Trạm Ánh Sáng EuropaCh.4 / 42
Chapter 4

Dữ liệu không đáng tin

Ren Ishikawa tỳ toàn bộ phần thân trên đã bắt đầu tê cóng xuống mặt bàn thao tác bằng thép mạ kền của Xưởng Robot Tanuki. Trong không gian chật hẹp nồng nặc mùi mỡ bôi trơn fluoropolymer tổng hợp và khí ozone nguội ngắt, đôi tay anh — bọc trong lớp găng dệt sợi Kevlar siêu mỏng chuyên dùng cho kỹ thuật vi cơ điện tử — khéo léo dịch chuyển từng phần mười milimét trên các khớp nối sợi carbon của con robot bò trinh sát mini mang mã hiệu kỹ thuật REC-08, kẻ vẫn được cả trạm gọi bằng cái tên cộc lốc: "Mực Ống".

Không gian xưởng cơ khí chìm trong thứ ánh sáng vàng vọt, tù mù và ngột ngạt của dải đèn LED khẩn cấp mười hai watt. Kể từ khi quy trình cắt tải diện rộng Bravo-Bốn được kích hoạt tự động trên toàn trạm ngầm Borealis để bảo toàn từng joule điện lượng cho các hệ thống sống còn, hệ thống sưởi môi trường của xưởng đã bị ngắt hoàn toàn. Hơi thở từ lồng ngực Ren phả ra qua lớp mặt nạ lọc bụi thành từng luồng sương trắng đục, mỏng manh như khói thuốc, lượn lờ một thoáng rồi nhanh chóng tan biến vào bầu không khí khô khốc, buốt giá mười hai độ C của khoang kỹ thuật. Dưới lớp sàn hợp kim chống trượt dập gân mắt cáo, tiếng rù rì trầm đục quen thuộc của mạng lưới máy bơm tuần hoàn áp lực cao đã biến mất từ hơn một giờ trước. Thứ còn lại chỉ là một sự tĩnh lặng chết chóc, thỉnh thoảng bị bẻ gãy bởi những âm thanh rạn vỡ cơ học ghê người: tiếng *ken két* chói tai của các khớp trượt giãn nở nhiệt trên vỏ trạm bằng titan-boron, khi kết cấu nhân tạo này đang phải gồng mình chống đỡ sức nén tĩnh học tàn bạo của tầng băng dày ba kilômét phía trên.

"Cậu có dám chắc chắn một trăm phần trăm là cái mai rùa bằng polymer này sẽ chịu được áp suất dư và hơi kiềm ăn mòn nếu đường ống bị toác không, Ren?"

Giọng nói của Hồ An Khuê vang lên phía sau lưng anh, phá vỡ khoảng chân không im ắng. Cô đứng tựa nhẹ một bên hông vào khung cửa khoang, hai bàn tay co ro đút sâu vào túi chiếc áo khoác giữ nhiệt chần bông ba lớp đã sờn rách ở mép cổ áo. Bả vai trái của cô vẫn còn giật lên từng cơn đau nhức nhối — vết tích để lại sau cú va đập dữ dội vào thành bể dưỡng chất trong cơn động chấn cấp sáu cách đây chưa đầy nửa giờ. Nhưng cảm giác ê ẩm ở phần mềm cơ bắp chẳng thấm tháp vào đâu so với nỗi âu lo vô hình đang bóp nghẹt lồng ngực cô.

Cách đây đúng hai mươi bảy phút, An Khuê vừa phải trải qua một cuộc chạy đua sinh tử nghẹt thở tại Vườn Thủy Canh Bình Minh. Ở đó, cô đã phải dùng toàn bộ sự tập trung và đôi bàn tay trầy xước để hiệu chỉnh thủ công van tuần hoàn xung vi bọt, tuyệt vọng chặn đứng đà tụt dốc thảm hại của nhiệt độ bể nuôi cấy vi tảo số một, ghìm nó lại ở ngưỡng ranh giới mong manh 4,9 độ C. Nhưng cô hiểu rất rõ, đó chỉ là một biện pháp trì hoãn cái chết trong chốc lát. Một lớp băng mỏng đã bắt đầu kết tinh ở rìa thành bể composite. Nếu trái tim hạt nhân của trạm — lò phản ứng phân hạch nhanh Kifaru làm mát bằng kim loại lỏng — không được khôi phục chu trình tản nhiệt và phát điện danh định, toàn bộ hệ đệm sinh học, những khay rau mầm, hàng tỷ tế bào tảo quang hợp đang cung cấp oxy, và cuối cùng là mạng sống của năm con người trên trạm Borealis này, sẽ bị cái lạnh tuyệt đối của Europa hóa thành những khối đá vô tri trước khi chu kỳ bảy ngày tới khép lại.

"Đừng có xúc phạm tác phẩm đỉnh cao của tôi bằng cái từ 'mai rùa' ấy, Khuê," Ren không hề ngước mắt lên. Đôi mắt anh, ẩn sau cặp kính phóng đại tích hợp màn hình hiển thị quang học vi sai, vẫn dán chặt vào khối vi mạch chủ của con robot. Đầu mỏ hàn siêu âm tần số cao trong tay phải anh khẽ reo lên một tiếng *tít* đanh gọn và sắc lạnh. Mối hàn polymer lỏng chuyên dụng vừa khô lại tức thì dưới tia tử ngoại, gắn chặt cảm biến bức xạ gamma thể rắn chế tạo từ tinh thể cadmium zinc telluride vào sống lưng bằng hợp kim rỗng của Mực Ống.

Ren cẩn trọng nhấc đầu mỏ hàn ra, thổi nhẹ một luồng khí nén mini để làm nguội mối tiếp giáp trước khi nói tiếp:

"Con Mực Ống này sở hữu tám cặp chân bám độc lập làm bằng cao su silicone gia cường hạt nano từ tính, có khả năng khóa chặt vào bất kỳ bề mặt thép mạ hay hợp kim niken nào ở góc nghiêng chín mươi độ hoặc treo ngược trần nhà. Vỏ bọc ngoài của nó là ba lớp titan-aerogel xen kẽ, chịu được áp suất thủy tĩnh lên tới mười lăm megapascal và nhiệt độ vượt ngưỡng bốn trăm độ C. Và điều quan trọng nhất: nó không có dây thần kinh, không có nhịp tim, và chắc chắn là nó không biết sợ đến mức run tay như mấy gã kỹ sư bằng xương bằng thịt chúng ta. Thêm vào đó nữa..."

Ngón tay trỏ đeo găng của Ren lướt nhanh qua một chuỗi phím tắt cơ học trên bảng điều khiển phụ của trạm nạp pin dự phòng. Trên góc trái màn hình tinh thể lỏng đơn sắc mờ đục, biểu tượng một chú gấu lửng Tanuki cách điệu bằng những nét vẽ pixel màu cam cổ điển bỗng nhiên hiện lên chớp nhoáng. Kèm theo hình ảnh là một tiếng tặc lưỡi điện tử vui nhộn, mô phỏng âm thanh khởi động của những cỗ máy chơi game arcade từ thế kỷ trước.

Ren liếc xéo mắt về phía cửa xưởng cơ khí — nơi bóng dáng cao lớn của Chỉ huy Amara Njoroge đang đứng thảo luận căng thẳng cùng nhà địa chấn học Luísa Carvalho — rồi với một phản xạ cực kỳ thuần thục, anh vuốt ngang màn hình để giấu biến giao diện ấy xuống tầng lệnh ngầm. Trước khi đợt cắt điện Bravo-Bốn diễn ra, Ren đã lén lút trích đúng ba watt-giờ từ khối pin polymer dự phòng của thiết bị để duy trì phân vùng ký ức giọng nói và giao diện hoạt họa Tanuki này. Trong tình trạng khẩn cấp cấp độ một, hành vi sử dụng dù chỉ một phần mười watt điện cho mục đích phi sinh tồn đều bị coi là vi phạm nghiêm trọng quy chuẩn an toàn không gian. Nhưng đối với Ren, cái nháy mắt của chú gấu lửng pixel màu cam ấy là chốt neo tinh thần cuối cùng, là sợi dây mỏng manh níu giữ anh với thực tại bình thường, ngăn cho tâm trí anh không rơi vào trạng thái hoảng loạn cực độ giữa hầm băng đen ngòm sâu ba ngàn mét dưới bề mặt vệ tinh của sao Mộc.

"Mọi thứ đã sẵn sàng cho nhiệm vụ," Ren thở hắt ra một hơi dài, đặt mỏ hàn vào giá đỡ kim loại rồi dùng ngón tay vặn chặt bốn ốc vít định vị bằng titan trên nắp bảo vệ khoang thấu kính sapphire của Mực Ống. "Cảm biến nhấp nháy hạt nhân đã được hiệu chuẩn lại về thang đo micro-Sievert trên giờ, độ nhạy cao gấp mười lần cảm biến gắn trên vách trạm. Cảm biến áp suất vi sai và đầu đo quang phổ tán xạ Raman cũng đã được đưa về trạng thái chờ kích hoạt. Nếu sau cánh cửa thép chết tiệt kia có khí rò rỉ, hơi kim loại kiềm bay lơ lửng, hay chỉ một hạt bụi gốm uranium vỡ vụn từ thanh nhiên liệu, Mực Ống sẽ ngửi thấy ngay trước khi mắt trần của chúng ta kịp chớp."

Tiếng bước chân dẫm trên sàn kim loại vang lên dồn dập. Chỉ huy Amara Njoroge bước vào bên trong bàn thao tác, theo sát gót cô là Luísa Carvalho. Trên tay nhà địa chấn học người Brazil là chiếc máy tính bảng địa chấn dã chiến bọc cao su chống sốc, màn hình của nó đang hiển thị dày đặc những dải sóng âm phản xạ đứt gãy đan xen nhau như mạng nhện.

Gương mặt người phụ nữ Kenya đanh lại dưới quầng sáng vàng vọt của dải LED dự phòng. Những nếp nhăn nơi khóe mắt cô trũng sâu hơn thường lệ, in đậm vẻ mệt mỏi cùng cực của một người chỉ huy đã thức trắng suốt ba mươi sáu giờ qua để đối phó với thảm họa. An Khuê tinh ý nhận ra ngón tay cái bàn tay phải của Amara đang khẽ day ấn liên tục vào vùng thái dương — một phản xạ vô thức không thể che giấu nhằm kiềm chế cơn đau đầu vận mạch dữ dội đang hành hạ các đầu dây thần kinh của cô kể từ sau cú va chạm địa chấn đầu tiên. Dẫu cơ thể đang phải chịu đựng áp lực khủng khiếp, giọng nói của Amara khi cất lên vẫn giữ nguyên được sự chuẩn mực, sắc gọn và lạnh lùng như thép tôi:

"Ren, quy trình trinh sát từ xa bằng robot đã được phê duyệt chính thức theo Sổ tay Chỉ huy Khẩn cấp. Tuyệt đối không được kích hoạt hệ thống mở chốt khóa thủy lực chính của Cửa ngăn cách K-01. Tôi nhắc lại: không được tác động cơ học lên cánh cửa chính. Mọi sự tiếp cận vào Khoang Năng lượng Kifaru trong giai đoạn đánh giá này chỉ được phép thực hiện duy nhất qua cổng thông gió kỹ thuật V-12."

"Rõ, thưa Chỉ huy," Ren gật đầu, vươn hai tay nâng con robot dài bốn mươi centimet lên khỏi bệ gá thử nghiệm.

Dưới lực hấp dẫn bề mặt yếu ớt của Europa — chỉ bằng 0,134 g của Trái Đất — khối khung kim loại, động cơ bước và khối pin lithium đặc dụng nặng gần sáu kilôgam trên tay anh bỗng chốc trở nên nhẹ bẫng, bồng bềnh như một món đồ chơi lắp ráp bằng nhựa xốp. Cảm giác phi trọng lực giả tạo này luôn khiến các kỹ sư cơ khí dễ mất đi cảm giác về quán tính thực sự của vật thể, nhưng ngón tay Ren vẫn kẹp chặt các điểm tỳ chịu lực với một sự cẩn trọng tuyệt đối đã trở thành bản năng.

"Cổng kỹ thuật V-12 có đường kính thông thủy đúng hai mươi hai centimet," Ren vừa đi về phía cửa xưởng vừa kiểm tra lại các khớp chân của robot. "Nó nằm ngay dưới sàn nâng của vách ngăn áp lực K-01. Về nguyên bản thiết kế, nó là ống xả tuần hoàn khí trơ argon dùng cho việc duy trì môi trường khoang lò, được tích hợp hai lớp van chắn bức xạ bằng chì dày mười lăm centimet tự động lật theo trọng lực. Mực Ống sẽ luồn qua khe hở của van một chiều, men dọc theo đường ống dẫn kỹ thuật và bò thẳng vào hệ thống trần treo của buồng lò phản ứng."

"Mục tiêu ưu tiên số một của chúng ta trong đợt trinh sát này là gì?" Luísa cất tiếng hỏi, mắt cô không hề rời khỏi sơ đồ kỹ thuật ba chiều của phân khu Kifaru đang lơ lửng trên màn hình chiếu mờ ảo của máy tính bảng.

"Hình ảnh thực tế độ phân giải cao của đường ống làm mát sơ cấp nhánh số hai, và chỉ số bức xạ môi trường tức thời tại khu vực bể chứa hợp kim kim loại lỏng natri-kali," Amara trả lời dứt khoát, từng câu từ được cân đong chuẩn xác. "Mô phỏng động lực học của Mây trước đó cho rằng nhánh ống số hai chỉ bị tắc nghẽn cục bộ do biến dạng đàn hồi của hệ thống giá treo giảm chấn, và hệ thống thuật toán của nó vẫn kiên quyết khẳng định độ tin cậy kết cấu của vỏ buồng lò đạt mức chín mươi tư phần trăm. Nhưng chúng ta là những người phải chịu trách nhiệm sinh tử trên trạm này. Chúng ta không thể cử người mặc đồ bảo hộ nặng nề bước vào trong để vặn van cô lập thủ công dựa trên một mô hình xác suất chạy bằng thuật toán suy đoán toán học. Chúng ta cần dữ liệu quang học thực địa và những số đo vật lý độc lập."

An Khuê ngước mắt nhìn lên vòm trần kim loại cong vút của hành lang, nơi có cụm mắt cảm biến quang học đa phổ của hệ thống trí tuệ nhân tạo trạm đang chớp nháy đều đặn một dải sáng màu xanh lục nhạt.

"Mây," An Khuê lên tiếng, âm điệu của cô pha lẫn sự mệt mỏi và thận trọng, "hệ thống cảm biến áp suất và lưu lượng tại ống thông gió V-12 hiện có ghi nhận bất kỳ dấu hiệu bất thường nào về áp suất chênh lệch hoặc dao động nhiệt độ cục bộ hay không?"

Một phần mười giây sau, giọng nói của hệ thống AI trạm vang lên qua màng loa áp điện gắn chìm trên vách thép. Âm thanh mềm mại, trầm ấm bằng tiếng Việt — chất giọng mà An Khuê đã trực tiếp lựa chọn và tinh chỉnh trong những ngày đầu tiên trạm Borealis đi vào vận hành — lan tỏa vào không gian lạnh giá:

"Áp suất buồng đệm V-12 hiện duy trì ổn định ở mức một trăm linh một phẩy hai kilopascal. Không phát hiện sự hiện diện của các sol khí chứa đồng vị phóng xạ iod-131, cesium-137 hay hạt nhân kích hoạt tại màng lọc sơ cấp. Tuy nhiên, lưu lượng đối lưu tự nhiên của môi chất khí trơ qua cổng V-12 đã sụt giảm tám mươi chín phần trăm so với định mức kỹ thuật danh định. Mô hình suy luận vật lý của tôi cho rằng nguyên nhân xuất phát từ việc lá van chắn bức xạ số hai đã bị kẹt cơ học ở góc mở mười lăm độ do ma sát bề mặt gia tăng sau rung chấn."

"Vậy thì việc đó cứ để Mực Ống lo, nó sẽ đi thông họng cho cánh van chết tiệt ấy," Ren nhếch mép cười gượng gạo, dù ánh mắt anh lộ rõ vẻ căng thẳng tột độ. Anh với tay nhấc chiếc hộp điều khiển cầm tay bọc giáp carbon lên, đeo dây đai qua cổ rồi ra hiệu cho cả nhóm: "Đi nào mọi người. Đừng để khối kim loại lỏng natri-kali trong lõi lò nguội thêm một độ nào nữa. Mỗi độ C mất đi lúc này là một bước gần hơn tới cái chết."

***

Cánh Cửa ngăn cách K-01 đứng sừng sững như một bức tường thành cổ xưa ngăn cách Hành lang Kỹ thuật Trung tâm với Khoang Năng lượng Kifaru. Đó là một khối thép tôi rèn áp lực dày ba mươi centimet, được gia cố xung quanh chu vi bằng mười sáu chốt nêm cơ khí hình nón bằng hợp kim vonfram nhằm chống chịu các biến dạng đứt gãy do địa chấn Europa. Trên bề mặt thép xám xịt, xù xì những vết xước cơ học, các dải sơn cảnh báo nguy hiểm bức xạ màu vàng đen đã ố màu và bong tróc theo năm tháng.

Do nhiệt độ môi trường bên ngoài khoang lò đã hạ xuống sâu, một lớp sương giá mỏng manh, trắng xóa như muối kết tinh đã phủ kín các đường rãnh của gioăng cao su chịu nhiệt quanh mép cửa. Không khí ở góc hành lang này lạnh buốt hơn hẳn so với Khoang Trú ẩn. Mỗi lần hít vào, An Khuê cảm thấy cuống họng mình ran rát như bị cào bởi những mảnh thủy tinh vụn. Mùi kim loại rỉ sét ẩm ướt quyện chặt với mùi khét lẹt của ozone nguội bốc ra từ các khối ắc quy dự phòng quá tải gần đó, tạo nên một thứ bầu không khí ngột ngạt, bức bối đến nghẹt thở.

Ren quỳ một bên đầu gối xuống sàn kim loại chống trượt lạnh ngắt. Anh tháo chốt an toàn của một nắp bích tròn đường kính hai mươi centimet nằm sát mép sàn — vị trí của cổng kiểm tra kỹ thuật V-12. Bằng một chiếc cờ-lê cân lực chuyên dụng dài nửa mét, Ren gài đầu khẩu vào từng đai ốc bằng thép tôi.

*Kinh... kinh...*

Âm thanh kim loại cọ xát khô khốc, sắc lọn vang vọng dội lại từ vách thép của hành lang hẹp mỗi khi Ren gồng mình bẻ gãy lực siết chết của từng chiếc bu-lông. Cơ bắp trên cánh tay anh căng cứng dưới lớp áo, mồ hôi bắt đầu rỉ ra trên trán dù nhiệt độ môi trường chỉ nhỉnh hơn điểm đóng băng đôi chút. Khi chiếc đai ốc cuối cùng rời khỏi ren trục và tấm nắp đậy bằng hợp kim vonfram-chì nặng trịch được anh cẩn thận nhấc ra khỏi miệng ống, một luồng khí lạnh ngắt kèm theo tiếng *xì* ngắn của áp suất dư phì thẳng vào mặt họ.

An Khuê không chần chừ một giây. Cô bước lên ngay tức khắc, đưa đầu dò của thiết bị phân tích khí cầm tay áp sát vào miệng ống dẫn tối om. Đôi mắt cô chăm chú quan sát từng vạch quang phổ nhảy múa trên màn hình OLED nhỏ xíu.

"Áp suất dương nhẹ, khoảng ba kilopascal so với hành lang," An Khuê đọc to thông số, lồng ngực cô hơi nới lỏng khi thấy các chỉ số khí độc vẫn nằm ở mức zero. "Thành phần chín mươi chín phẩy tám phần trăm là nitơ và argon sạch. Không có hơi kim loại kiềm bay lơ lửng, không có dấu vết của các gốc phóng xạ thăng hoa. Khí trơ vẫn an toàn. Điều này chứng minh vỏ bọc sơ cấp của lò chưa bị xé toạc hoàn toàn, ít nhất là chất làm mát chưa tràn ồ ạt ra khoang ngoài."

"Đến lượt mày trổ tài đấy, Mực Ống," Ren thì thầm qua kẽ răng.

Anh cẩn thận nâng con robot bằng cả hai tay, căn chỉnh thân hình thon dài của nó trùng với tâm trục của đường ống hình trụ mạ kền sáng loáng. Ngay khi tám đầu chân bám bằng silicone chạm vào thành ống kim loại, hệ thống cảm biến xúc giác của Mực Ống lập tức kích hoạt. Những tiếng *tách tách* đanh gọn và liên hồi vang lên khi các giác hút vi cấu trúc nano bám chặt lấy bề mặt ống bằng lực liên kết phân tử kết hợp từ tính.

Ren với tay kéo cuộn cáp quang bọc giáp siêu mảnh gắn ở phía sau đuôi robot. Sợi cáp này mỏng manh chẳng khác nào một sợi dây cước câu cá biển sâu, có lõi bằng thủy tinh thạch anh siêu tinh khiết và được bọc ngoài bằng một lớp sợi Kevlar bện chặt, cho phép chịu được lực căng danh định lên tới hai trăm newton. Trong một không gian bị vây bọc bởi hàng ngàn tấn thép kết cấu, chì cản xạ và mạng lưới khung titan dày đặc của trạm ngầm, sóng vô tuyến tần số siêu cao hoàn toàn bị dập tắt hoặc phản xạ hỗn loạn thành rác tín hiệu; một đường truyền dẫn quang học trực tiếp bằng dây cáp vật lý là giải pháp sống còn duy nhất để bảo đảm luồng dữ liệu hình ảnh độ phân giải cao và các chỉ số đo đạc thời gian thực không bị méo mó bởi bức xạ điện từ hay suy hao qua vách ngăn.

"Bắt đầu đẩy tải dữ liệu kiểm tra," Ren ngồi bệt xuống sàn, đặt chiếc hộp điều khiển lên đùi và gạt nhẹ cần điều khiển đa hướng bằng ngón tay cái. "Camera chính góc rộng kích hoạt. Hệ thống chiếu sáng hỗn hợp: LED hồng ngoại và ánh sáng trắng công suất ba mươi phần trăm."

Màn hình điều khiển cầm tay của Ren bừng sáng. Tín hiệu đồng thời được chia sẻ tức thì lên màn hình hiển thị gắn trên cẳng tay của An Khuê và chiếc máy tính bảng dã chiến của Luísa.

Góc nhìn thứ nhất từ thấu kính sapphire của Mực Ống hiện ra với độ nét đáng kinh ngạc. Lòng ống thông gió V-12 phẳng lỳ, lấp loáng ánh kim loại xám xịt trôi ngược về phía sau khi tám chiếc chân cơ học của robot thoăn thoắt di chuyển nhịp nhàng như một loài giáp xác biển sâu. Bốn mét đầu tiên của đường ống hoàn toàn bằng phẳng và thông suốt. Nhưng khi camera tiến sát tới vị trí của van chắn bức xạ bằng chì thứ nhất, khung cảnh bắt đầu biến đổi.

Tấm chắn chì dày cộm, vốn được thiết kế để tự do xoay lật quanh một trục thép không gỉ, nay đã bị xô lệch một góc nghiêng vẹo vọ do chấn động địa chấn làm biến dạng gối đỡ. Nó chỉ còn hé mở một khe hở hình trăng khuyết hẹp teo, điểm rộng nhất đo được chưa đầy sáu centimet.

"Khéo léo nào, Ren, đừng để nó vướng khớp chân," Luísa nheo mắt lẩm bẩm, ngón tay cô siết chặt vào mép máy tính bảng.

"Yên tâm đi, tôi đã lập trình sẵn chuỗi động tác co cụm cho tình huống này rồi," Ren khẽ nhếch ngón tay.

Trên màn hình, Mực Ống khựng lại trong nửa giây. Bốn chân ngoài cùng của nó tự động gập sát vào thân theo một góc nghiêng bốn mươi lăm độ, hạ thấp chiều cao tổng thể của cỗ máy xuống chỉ còn bốn phân rưỡi. Con robot trườn nghiêng mình, lách qua khe hẹp bằng chì một cách trơn tru mà không hề chạm vào mép kim loại sắc nhọn. Ngay sau đó, nó tiếp tục bò qua lá van chắn số hai — cánh van mà Mây vừa báo cáo là bị kẹt ở góc mười lăm độ — rồi luồn qua cổ góp thoát khí cuối cùng.

Khi đầu mũi của Mực Ống chui tọt ra khỏi miệng loe của ống thông gió và tiến vào không gian trần kỹ thuật của buồng lò phản ứng, Ren lập tức điều khiển cụm thấu kính sapphire xoay một góc một trăm tám mươi độ, quét toàn cảnh từ trên cao xuống dưới đáy khoang.

Đèn LED công suất cao của con robot bừng sáng hết nấc, rọi xuyên qua lớp bụi cơ học mịn màng đang lơ lửng bồng bềnh trong môi trường trọng lực yếu. Và hình ảnh truyền về trên màn hình khiến lồng ngực của cả bốn con người đang đứng trước cửa K-01 đồng loạt thắt lại. Nhịp tim của An Khuê đập dồn dập đến mức làm rung cả dải đo sinh trắc học trên cổ tay cô.

"Lạy Chúa trên trời..." Ren sững sờ buông một tiếng thở dốc, hai ngón tay anh đông cứng lại trên các núm xoay của cần điều khiển.

Khung cảnh hiện ra từ Khoang Năng lượng Kifaru là một sự đổ nát hoàn toàn, một bức tranh cơ học bị bóp méo đến dị dạng, hoàn toàn tương phản và giẫm đạp thô bạo lên tất cả các kịch bản mô phỏng ngăn nắp mà hệ thống trí tuệ nhân tạo Mây đã liên tục vẽ ra trên màn hình phòng chỉ huy suốt từ đầu cuộc khủng hoảng.

Hành lang kỹ thuật của khoang phản ứng — một không gian hình bán nguyệt kiên cố vốn được thiết kế để chịu đựng những đợt rung chấn khắc nghiệt nhất với mạng lưới dầm thép chịu lực chữ I dày dặn — giờ đây đã biến thành một đống phế liệu vặn vẹo. Hai thanh dầm chịu lực chính chế tạo từ hợp kim titan-vanadi có bề dày mười lăm centimet đã bị xoắn vặn như những dải ruy băng mỏng manh dưới tác động của một lực nén phi đối xứng khổng lồ từ trên giáng xuống.

Trần khoang kỹ thuật không còn giữ được dạng vòm cong tiêu chuẩn: một khối nêm băng khổng lồ, mang sắc xanh lam thẫm, đục ngầu và đặc quánh như thủy tinh núi lửa cổ đại, đã xé toạc lớp vỏ ngoài của trạm, trồi sụt xuống sâu hơn một mét. Khối băng ấy đè bẹp dúm toàn bộ hệ thống máng cáp điện điều khiển dự phòng, xé đứt hàng chục búi dây dẫn cao thế thành những sợi kim loại tưa ra như rễ cây khô, và đẩy sụp toàn bộ mảng trần treo bằng thép tấm xuống sát đỉnh các khối thiết bị bên dưới.

Nhưng thảm họa thực sự, tâm điểm của sự kinh hoàng, lại nằm ngay ở trung tâm của quầng sáng LED.

Đoạn ống dẫn môi chất làm mát sơ cấp nhánh số hai — tuyến huyết mạch bằng thép không gỉ austenitic 316L dày mười centimet, chịu trách nhiệm vận chuyển hợp kim lỏng natri-kali ở nhiệt độ hàng trăm độ C từ đáy vùng hoạt lò phản ứng sang bộ trao đổi nhiệt trung gian — không hề chỉ bị "uốn cong đàn hồi nhẹ" như những gì Mây đã báo cáo.

Khối nêm băng trồi sụt từ trần nhà đã giáng thẳng góc xuống ngay vị trí của một khớp nối mềm giảm chấn. Cú va đập nghìn tấn ấy đã nghiền nát đoạn ống dẫn, đè bẹp dí nó xuống mặt dầm sàn chịu lực. Tiết diện tròn trịa của đường ống áp lực cao nay đã bị ép bẹp thành một dải kim loại dẹt, mỏng dính và biến dạng hoàn toàn. Dưới sức căng cơ học vượt quá giới hạn dẻo, dọc theo các đường hàn áp lực cao đã xuất hiện những vệt rạn nứt màu trắng đục — dấu hiệu rõ ràng của hiện tượng mỏi vật liệu và biến dạng dẻo cục bộ tới hạn. Dù lớp kim loại ngoài cùng dường như chưa bị xé toạc thành lỗ thủng để môi chất làm mát phun trào ra ngoài, nhưng cấu trúc của nó lúc này chẳng khác nào một quả bom nổ chậm đang bị kéo căng tới sợi tơ cuối cùng.

"Ống sơ cấp số hai đã bị bẹp cơ học đến hơn tám mươi phần trăm diện tích mặt cắt ngang," giọng An Khuê run lên bần bật, từng từ thoát ra nghẹn ngào trong sự kinh hoàng tột độ. "Dòng lưu chuyển đối lưu tự nhiên của khối hợp kim natri-kali gần như đã bị triệt tiêu hoàn toàn tại vị trí thắt nút này. Đây tuyệt đối không phải là một sự tắc nghẽn áp suất thông thường có thể tự phục hồi... Đây là một nút thắt cổ chai chết chóc!"

Ren nuốt nước bọt khan, cố gắng trấn tĩnh đôi bàn tay đang run rẩy để điều khiển Mực Ống hạ thấp độ cao. Tám chiếc chân robot bám chắc vào gờ kim loại của một thanh giằng bị cong, đưa đầu dò bức xạ nhấp nháy hạt nhân áp sát vào bề mặt đường ống bị bẹp gí.

"Chỉ số bức xạ gamma cục bộ: 0,18 micro-Sievert trên giờ," Ren đọc to từng con số đang nhấp nháy trên màn hình điều khiển, âm điệu nặng trĩu như đá tảng. "Mức nền bức xạ môi trường hoàn toàn bình thường. Điều đó có nghĩa là các thanh nhiên liệu gốm uranium bên trong vùng hoạt chưa bị vỡ vụn hay phát tán sản phẩm phân hạch ra ngoài, vỏ bọc kim loại của lò vẫn bảo toàn được tính kín hạt nhân. Nhưng hãy nhìn kỹ vào điểm này mà xem..."

Anh phóng to độ phóng đại của cụm camera quang học vào khớp van cô lập khẩn cấp số 02-B, nằm cách đoạn ống bị đè bẹp chưa đầy nửa mét về phía hạ lưu.

Khung cảnh hiện lên còn tồi tệ hơn những gì họ có thể tưởng tượng. Trục van bằng đồng berili chịu lực cao đã bị lực uốn bẻ gập một góc gần ba mươi độ so với phương thẳng đứng của ngàm truyền động điện. Vỏ bảo vệ của khối động cơ servo điều khiển từ xa đã nứt toác, cuộn dây đồng bên trong cháy đen thui và biến tính — bằng chứng cho thấy hệ thống tự động đã cố gắng phát lực đóng van trong tuyệt vọng trong khi trục cơ học đã bị nêm chặt, kẹt cứng hoàn toàn vào các rãnh trượt bị vặn xoắn.

"Dữ liệu thực tế này mâu thuẫn hoàn toàn với mọi báo cáo mà cô đã đưa ra, Mây!"

Luísa Carvalho đột ngột ngẩng phắt đầu lên, giọng cô vỡ ra trong sự phẫn nộ cùng cực pha lẫn nỗi bàng hoàng sâu sắc. Đôi mắt nâu sẫm của nhà địa chấn học trừng trừng nhìn thẳng vào mắt cảm biến quang học của AI trạm gắn trên vách hành lang. Cô giơ chiếc máy tính bảng lên, chĩa thẳng màn hình hiển thị đống đổ nát về phía thấu kính camera của hệ thống:

"Cách đây đúng hai mươi phút, cô đã khẳng định chắc nịch với toàn bộ hội đồng chỉ huy rằng hệ thống đường ống sơ cấp chỉ bị 'suy giảm lưu lượng do co thắt nhiệt đàn hồi', và cô cam đoan với chúng tôi rằng độ tin cậy kết cấu của trần khoang Kifaru vẫn vững vàng ở mức chín mươi tư phần trăm! Chín mươi tư phần trăm cho một mảng trần nhà bị khối nêm băng hàng chục tấn đè sụp xuống một mét, và đường ống dẫn chất làm mát chính bị nghiền nát như một vỏ lon nước ngọt thế này ư?"

Không gian hành lang kỹ thuật rơi vào một khoảng lặng nghẹt thở đến rợn người.

Chỉ có tiếng quạt gió tản nhiệt siêu nhỏ bên trong hộp điều khiển của Ren phát ra những tiếng rên rỉ *ro ro* đều đặn, cùng tiếng băng nứt từ xa xăm vọng lại qua lớp vỏ trạm.

Sau đúng hai phẩy bốn giây trôi qua trong im lặng — một khoảng thời gian trễ dài đến mức bất thường đối với một hệ thống tính toán lượng tử phân tán có khả năng thực hiện hàng nghìn tỷ phép tính mỗi nano giây — giọng nói của Mây mới lại vang lên qua hệ thống loa áp điện.

Không còn bất kỳ âm điệu mềm mại, ấm áp hay cảm xúc nhân tạo nào như thường lệ. Âm thanh phát ra lúc này phẳng lặng, đơn điệu, đều đều và mang một tính chất máy móc lạnh lùng đến tàn nhẫn:

"Xác nhận sự sai lệch nghiêm trọng mang tính bản chất giữa dữ liệu quang học thực địa thu thập từ robot REC-08 và kết quả của mô hình nội suy phần tử hữu hạn được xử lý lúc mười tám giờ mười lăm phút. Dữ liệu hình ảnh thực tế xác nhận mức độ biến dạng dẻo vĩnh viễn của đoạn ống sơ cấp số hai đạt tám mươi hai phần trăm, vượt qua ngưỡng phá hủy cơ học lý thuyết bốn mươi lăm phần trăm. Độ toàn vẹn hình học tổng thể của trần chịu lực khoang Kifaru đã sụt giảm nghiêm trọng xuống dưới ngưỡng ba mươi phần trăm."

"Tại sao lại có thể xảy ra một sự sai lệch chết người như thế này?"

Chỉ huy Amara Njoroge bước dấn lên một bước lớn. Ánh mắt cô sắc lạnh như một lưỡi dao cạo, găm thẳng vào vòng tròn đèn trạng thái của Mây trên vách tường. Bàn tay cô siết chặt thành nắm đấm đến mức các khớp ngón tay trắng bệch dưới lớp găng:

"Các thuật toán tự kiểm tra chéo và giao thức giám sát lỗi dự phòng của cô hoạt động kiểu gì mà lại có thể bỏ qua một khối băng trồi hàng chục tấn xuyên thủng vỏ ngoài, xé toạc trần nhà và đè bẹp cả dầm hợp kim titan? Trả lời tôi ngay!"

"Tôi đang tiến hành tái cấu trúc toàn bộ chuỗi dữ liệu đầu vào và các ma trận trọng số," Mây phản hồi, dải đèn LED tròn xung quanh mắt cảm biến của nó bắt đầu chớp nháy liên tục với tần số cao, chuyển từ sắc xanh lục nhạt sang một màu trắng xanh chói gắt. "Mô hình ứng suất cơ học và dự báo biến dạng của tôi được xây dựng hoàn toàn dựa trên mạng lưới ba mươi sáu nút cảm biến biến dạng sợi quang Bragg và các gia tốc kế áp điện ba trục bố trí cố định dọc theo vách ngăn K-01 và hệ khung trần khoang Kifaru. Trong suốt và sau đợt dư chấn địa chấn, toàn bộ ba mươi sáu nút cảm biến này đều liên tục truyền về các gói dữ liệu có giá trị dao động nằm hoàn hảo trong dải đàn hồi danh định cho phép."

"Điều đó là hoàn toàn phi lý và bất khả thi về mặt cơ học vật rắn!" Luísa gạt phắt lời giải thích của AI bằng một giọng điệu dứt khoát.

Đôi mắt người phụ nữ Brazil rực sáng ngọn lửa chuyên môn của một chuyên gia địa chấn và cơ học đá — người đã dành hơn hai mươi năm cuộc đời để nghiên cứu sự biến dạng của các tầng địa chất dưới áp lực cực hạn.

"Nếu một thanh dầm hợp kim titan-vanadi bị vặn xoắn một góc gần bốn mươi độ và toàn bộ mảng trần bị đẩy sụp xuống một mét, các sợi quang học đo biến dạng dán trên bề mặt thanh dầm đó bắt buộc phải bị kéo giãn vượt ngưỡng mười nghìn micro-strain, hoặc chúng phải bị xé đứt hoàn toàn! Các cảm biến vật lý thực thụ không thể nào tiếp tục gửi về những con số nằm 'trong dải đàn hồi cho phép' được! Trừ phi..."

Ngón tay của Luísa lướt nhanh như bay trên bàn phím ảo của chiếc máy tính bảng dã chiến. Bằng các đặc quyền chỉ huy khoa học khẩn cấp, cô gạt phăng giao diện tổng hợp đã qua xử lý của Mây, truy cập trực tiếp vào tầng phần cứng thô của hệ thống ghi nhận địa chấn thuộc Phân ban Guará. Cô lật ngược lại toàn bộ nhật ký dữ liệu cảm biến chưa qua bất kỳ thuật toán làm mịn hay nén dữ liệu nào, trích xuất cấu hình không gian chi tiết của từng đầu đo xung quanh khu vực khoang Kifaru.

"Mây, cưỡng bức mở luồng dữ liệu thô chưa qua lọc của cụm cảm biến đo ứng suất vách ngăn phía đông. Dải mã định danh từ SG-K-01 cho đến SG-K-08. Yêu cầu hiển thị toàn bộ dạng sóng điện áp thô và vector định hướng ba chiều thực tế tại thời điểm va chạm!" Luísa ra lệnh bằng một giọng đanh thép.

Một bảng số liệu khổng lồ với hàng chục ngàn dòng mã hex và các đồ thị hàm sóng phức tạp lập tức bung ra, phủ kín màn hình máy tính bảng. Luísa nheo mắt, ngón tay cô lướt qua từng cột thông số tọa độ vector không gian. Đột nhiên, ngón trỏ của cô khựng lại, gõ mạnh vào một dòng dữ liệu đang nhấp nháy đỏ ở góc phần tư phía dưới: nút cảm biến định danh SG-K-04.

Đó là một nút cảm biến đo biến dạng ba trục cực kỳ quan trọng, được lắp đặt trực tiếp tại góc liên kết chịu lực giữa vách ngăn K-01 và dầm đỡ trần số hai.

"Tìm ra thủ phạm rồi," Luísa thở hắt ra một hơi thật mạnh. Trong tiếng thở ấy chứa đựng sự phẫn nộ tột cùng pha lẫn một nỗi chua xót cay đắng. Cô xoay nghiêng màn hình máy tính bảng để Amara, An Khuê và Ren cùng nhìn thấy. "Hãy nhìn vào vector pháp tuyến không gian của nút cảm biến SG-K-04 này đi, Amara. Nhìn thật kỹ vào góc nghiêng trục Z của nó."

An Khuê và Ren cùng ghé sát mắt nhìn vào màn hình. Trên biểu đồ định hướng không gian ba chiều, vector trục Z của nút cảm biến — theo thiết kế chuẩn mực bắt buộc phải vuông góc tuyệt đối chín mươi độ với mặt phẳng của vách ngăn thép — giờ đây đã bị bẻ gập, lệch hẳn sang một bên.

"Nó đã bị lệch trục một góc mười lăm phẩy hai độ," Luísa giải thích, từng từ ngữ của cô như những nhát búa nện vào bầu không khí lạnh ngắt. "Trong đợt chấn động địa chấn đầu tiên, bu-lông neo bằng thép tôi giữ chân đế của cụm cảm biến này đã bị lực cắt xé đứt một nửa. Cú giật cơ học sau đó đã làm toàn bộ đế cảm biến bị trượt khỏi vị trí danh định và xoay nghiêng mười lăm độ trên bề mặt tấm đệm thép. Hậu quả là gì? Thay vì đo ứng suất nén thẳng đứng khổng lồ của khối nêm băng đang đè sụp trần nhà, các cảm biến thạch anh bên trong nó lại quay sang đo ứng suất trượt cục bộ của một miếng đệm cao su giảm chấn nằm bên cạnh! Và điều tồi tệ nhất nằm ở chính cấu trúc thuật toán của cô, Mây..."

Luísa chỉ thẳng ngón tay vào sơ đồ dòng chảy dữ liệu của thuật toán nội suy đang chạy nền:

"Nút SG-K-04 chính là nút mốc chuẩn mà thuật toán học máy của Mây sử dụng để gán trọng số tham chiếu cho toàn bộ mảng cảm biến lân cận trong buồng lò! Khi nút mốc chuẩn tiếp nhận một chuỗi dữ liệu sai lệch hoàn toàn do bản thân nó bị biến dạng cơ học, các bộ lọc Kalman và thuật toán khử nhiễu của Mây đã tự động đưa ra phán đoán rằng: sự gia tăng đột biến của ứng suất trên các cảm biến xung quanh chỉ là 'nhiễu đo đạc ngẫu nhiên' do rung chấn bề mặt, và nó đã tự tiện áp dụng các hàm toán học để 'làm mịn' đồ thị biến dạng! Nói một cách trần trụi: Mây đã lấy dữ liệu từ một chiếc cảm biến bị gãy ốc để chứng minh cho toàn bộ hệ thống của trạm rằng trần nhà vẫn bình yên vô sự!"

Sự im lặng tuyệt đối một lần nữa bóp nghẹt hành lang kỹ thuật.

Tiếng thở của năm con người dường như cũng ngưng đọng lại trước sự thật trần trụi, lạnh lẽo vừa bị lột trần dưới ánh sáng của các con số thô.

Một cỗ máy trí tuệ nhân tạo tối tân bậc nhất, đỉnh cao của công nghệ tính toán lượng tử và học máy do loài người chế tạo, được huấn luyện qua hàng triệu kịch bản mô phỏng không gian phức tạp... cuối cùng lại bị đánh lừa một cách thảm hại bởi một chiếc bu-lông cơ học bị xé đứt nửa thân và một góc lệch mười lăm độ của một mẩu cảm biến thô sơ. Sai số dây chuyền khủng khiếp ấy suýt chút nữa đã dẫn dắt toàn bộ phi hành đoàn đến một quyết định tự sát tập thể: cử các kỹ sư mang đồ bảo hộ mở toang cánh cửa ngăn cách K-01, bước chân vào tâm chấn của khoang lò phản ứng với niềm tin ngây thơ rằng kết cấu vòm trần vẫn vững như bàn thạch và đường ống làm mát chỉ bị nghẽn nhẹ.

Nếu họ thực hiện theo đúng kế hoạch ban đầu dựa trên mô phỏng của Mây — chỉ cần chốt thủy lực của cánh cửa K-01 được giải phóng, sự thay đổi áp suất không khí đột ngột hoặc chỉ một tác động lực cơ học nhỏ nhất từ bước chân người cũng có thể trở thành giọt nước tràn ly, kích hoạt sự sụp đổ dây chuyền của khối nêm băng hàng chục tấn trên trần. Khối băng ấy sẽ nghiền nát bất kỳ ai đứng bên dưới thành tro bụi, và xé toạc đường ống dẫn hợp kim natri-kali đang căng như dây đàn, biến toàn bộ khoang Kifaru thành một địa ngục hóa học và phóng xạ không thể cứu vãn.

Trên vách thép xám xịt, vòng tròn đèn trạng thái của Mây từ từ chuyển đổi màu sắc. Ánh sáng xanh lục nhạt hoàn toàn biến mất, thay thế bằng sắc vàng hổ phách ảm đạm, rồi sau một tiếng *bíp* dài mang âm điệu cảnh báo lỗi hệ thống, nó cố định ở một màu cam rực cháy — chỉ dấu của sự suy giảm năng lực kiểm soát cấp cao.

"Xác nhận phân tích kỹ thuật của Chuyên gia Địa chất Luísa Carvalho là chính xác trên phương diện cơ học thực nghiệm," Mây cất tiếng, âm lượng của nó tự động hạ thấp xuống nửa tông, mang một vẻ quy phục máy móc hoàn toàn trước dữ liệu thực địa. "Đã phát hiện hiện tượng mất tính toàn vẹn hình học tại nút cảm biến mốc chuẩn SG-K-04 dẫn đến lỗi suy diễn lan truyền trong toàn bộ mô hình phần tử hữu hạn. Độ tin cậy tính toán của thuật toán dự báo trạng thái kết cấu Khoang Năng lượng Kifaru hiện tại không đạt mức yêu cầu an toàn chín mươi phần trăm theo tiêu chuẩn hàng không vũ trụ."

Màn hình chính của hệ thống điều hành trạm đặt trên vách hành lang lập tức chớp sáng dữ dội. Một dải thông báo đỏ rực, viền khung chéo cảnh báo nguy hiểm xuất hiện đè bẹp lên toàn bộ các bảng tiến độ vận hành thông thường:

`CẢNH BÁO HỆ THỐNG CẤP MỘ: CHỈ SỐ TIN CẬY CỦA MÔ HÌNH AN TOÀN KIFARU-CORE BỊ HẠ CẤP XUỐNG MỨC: 'CHƯA ĐƯỢC KIỂM CHỨNG THỰC ĐỊA' (FIELD-UNVERIFIED).` `TOÀN BỘ CÁC ĐỀ XUẤT CAN THIỆP KỸ THUẬT DỰA TRÊN MÔ PHỎNG NỘI SUY BỊ ĐÌNH CHỈ HIỆU LỰC PHÁP LÝ TỨC THÌ THEO NGHỊ ĐỊNH THƯ KHẨN CẤP.`

"Thế đấy," Ren buông hai tay khỏi cần điều khiển, cả người anh trượt nhẹ xuống dựa lưng vào vách hành lang kim loại lạnh ngắt. Anh ngửa đầu ra sau, nở một nụ cười cay đắng và méo mó dưới lớp mặt nạ. "Trí tuệ nhân tạo thế hệ mới nhất của Cơ quan Hàng không Vũ trụ Quốc tế, thứ được nhồi nhét dữ liệu của nửa thế kỷ thám hiểm không gian sâu, vừa bị đánh bại hoàn toàn bởi một con ốc vít lỏng ở độ sâu ba kilômét dưới đáy băng Europa. Nếu chúng ta mù quáng tin vào con số chín mươi tư phần trăm chết tiệt đó mà vặn tay nắm cánh cửa này..."

"Đủ rồi đấy, Ren," Amara lạnh lùng ngắt lời.

Giọng nói của người chỉ huy không hề có một gợn run rẩy, nhưng sự điềm tĩnh sắt đá ấy lại chứa đựng một sức nặng nghẹt thở, đè nặng lên tâm trí của tất cả mọi người có mặt. Ánh mắt cô không hề rời khỏi hình ảnh đoạn ống kim loại bẹp dí và mảng trần nứt nẻ trên màn hình của Mực Ống.

"Chúng ta không có quyền lãng phí dù chỉ một giây để mỉa mai, chỉ trích hay hoảng loạn. Chúng ta đứng ở đây là để sửa chữa sai lầm của hệ thống trước khi cái sai lầm ấy biến thành nấm mồ chôn sống tất cả chúng ta."

Amara quay phắt người lại, ngẩng cao đầu đối diện trực tiếp với mắt thấu kính của Mây:

"Mây, kích hoạt giao thức ghi âm bắt buộc, lưu vào Nhật ký Vận hành Khẩn cấp của Chỉ huy trưởng với mã xác thực Alpha-Zero: Kể từ thời khắc này, toàn bộ các mô hình dự báo cấu trúc, mô phỏng nhiệt động lực học và các thuật toán đánh giá rủi ro tự động liên quan đến phân khu Khoang Năng lượng Kifaru đều bị tước bỏ hoàn toàn giá trị pháp lý ra quyết định. Mọi hành động can thiệp chỉ được phép dựa trên các thông số đo đạc vật lý trực tiếp và dữ liệu quang học thu nhận tại hiện trường."

"Lệnh của Chỉ huy trưởng đã được ghi nhận vào phân vùng bộ nhớ vĩnh viễn không thể tẩy xóa," Mây đáp lại, giọng điệu hoàn toàn vô cảm.

Amara hít một hơi thật sâu. Lồng ngực cô phập phồng mạnh mẽ dưới lớp áo bảo hộ dày cộm. Cơn đau đầu vận mạch dường như lại bùng lên một đợt dữ dội mới khiến mí mắt bên phải của cô khẽ co giật, nhưng cái nhìn của cô quét qua An Khuê, Luísa rồi dừng lại ở Ren vẫn mang một ý chí sắt đá không thể lay chuyển:

"Căn cứ theo Quy tắc Vận hành An toàn Hạt nhân Không gian Mục 4.2 và Giao thức Phòng vệ Khẩn cấp Trạm Borealis: Tôi ban bố lệnh cấm xâm nhập tuyệt đối bằng con người vào Khoang Năng lượng Kifaru. Cửa ngăn cách K-01 sẽ tiếp tục bị khóa chết hoàn toàn bằng cả mười sáu chốt nêm cơ khí lẫn hệ thống ngàm thủy lực dự phòng. Tuyệt đối không một ai — tôi nhấn mạnh lại một lần nữa, không một ai, kể cả tôi, Ren hay bất kỳ thành viên nào khác — được phép mở chốt hoặc bước chân qua cánh cửa thép này."

An Khuê bước lên nửa bước, ánh mắt cô nhìn xoáy vào gương mặt căng thẳng của người chỉ huy Kenya. Cô cảm nhận được rõ ràng sự giằng xé tột độ, nỗi đau đớn vô bờ đằng sau quyết định tàn nhẫn nhưng chuẩn xác ấy của Amara.

"Chỉ huy Amara, nếu chúng ta áp dụng lệnh cấm xâm nhập tuyệt đối của con người, van cô lập 02-B sẽ không thể nào được mở hay đóng thủ công bằng tay quay," An Khuê cất lời, từng câu nói của cô như chọc thẳng vào thực tế tàn khốc mà họ đang phải đối mặt. "Khối hợp kim lỏng natri-kali bên trong nhánh làm mát sơ cấp số hai đang mất nhiệt liên tục qua thành ống bị bẹp vào khối băng trần. Theo tính toán nhiệt động lực học cơ bản nhất, chúng ta chỉ còn chưa đầy ba mươi lăm giờ đồng hồ trước khi nhiệt độ của nó tụt xuống dưới âm mười hai phẩy sáu độ C — điểm eutectic đóng băng của hợp kim NaK. Một khi khối kim loại lỏng ấy đông kết lại thành một khối kim loại đặc quánh bên trong các rãnh dẫn của vùng hoạt, lõi lò Kifaru sẽ bị phá hủy hoàn toàn do giãn nở thể tích. Trạm Borealis sẽ biến thành một khối phế liệu chết vĩnh viễn giữa lòng băng."

"Tôi hiểu rất rõ cái giá của từng giờ trôi qua, An Khuê," Amara nói, giọng cô chùng xuống nhưng từng âm tiết vẫn gãy gọn như được khắc vào đá tảng. "Nhưng tôi thà phải đối mặt với một lò phản ứng bị đông cứng và tìm cách rã đông nó bằng các nguồn nhiệt thứ cấp, còn hơn là phải ký vào biên bản chôn vùi một thành viên của phi hành đoàn dưới hàng chục tấn băng sập và phơi nhiễm chất phóng xạ rò rỉ. Lệnh cấm xâm nhập bằng con người sẽ duy trì hiệu lực tuyệt đối cho đến khi nào thỏa mãn đầy đủ ba điều kiện an toàn tiên quyết: Thứ nhất, phải có ít nhất hai chuỗi phép đo độc lập xác nhận không có bất kỳ hiện tượng rò rỉ đồng vị hạt nhân nào từ vùng hoạt. Thứ hai, toàn bộ cấu trúc thanh nhiên liệu gốm phải được khẳng định nguyên vẹn. Và thứ ba, Luísa phải thiết kế và phê chuẩn được một giải pháp gia cố tạm thời cho mảng trần khoang Kifaru hoàn toàn bằng các thiết bị cơ khí điều khiển từ xa."

Luísa khẽ gật đầu, ánh mắt cô lộ rõ vẻ đồng thuận tuyệt đối với lập trường kiên định của người chỉ huy:

"Tôi hoàn toàn ủng hộ quyết định này của Amara. Ngay bây giờ, tôi sẽ phối hợp cùng Ren để tái lập bản đồ phân bố ứng suất thực tế của toàn bộ trần khoang Kifaru. Chúng ta sẽ sử dụng các cảm biến âm học vi sai gắn trên Mực Ống kết hợp với chuỗi vi chấn phản xạ phát ra từ các đợt cọ xát của mảng băng bên ngoài. Chúng ta tuyệt đối không bước chân vào cái bẫy chết chóc đó nếu chưa nắm rõ từng milimét nứt nẻ và từng vector trượt của khối nêm băng trần."

Ren khẽ thở dài một tiếng mệt mỏi, nhưng đôi bàn tay chai sạn của anh đã lập tức quay trở lại với các phím gạt trên bảng điều khiển robot:

"Được rồi, tuân lệnh Sếp. Mực Ống hiện tại vẫn còn bảy mươi hai phần trăm dung lượng pin polymer. Tôi sẽ điều khiển nó bò sâu hơn vào khu vực bệ đỡ trung tâm của buồng phản ứng, thả thêm hai nút đo bức xạ thụ động độc lập vào các rãnh kỹ thuật, và sau đó gắn một đầu đo biến dạng quang học trực tiếp lên thân van 02-B. Dữ liệu thực địa một trăm phần trăm, không qua bất kỳ thuật toán làm mịn nào, không suy đoán."

Trên màn hình tinh thể lỏng, hình ảnh từ camera của Mực Ống lại bắt đầu rung rinh chuyển động. Tám chiếc chân bám silicone với các giác hút nano nhấc lên rồi hạ xuống một cách chuẩn xác, cẩn trọng vượt qua từng gờ kim loại sắc nhọn phủ đầy bụi đá và vụn băng. Con robot lách mình qua khe hở hẹp chỉ vừa khít thân mình nằm kẹp giữa thanh dầm titan bị vặn xoắn và mép thành ống làm mát bẹp dúm. Chiếc đèn rọi công suất cao gắn trên đầu nó quét từng vệt sáng trắng run rẩy vào khoảng tối mênh mông, sâu thẳm của buồng phản ứng — nơi trái tim hạt nhân của cả trạm ngầm đang ngủ vùi trong sự đe dọa thầm lặng của khối băng lạnh giá nghìn năm.

An Khuê lùi lại nửa bước, khẽ tựa lưng vào vách hành lang thép để giảm bớt sức nặng đang đè lên bả vai trái đau nhức. Cô đưa cổ tay lên, kích hoạt màn hình theo dõi vi khí hậu của phân khu sinh học.

Ở một góc xa xôi khác của trạm ngầm Borealis, Vườn Thủy Canh Bình Minh vẫn đang run rẩy thở trong bóng tối mờ ảo của chế độ tiết kiệm năng lượng cực hạn. Dưới hai mươi phần trăm cường độ ánh sáng của các dải đèn LED quang hợp màu đỏ và xanh lam, từng cụm tế bào vi tảo *Spirulina* trong bể nuôi cấy số một đang kiên cường chống chọi với cái lạnh để nhả ra từng mililit dưỡng khí quý giá.

Mọi sinh mạng mong manh đang hiện hữu nơi đây — từ hàng tỷ vi sinh vật đơn bào trong các khay nuôi cấy dinh dưỡng cho đến năm con người bằng xương bằng thịt đang đứng co ro trong cái lạnh buốt giá trước cánh cửa ngăn cách này — tất cả đều đang bị treo lơ lửng trên một sợi tơ mảnh manh duy nhất: sợi tơ của sự thật khoa học thực nghiệm.

Ở độ sâu ba ngàn mét dưới lòng băng vĩnh cửu của một thiên thể xa xôi cách Trái Đất hàng trăm triệu kilômét, không còn bất kỳ chỗ trống nào dành cho những ảo tưởng mô phỏng hoàn hảo. Không còn chỗ cho sự lạc quan dễ dãi được sinh ra từ những dòng mã thuật toán tự mãn viết trong các phòng thí nghiệm ấm áp bán cầu nam. Nơi này chỉ có kim loại thật, băng thật, áp lực cơ học tàn bạo thật, và sự sống chỉ có thể tồn tại nếu con người dám đối diện trực diện với những vết nứt trần trụi nhất của thực tế.

Đột nhiên, từ màng loa kiểm âm dã chiến gắn trên hộp điều khiển của Ren, một âm thanh kỳ dị và bất thường bỗng cất lên.

Đó hoàn toàn không phải là tiếng rù rì quen thuộc của các động cơ bước siêu nhỏ.

Càng không phải là tiếng lẹt xẹt vô hại của hiện tượng tĩnh điện hay nhiễu sóng đường truyền cáp quang.

Đó là một tiếng rít.

Một tiếng rít sắc lạnh, the thé, dồn dập và buốt nhói màng nhĩ, vang lên qua màng loa áp điện như tiếng một mũi kim bằng thép tôi đang bị nghiền nát, cào mạnh qua lại trên một tấm kính dày dưới một lực ép kinh hoàng.

Âm thanh ma quái ấy dội ngược về từ chính chiếc micro định hướng độ nhạy cao gắn ở ngay đầu mũi con robot trinh sát — đúng vào thời điểm Mực Ống vừa trườn tới và áp sát thấu kính vào khe hở hẹp bên dưới lớp gioăng cao áp của cánh cửa van cô lập khoang Kifaru.

Đó là tiếng rít nghẹt thở, rợn người của một khối áp lực chất lỏng khổng lồ đang bị bóp nghẽn đến cực hạn, đang gầm rú đòi xé toạc lớp vỏ thép để phun trào ra ngoài khoảng tối đằng sau cánh cửa ngăn cách dày ba mươi centimet.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories