhà. Một tiếng "cách" rất khẽ vang lên. Ngăn kéo trượt mở trên các rãnh bi bôi trơn bằng mỡ silicone chịu nhiệt.
Bên dưới những tập tài liệu in bằng giấy tổng hợp chống ẩm, nằm sâu dưới cùng ở góc ngăn kéo là một tờ giấy tiêu đề chuẩn của Cơ quan Vũ trụ Quốc tế. Mép giấy đã hơi quăn queo vì những biến thiên độ ẩm cục bộ của khoang trạm qua từng ca trực.
Đó là bản nháp đơn xin rút khỏi chương trình thám hiểm không gian sâu và xin từ chức sau khi nhiệm vụ Borealis kết thúc.
Từng nét chữ viết tay nắn nót bằng mực kháng nước của chính cô hiện lên dưới thứ ánh sáng ma quái: những lời giãi bày vụng về về nỗi cô đơn tê liệt, về cảm giác xa lạ đến nghẹt thở khi nghĩ về việc bản thân đã bỏ lại cả tuổi trẻ, những cánh đồng lúa chín vàng của miền Bắc Việt Nam, tiếng mưa rào trên mái tôn nhà mẹ đẻ và những mối dây liên hệ nhân loại ấm áp để đổi lấy bóng tối vĩnh cửu của mặt trăng băng giá chết chóc này. Cô từng ngây thơ nghĩ rằng niềm đam mê khoa học thuần túy, những khát khao chạm tay vào bí mật nguồn gốc sự sống ngoài Trái Đất sẽ là tấm khiên bất hoại che chở cho tâm trí mình. Nhưng thực tế nghiệt ngã của Borealis — sự chật chội của các module ngầm, mùi kim loại rỉ sét và chất tẩy rửa clo thường trực, cùng áp lực hàng nghìn tấn băng đè nặng trên đỉnh đầu — đã gặm nhấm tâm hồn cô từng ngày một.
Nhìn vào bản nháp ấy, rồi liếc mắt sang biểu đồ quang phổ nhấp nháy màu đỏ báo động trên màn hình máy đo, một cảm giác tội lỗi nặng nề và u uất trào dâng, bóp nghẹt lồng ngực An Khuê.
Cô đã giấu tờ đơn ấy, chôn chặt nó như một sự yếu đuối đáng xấu hổ của bản thân trước mặt đồng đội. Và tồi tệ hơn gấp vạn lần, cô đã giấu đi những biến đổi bất thường đầu tiên của mẻ tảo này. Cô đã tự huyễn hoặc mình rằng đó chỉ là một sự dao động sinh lý tạm thời, rằng tài năng của một thủ khoa công nghệ sinh học có thể âm thầm sửa chữa lỗi lầm của tự nhiên mà không cần phải làm phiền lòng ai. Sự tự tôn khoa học mù quáng đã biến cô thành một kẻ che giấu sự thật nguy hiểm nhất trên trạm.
An Khuê đẩy mạnh ngăn kéo đóng sập lại. Ổ khóa cơ học sập then bằng một tiếng "cạch" khô khốc, dứt khoát như một lời kết án.
Cô ngước nhìn lên chiếc đồng hồ kỹ thuật số gắn trên vách ngăn phía trên cửa vòm. Bảy giờ ba mươi phút sáng theo giờ phối hợp quốc tế UTC.
Buổi giao ban tài nguyên định kỳ giữa chu kỳ cắt điện tại Khoang Trú ẩn Hạt Nhân chuẩn bị bắt đầu. Cô không còn thời gian để trốn chạy hay phân tích thêm bất kỳ mẫu nghiệm nào nữa. Giờ phán quyết đã điểm.
***
Khoang Trú ẩn Hạt Nhân — module được gia cố vỏ chì dày nhất nằm áp sát phần đuôi trạm và được thiết kế để chịu được cả sự cố rò rỉ phóng xạ lẫn sự sụp đổ áp suất toàn phần — sáng nay chật chội và ngột ngạt hơn bình thường gấp bội.
Khi cả năm con người cùng tụ họp lại bên chiếc bàn tròn trung tâm làm bằng vật liệu composite chống rung, thể tích không gian vỏn vẹn hai mươi lăm mét khối dường như bị bóp nghẹt. Bầu không khí bên trong quánh đặc mùi da thịt người bốc hơi trong không gian kín, mùi mồ hôi lưu cữu ngấm sâu vào các sợi vải chống cháy không thể giặt giũ thường xuyên, và thứ mùi hăng nồng, đắng ngắt thoang thoảng của chất hấp phụ lithium hydroxide từ các hộp lọc CO2 đang phải gồng mình chạy ở sáu mươi phần trăm công suất để tiết kiệm ắc quy.
Ánh sáng từ dải đèn LED khẩn cấp phản chiếu lấp loáng trên trần kim loại cong vút, soi rõ những gương mặt hốc hác, nhợt nhạt và thâm quầng vì thiếu ngủ, thiếu ánh sáng mặt trời và sự hành hạ dai dẳng của cái lạnh mười hai độ C.
Amara Njoroge ngồi ở vị trí đầu bàn, đối diện trực tiếp với màn hình hiển thị trung tâm. Hai bàn tay gầy gò với những khớp xương nổi rõ của cô đan chặt vào nhau, đặt bất động trên mặt bàn. Dù đôi mắt người phụ nữ Kenya đỏ hoe vì những mao mạch bị vỡ sau đợt thức trắng xử lý sự cố lò phản ứng, và vùng thái dương bên phải của cô thỉnh thoảng lại giật nhẹ từng cơn do chứng đau đầu vận mạch cấp tính chưa hề thuyên giảm, tư thế ngồi của người chỉ huy vẫn thẳng tắp, toát lên một thứ kỷ luật thép không gì lay chuyển nổi.
Ngay bên cạnh Amara, Luísa Carvalho đang dán mắt vào chiếc máy tính bảng cá nhân có khung viền bọc cao su chống sốc. Những ngón tay thon dài của nữ chuyên gia địa chất lướt thoăn thoắt qua từng lớp biểu đồ địa chấn ba chiều vừa được mạng lưới cảm biến áp điện truyền về từ đới đứt gãy Cổ Thạch. Đôi môi cô mím chặt lại thành một đường thẳng tẻ nhạt mỗi khi một xung chấn mới xuất hiện trên đồ thị dạng sóng.
Ở phía đối diện, Ren Ishikawa ngồi thu lu trong chiếc áo khoác phao dã chiến dày cộp màu xám tro. Chiếc mũ trùm đầu kéo sụp xuống tận lông mày, che đi mái tóc đen bù xù. Hai mắt kỹ sư cơ khí người Nhật dán chặt vào màn hình hiển thị tình trạng cơ học của con robot Mực Ống. Các ngón tay đeo găng cụt ngón của anh thỉnh thoảng lại gõ nhẹ từng nhịp đều đặn, vô thức lên mặt bàn kim loại, tạo ra những âm thanh lộp cộp khô khốc điểm xuyết cho bầu không khí nặng trề.
Người phá vỡ sự im lặng ngột ngạt ấy không phải là Amara, mà là Ingrid Solberg.
Nữ bác sĩ kiêm sĩ quan y tế người Na Uy không thèm ngồi xuống. Cô đứng tựa lưng vào vách khoang, rồi với một cử chỉ dứt khoát đến mức thô bạo, cô đẩy mạnh một tấm màn hình dẻo hiển thị hồ sơ số sang giữa mặt bàn tròn. Tấm nền silicon tự động trải rộng ra, kích hoạt giao diện biểu đồ đối chiếu dinh dưỡng và chỉ số sinh hóa máu của toàn phi hành đoàn bằng hai cột số liệu màu xanh lam và màu hổ phách chọi nhau chan chát.
"Chúng ta cần phải nói chuyện một cách hoàn toàn nghiêm túc về những thứ mà chúng ta đang nuốt vào bụng mỗi ngày," giọng Ingrid vang lên, lạnh, sắc và khô khốc như những tảng băng trôi ngoài biển Bắc Na Uy. Cô không nhìn quanh bàn, mà ánh mắt xanh biếc nheo lại đầy nghi hoặc sau cặp kính bảo hộ gọng titan lập tức hướng thẳng mũi dùi chuẩn xác về phía An Khuê.
"Theo bảng tổng kết khẩu phần dinh dưỡng ba mươi sáu giờ qua kể từ thời điểm Chỉ huy Amara buộc phải kích hoạt phương án cắt tải Bravo-Bốn, lượng protein thực tế phân phối qua khẩu phần súp đông khô cho mỗi cá nhân chỉ đạt trung bình ba mươi lăm gam một ngày. Ba mươi lăm gam!" Ingrid nhấn mạnh từng từ, gõ mạnh ngón tay trỏ xuống mặt bàn. "Trong khi đó, bất kỳ sinh viên y khoa năm nhất nào cũng biết rằng định mức sinh lý tối thiểu để duy trì khối lượng cơ bắp, ngăn ngừa hiện tượng teo cơ tim và duy trì chức năng tổng hợp tế bào lympho của hệ miễn dịch trong môi trường trọng lực một phần tám g của Europa là sáu mươi lăm gam một ngày. Chúng ta đang bị cắt giảm gần một nửa lượng protein cần thiết để duy trì sự sống căn bản."
Ingrid dừng lại một nhịp thở, ánh mắt cô không hề chớp, chiếu thẳng vào gương mặt đang tái đi của An Khuê:
"Sáng nay, tôi đã đích thân vào hệ thống để kiểm tra bảng cân đối tiêu thụ sinh khối tổng thể của trạm. Dữ liệu trên hệ thống của Mây vẫn báo cáo một cách rất 'đẹp đẽ' rằng Vườn Thủy Canh Bình Minh đang cung ứng lượng sinh khối tảo tương đương tám mươi phần trăm công suất lý thuyết. Nhưng thực tế trong kho dinh dưỡng của y xá, số lượng bánh bột tảo đông khô nhập kho thực tế thiếu hụt tới gần một nửa so với con số trên báo cáo. Sự chênh lệch khổng lồ này từ đâu mà ra? An Khuê, có phải cô đang bí mật chuyển hướng sinh khối quý giá của toàn đội sang các thí nghiệm nuôi cấy vi sinh vật đáy biển mà không thông qua bất kỳ quy trình phê chuẩn y tế nào không?"
Câu hỏi của Ingrid như một nhát dao chém toang lớp không khí vốn đã căng như dây đàn trong căn phòng.
Ren ngẩng phắt đầu lên khỏi màn hình của con robot Mực Ống. Đôi mắt sau cặp kính cận của anh mở to đầy vẻ lúng túng, ánh mắt đảo qua đảo lại giữa vẻ mặt đằng đằng sát khí của Ingrid và sự câm lặng của An Khuê:
"Này Ingrid, từ từ đã nào. Bình tĩnh một chút đi. Khuê làm sao mà làm cái chuyện vô lý đó được chứ? Cô ấy hiểu rõ tình hình trạm hơn ai hết mà. Mọi người đều biết bể nuôi cấy vừa phải trải qua một đợt sốc nhiệt suýt đông đá đêm qua sau khi trần khoang Lam rạn nứt cơ mà..."
"Tôi không hỏi cậu, Ren," Ingrid cắt ngang lời anh một cách dứt khoát, không một chút nể nang. Nữ bác sĩ thậm chí không buồn quay đầu lại nhìn Ren, ngón tay cô vẫn ghim chặt vào con số màu hổ phách đang nhấp nháy trên tấm màn hình dẻo. "Tôi đang chất vấn người chịu trách nhiệm kỹ thuật cao nhất về chu trình sinh khối của trạm này. Cân bằng chuyển hóa là một bài toán bảo toàn vật chất tuyệt đối, không có chỗ cho những suy diễn mơ hồ. Trừ phi trên cái mặt trăng chết tiệt này có ma thuật, nếu không thì vật chất không thể tự nhiên bốc hơi khỏi các ống sinh học được! Hoặc là các cảm biến đầu vào của cô đã hỏng toàn bộ, hoặc là ai đó ở đây đang cố tình làm sai lệch báo cáo để che giấu một sự thật tệ hại hơn."
Bầu không khí trong phòng như đông cứng lại thành một khối băng vô hình. Tiếng rù rù uể oải của chiếc quạt thông gió LiOH bên vách dường như cũng chìm nghỉm trước áp lực vô hình đang đè nặng lên từng người.
Luísa Carvalho khẽ thở dài một tiếng mệt mỏi. Cô chậm rãi đặt chiếc bút cảm ứng bằng kim loại xuống mặt bàn, đưa mắt nhìn An Khuê. Trong ánh mắt của người phụ nữ Bồ Đào Nha không có sự giận dữ gay gắt như Ingrid, nhưng lại chất chứa một sự ái ngại sâu sắc pha lẫn vẻ thất vọng không thể giấu giếm.
An Khuê cảm thấy máu nóng dồn dập kéo lên hai bên mang tai, nóng bừng và rát bỏng, đối nghịch hoàn toàn với cái lạnh buốt của căn phòng. Bả vai trái của cô — nơi bị va đập mạnh vào khung kim loại trong cơn chấn động địa chấn đêm qua — lại bắt đầu nhói lên từng cơn buốt nhức. Cô nhìn trừng trừng xuống đôi bàn tay mình đang đặt trên mặt bàn, những đầu ngón tay khẽ run rẩy dù cô đã cố hết sức gồng cơ bắp để kiềm chế.
Trong một khoảnh khắc hèn nhát lướt qua tâm trí, cô đã nghĩ đến việc mở lời bào chữa. Cô hoàn toàn có thể dựng lên một bức tường lý do kỹ thuật vô cùng vững chắc và hợp lý: đợt giảm áp đột ngột tại Khoang Lam khi cấu trúc bị va đập, nhiệt độ khối chất lỏng rơi tự do xuống bốn phẩy tám độ C trong đêm làm tê liệt hoạt tính của enzyme ribulose-1,5-bisphosphate carboxylase-oxygenase tổng hợp protein, hay hiện tượng đường ống tuần hoàn dinh dưỡng bị cặn lắng canxi kết tủa do các chấn động tần số thấp từ đới đứt gãy. Những lời giải thích ấy đầy tính chuyên môn, hoàn toàn có cơ sở khoa học và chắc chắn sẽ giúp cô kéo dài thêm ít nhất vài ngày điều tra mà không phải đối mặt với cơn thịnh nộ của đồng đội.
Nhưng khi cô chầm chậm ngẩng đầu lên, ánh mắt cô chạm thẳng vào ánh nhìn của Amara Njoroge.
Người chỉ huy không hề cất lên một tiếng quát tháo nào. Amara chỉ lặng lẽ nhìn cô từ đầu bàn. Đôi mắt màu nâu sẫm của người phụ nữ Kenya sâu thẳm, tĩnh lặng và phẳng lặng như mặt nước của một hồ ngầm dưới đáy vực sâu không đáy. Nhưng ẩn sâu bên dưới sự tĩnh lặng chết chóc ấy là một sức mạnh tinh thần kiên định đến mức tàn nhẫn, một đòi hỏi không lời nhưng mang tính cưỡng chế tuyệt đối về một sự minh bạch không tì vết. Amara không truy vấn, không chất vấn như Ingrid. Người chỉ huy đang kiên nhẫn chờ đợi một sự thật, và ánh nhìn ấy có sức nặng nghiền nát mọi toan tính lấp liếm yếu ớt.
Mọi lời ngụy biện, mọi sự trì hoãn mang danh nghĩa "chờ kiểm chứng thêm dữ liệu", dưới ánh nhìn thăm thẳm ấy, bỗng chốc hiện nguyên hình là sự hèn hạ đáng khinh bỉ. Nơi đáy sâu của Europa, một lời dối trá nhỏ nhất cũng có thể biến thành chiếc đinh đóng chặt nắp cỗ quan tài chung của cả năm con người.
An Khuê hít một hơi thật sâu. Không khí khô khốc và nồng mùi hóa chất tràn qua thanh quản, làm cay xè cuống họng cô.
"Ingrid nói đúng," An Khuê cất lời. Ban đầu, giọng cô hơi khẽ và khản đặc, nhưng từng âm tiết phát ra sau đó dần lấy lại sự đanh thép, lạnh lùng của một kỹ sư sinh học đang đọc một bản cáo phó kỹ thuật. "Lượng sinh khối thực tế thu hoạch được không đạt các chỉ số lý thuyết hiển thị trên hệ thống trung tâm. Và nguyên nhân cốt lõi hoàn toàn không phải do đợt sốc nhiệt cục bộ đêm qua."
Ren tròn mắt nhìn cô, miệng hơi hé ra nhưng không thốt nên lời. Luísa khẽ nhướn đôi mày rậm, ánh mắt lộ vẻ bàng hoàng.
An Khuê không chần chừ thêm nữa. Cô đưa bàn tay đeo găng chạm vào thiết bị điều khiển tích hợp trên cổ tay áo bảo hộ, kích hoạt giao thức truyền dữ liệu cục bộ. Cô gạt nhẹ ngón tay sang hướng màn hình trung tâm của phòng trú ẩn. Ngay lập tức, giao diện bảng dinh dưỡng của Ingrid bị thu nhỏ sang góc phải, nhường toàn bộ không gian chính cho biểu đồ quang phổ tế bào và chuỗi số liệu động học sinh khối mà An Khuê vừa trích xuất từ buồng phân tích Khoang Lam.
Những đường cong suy thoái quang hóa đứt gãy màu đỏ thẫm và các dải điện di phân mảnh nucleic acid hiện lên sừng sững giữa không gian ba chiều.
"Khay tảo dự phòng *Spirulina platensis* mã hiệu B-09 — nguồn giống thứ cấp duy nhất mà chúng ta còn cứu vớt được sau khi Vườn Thủy Canh chính bị phá hủy — đã bị suy giảm năng suất quang hợp tới bốn mươi phần trăm," An Khuê nói chậm rãi, rành rọt từng chữ một. "Tốc độ nhân đôi tế bào trong pha logarit hiện chỉ đạt chưa đầy sáu mươi phần trăm so với định mức thiết kế ban đầu. Chỉ số hiệu suất quang hóa $F_v/F_m$ đã sụp đổ xuống mức 0,42. Toàn bộ quần thể đang biểu hiện các tổn thương cấu trúc nghiêm trọng do hiện tượng trôi dạt di truyền tích lũy qua nhiều thế hệ sinh sản vô tính, bị kích hoạt bởi bức xạ ion hóa thứ cấp từ Sao Mộc xâm nhập qua các vi nứt rạn của lớp băng bảo vệ."
Cô ngừng lại một giây, nuốt một ngụm nước bọt đắng ngắt nơi cổ họng, rồi dũng cảm hướng thẳng ánh mắt về phía Amara:
"Tôi... tôi đã phát hiện ra những dấu hiệu suy thoái ban đầu này từ hai tuần trước. Chính xác là mười bốn ngày trước khi trận động băng đầu tiên ập đến và xé rách hệ thống khoan Borealis."
Khoang Trú ẩn Hạt Nhân lập tức rơi vào một sự tĩnh lặng tuyệt đối, ghê rợn và chết chóc. Thậm chí dường như cả tiếng máy bơm rù rì ngoài vách khoang và tiếng quạt gió của hộp lọc LiOH cũng biến mất trong khoảnh khắc đó, chỉ còn trơ trọi lại tiếng rít cao tần li ti phát ra từ các bộ nguồn biến áp của hệ thống đèn LED khẩn cấp.
"Hai tuần?"
Ingrid lặp lại hai từ ấy, giọng cô hạ thấp xuống một tông nhưng độ rung của nó chứa đựng một cơn thịnh nộ khủng khiếp đang chực chờ nổ tung. Nữ bác sĩ người Na Uy đột ngột đứng thẳng dậy, hai bàn tay chống mạnh xuống mặt bàn kim loại khiến tấm màn hình dẻo nảy lên bần bật.
"Hồ An Khuê, cô có ý thức được mình vừa thốt ra cái quái gì không? Mười bốn ngày? Hai tuần lễ trọn vẹn trước khi chúng ta bị một trận động băng chết tiệt cô lập hoàn toàn dưới ba cây số băng dày? Hai tuần trước khi cột ăng-ten siêu cao tần gãy gục và mọi liên lạc với Bộ chỉ huy Trái Đất bị cắt đứt hoàn toàn?"
"Tôi đã nghĩ rằng đó chỉ là một hiện tượng ức chế quang hóa cục bộ có thể phục hồi," An Khuê cố gắng lên tiếng, hai bàn tay cô siết chặt lại trên đùi, dù cô nhận thức sâu sắc rằng mọi lời trần tình lúc này đều nghe thảm hại như một sự biện hộ hèn nhát. "Trong các thế hệ vô tính F12 và F14 trước đây tại phòng nuôi cấy kiểm chuẩn, quần thể tảo từng có những biểu hiện suy thoái tương tự do nồng độ muối khoáng kết tủa ở đáy bể, và chúng đã tự phục hồi hoàn toàn sau khi tôi điều chỉnh lại hệ đệm pH và bổ sung vi lượng sắt phức hợp. Tôi đã muốn tự mình thử nghiệm các công thức dung dịch đệm mới trong các bình nuôi kín để thu thập đủ dữ liệu đối chứng ba chu kỳ trước khi chính thức đưa ra báo động. Tôi... tôi không muốn tạo ra một làn sóng hoảng loạn tâm lý không cần thiết trong phi hành đoàn, ngay tại thời điểm then chốt khi mọi người đang phải dồn từng giọt sức lực cho việc hoàn thành giếng khoan Borealis..."
"Một làn sóng hoảng loạn không cần thiết ư?"
Ingrid ngắt lời cô bằng một tiếng quát chát chúa, âm lượng xé toang không gian chật hẹp của module. Nữ bác sĩ vốn nổi tiếng là người điềm tĩnh và lạnh lùng nhất trong các ca cấp cứu ngoại khoa, nhưng lúc này toàn bộ khuôn mặt cô đã đỏ bừng lên vì phẫn nộ, những đường gân xanh nổi rõ trên vòm trán:
"Cô nghĩ mình là ai cơ chứ, An Khuê? Một vị cứu tinh cô độc? Một thánh tử vì đạo muốn âm thầm gánh vác mọi rủi ro rồi giải quyết tất cả sau lưng đồng đội à? Mở to mắt ra mà nhìn xung quanh đi! Đây là trạm Borealis! Đây là Europa! Đây không phải là cái phòng thí nghiệm viện nghiên cứu ấm áp của cô ở Hà Nội hay Darmstadt, nơi cô có thể thoải mái giấu nhẹm một sai số thí nghiệm rồi lẳng lặng làm lại vào học kỳ sau! Ở đây, dưới ba cây số băng giá này, một sai số sinh học một phần trăm không phải là một vệt mực đỏ trên bài báo khoa học. Nó là mạng sống của con người!"
Ingrid vung mạnh cánh tay vào không trung, ngón tay chỉ thẳng lên trần khoang cong vút — nơi hàng nghìn tấn băng đen đang đè nặng:
"Con tàu Umoja chết tiệt ấy còn cách chúng ta mười bốn tháng hành trình! Bốn trăm hai mươi lăm ngày Trái Đất! Kho lương thực ép khẩn cấp của trạm chỉ còn vỏn vẹn một nghìn hai trăm thanh ration bar, tức là chỉ đủ duy trì hai trăm bốn mươi ngày nếu toàn đội chấp nhận sống lay lắt ở mức cầm cự một nghìn sáu trăm calorie mỗi ngày! Toàn bộ kế hoạch sinh tồn sáu tháng tiếp theo của chúng ta — việc chúng ta có thể mở mắt dậy mỗi sáng mà không bị suy tim hay không — được đặt cược hoàn toàn vào việc cỗ máy sinh học của cô bù đắp sáu mươi phần trăm lượng protein và calorie thiếu hụt! Vậy mà cô dám lẳng lặng giấu giếm việc cái cỗ máy sinh học duy nhất đó đã hỏng hóc tới bốn mươi phần trăm từ hai tuần trước?"
"Ingrid, tôi hoàn toàn không hề có ý định che giấu vĩnh viễn..."
"Nhưng cô ĐÃ giấu!" Ingrid gằn từng giọng, từng từ ngữ như những chiếc đinh sắt nện thẳng vào mặt An Khuê. "Nếu trận động băng đêm qua không xảy ra, nếu lò phản ứng Kifaru không bị SCRAM và trạm không bị ép vào chế độ cắt điện Bravo-Bốn, cô định lén lút làm thí nghiệm trong bóng tối đến bao giờ? Cho đến khi các thành viên bước vào phòng y tế của tôi với đôi chân sưng phù vì phù dinh dưỡng, với hội chứng teo cơ tim và suy giảm nhận thức cấp tính do thiếu hụt các acid amin thiết yếu thì cô mới chịu lôi mấy cái biểu đồ quang phổ chết tiệt này ra thú nhận sao? Trong điều kiện cô lập khắc nghiệt này, việc che giấu rủi ro sinh học chẳng khác nào hành vi giết người gián tiếp! Cô đang lấy mạng sống của cả năm con người ra để đánh bạc với sự kiêu ngạo khoa học của chính bản thân mình!"
"Đủ rồi, Ingrid."
Một thanh âm trầm đục cất lên. Tiếng nói không hề lớn, không mang sắc thái gắt gỏng hay quát tháo, nhưng nội lực và sự dứt khoát của Amara Njoroge mang một sức nặng ghê gớm, như một bức tường bê tông vững chãi chặn đứng hoàn toàn cơn thịnh nộ đang bùng phát của Ingrid.
Nữ bác sĩ người Na Uy thở dốc, lồng ngực phập phồng sau lớp vải bảo hộ. Cô trừng mắt nhìn trừng trừng vào An Khuê thêm hai giây nữa, rồi với một cử chỉ giận dữ tột cùng, cô ngồi thụp xuống chiếc ghế kim loại của mình, khoanh chặt hai tay trước ngực và ngoảnh mặt nhìn sang vách khoang đối diện, từ chối giao tiếp bằng mắt.
Căn phòng một lần nữa chìm vào sự tịch mịch nặng nề. Ren Ishikawa co rúm người lại trong chiếc áo phao dày, hai vai rụt xuống như muốn biến mất khỏi tầm mắt của mọi người, không dám thở mạnh một hơi. Luísa khẽ cắn chặt bờ môi dưới, ánh mắt nhìn An Khuê đong đầy sự bối rối và một nỗi thất vọng sâu sắc khó tả.
Amara vẫn không nhìn Ingrid, cũng không đưa mắt sang Luísa hay Ren. Ánh mắt sâu thẳm của người chỉ huy vẫn ghim chặt vào An Khuê.
Dưới dải ánh sáng đỏ bầm le lói của ngọn đèn LED khẩn cấp, An Khuê nhìn thấy rõ từng nếp nhăn khắc khổ hằn sâu nơi khóe mắt và trán của Amara — những dấu vết của một cuộc chiến không cân sức nhằm giữ cho tiền đồn này không tan rã thành tro bụi. Khóe mắt phải của người phụ nữ Kenya thỉnh thoảng lại giật nảy lên một nhịp rất khẽ, dấu hiệu cho thấy cơn đau nửa đầu dữ dội đang hành hạ các dây thần kinh sọ não của cô tàn nhẫn đến mức nào. Nhưng giọng nói của Amara khi cất lên lại giữ được sự phẳng lặng đến lạnh người:
"Kỹ sư Hồ An Khuê. Việc cô tự ý che giấu sự suy thoái của nguồn giống vi tảo và vi phạm quy trình minh bạch dữ liệu nhiệm vụ quy định tại Điều 4.2 của Sổ bộ An toàn Trạm là một sai phạm kỹ thuật và kỷ luật đặc biệt nghiêm trọng. Tôi sẽ đích thân ghi nhận toàn bộ sự việc này, chi tiết từng mốc thời gian và thông số sai lệch, vào nhật ký chỉ huy tối mật của trạm Borealis."
An Khuê cúi gục đầu xuống, hai mắt cay xè nhưng cô cắn chặt môi để không cho nước mắt trào ra: "Tôi hiểu, thưa Chỉ huy. Tôi xin hoàn toàn chịu mọi hình thức kỷ luật."
"Nhưng không phải là lúc này," Amara tiếp tục, lời nói gãy gọn và lạnh lùng như những thanh thép vừa tôi qua nước đá. "Chúng ta đang đứng trên bờ vực của sự đóng băng vĩnh viễn. Lò phản ứng Kifaru đang bị kẹt van điều tiết cấp ba, ống dẫn hợp kim natri-kali làm mát đang bị bẹp dúm dưới khối xà gồ gãy, và chúng ta chỉ còn chưa đầy ba mươi tư giờ đồng hồ trước khi toàn bộ hệ thống chạm tới điểm đông kết không thể phục hồi. Giếng khoan Borealis đang bị nén ép và tái đông từng phút dưới áp lực thủy tĩnh của vỏ băng. Chúng ta không có thời gian, không có tài nguyên dư thừa, và càng không có cái quyền xa xỉ được tổ chức một phiên tòa luận tội hay tiến hành các biện pháp cách chức, thi hành kỷ luật cá nhân vào thời khắc ngàn cân treo sợi tóc này."
Amara chống hai bàn tay gầy guộc nhưng đanh chắc xuống mặt bàn tròn, rướn nhẹ người về phía trước, thu hẹp khoảng cách giữa cô và An Khuê:
"Trách nhiệm thực sự của cô lúc này, An Khuê, không phải là cúi đầu nhận tội rồi gặm nhấm sự hối hận vô nghĩa. Trách nhiệm duy nhất của cô lúc này là phải dùng chính bộ óc của một kỹ sư sinh học xuất sắc nhất mà Cơ quan Vũ trụ từng đào tạo để dọn dẹp đống đổ nát này. Tôi không cần một lời xin lỗi suông. Tôi cần một phương án cứu vãn có tính khả thi tuyệt đối về mặt nhiệt động học. Dựa trên thực trạng năng suất vi tảo đã sụp đổ bốn mươi phần trăm, cô định làm thế nào để giữ cho năm sinh mạng trong căn phòng này không chết đói trước khi con tàu Umoja xuất hiện trên bầu trời Europa sau bốn trăm hai mươi lăm ngày nữa?"
Câu hỏi của Amara không mang sắc thái gắt gỏng, nhưng từng từ ngữ lại nặng tựa hàng triệu tấn băng đang đè nặng trên nóc trạm. Áp lực vô hình ấy dường như muốn nghiền nát lồng ngực An Khuê. Nhưng kỳ lạ thay, chính thái độ thực tế đến tàn nhẫn, sự lạnh lùng gạt bỏ mọi yếu tố cảm xúc cá nhân của người chỉ huy lại kéo giật An Khuê ra khỏi vũng lầy của sự tự dằn vặt và hoảng loạn.
Cô hít một hơi thật sâu. Không khí lạnh buốt tràn vào phổi dường như kích hoạt lại toàn bộ các nơ-ron thần kinh đang bị tê liệt.
An Khuê từ từ ngẩng cao đầu. Đôi mắt cô không còn sự bối rối, sợ sệt hay lúng túng ban nãy, mà bừng lên sự tập trung cao độ và sắc lạnh của một nhà khoa học thực thụ khi bị dồn vào chân tường sinh tử.
"Tôi đã tính toán lại toàn bộ mô hình động học sinh khối ngay trong buồng thao tác cách ly trước khi bước vào phòng họp này," An Khuê nói, giọng cô lấy lại sự tự tin chuyên môn vốn có, dứt khoát và mạch lạc. Cô đưa tay chạm vào màn hình cảm ứng cá nhân, vuốt nhẹ để kéo ra một chuỗi sơ đồ khối kỹ thuật mới tinh và chiếu chúng lên không gian ba chiều lơ lửng giữa bàn tròn.
"Chủng vi tảo *Spirulina platensis* B-09 không thể tiếp tục đóng vai trò là nguồn cung cấp protein duy nhất của trạm được nữa," An Khuê bắt đầu phân tích, ngón tay cô chỉ vào đường cong động học đang cắm đầu đi xuống. "Nếu chúng ta cố chấp ép mẻ tảo này quang hợp trong điều kiện chiếu sáng hai mươi phần trăm công suất và nhiệt độ khoang duy trì ở mười hai độ C, hiện tượng quang ức chế ngược kết hợp với sự phân mảnh chuỗi DNA sẽ dẫn đến hiện tượng ly giải tế bào hàng loạt. Toàn bộ sinh khối tảo còn lại sẽ sụp đổ hoàn toàn trong vòng bốn mươi tám ngày tới. Chúng ta buộc phải tái cơ cấu toàn diện hệ thống canh tác sinh học ngay trong ngày hôm nay."
"Tái cơ cấu như thế nào khi trạm đang bị cắt tải điện và không gian canh tác bị thu hẹp?" Ingrid cất giọng lạnh lùng từ phía đối diện, nhưng ánh mắt của nữ bác sĩ đã bất giác dán chặt vào các khối thông số kỹ thuật mới trên màn hình của An Khuê.
"Bằng cách đa dạng hóa chu trình sinh học theo phương thức ba tầng tương hỗ khép kín," An Khuê trả lời không chút do dự, ngón tay cô vạch một đường sáng chia sơ đồ thành ba phân khu riêng biệt. "Tầng thứ nhất: Giải phóng ngay lập tức hai phần ba dung tích của bể nuôi tảo số hai và số ba tại Vườn Thủy Canh Bình Minh. Chúng ta sẽ tiến hành cấy chuyển chủng nấm men chịu lạnh *Saccharomyces cerevisiae* biến tính nhiệt độ thấp — đây là các mẫu đối chứng sinh học đông khô mà tôi lưu trữ an toàn trong tủ nitơ lỏng y tế của trạm."
Luísa Carvalho hơi nghiêng đầu, đôi mắt lộ vẻ tò mò: "Nấm men? Loài vi sinh vật lên men bánh mì và bia đó sao? Chúng không cần ánh sáng để phát triển, đúng không?"
"Chính xác," An Khuê gật đầu dứt khoát. "Nấm men là sinh vật dị dưỡng tuyệt đối. Chúng hoàn toàn không cần đến quang tử ánh sáng để tổng hợp chất sống. Điều đó có nghĩa là chúng ta có thể tắt hoàn toàn các dải đèn LED quang hợp chuyên dụng tại hai bể nuôi cấy này, giúp cắt giảm ngay lập tức bốn phẩy hai kilowatt-giờ điện năng tiêu thụ mỗi ngày cho hệ thống ắc quy dự phòng. Hơn thế nữa, nấm men sinh trưởng theo cấp số nhân với tốc độ khủng khiếp: chu kỳ nhân đôi sinh khối của chúng trong điều kiện tối ưu chỉ mất từ bốn đến sáu giờ, thay vì chu kỳ hai mươi bốn giờ nặng nhọc của vi tảo. Quan trọng nhất về mặt y sinh: hàm lượng protein thô trong sinh khối nấm men khô đạt từ bốn mươi lăm đến năm mươi lăm phần trăm, cực kỳ giàu lysine, valine và các acid amin chuỗi nhánh — chính là những chất mà mẻ tảo Spirulina bị thoái hóa đang thiếu hụt trầm trọng."
"Nhưng nấm men cần cơ chất hữu cơ để hô hấp và tăng sinh khối," Ingrid lập tức bắt bẻ bằng nền tảng kiến thức chuyển hóa y sinh của mình. Nữ bác sĩ khoanh tay, ánh mắt sắc như dao: "Chúng không phải là thực vật để tự quang hợp từ CO2 và nước. Cô định lấy nguồn đường, nguồn carbon hữu cơ từ đâu ra để nuôi sống hàng tỷ tế bào nấm men trong một hệ thống hoàn toàn cô lập dưới lòng băng này?"
"Từ chính lượng sinh khối tảo Spirulina già cỗi bị đào thải và các phế phẩm cellulose của trạm," An Khuê đáp lại rành rọt, ánh mắt ánh lên tia sáng kiên định. "Chúng ta sẽ tái khởi động lò phân hủy thủy nhiệt áp suất thấp ở khoang tái chế rác thải. Chúng ta sẽ thu gom toàn bộ phần tảo đáy bị chết, kết hợp với rễ cây khô và chất xơ không tiêu hóa được từ các khay rau củ trước đây, đưa vào buồng thủy nhiệt ở một trăm sáu mươi độ C dưới áp suất bốn bar. Quá trình bẻ gãy nhiệt hóa học này sẽ phân cắt toàn bộ chuỗi polysaccharide phức tạp thành các phân tử đường đơn glucose, maltose và chuỗi peptide ngắn. Dung dịch sau thủy phân, khi được trung hòa, sẽ là một loại 'nước luộc dinh dưỡng' hoàn hảo để nấm men bùng nổ sinh khối. Đó là một vòng lặp kín tuyệt đối: chất thải của chu trình quang hợp trở thành thức ăn cho chu trình dị dưỡng."
Ren Ishikawa khẽ huýt sáo một tiếng rất nhỏ sau lớp áo phao dày: "Một xưởng sản xuất bia mini hoạt động hoàn toàn tự động dưới lòng băng Europa... Nghe bắt đầu có triển vọng cứu mạng rồi đấy."
"Đừng đùa cợt vào lúc này, Ren," Ingrid lườm anh một cái sắc lẹm, nhưng nét mặt căng thẳng của nữ bác sĩ dường như đã giãn ra đôi chút. Cô quay lại nhìn An Khuê, giọng nói đã bớt đi vẻ gay gắt nhưng vẫn giữ sự nghiêm cẩn nghề nghiệp: "Đó là nguồn protein thô và năng lượng từ nấm men. Thế còn các vitamin thiết yếu và các hợp chất vi lượng tươi sống thì sao? Sinh khối nấm men dù giàu đạm nhưng hoàn toàn không thể cung cấp vitamin C hoạt tính, acid folic hay các chất chống oxy hóa tự nhiên cần thiết để ngăn ngừa hội chứng tổn thương nội mô mạch máu dưới tác động của bức xạ nền Sao Mộc."
"Đó chính là tầng thứ hai của giải pháp sinh học," An Khuê chuyển tiếp màn hình sang khối sơ đồ tiếp theo, nơi các khay canh tác màu xanh lục non hiện lên. "Tôi đề xuất tận dụng toàn bộ diện tích của các khay ươm thẳng đứng ở góc đông bắc Vườn Bình Minh — nơi vẫn nhận được một lượng nhiệt rò rỉ rất nhỏ từ vách ngăn của khoang phát điện — để gieo mầm các khay hạt họ đậu ngắn ngày. Cụ thể là hạt đậu xanh (*Vigna radiata*) và hạt đậu lăng đen từ kho hạt giống dự phòng cấp một của trạm."
"Mầm đậu?" Luísa ngạc nhiên thốt lên, mắt mở to. "Ý cô là chúng ta sẽ trồng rau mầm?"
"Đúng vậy, mầm đậu ngắn ngày," An Khuê gật đầu. "Chúng ta không có thời gian, không có đủ nước và càng không có điện năng chiếu sáng để chờ đợi một cây đậu phát triển bình thường, đơm hoa kết trái sau sáu mươi hay tám mươi ngày. Nhưng chúng ta hoàn toàn có thể canh tác ở dạng mầm ngắn ngày với chu kỳ thu hoạch chính xác là sáu ngày một lứa luân phiên. Hạt giống nảy mầm tiêu tốn cực kỳ ít năng lượng; chúng chỉ cần một lượng ẩm tối thiểu được kiểm soát bằng vòi phun sương siêu âm và một chế độ chiếu sáng xung cực ngắn: đúng ba mươi phút ánh sáng yếu cho mỗi chu kỳ sáu giờ để kích hoạt các gene tổng hợp diệp lục và chuyển hóa tinh bột dự trữ thành vitamin C, vitamin A và các enzyme sống. Mầm đậu non là nguồn bổ sung hoàn hảo các vi chất tươi, protein dễ hấp thụ và chất xơ hòa tan. Sự kết hợp cộng sinh giữa sinh khối nấm men chịu lạnh và mầm đậu ngắn ngày sẽ lấp đầy hoàn toàn lỗ hổng bốn mươi phần trăm protein mà sự suy thoái của chủng tảo Spirulina để lại."
Amara Njoroge chăm chú quan sát từng con số động học và biểu đồ cân bằng vật chất đang chuyển động nhịp nhàng trên màn hình ba chiều. Đôi mắt người chỉ huy lóe lên những tia sáng tính toán sắc sảo, thực tế và lạnh lùng:
"Phương án công nghệ sinh học của cô nghe rất chặt chẽ và logic về mặt lý thuyết. Nhưng cái giá thực tế mà chúng ta phải đánh đổi là gì, An Khuê? Trong các định luật nhiệt động lực học, không bao giờ có một bữa ăn nào là miễn phí cả."
An Khuê khẽ cắn nhẹ bờ môi dưới. Lồng ngực cô hơi thắt lại. Đây chính là phần then chốt khó khăn nhất của bản đề xuất, một sự thật trần trụi mà cô biết chắc chắn sẽ vấp phải sự e ngại từ tất cả mọi người.
"Cái giá phải trả... là sự tái cân bằng toàn bộ bảng năng lượng tiêu thụ của cơ thể chúng ta," An Khuê nhìn thẳng vào mắt từng thành viên đang ngồi quanh bàn tròn, giọng cô trầm xuống nhưng chứa đựng một sự kiên quyết không thể lay chuyển. "Ngay cả khi hệ thống nấm men và các khay mầm đậu đạt sản lượng tối đa sau mười ngày thiết lập và đi vào chu kỳ thu hoạch ổn định, tổng lượng sinh khối sản xuất được vẫn không thể bù đắp hoàn toàn một trăm phần trăm tổng năng lượng calorie theo định mức dinh dưỡng cũ của trạm. Chúng ta buộc phải chấp nhận cắt giảm mười lăm phần trăm định mức năng lượng calorie hàng ngày của toàn bộ phi hành đoàn."
Một tiếng thở dài khẽ khàng nhưng trĩu nặng buông ra từ lồng ngực của Luísa Carvalho.
"Mười lăm phần trăm..." Ingrid Solberg lẩm bẩm, những ngón tay gầy của cô lướt thoăn thoắt trên bàn phím của chiếc máy tính y tế cầm tay để chạy các phép tính mô phỏng chuyển hóa. "Nghĩa là mức hấp thụ năng lượng danh định sẽ tụt từ hai nghìn calorie tiêu chuẩn xuống còn một nghìn bảy trăm calorie mỗi ngày cho mỗi người. Trong môi trường nhiệt độ phòng bị ghìm ở mức mười hai độ C, cơ thể sẽ liên tục bị kích hoạt cơ chế sinh nhiệt run rẩy và đốt cháy mô mỡ nâu để duy trì thân nhiệt lõi ba mươi bảy độ. Nếu chúng ta không duy trì tối thiểu bốn mươi lăm phút tập kháng lực cường độ cao trên máy xe đạp cơ học trong mỗi ca trực, quá trình dị hóa cơ bắp sẽ bắt đầu xuất hiện sau sáu mươi ngày. Khối lượng cơ xương sẽ sụt giảm, và sự mệt mỏi mạn tính sẽ gặm nhấm hệ thần kinh."
"Đó là con số khả dĩ duy nhất để bảo đảm rằng kho lương thực ép khẩn cấp và các chu trình sinh học khép kín có thể kéo dài đủ bốn trăm hai mươi lăm ngày cho đến khi tàu Umoja chạm tới quỹ đạo Sao Mộc," An Khuê nhấn mạnh, giọng cô tha thiết nhưng đanh chắc như kim loại. "Nếu chúng ta không chấp nhận thắt lưng buộc bụng và cắt giảm mười lăm phần trăm calorie ngay từ bữa ăn ngày hôm nay, toàn bộ nguồn dự trữ hữu cơ của trạm sẽ hoàn toàn cạn kiệt vào ngày thứ ba trăm mười. Đến lúc đó, chúng ta sẽ bước vào giai đoạn chết đói hàng loạt hơn một trăm ngày trước khi con tàu tiếp tế kịp thả kén hàng xuống mặt băng. Giữa việc chịu đựng những cơn đói cồn cào trong cái lạnh và việc bị xóa sổ hoàn toàn khỏi mặt trăng này, chúng ta không có sự lựa chọn thứ hai."
Khoang Trú ẩn Hạt Nhân lại chìm sâu vào một sự suy tư nặng nề.
Mười lăm phần trăm năng lượng bị cắt giảm không đơn thuần là một con số trừu tượng trên mặt giấy báo cáo. Nó đồng nghĩa với những cơn cồn cào triền miên nơi dạ dày trong bóng tối giá buốt. Nó đồng nghĩa với cảm giác hoa mắt, chóng mặt thường trực khi phải đứng dậy sau nhiều giờ cúi mình trong các đường ống kỹ thuật hẹp. Nó đồng nghĩa với việc mỗi lần dùng cờ-lê siết một con bu-lông đóng băng, mỗi lần điều khiển cần gạt của con robot Mực Ống dưới đáy biển sâu, từng thớ cơ bắp trên cơ thể họ sẽ gào thét đòi hỏi năng lượng trong tuyệt vọng.
Ren Ishikawa đưa hai bàn tay lên xoa mạnh hai bên thái dương, mái tóc bù xù của anh lắc lư:
"Thôi nào mọi người, mười lăm phần trăm thì đã là cái đinh gỉ gì chứ. Hồi tôi còn là sinh viên năm cuối ở Viện Công nghệ Tokyo, có những đợt chạy đồ án tốt nghiệp robot ngầm kéo dài cả tháng trời, tôi chỉ sống sót bằng mì gói ăn liền rẻ tiền và nước lã từ vòi đấy thôi. Cứ coi như năm người chúng ta đang tham gia một khóa tu thiền giảm béo đặc biệt, có một không hai dưới lòng băng Europa vậy."
Lời bông đùa gượng gạo và có phần ngây ngô của chàng kỹ sư người Nhật bỗng chốc làm tan biến đi một phần sự ngột ngạt đang bóp nghẹt căn phòng. Luísa Carvalho khẽ mỉm cười, một nụ cười cay đắng nhưng ấm áp:
"Tôi hoàn toàn đồng ý với phương án sinh học của An Khuê. Thà chấp nhận chịu đói, chịu lạnh một chút mỗi ngày trong kỷ luật, còn hơn là phải nhìn thấy kho lương thực trống rỗng khi nhiệm vụ mới chỉ trôi qua được ba phần tư chặng đường. Hơn nữa, việc chuyển sang nuôi nấm men không dùng điện chiếu sáng sẽ giải phóng cho chúng ta một lượng điện năng vô giá. Lượng điện đó có thể cứu sống công việc gia cố vòm trần của khoang Kifaru."
Mọi ánh mắt trong phòng cuối cùng đều chầm chậm đổ dồn về phía đầu bàn — nơi Amara Njoroge đang ngồi bất động.
Người chỉ huy trạm Borealis từ từ ngồi thẳng lưng dậy. Đôi vai gầy guộc của cô vươn cao, hai bàn tay đặt phẳng phiu trên mặt bàn kim loại. Ánh mắt người phụ nữ Kenya quét qua từng gương mặt: Ingrid với vẻ nghiêm khắc cố hữu nhưng đôi mắt đã thể hiện sự chấp thuận trước các bằng chứng số liệu y sinh; Luísa với sự kiên định của một nhà khoa học địa chất dạn dày sương gió; Ren với tinh thần thích ứng linh hoạt của một kỹ sư cơ khí; và cuối cùng, ánh mắt ấy dừng lại, xoáy sâu vào tâm can của An Khuê.
"Kỹ sư Hồ An Khuê," Amara cất tiếng. Giọng nói của cô vang lên trang trọng, đanh thép và vang vọng giữa những vách kim loại của khoang trú ẩn. "Với tư cách là Chỉ huy trưởng tiền đồn nghiên cứu Borealis, tôi chính thức phê chuẩn toàn bộ đề xuất kỹ thuật sinh học khẩn cấp của cô. Hệ thống nuôi cấy ba tầng tương hỗ: duy trì vi tảo Spirulina cầm cự, nuôi cấy nấm men chịu lạnh và canh tác mầm đậu ngắn ngày sẽ được đưa vào triển khai ngay lập tức. Toàn bộ phi hành đoàn năm người sẽ áp dụng định mức cắt giảm mười lăm phần trăm calorie hàng ngày, bắt đầu từ khẩu phần ăn tiếp theo của ca trực hôm nay."
An Khuê thở phào ra một hơi nghẹn ngào, một tảng đá vô hình dường như vừa được nhấc khỏi lồng ngực cô: "Rõ, thưa Chỉ huy."
"Nhưng hãy khắc ghi điều này vào tâm trí cô, An Khuê," Amara hơi nghiêng người về phía trước, ánh mắt cô lạnh lùng và sắc bén như lưỡi dao mổ bằng thép vonfram, nhưng sâu thẳm bên dưới sự lạnh lùng ấy là một gánh nặng âu lo trĩu nặng của một người đang gánh trên vai sinh mạng của cả một tập thể nơi tận cùng vũ trụ. "Chúng ta đã chính thức bước qua lằn ranh đỏ của mọi biên độ an toàn dự phòng. Kể từ giây phút này, chúng ta không còn bất kỳ một vùng đệm kỹ thuật nào để lùi bước nữa. Mọi sai số tiếp theo — dù chỉ là một phần mười phần trăm nồng độ khoáng chất trong bể nấm men, một độ lệch quang phổ nhỏ nhất trong buồng mầm đậu, hay một sự chậm trễ trong việc báo cáo biến động sinh khối — đều sẽ không được tính bằng các chỉ số trên máy tính nữa. Chúng sẽ được tính bằng chính mạng sống của năm con người đang ngồi trong căn phòng này. Cô hiểu rõ điều đó chứ?"
"Tôi hiểu rõ, thưa Chỉ huy," An Khuê đáp, từng âm tiết nghẹn lại nơi cuống họng nhưng ánh mắt cô mở to, nhìn thẳng vào mắt Amara, không hề né tránh hay chớp mắt. "Tôi xin chịu trách nhiệm bằng chính sinh mạng của mình."
Amara gật đầu rất khẽ, một cái gật đầu dứt khoát rồi đứng dậy:
"Giải tán ca họp. Ingrid, cô hãy đi cùng An Khuê tới kho bảo quản y tế, hỗ trợ phân loại và giải đông các chủng nấm men đối chứng cùng các túi hạt giống dự phòng cấp một. Ren, Luísa, lập tức quay lại buồng điều khiển của robot Mực Ống. Chúng ta chỉ còn chưa đầy ba mươi tư giờ đồng hồ để dập tắt tiếng rít áp lực chết tiệt phát ra từ cụm van cô lập của lò phản ứng Kifaru. Hành động đi."
Những chiếc ghế kim loại cọ xát xuống sàn thép phát ra những tiếng ken két khô khốc. Mọi người lục tục đứng dậy, bước những bước chân nặng nề mang theo tiếng bám dính lách cách của những đôi giày đế từ tính nện xuống sàn dẫn ra các hành lang tăm tối và lạnh giá của trạm.
An Khuê nán lại sau cùng.
Cô đứng một mình giữa Khoang Trú ẩn Hạt Nhân đang dần vắng lặng, ánh mắt dán chặt vào chiếc máy tính bảng cá nhân vẫn đang tỏa sáng le lói trên mặt bàn tròn. Trên màn hình, những sơ đồ chu trình sinh học mới — mỏng manh, phức tạp và đầy rủi ro — hiện lên như những sợi chỉ sinh mệnh mỏng manh giăng ra giữa cái chết trắng nghìn năm của Europa.
Ánh mắt nghiêm khắc đến tàn nhẫn nhưng trĩu nặng âu lo của Amara lúc nãy vẫn như đóng đinh trong tâm trí cô, khắc sâu vào tận cùng nhận thức của cô một chân lý lạnh lùng: từ nay cho đến ngày con tàu Umoja xuất hiện, cô không bao giờ được phép che giấu bất kỳ một sự thật nào nữa. Bởi vì ở nơi vực sâu vĩnh cửu này, bất kỳ sự thỏa hiệp nào với sự thật, dù là nhỏ nhất, cũng sẽ biến lòng băng giá nghìn trùng của Europa thành nấm mồ chôn vùi tất cả bọn họ.