Trạm Ánh Sáng EuropaCh.3 / 42
Chapter 3

Sổ cái của sự sống

Hơi lạnh bắt đầu ngấm qua lớp sàn cách nhiệt của Khoang Trú ẩn Hạt Nhân khi hơi thở của năm con người ngưng tụ thành những luồng sương trắng mỏng manh trôi lơ lửng dưới trần vòm.

Trọng lực yếu ớt chỉ bằng một phần bảy Trái Đất — zero phẩy một ba tư g — khiến các hạt sương li ti không rơi xuống ngay mà lơ lửng thành từng vệt kéo dài, dập dờn theo dòng khí phả ra từ các cửa cấp gió khẩn cấp. Không khí đặc quánh mùi kim loại lạnh, mồ hôi khô và mùi hăng hắc của tấm mylar bọc ngoài đồ bảo hộ. Dưới chân họ, lớp băng sâu của Europa nằm cách đáy khoang chỉ vài mét thép hợp kim và bọt aerogel; mỗi dao động nhỏ của vỏ trạm đều truyền thẳng lên đế giày từ tính như một tiếng nghiến răng trầm đục của đại dương ngầm. Khối băng ấy không hề câm lặng; nó cựa mình theo chu kỳ thủy triều bị xé rách bởi lực hấp dẫn khổng lồ của Sao Mộc, phát ra những rung chấn hạ âm chạy râm ran qua xương bánh chè của từng người đang đứng trong căn phòng kín.

Amara Njoroge đứng ở đầu bàn hội chẩn kim loại tròn — chiếc bàn được gia cố bằng chốt thủy lực gắn chặt vào sàn chịu lực của khoang trú ẩn. Đôi mắt người chỉ huy Kenya thâm quầng, đáy mắt hằn lên những tia máu đỏ li ti, dấu hiệu không thể che giấu của cơn đau đầu vận mạch đang giáng từng cơn búa gõ vào vùng thái dương bên phải. Nhưng dáng đứng của cô vẫn thẳng tắp, bờ vai rộng giữ nguyên tư thế chuẩn mực của một cựu sĩ quan công binh vũ trụ từng tôi luyện qua những đợt huấn luyện áp lực cao ở quỹ đạo Trái Đất tầm thấp. Cơn đau có thể gặm nhấm các dây thần kinh thị giác, nhưng kỷ luật thép không cho phép các đốt sống của cô chùng xuống dù chỉ nửa phân.

Cô gạt nhẹ tay, trải phẳng một tấm phim dẫn điện trong suốt lên mặt bàn. Khi bề mặt polyme tiếp xúc với chốt tín hiệu đồng, bề mặt bàn rực lên một quầng sáng màu hổ phách dịu mắt — thứ ánh sáng duy nhất trong khoang trú ẩn lúc này, khi hệ thống đèn trần đã bị cắt giảm xuống mức năm phần trăm công suất định mức để dành từng joule cho máy biến tần. Ánh sáng vàng đục hắt ngược lên những gò má hốc hác, biến những đường nét quen thuộc của đồng đội thành những bức phù điêu khắc khổ, đẫm bóng tối và sự kiệt quệ.

"Tập trung lại đây," Amara nói, giọng khàn nhưng đanh gọn, cắt đứt tiếng thở dốc nặng nhọc của Luísa và tiếng lách cách của các khớp ngón tay co cứng vì lạnh. "Chúng ta không có thời gian để mặc niệm cho những mảng mô-đun đã mất. Khoang Sinh học Lam đã bị cô lập vĩnh viễn sau khi khớp nối số ba sụp đổ. Tuyến cáp quang bọc giáp lên bề mặt tại đới Rhadamanthys Linea đã đứt lìa ở độ sâu tám trăm mét. Không còn liên lạc thời gian thực với Đài Kiểm soát Darmstadt. Không có sự can thiệp từ xa nào hết."

Cô dừng lại một nhịp, quét mắt qua từng gương mặt: An Khuê đang ôm chặt bả vai trái bầm tím bằng bàn tay quấn băng đàn hồi; Ren Ishikawa với bộ áo liền quần lem luốc dầu bôi trơn fluorocarbon; Luísa Carvalho co ro trong chiếc áo giữ nhiệt dã ngoại hai lớp; và Ingrid Solberg, người đang lặng lẽ đo mạch cho chính mình bằng đồng hồ cơ học nơi cổ tay. Mỗi người trong số họ đều mang trên mình tàn tích của biến cố địa chấn vừa xảy ra nửa giờ trước — những vết trầy xước, những thớ cơ rách ngầm dưới da, và nỗi sợ hãi nguyên thủy trước cái chết trắng đang rình rập ngoài lớp vỏ hợp kim titan.

"Và điều quan trọng nhất," Amara tiếp tục, ngón tay cô ấn mạnh lên viền tấm phim, "tàu vận tải liên hành tinh Umoja không thể bẻ cong quỹ đạo Kepler. Con tàu tiếp tế đó được phóng đi theo cửa sổ chuyển tiếp Hohmann tiết kiệm nhiên liệu nhất; nó bị khóa cứng vào quỹ đạo hấp dẫn của hệ Mộc tinh và phải mất đúng mười bốn tháng nữa mới có thể tiếp cận điểm hẹn Europa. Không sớm hơn dù chỉ một giờ. Không có một động cơ đẩy ion nào trên đời này có thể đốt cháy lượng nhiên liệu không tồn tại để bay nhanh hơn quy luật vũ trụ. Chúng ta phải tự nuôi sống bản thân trong bốn trăm hai mươi lăm ngày tới bằng những gì còn lại bên trong lớp vỏ kim loại này."

Cô ngẩng đầu lên trần vòm, nơi mắt thần của hệ thống cảm biến quang học đang phát ra ánh sáng xanh lam nhạt:

"Mây. Kích hoạt giao diện kiểm toán cấp một. Chiếu bảng sổ cái tài nguyên chi tiết. Toàn bộ thông số sinh tồn cho năm con người: công suất điện, mol oxy khả dụng, lượng nước ngọt tinh chế và calo dinh dưỡng. Không làm tròn số. Không che giấu sai số phân rã."

"Đã nhận lệnh Chỉ huy Amara," giọng nói trầm ấm, phát âm tiếng Việt tròn trịa của Mây vang lên từ màng loa áp điện gắn chìm trong vách thép. Dù trạm vừa trải qua chấn động kinh hoàng, ngữ điệu của trí tuệ nhân tạo vẫn duy trì một sự điềm tĩnh máy móc đến kỳ lạ, tựa như một mỏ neo neo chặt tâm lý hỗn loạn của phi hành đoàn vào thực tại. "Khởi tạo bảng cân đối sinh tồn khẩn cấp: Dự án Sinh tồn Mười Bốn Tháng. Độ tin cậy dữ liệu hiện thời đạt tám mươi tám phẩy hai phần trăm do mười sáu nút đo nhiệt độ và lưu lượng tại Tầng Kỹ thuật B đã ngừng phản hồi."

Không gian phía trên mặt bàn kim loại dao động nhẹ, rồi một cấu trúc biểu đồ ba chiều bùng lên, vẽ nên một mạng lưới các con số, đồ thị cột và sơ đồ dòng chuyển hóa vật chất phức tạp. Những dòng số liệu màu cam và đỏ chiếm ưu thế tuyệt đối, trôi chầm chậm trước tầm mắt của An Khuê:

*Tổng tải điện khả dụng tức thời:* - Máy phát RTG công sinh nhiệt đồng vị plutonium-238: 3,20 kW liên tục (suy giảm 0,08% mỗi năm). - Tổ hợp ắc quy lithium-lưu huỳnh dự phòng (Tầng Kỹ thuật B): 420,0 kWh khả dụng (3/6 phân vùng bị ngắn mạch và cô lập hoàn toàn).

*Sổ cái tiêu hao sinh tồn tối thiểu (tính trên 5 người):* - Tiêu thụ oxy chuyển hóa: trung bình 135 mol O₂/ngày (tương đương 4,32 kg O₂/ngày). - Thải trừ carbon dioxide: 110 mol CO₂/ngày (tương đương 4,84 kg CO₂/ngày). - Nhu cầu nước ngọt ăn uống và vệ sinh tối thiểu: 14,5 lít/ngày. - Năng lượng dinh dưỡng tối thiểu chống suy kiệt cơ quan: 2.100 kcal/người/ngày.

*Kho dự trữ hóa sinh độc lập hiện hữu:* - Bình dưỡng khí cao áp dạng nén: 2.400 mol O₂ (đủ cho 17,7 ngày ở chế độ hở hoàn toàn). - Hộp hấp phụ lithium hydroxide (LiOH) khử CO₂: 180 hộp chuẩn (tối đa 60 ngày nếu không có hệ thống bù đắp sinh học). - Nước ngọt trong bồn đệm khoang trú ẩn: 1.820 lít (đủ cho 125 ngày nếu không thu hồi nước tiểu). - Lương thực khẩn cấp dạng thanh ép giàu lipid/protein: 1.200 khẩu phần tiêu chuẩn (đủ cho 240 ngày ở mức cầm cự 1.600 kcal/ngày).

Những con số rơi tõm vào khoảng im lặng băng giá của căn phòng. Tiếng quạt thông gió rít lên từng hồi ngắt quãng, nghe như tiếng thở hắt của một sinh vật khổng lồ đang hấp hối dưới lòng đất đá. Ánh sáng vàng đục từ hình chiếu hắt vào đồng tử của An Khuê, biến những cột mốc sinh tồn thành một chiếc thòng lọng vô hình đang thắt dần lại quanh cổ họng từng người.

"Biểu đồ cho thấy một lỗ hổng chí mạng," An Khuê là người đầu tiên lên tiếng. Cô bước sát lại mép bàn, đôi mắt dán chặt vào cột đồ thị dự trữ lithium hydroxide đang sáng lên một màu đỏ cảnh báo. Cơn đau từ bả vai rách cơ nhói lên từng chặp theo nhịp đập của tim, nhưng tâm trí cô bị cuốn hoàn toàn vào những con số. Ngón tay cô chỉ vào khoảng trống mênh mông nằm giữa con số sáu mươi ngày và mười bốn tháng. "Kho dự trữ hóa học của chúng ta được thiết kế cho sự cố cục bộ kéo dài hai tháng, không phải cho một năm rưỡi cô lập. Nếu chỉ dựa vào hóa chất thụ động, chúng ta sẽ nghẹt thở vì chính thán khí của mình trước khi mùa đông Europa trôi qua được một nửa."

"Đó là nếu chúng ta sống sót qua được tuần này, thưa Kỹ sư Hồ," Mây cất lời, các đường nét biểu đồ trên không trung đột ngột biến đổi, thu nhỏ bức tranh mười bốn tháng lại và phóng đại một đoạn thời gian ngắn ngủi phía trước bằng một dải đồ thị dốc đứng đầy đe dọa. "Tôi buộc phải lưu ý phi hành đoàn về thực trạng trước mắt: Với dung lượng ắc quy bốn trăm hai mươi kilowatt-giờ hiện tại, nếu cộng gộp cả ba phẩy hai kilowatt từ RTG, trạm chỉ có chính xác bảy mươi mốt giờ bốn mươi lăm phút năng lượng ở chế độ tải cơ bản danh định."

Mây làm nổi bật một mô hình nhiệt phân rã của toàn trạm Borealis:

"Lò phản ứng phân hạch Kifaru hiện đang ở trạng thái ngừng hoạt động khẩn cấp SCRAM. Đường ống làm mát số hai bị kẹt biến dạng khiến chu trình tản nhiệt natri-kali bị gián đoạn. Nếu không tái khởi động được lò Kifaru hoặc không thực hiện cắt giảm tải triệt để ngay trong giờ này, nhiệt độ tại các khoang sinh hoạt sẽ trượt xuống dưới âm mười độ C trong vòng bốn mươi tám giờ. Ở mốc bảy mươi hai giờ, khi ắc quy cạn kiệt hoàn toàn, máy bơm đối lưu chân không và van sưởi áp suất sẽ tê liệt vĩnh viễn. Nước trong đường ống sẽ đóng băng, phá vỡ toàn bộ cấu trúc thủy lực ngầm. Toàn bộ trạm Borealis sẽ biến thành một nấm mồ băng giá không thể hồi sinh."

"Tôi hiểu rất rõ khái niệm về một nấm mồ băng giá, Mây," Ingrid Solberg cắt ngang, giọng vị bác sĩ người Na Uy sắc lạnh như dao mổ. Cô đặt hai tay lên mặt bàn, mắt nhìn thẳng vào Amara. "Và nhiệm vụ của tôi là giữ cho năm quả tim trong căn phòng này tiếp tục đập. Để làm được điều đó, chúng ta phải tàn nhẫn với các con số."

Ingrid lật mở cuốn sổ tay bìa cứng nhỏ bọc da màu xanh thẫm mà cô luôn mang bên hông. Bằng một chiếc bút kim loại nạp mực áp lực — loại bút không phụ thuộc vào trọng lực hay vi mạch — cô cặm cụi ghi lại vài con số huyết áp của Amara mà cô vừa đo ban nãy, cùng lượng thuốc giảm đau và chống sốc còn lại trong túi cứu thương. Hành động thủ công, cẩn trọng và hoàn toàn tách biệt khỏi mạng lưới của Mây khiến An Khuê phải liếc nhìn. Bác sĩ Solberg dường như không còn đặt trọn niềm tin vào các bảng tính điện tử sau khi chứng kiến trận động đất xé toạc các đường truyền quang học. Bàn tay của Ingrid mang theo vết chai của những năm tháng làm việc tại các trạm cứu hộ vùng cực Bắc Cực, nơi kim loại đóng băng dính chặt vào da thịt nếu sơ ý chạm phải.

Gấp cuốn sổ lại, Ingrid gõ đầu bút lên mặt bàn kim loại, tạo ra những tiếng *cạch, cạch* dứt khoát:

"Đề xuất của Y tế rất đơn giản: Cắt toàn bộ các tải không phục vụ trực tiếp cho việc duy trì sự sống của con người. Tôi yêu cầu bảo lưu ít nhất bốn mươi lăm kilowatt-giờ cho Y xá Svalbard. Chúng ta cần điện để duy trì máy tạo áp suất cục bộ phòng trường hợp có người bị giảm áp do rò rỉ vi mô, máy ly tâm y khoa cỡ nhỏ để chống teo cơ cấp, và tủ bảo quản sinh phẩm cùng kho kháng sinh tổng hợp."

"Ingrid," Amara trầm ngâm, ngón tay day nhẹ thái dương đang giật liên hồi. "Để dành ngần ấy điện cho Y xá đồng nghĩa với việc chúng ta phải triệt tiêu gần như hoàn toàn các phân khu khác."

"Chính xác," Ingrid không hề chớp mắt. "Phân khu đầu tiên phải ngắt điện toàn phần là Vườn Thủy Canh Bình Minh và toàn bộ các tủ nuôi cấy sinh học còn sót lại. Cắt toàn bộ dàn đèn LED quang hợp. Ngắt các máy sưởi nền của bể giá thể. Chúng ngốn tới ba mươi kilowatt-giờ mỗi chu kỳ chỉ để chiếu sáng cho mấy mớ cỏ và rêu. Trong tình huống khẩn cấp cấp độ ba, thực vật và vi sinh vật là những thứ xa xỉ có thể thay thế được. Con người thì không."

"Không thể được!"

Tiếng quát của An Khuê vang lên, vang dội vào các vách kim loại của khoang trú ẩn. Cô đứng bật dậy, bất chấp cơn đau nhói từ bả vai trái truyền xuống lồng ngực. Cả Ren và Luísa đều giật mình quay sang nhìn cô. Cơn giận dữ không chỉ bộc phát từ bản năng bảo vệ công trình nghiên cứu của đời mình, mà xuất phát từ nỗi kinh hoàng thuần túy của một kỹ sư hiểu rõ cái giá của việc phá vỡ chu trình tuần hoàn.

"Khuê, bình tĩnh," Amara giơ tay lên, giọng trầm tĩnh nhưng mang đầy uy lực kiểm soát. "Để cô ấy nói hết lý lẽ, rồi cô sẽ có thời gian phản biện."

"Tôi không thể bình tĩnh khi nghe bác sĩ Solberg đề xuất một bản án tử hình chậm cho cả trạm," An Khuê nói, hơi thở phả ra thành một luồng sương dày đặc trước mặt. Cô cố điều chỉnh lại giọng điệu, biến sự phẫn nộ thành lập luận khoa học đanh thép. "Mây! Chiếu sơ đồ cân bằng khối lượng của vòng tuần hoàn khí quyển và chu trình đạm cho tôi."

Mây lập tức hưởng ứng. Một sơ đồ mạng lưới hữu cơ phức tạp hiện lên, liên kết giữa buồng phổi của con người với các khay sinh khối xanh ngắt:

"Bác sĩ Ingrid nhìn vào các dàn đèn thủy canh và chỉ thấy lượng watt tiêu thụ vô ích," An Khuê bước vòng qua bàn, mắt nhìn thẳng vào Ingrid. "Nhưng chị đã quên mất một điều cơ bản nhất của kỹ thuật hỗ trợ sự sống: con người là những cỗ máy tiêu thụ oxy và thải chất độc liên tục. Mỗi ngày, năm người chúng ta thải ra một trăm mười mol CO₂ và gần tám lít nước tiểu chứa đầy hợp chất urê độc hại. Ai sẽ hấp thụ lượng carbon đó? Ai sẽ bẻ gãy các liên kết amoniac để trả lại nước sạch cho hệ thống lọc?"

Cô chỉ tay vào đồ thị hấp phụ của LiOH:

"Các hộp lọc hóa học LiOH chỉ là phương án chắp vá. Chúng chỉ có một trăm tám mươi hộp. Khi hết số đó sau sáu mươi ngày, chúng ta sẽ tích tụ thán khí trong máu, rơi vào hôn mê do toan chuyển hóa và chết ngạt ngay giữa khoang trú ẩn này! Nguồn oxy hóa lỏng cũng chỉ duy trì được mười bảy ngày nếu không có bù đắp. Bể tảo Spirulina và hệ thống rau củ ở Vườn Bình Minh không phải là 'mấy mớ cỏ rêu'. Chúng là *lá phổi ngoài cơ thể* của chúng ta! Chúng là hệ đệm sinh thái duy nhất có khả năng quang hợp để biến một trăm mười mol CO₂ kia trở lại thành oxy tinh khiết mỗi ngày, đồng thời hấp thụ nitơ từ chất thải để tái tạo protein tươi!"

"Nhưng chúng ta đang nói về bảy mươi hai giờ trước mắt, Khuê!" Ingrid gằn giọng, lông mày nhíu chặt lại, nét mặt lộ rõ sự bất đồng đạo đức sâu sắc. "Nếu không sống sót qua ba ngày tới, cái lá phổi ngoài cơ thể của cô sẽ quang hợp cho ai thở? Cho những cái xác đông cứng à? Nếu pin cạn kiệt vào ngày mốt, áp suất y xá tụt, thuốc hỏng, hạ thân nhiệt giết chết chúng ta trước khi hộp LiOH đầu tiên kịp bão hòa!"

"Nếu chị để các khay tảo đóng băng, chị sẽ không bao giờ khởi động lại được chúng!" Giọng An Khuê run lên vì xúc động nhưng ánh mắt vẫn rực lửa kiên định. "Spirulina platensis là sinh vật nhiệt đới. Nếu nhiệt độ nước tụt xuống dưới bốn độ C, màng tế bào của chúng sẽ bị tinh thể đá xé rách hoàn toàn. Cú sốc lạnh sẽ làm tan rã toàn bộ chuỗi diệp lục. Một khi sinh khối đã thối rữa, trạm sẽ biến thành một lò khí độc metan và hydro sulfua. Chúng ta không có đủ hạt giống hay men cấy dự phòng để gầy dựng lại một quần thể sinh học đủ lớn phục vụ cho mười bốn tháng cô lập! Giết chết Vườn Bình Minh hôm nay chính là tự sát vào tháng thứ ba!"

Hai người phụ nữ nhìn nhau chằm chằm qua làn sương mỏng manh của hơi thở. Một bên là người thầy thuốc với trách nhiệm bảo vệ cơ thể sinh học trước mắt bằng mọi biện pháp bảo thủ nhất; một bên là kỹ sư sinh thái nhìn thấy trước cái bẫy sụp đổ của một hệ thống kín nếu đánh mất mắt xích tuần hoàn vật chất. Ánh sáng vàng cam từ mô hình ba chiều rọi vào giữa họ như một lằn ranh không thể vượt qua.

Căn phòng rơi vào một trạng thái căng thẳng nghẹt thở. Tiếng gõ bàn phím lách cách của Ren Ishikawa đột ngột phá vỡ sự im lặng nặng nề.

"Được rồi, được rồi, xin hai vị đại biểu hạ hỏa cho một chút," Ren lên tiếng, ngón tay thoăn thoắt gõ trên bàn phím ảo của thiết bị cầm tay, miệng nở một nụ cười gượng gạo quen thuộc dù hai hàm răng anh đang va vào nhau vì lạnh. "Nếu cứ tiếp tục hét lên thế này, lượng CO₂ thải ra sẽ tăng thêm mười lăm phần trăm đấy. Mây vừa ghi nhận một đột biến nhỏ trong nồng độ thán khí quanh bàn hội chẩn rồi kìa."

Anh ngước lên nhìn Amara, rồi liếc sang Luísa Carvalho:

"Tôi và Luísa vừa chạy một mô hình nhiệt động lực học dung hòa. Chúng ta không cần phải chọn giữa việc biến thành que kem ngay lập tức hay chết ngạt sau hai tháng. Có một con đường thứ ba, dù nó sẽ khiến tất cả chúng ta cảm thấy như đang sống trong một cái tủ lạnh bảo quản thịt ở Hokkaido."

Luísa gật đầu, đưa tay vuốt lọn tóc xoăn rối bù dính bết bên trán. Cô vẫy tay gọi Mây:

"Mây, chuyển sang lớp dữ liệu nhiệt địa chất Guará và mô phỏng tải động học. Chiếu phương án Bravo-Bốn."

Hình ảnh ba chiều lập tức thay đổi. Một mô hình trạm Borealis mới xuất hiện, lần này được phủ một màu xanh lam đậm biểu thị cho vùng nhiệt độ thấp, xen kẽ những đốm vàng cam nhỏ hẹp:

"Nghe này," Luísa nói, chất giọng Bồ Đào Nha trầm và dứt khoát. "Vấn đề của trạm không chỉ là thiếu điện, mà là sự rò rỉ nhiệt qua lớp vỏ hợp kim truyền thẳng vào khối băng âm một trăm bốn mươi độ C của Europa. Hiện tại, chúng ta đang cố sưởi ấm toàn bộ các mô-đun sinh hoạt ở mức hai mươi mốt độ C. Đó là một sự lãng phí điên rồ trong hoàn cảnh này. Nhiệt thất thoát tỷ lệ thuận với độ chênh lệch nhiệt độ giữa trong và ngoài vỏ trạm."

Ren tiếp lời, chỉ tay vào các thông số kỹ thuật vừa xuất hiện:

"Phương án kỹ thuật như sau: Thứ nhất, hạ nhiệt độ sống chung toàn trạm xuống đúng mười hai độ C."

Ingrid lập tức nhíu mày định lên tiếng, nhưng Ren đã nhanh chóng giơ tay ngăn lại:

"Mười hai độ C là giới hạn sinh lý an toàn. Ở nhiệt độ này, mặc hai lớp đồ giữ nhiệt dã ngoại bằng sợi len pha mylar, cơ thể người hoàn toàn không bị hạ thân nhiệt nguy hiểm. Chuyển hóa cơ bản tăng nhẹ nhưng không gây tổn thương mô hay phù phổi. Nó cao hơn nhiều so với mức bảy độ C cực đoan mà Chỉ huy đề cập lúc nãy — mức bảy độ sẽ làm cứng khớp ngón tay và khiến chúng ta không thể thao tác vặn ốc hay hàn vi mạch khi ra ngoài sửa chữa."

"Còn Vườn Bình Minh thì sao?" An Khuê hỏi dồn, mắt dán chặt vào đường cong năng lượng của hệ sinh học.

"Đây là sự đánh đổi dành cho cô, Khuê," Ren nghiêm túc nhìn cô. "Chúng ta không cắt điện hoàn toàn như Ingrid muốn, nhưng cô không thể đòi hỏi một mùa hè rực rỡ dưới đáy băng được. Chúng tôi sẽ cắt giảm công suất chiếu sáng của dàn đèn quang hợp xuống mức duy trì tối thiểu: hai mươi phần trăm công suất danh định. Chỉ giữ lại dải phổ đỏ sẫm sáu trăm sáu mươi nanomét và xanh lam bốn trăm năm mươi nanomét — đúng các bước sóng kích hoạt hệ thống quang hóa một và hai của diệp lục. Cắt toàn bộ ánh sáng trắng tán xạ. Tắt toàn bộ máy khuấy cơ học công suất lớn trong bể tảo, chuyển sang sục khí vi bọt gián đoạn mười lăm phút mỗi giờ bằng bơm áp lực thấp."

"Hai mươi phần trăm..." An Khuê lẩm bẩm, các phép tính sinh hóa chạy như bay trong đầu cô. "Đó là điểm bù quang học. Ở mức đó, tảo chỉ vừa đủ năng lượng ánh sáng để không bị đói sinh khối, chúng sẽ ngừng nhân đôi, sản lượng oxy sẽ giảm tới bảy mươi phần trăm..."

"Nhưng chúng sẽ *không chết*," Ren nhấn mạnh, gằn từng từ. "Các tế bào tảo sẽ ngủ đông ở trạng thái sinh tồn tối thiểu. Khi lò Kifaru hoạt động trở lại, cô có thể tăng tải đèn lên và đánh thức chúng trong vòng sáu giờ. Thêm vào đó, toàn bộ các thiết bị thí nghiệm chuyên sâu — máy giải trình tự gen, kính hiển vi điện tử quét, máy sắc ký khối phổ — sẽ bị ngắt nguồn vật lý ngay lập tức. Xưởng Tanuki của tôi cũng sẽ ngắt toàn bộ máy in kim loại 3D và bàn hàn hồ quang, chỉ giữ lại một cổng sạc chậm cho robot kiểm tra đường ống."

"Còn Y xá?" Amara hỏi, ánh mắt chuyển hướng sang Ingrid.

Luísa trả lời thay cho Ren:

"Y xá Svalbard sẽ nhận mười lăm kilowatt-giờ thay vì bốn mươi lăm. Đủ để giữ ấm kho dược phẩm ở bốn độ C và duy trì một giường hồi sức khẩn cấp ở chế độ chờ. Máy tạo áp suất sẽ chuyển sang chế độ kích hoạt bằng tay bằng bình khí nén tích áp thay vì chạy máy nén điện liên tục. Nếu có sự cố giảm áp, Ingrid có thể giật van cơ học để tăng áp buồng cấp cứu trong ba giây mà không tốn một watt điện nào."

Mây cập nhật lại thanh đo thời gian sinh tồn ở góc trên màn hình. Con số nhảy múa, tính toán lại dựa trên mức cắt giảm tải khắc nghiệt nhưng có tính toán khoa học này.

Một con số mới hiện ra:

*Thời gian duy trì của ắc quy: 78 giờ 30 phút.*

Nhiệt độ trạm: 12°C. Ánh sáng sinh học: 20%. Tải y tế: Tối thiểu hóa dự phòng. Tải nghiên cứu: 0%.

Họ không chỉ mua thêm được thời gian so với mức bảy mươi hai giờ danh định ban đầu, mà quan trọng hơn, họ bảo tồn được cả sự sống của con người lẫn mầm mống sinh thái mong manh để vượt qua chặng đường mười bốn tháng mịt mù phía trước. Bảy mươi tám giờ ba mươi phút — gần ba ngày rưỡi để Ren và Luísa tìm cách tiếp cận khoang lò phản ứng bị cô lập, cắt bỏ đoạn ống biến dạng và khôi phục dòng chảy của môi chất làm mát natri-kali.

"Mây," Amara cất tiếng, phá vỡ bầu không khí im phăng phắc. "Xác nhận tính khả thi của mô hình Bravo-Bốn."

"Mô hình có tính khả thi kỹ thuật đạt chín mươi mốt phẩy năm phần trăm," Mây đáp. "Tuy nhiên, biên độ an toàn nhiệt của bể tảo Spirulina trong phương án này là cực kỳ hẹp. Nếu nhiệt độ nước tụt thêm hai phẩy lăm độ C so với tính toán, quá trình phân rã màng tế bào sẽ bắt đầu mà không thể đảo ngược."

Mọi ánh mắt một lần nữa đổ dồn về phía Amara Njoroge.

Người chỉ huy đứng im lặng giữa quầng sáng hổ phách. Bàn tay phải của cô khẽ run lên một thoáng — một cử động rất khẽ mà chỉ có An Khuê đứng gần đó và Ingrid với con mắt nghề nghiệp sắc bén mới nhận ra. Cơn đau nửa đầu đang đòi hỏi cái giá của nó, nhưng Amara hít một hơi thật sâu, luồng không khí buốt giá dường như làm dịu bớt cơn đau nhức buốt óc trong hộp sọ cô.

"Chúng ta không tìm kiếm một giải pháp hoàn hảo," Amara nói, giọng cô vang lên trầm hùng và dứt khoát như một mệnh lệnh thép. "Chúng ta đang tìm kiếm một khe hẹp giữa hai bờ vực để bước qua. Đề xuất của Ren và Luísa là giải pháp duy nhất giữ cho chúng ta vừa sống sót trong ba ngày tới, vừa không tự tước đi cơ hội sống sót của mười bốn tháng sau."

Cô nhìn thẳng vào bác sĩ người Na Uy:

"Ingrid, cô có chấp nhận mức phân bổ mười lăm kilowatt-giờ cho Y xá với cơ chế kích hoạt van cơ học không?"

Ingrid siết chặt cây bút trong tay, ngón tay trắng bệch ra vì áp lực. Cô liếc nhìn An Khuê, người đang nín thở chờ đợi, rồi nhìn vào những con số hiển thị lạnh lùng trên mặt bàn. Lương tâm của một người thầy thuốc thôi thúc cô đòi hỏi sự an toàn tuyệt đối cho đồng loại, nhưng sự sắc sảo của một nhà khoa học sinh tồn nhắc nhở cô rằng một phòng cấp cứu hoàn hảo không có ý nghĩa gì nếu sáu mươi ngày sau tất cả đều ngộ độc khí CO₂. Sau vài giây đấu tranh nội tâm gay gắt, vị bác sĩ thở dài một hơi dài, luồng sương trắng phả ra làm mờ đi một góc biểu đồ:

"Tôi chấp nhận. Nhưng với điều kiện: Tôi là người giữ quyền ưu tiên ngắt tải sinh học nếu có bất kỳ thành viên nào rơi vào trạng thái sốc nhiệt hoặc suy hô hấp cần máy trợ sinh."

"Được chấp thuận," Amara gật đầu, rồi quay sang An Khuê. "Khuê, cô có cam kết giữ cho hệ đệm sinh học sống sót ở mức hai mươi phần trăm ánh sáng và nhiệt độ mười hai độ C không?"

Trách nhiệm đè nặng lên vai An Khuê như một khối chì ngàn cân. Hai mươi phần trăm ánh sáng nghĩa là các tế bào tảo sẽ phải vật lộn trên ranh giới sinh tử, mọi sự cân bằng dinh dưỡng, độ pH và oxy hòa tan sẽ phải được kiểm soát thủ công với độ chính xác đến từng giọt hóa chất. Không còn máy móc tự động điều tiết, cô sẽ phải dùng chính đôi bàn tay đang đau nhức của mình để canh chừng từng ống nghiệm, từng màng lọc. Nhưng đó là cơ hội duy nhất.

"Tôi cam kết," An Khuê đáp, giọng chắc nịch. "Tôi sẽ túc trực tại Vườn Bình Minh. Tảo sẽ không chết."

"Tốt," Amara nói. Cô bước tới bảng điều khiển trung tâm, nơi năm cổng giao tiếp quang học đang sáng lên ánh đèn chờ. "Theo quy định khẩn cấp của Hội đồng Nhiệm vụ Quốc tế, việc tái phân bổ ngân sách năng lượng sinh tồn vượt quá năm mươi phần trăm định mức tiêu chuẩn không thể chỉ dựa trên mệnh lệnh của chỉ huy. Nó đòi hỏi sự đồng thuận và chịu trách nhiệm tập thể của toàn bộ phi hành đoàn. Mỗi người sẽ ký xác nhận vào ngân sách năng lượng bảy mươi tám giờ này. Nếu chúng ta thất bại, nhật ký đen của trạm sẽ ghi nhận rằng chúng ta đã cùng nhau đưa ra quyết định này bằng tất cả lý trí của mình."

Amara là người đầu tiên đặt ngón tay cái lên bề mặt cảm ứng sinh trắc học của bàn điều khiển:

"Amara Njoroge, Chỉ huy trưởng. Phê chuẩn Ngân sách Năng lượng Khẩn cấp Giai đoạn Một. Kiểm toán lại sau mỗi chu kỳ mười hai giờ."

Một tiếng bíp cơ học vang lên. Màn hình hiện lên dấu vân tay quang học và chữ ký điện tử màu xanh lục của cô.

Ingrid bước lên tiếp theo. Không nói một lời, cô ấn ngón tay xuống:

"Ingrid Solberg, Sĩ quan Y tế. Xác nhận trách nhiệm."

Ren mỉm cười nhẹ, vỗ vai Luísa rồi bước lên:

"Ren Ishikawa, Kỹ sư trưởng hệ thống. Hy vọng chúng ta không phải ăn súp tảo đông lạnh. Xác nhận."

Luísa bước tiếp, đôi mắt kiên định nhìn thẳng vào bản đồ địa chấn đang thu nhỏ ở góc:

"Luísa Carvalho, Chuyên gia Địa chất. Xác nhận."

Cuối cùng, mọi ánh nhìn dừng lại ở An Khuê. Cô bước lên, bàn tay trái vẫn hơi run rẩy vì vết thương cơ bắp, nhưng ngón tay trỏ bàn tay phải thì vững vàng như thép. Khi cô chạm vào mặt kính cảm ứng lạnh buốt, một cảm giác rùng mình chạy dọc sống lưng — đó không chỉ là sự xác nhận một bản kế hoạch kỹ thuật, mà là một lời thề ràng buộc mạng sống của cô với từng tế bào diệp lục đang run rẩy trong bóng tối của trạm.

"Hồ An Khuê, Kỹ sư Sinh học. Xác nhận trách nhiệm vận hành hệ đệm."

Màn hình bùng lên ánh sáng xanh lục hoàn chỉnh khi chữ ký thứ năm được khóa vào bộ nhớ bất biến của Mây. Hệ thống rơ-le công suất cao ở vách ngăn phát ra một chuỗi tiếng *tách... tách... tách...* khô khốc và nặng nề, như tiếng khóa của những cánh cổng ngục tù đang lần lượt sập xuống.

Ánh đèn trần phụ trợ trong Khoang Trú ẩn vụt tắt một nửa. Hệ thống sưởi sàn giảm vòng tua quạt gió, tiếng rù rù trầm thấp quen thuộc bỗng chốc lùi xa, nhường chỗ cho một sự tĩnh lặng gần như tuyệt đối của khối băng vĩnh cửu bao bọc xung quanh. Nhiệt độ bắt đầu trượt xuống một cách có thể cảm nhận được qua từng lớp vải bảo hộ. Mười hai độ C đang đến.

Amara thở hắt ra một hơi, dựa nhẹ vào mép bàn:

"Ngân sách năng lượng đã được khóa. Bây giờ là mười tám giờ ba mươi phút chuẩn trạm. Chu kỳ kiểm toán đầu tiên sẽ diễn ra vào sáu giờ ba mươi sáng mai. Ren, Luísa, hai người bắt đầu chuẩn bị phương án trinh sát Khoang Kifaru. Ingrid, kiểm tra lại toàn bộ túi cấp cứu. Giải tán."

Các thành viên bắt đầu di chuyển, đế giày từ tính kéo lê lẹt xẹt trên sàn kim loại. Ingrid cầm cuốn sổ tay của mình, quay trở về góc y tế dã chiến với vẻ mặt trầm mặc, tiếp tục ghi chép những con số bí mật mà cô không chia sẻ với Mây. Ren kéo Luísa lại góc bàn kỹ thuật, mở sơ đồ đường ống tản nhiệt NaK bằng những cử chỉ gấp gáp.

An Khuê nán lại bên bàn điều khiển một chút, cẩn thận kiểm tra lại các thông số vi khí hậu của Vườn Thủy Canh Bình Minh đang được chuyển tiếp về thiết bị đeo tay của mình. Cô cần chắc chắn rằng các van sưởi cục bộ đã nhận đúng lệnh phân bổ hai mươi phần trăm công suất, rằng dòng nước trong các ống nuôi cấy vẫn duy trì được lưu tốc tối thiểu để không bị đóng cặn sinh khối.

Bỗng nhiên, ánh sáng xanh lục trên bảng điều khiển nhấp nháy hai lần rồi chuyển sang màu vàng hổ phách cảnh báo.

Màng loa áp điện phía trên đầu cô phát ra một âm thanh bíp ngắn, trầm và đứt quãng. Tiếng nói của Mây vang lên ngay sát bên tai cô, hạ thấp âm lượng xuống mức chỉ vừa đủ cho An Khuê nghe thấy:

"Cảnh báo vi khí hậu Cấp Hai, Kỹ sư Hồ An Khuê. Do hiện tượng đối lưu nhiệt nghịch đảo và sự sụt giảm áp suất tại đường ống thứ cấp vừa bị ngắt tải, tốc độ mất nhiệt tại Vườn Thủy Canh Bình Minh đang diễn ra nhanh hơn dự báo mô phỏng ba mươi hai phần trăm."

Tim An Khuê thắt lại. Cô nhìn chằm chằm vào biểu đồ nhiệt độ của bể tảo Spirulina trên màn hình cầm tay.

Đường cong nhiệt độ đang cắm đầu đi xuống một cách không kiểm soát. Con số nhảy múa từ sáu độ C... năm phẩy tám độ C... năm phẩy hai độ C...

"Nhiệt độ dung dịch bể ươm số một đã tụt xuống bốn phẩy tám độ C," Mây thông báo bằng giọng máy móc phẳng lặng không một chút cảm xúc. "Ngưỡng đông kết cục bộ đang đến gần. Thời gian ước tính trước khi xảy ra hiện tượng vỡ màng tế bào không thể phục hồi: hai mươi mốt phút."

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories