Trạm Ánh Sáng EuropaCh.2 / 42
Chapter 2

Chín mươi giây trong bóng tối

Bóng tối đặc quánh trùm lên Khoang Sinh học Lam trong đúng chín mươi giây trước khi hệ thống máy phát nhiệt điện đồng vị (RTG) cấp nguồn cho dải đèn khẩn cấp màu vàng cam leo lét dọc chân tường.

Chín mươi giây ấy dài như một kỷ băng hà thu nhỏ, một khoảng chân không tuyệt đối của nhận thức nơi mọi quy chuẩn về phương hướng và sự an toàn đều bị xóa sổ. Trong khoảng lặng mù mịt không một tia sáng ấy, khi võng mạc chỉ còn bắt gặp những đốm lóa ảo giác do phóng xạ nền kích thích tế bào thần kinh thị giác, thính giác của Hồ An Khuê bị xâm chiếm bởi hàng loạt âm thanh cơ học rợn người. Đó là tiếng rên siết ken két đầy thống khổ của các dầm thép chịu lực bằng hợp kim nickel-titanium đang oằn mình chống đỡ một trọng tải nằm ngoài mọi bảng tính dung sai; tiếng rít căm phẫn, chói gắt của khí nén thoát qua các cụm van xả áp tự động ở vách ngăn trần; và trên hết, chìm sâu bên dưới tất cả những xáo động cơ khí nhân tạo, là tiếng nứt vỡ từ sâu thẳm trong lòng khối băng Europa dày ba cây số rưỡi.

Thứ âm hưởng địa chất ngoài hành tinh ấy trầm đục, nghẽn nghẹt, vang dội qua hàng tỷ tấn vật chất đông kết như tiếng gầm của một loài thủy quái khổng lồ đang thức giấc. Cả lục địa băng vĩnh cửu dường như đang tự nghiền nát chính mình dưới bàn tay vô hình nhưng tàn bạo của lực thủy triều Sao Mộc — lực kéo hấp dẫn khổng lồ không ngừng co kéo, vặn xoắn và xé toạc lớp vỏ ngoài của mặt trăng băng giá theo từng chu kỳ quỹ đạo.

Khi dải đi-ốt bán dẫn màu hổ phách bừng lên yếu ớt ở sát mép sàn kỹ thuật, ánh sáng mờ đục chỉ đủ quét qua một tầng không khí dày đặc bụi bẩn. Lúc này, An Khuê mới bừng tỉnh khỏi cơn choáng váng và nhận ra mình đang lơ lửng cách mặt đất chừng nửa mét.

Ở môi trường trọng lực chỉ bằng không phẩy một trăm ba mươi tư trọng lực chuẩn của Trái Đất (0,134 g), mọi va chạm cơ học đều mất đi tính dứt khoát quen thuộc của tự nhiên. Không có cú ngã sầm nào kéo một cơ thể rơi thẳng xuống sàn; thay vào đó, xung lượng từ vụ chấn động ban nãy đã hất tung các vật thể vào một trạng thái trôi dạt chậm rãi, lững lờ nhưng ẩn chứa quán tính đầy nguy hiểm. An Khuê giơ bàn tay bọc trong lớp găng bảo hộ dày cộm lên, quờ quạng trong không gian mờ ảo trước khi bám chặt lấy thanh tay vịn bằng hợp kim titan chạy dọc hành lang kỹ thuật.

Thanh kim loại vốn thẳng tắp và kiên cố nay đã bị vặn vẹo một góc mười lăm độ dưới sức ép của vách khoang. Lớp sơn tĩnh điện màu xám chuyên dụng phủ ngoài bề mặt đã bong tróc thành từng mảng sắc nhọn như dao cạo, cứa vào lớp vải sợi tổng hợp của găng tay cô phát ra tiếng sột soạt khô khốc. Cú giằng cơ học truyền thẳng từ thanh kim loại biến dạng qua cổ tay, dội ngược lên khớp bả vai trái khiến An Khuê nhăn mặt, một cơn đau buốt nhói chạy dọc các thớ cơ. Nhưng cơn đau thể xác ấy nhanh chóng bị đẩy lùi bởi một phản xạ nghề nghiệp sống còn đã ăn sâu vào tiềm thức sau hàng trăm giờ diễn tập thảm họa.

An Khuê đưa mắt nhìn xuống cổ tay trái, đưa hai ngón tay gõ nhẹ vào mặt kính sapphire của đồng hồ áp suất cá nhân tích hợp trên bộ đồ làm việc nội khoang.

Màn hình huỳnh quang đơn sắc chớp nháy liên hồi ba lần, các thuật toán đo đạc bù trừ nhiệt độ chạy qua một chuỗi mã lỗi trước khi hiện lên con số đo áp suất tĩnh: *94,2 kPa*. Áp suất khí quyển trong khoang đang tụt nhẹ so với mức chuẩn 101,3 kPa của chu trình sống tiêu chuẩn, nhưng tốc độ rò rỉ đã bắt đầu chững lại sau khi cánh cửa ngăn áp suất nặng nề ở vách phía sau sập xuống, cô lập phần đuôi khoang đang thủng.

Tuy nhiên, không khí bên trong lại là một thảm họa vi mô. Bụi băng siêu mịn — thứ tinh thể khô khốc, sắc lẹm như mạt kim loại bị nghiền nát từ vách nứt trên trần khoang dưới áp lực hàng trăm át-mốt-phe — vẫn đang lơ lửng dày đặc thành từng dải xoáy cuộn trong không khí. Chúng không chịu rơi xuống trong trường trọng lực yếu ớt, mà tán xạ dải quang phổ vàng cam của đèn khẩn cấp thành một quầng sương mờ đục, ma quái và lạnh buốt. Mỗi hơi thở của An Khuê đi qua phin lọc của chiếc mặt nạ dã chiến đều nghe nặng nề, rít ráo trong lồng ngực. Không khí khô khốc cào rát cổ họng, nồng nặc mùi ozon khét lẹt bốc ra từ những bảng mạch bán dẫn vừa bị đoản mạch và mùi tanh lạnh đặc trưng của hợp kim nhôm bị biến dạng cưỡng bức.

"Khuê! Cô có đứng vững được không?"

Tiếng Amara vang lên từ khoảng tối phía trước, đanh thép, vang vọng trong không gian kín nhưng không giấu nổi vẻ khàn đặc vì hít phải khói vi mạch. Vị chỉ huy người Kenya đang đứng tựa lưng vào một khung giằng chịu lực bằng thép hình chữ I. Hai chân cô móc chặt vào chốt hãm từ tính của sàn nhà để ghìm chặt cơ thể, chống lại sự bấp bênh trôi dạt của trọng lực yếu. Cánh tay phải của Amara, gân guốc và căng cứng dưới lớp áo áp suất, vẫn giữ chặt lấy đai lưng an toàn của Ingrid Solberg.

Vị bác sĩ trưởng người Na Uy đang thở dốc từng cơn ngắt quãng, trán vã mồ hôi lạnh dù nhiệt độ môi trường đang tụt dốc không phanh. Hai tay Ingrid ghì chặt chiếc hộp cứu thương dã chiến bằng vỏ composite màu cam trước ngực, đốt ngón tay trắng bệch ra vì dùng lực, như một người sống sót sau vụ đắm tàu đang ôm chặt lấy chiếc phao cứu sinh duy nhất giữa biển động gầm gào.

"Tôi không sao, Chỉ huy," An Khuê đáp, giọng nghẹn lại sau lớp màng lọc silicone khi cô cố kéo mình xuống gần mặt sàn hơn bằng lực của cánh tay phải còn nguyên vẹn.

Bằng một động tác dứt khoát đã thành bản năng sau sáu tháng sinh tồn dưới tầng đáy băng vĩnh cửu, cô gõ nhẹ gót giày bảo hộ vào nhau để kích hoạt cụm nam châm điện vĩnh cửu tích hợp dưới đế. Một tiếng *cạch* khô khốc, dứt khoát vang lên khi mặt từ tính bắt chặt lấy những tấm lót sàn bằng thép đục lỗ. Lực hút đưa cơ thể cô trở lại thế cân bằng vật lý, chấm dứt cảm giác mất phương hướng khó chịu của sự lơ lửng.

An Khuê rướn người nhìn xuyên qua đám bụi băng lờ lờ, chỉ tay về phía trước:

"Khớp nối mềm số ba ở ngay trước mặt chúng ta. Chúng ta phải vượt qua nó trước khi lớp băng bên ngoài ép biến dạng hoàn toàn khung vỏ."

Trước mắt họ, đoạn hành lang chuyển tiếp giữa Modul Sinh học và Hành lang Trục chính đang phát ra những tiếng rên rỉ đau đớn như một sinh thể bằng sắt thép đang bị hành quyết. Đó là một cấu trúc ống lượn sóng bằng vật liệu composite đa lớp — sự kết hợp giữa sợi aramid gia cường, cao su fluoroelastomer chịu cực hàn và các đai hợp kim titan có khả năng nhớ hình dạng. Kết cấu này được thiết kế riêng cho Trạm Ánh Sáng Europa nhằm mục đích duy nhất: co giãn, uốn lượn và hấp thụ những biến dạng cơ học nhẹ phát sinh định kỳ khi lực thủy triều của Sao Mộc kéo dãn lòng băng.

Nhưng lúc này, ống lượn sóng ấy đang bị vặn xoắn cơ học như một chiếc khăn ướt bị hai bàn tay vô hình vắt kiệt. Từng nếp gấp cao su bọc sợi carbon phồng rộp lên, nứt toác thành những rãnh trắng bệch; các vòng đai gia cường bằng titan bị xô lệch khỏi rãnh trượt dẫn hướng, nghiến vào nhau phát ra những tia lửa điện nhỏ li ti kèm theo tiếng ken két sởn gai ốc. Toàn bộ khẩu độ của đường ống đã bị bóp nghẹt lại, chỉ còn chừa ra một khe hẹp méo mó, lởm chởm những cạnh kim loại xé rách, vừa vặn cho một người nghiêng mình lách qua trong bộ đồ dã chiến.

"Tất cả chú ý bước chân," Amara ra lệnh, ánh mắt sắc lạnh của cô quét qua bóng tối chập chờn của đoạn đường ống biến dạng. "Trọng lực thấp sẽ khiến các bạn mất kiểm soát quán tính nếu lao quá nhanh qua điểm nghẽn. Chỉ cần trượt chân một milimet, lực văng sẽ đập thẳng người vào các ngạnh thép gãy. Giữ chặt cáp an toàn. Ingrid đi trước, Khuê bọc lót, tôi chốt đuôi. Di chuyển!"

Họ bắt đầu men theo thành đường ống đang oằn mình dưới sức ép cơ học tàn bạo của tầng băng xung quanh. Lớp băng vĩnh cửu ở độ sâu ba cây số rưỡi này không phải là một khối đá tĩnh lặng, rắn chắc và vô tri như đá hoa cương trên Trái Đất; nó là một thực thể bán dẻo khổng lồ, một khối băng biến chất luôn luôn chuyển động chậm chạp dưới áp suất hàng trăm át-mốt-phe. Khi đới đứt gãy Cổ Thạch trượt đi trong trận động băng vừa rồi, hàng triệu mét khối băng siêu đặc với nhiệt độ âm hơn một trăm độ đã trượt chéo qua thân trạm, biến từng khớp nối mềm thành những chiến trường giằng co khốc liệt giữa sức bền giới hạn của vật liệu nhân tạo và cơ học địa chất tàn nhẫn của thế giới ngoài hành tinh.

Mỗi khi một đợt dư chấn thứ cấp truyền qua khối móng của trạm, An Khuê có thể cảm nhận rất rõ qua đế giày từ tính những rung động răng rắc chạy dọc xương sống. Tấm ốp vách bên cạnh cô bất thần nứt toác ra với một tiếng nổ đanh như súng lục, để lộ lớp mút cách nhiệt màu xám xịt bên trong. Lớp vật liệu vốn xốp mềm nay đã bị đông cứng lại thành những vụn đá sắc lẹm dưới nhiệt độ cực hạn.

Không khí lạnh buốt từ các khe hở siêu vi bắt đầu rò rỉ vào trong khoang, mang theo cái rét âm một trăm ba mươi độ C của vỏ băng Europa. Luồng khí ấy chạm vào luồng không khí ấm còn sót lại trong hành lang tạo thành những cuộn sương mù đặc quánh. Những giọt mồ hôi vừa túa ra trên trán An Khuê do căng thẳng thần kinh nhanh chóng bị ngưng tụ và đóng thành những vảy muối buốt giá dưới chân tóc, dính chặt vào da đầu đau rát.

Đúng lúc đó, một âm thanh rè rè quen thuộc phát ra từ màng loa kim loại gắn ở góc trần hành lang. Hệ thống loa dự phòng — vốn chỉ chạy bằng đường dây đồng analog độc lập với mạng cáp quang chính vừa bị đứt gãy — rung lên với một âm sắc kim khí bằng phẳng, cơ học và không hề gợn chút hoảng loạn:

"Thông báo khẩn cấp từ hệ thống quản lý trạm Mây," giọng nói tổng hợp bằng tiếng Việt vang lên, chậm rãi, trầm tĩnh và rõ ràng một cách kỳ lạ giữa khung cảnh đổ nát và hỗn loạn. "Cảnh báo toàn thể phi hành đoàn: Mạng lưới cảm biến ghi nhận sụt lún cơ học cấp bốn tại Phân khu Động lực Kifaru và Hành lang Vận tải Số Một. Các cửa ngăn áp suất cấp ba đã tự động đóng chốt cơ học vĩnh viễn để bảo toàn áp suất thể tích lõi. Tuyến di chuyển chính qua Trục Giao thông A hiện không an toàn do rò rỉ dung môi làm mát."

Mây ngừng lại trong một phần tư giây, một khoảng lặng vi mô đủ để các mạch tính toán quang học định tuyến lại dòng dữ liệu qua hàng ngàn biến số lỗi vừa xuất hiện dồn dập trên sơ đồ mặt bằng:

"Yêu cầu các thành viên di chuyển theo Đường thoát hiểm Thứ cấp C-2, men theo vách ngăn khoang trữ nước xám để tập kết về Khoang Trú ẩn Hạt Nhân tại mô-đun lõi. Chỉ huy Amara, Bác sĩ Ingrid và Kỹ sư An Khuê: đoạn hành lang các bạn đang đi qua sẽ chịu ứng suất nén gia tăng thêm mười lăm phần trăm trong vòng bốn phút tới do sự dịch chuyển của mảng trượt Cổ Thạch. Đề nghị tăng tốc độ di chuyển lên không phẩy sáu mét trên giây."

"Đã rõ, Mây," Amara bấm ngón tay vào micro tích hợp ở cổ áo, đáp trả ngắn gọn. "Tình trạng của Ren và Luísa thế nào?"

"Kỹ sư Ishikawa và Chuyên gia Carvalho đã rời khỏi Phân khu Guará cách đây hai phút bốn mươi giây. Họ đang tiếp cận cửa gió Khoang Trú ẩn từ phía tây nam. Không có tín hiệu thương vong sinh học nào được ghi nhận từ vòng đeo tay y tế cá nhân, tuy nhiên nhịp tim của Chuyên gia Carvalho hiện đạt một trăm bốn mươi nhịp một phút."

"Bảo họ đứng yên tại cửa đón, không được tự ý quay lại lấy mẫu địa chấn," Amara gắt khẽ qua kẽ răng, bàn tay cô dùng lực đẩy mạnh Ingrid qua đoạn thắt hẹp cuối cùng của khớp nối mềm. "Chúng tôi đến ngay."

Họ trượt mình qua khe cửa kim loại méo mó. Ingrid trườn qua trước, lúng túng nhưng cẩn trọng bảo vệ chiếc hộp y tế. An Khuê nép sát người, nén lồng ngực lại để lách qua mép kim loại nham nhở. Cô là người cuối cùng vượt qua điểm nghẽn.

Ngay khoảnh khắc đế giày từ tính của An Khuê vừa dứt khỏi mép rãnh trượt của sàn kim loại, một tiếng *rầm* vang dội như sấm sét dội thẳng vào màng nhĩ: khớp nối mềm số ba vừa bị lực ép khủng khiếp bên ngoài vặn gãy chốt định vị bằng titan cuối cùng. Lớp vỏ composite đa tầng rách toạc ra rồi bẹp dúm lại như một vỏ đồ hộp rỗng bị giẫm đạp dưới gót giày, đóng sầm toàn bộ khẩu độ thông đạo và chặn đứng hoàn toàn con đường quay trở lại Khoang Sinh học Lam.

An Khuê giật mình quay đầu, bám chặt tay vịn nhìn lại qua ô kính quan sát dày ba lớp nay đã rạn nứt chằng chịt như mạng nhện.

Phía sau cánh cửa vỡ nát ấy, khu vườn ươm tảo Spirulina platensis — công trình mà cô đã dành trọn sáu tháng ròng rã dưới đáy băng để chăm sóc, điều chỉnh từng micromol photon và cân bằng từng nồng độ dưỡng chất — đã bị xé toạc. Những bể nuôi sinh học bằng kính hữu cơ cường lực vỡ vụn dưới áp suất âm, dung dịch nuôi cấy màu xanh lục sẫm bắn tung tóe vào không gian rồi đóng băng ngay tức khắc thành những bông hoa tuyết màu lục kỳ dị trong bóng tối vĩnh hằng. Nơi lưu giữ mầm sống mong manh của cả phi hành đoàn đã hoàn toàn chìm vào vùng chân không cục bộ.

Một cảm giác thắt nghẹn cay đắng dâng lên nơi cuống họng An Khuê, kéo theo nỗi ân hận âm ỉ, nhức nhối về khay tảo số hiệu B-09 đang trong chu kỳ suy thoái mà cô đã hẹn sáng nay sẽ cấy chuyển sang môi trường thạch mới nhưng chưa kịp làm. Mọi công sức, mọi hy vọng về một chu trình oxy độc lập của trạm đã biến thành tro bụi trong chớp mắt. Nhưng cô biết mình không có lấy một giây để tiếc thương hay hoài niệm.

"Khuê, đi tiếp!" Giọng Amara kéo cô giật lùi về thực tại tàn khốc.

Trước mặt họ, ở cuối đoạn hành lang thứ cấp C-2 ẩm ướt và lờ nhờ ánh đèn phụ, cánh cửa tròn bằng hợp kim boron-chì nặng sáu tấn của Khoang Trú ẩn Hạt Nhân đang mở hé một khoảng vừa đủ một người nghiêng mình lách vào. Luồng ánh sáng màu vàng nhạt, ổn định phát ra từ hệ thống máy phát RTG độc lập bên trong hắt ra sàn hành lang như một ốc đảo ấm áp giữa vùng đất chết.

Hai bóng người trong bộ đồ bảo hộ dệt bằng sợi Kevlar dính đầy bụi băng trắng xóa đang loay hoay, chật vật ở ngưỡng cửa kim loại.

"Kéo chốt thủy lực xuống! Luísa, đừng nhìn vào bảng đồng hồ nữa, kéo chốt bằng tay đi!"

Tiếng của Ren Ishikawa vang lên giòn giã qua kênh đàm thoại nội bộ, giọng anh mang theo sự gay gắt hiếm thấy, hoàn toàn đối lập với phong thái bông đùa, cợt nhả thường ngày ở Xưởng Robot Tanuki. Ren đang dùng một tay ghì chặt một chiếc khay kim loại chống sốc chứa đầy những phiến vi mạch bán dẫn, bảng mạch quang tử và các ổ cứng quang học tháo dời — những khối óc điện tử dự phòng vô giá của hệ thống tàu lặn Nereid và các robot bảo trì tự hành. Dưới nách trái của anh, một cánh tay robot mini hiệu Tanuki-4 vẫn đang được cấp nguồn tạm thời, kẹp chặt lấy một cuộn băng keo cách điện chân không to bản như một đứa trẻ ôm chặt món đồ chơi yêu thích.

Bên cạnh anh, Luísa Carvalho đang quỳ sụp một gối trên sàn thép đục lỗ, hai bàn tay bọc găng run rẩy bám lấy gờ điều khiển cơ học của cửa khoang. Mặt kính mũ bảo hộ của cô đọng đầy hơi nước mờ mịt do nhịp thở dồn dập, che khuất một phần gương mặt tái nhợt. Đôi mắt mở to, hoảng loạn của nhà địa chất học người Brazil dán chặt vào màn hình phụ của máy phân tích biến dạng vỏ trạm cầm tay:

"Không thể nào... Ren, nhìn này! Nhìn vào ten-xơ ứng suất của mảng trượt đi!" Giọng Luísa vỡ ra từng chặp qua micrô, run rẩy và lạc hẳn đi khi ngón tay cô run rẩy trỏ vào một loạt cột đồ thị đang nhấp nháy đỏ rực trên màn hình tinh thể lỏng. "Đầu đo số bốn, số bảy, số mười hai... toàn bộ mạng lưới đo độ biến dạng ở vành đai ngoài đều nhảy vọt quá ngưỡng ba trăm megapascal! Vỏ ngoài của trạm không phải đang bị uốn cong cơ học thông thường nữa, nó đang bị nghiền nát! Toàn bộ đới đứt gãy Cổ Thạch đang trượt xuống rãnh sụt sâu thêm mười hai mét—"

"Luísa! Nhìn tôi này!"

Ren cúi rạp người xuống, đưa cánh tay máy mini Tanuki-4 gõ côm cốp vào vành mũ bảo hộ của cô để cưỡng bức cô dứt mắt ra khỏi bảng số liệu chết chóc. Động tác thô bạo nhưng cần thiết ấy làm rung chuyển lớp kính chắn gió của Luísa:

"Chúng ta đang đứng ngay trước cửa Khoang Trú ẩn Hạt Nhân! Chỗ này có ba mươi centimet chì đặc và một lớp đệm gốm hấp thụ xung lực dày nửa mét! Băng bên ngoài có sụp đổ hoàn toàn thì cái kén này cũng chỉ bị ép chặt lại như một viên đạn đại bác chứ không thể vỡ được đâu! Thở đi! Hít vào bằng mũi, thở ra bằng mồm, hít sâu vào! Như bài tập lặn tự do ở bãi biển Salvador mà cô vẫn hay khoe ấy, nhớ không?"

"Đủ rồi, hai người vào trong ngay!"

Amara xuất hiện phía sau họ như một bóng đen sừng sững, mang theo uy quyền sắt đá của người chỉ huy tối cao. Bằng một động tác dứt khoát, không dung thứ cho bất kỳ sự chậm trễ hay tranh cãi nào, Amara nắm lấy vai Luísa lôi mạnh vào trong, đồng thời đẩy cả Ren lẫn khay vi mạch qua bậu cửa. An Khuê và Ingrid nhanh chóng lách mình vào theo. Amara là người cuối cùng bước qua ngưỡng cửa, hai tay cô nắm chặt lấy cần gạt cơ học màu đỏ trên vách kim loại dày dặn và kéo mạnh xuống hết nấc.

*Xìííí!*

Hệ thống chốt nêm khí nén áp lực cao bung ra với một tiếng rít khô khốc vang dội. Sáu mấu khóa bằng hợp kim titan nguyên khối cỡ cổ tay đồng loạt cắm phập vào các hốc âm trên khung cửa vòm, đóng kín hoàn toàn khoang trú ẩn hạt nhân với phần còn lại của trạm nghiên cứu.

Ngay khi chốt khóa ăn khớp, mọi tiếng xì xào của bụi băng rò rỉ, mọi tiếng rên xiết của lớp vỏ composite bên ngoài và tiếng gầm trầm đục của lục địa băng lập tức bị dập tắt hoàn toàn phía sau cánh cửa chì dày ba mươi centimet. Thay vào đó là một sự im lặng nặng nề, ngột ngạt đến nghẹt thở bao trùm lấy không gian kín mít, chỉ còn lại tiếng rù rì đơn điệu, đều đặn của quạt thông gió chạy bằng ắc quy dự phòng và tiếng thở dốc hỗn loạn của năm con người vừa thoát khỏi lưỡi hái tử thần.

Khoang Trú ẩn Hạt Nhân thực chất là một hình trụ rỗng bằng thép boron và chì, có đường kính chưa đầy bốn mét, nằm ở vị trí trung tâm hình học chính xác nhất của toàn bộ Trạm Ánh Sáng Europa. Đây là pháo đài cuối cùng, nơi được bảo vệ nghiêm ngặt nhất của công trình, ban đầu được thiết kế để che chở cho toàn bộ phi hành đoàn trong hai kịch bản tận cùng: lò phản ứng hạt nhân Kifaru phát nổ bức xạ hoặc các cơn bão hạt tích điện cực mạnh từ từ quyển Sao Mộc xuyên thủng ba cây số rưỡi tầng băng bảo vệ.

Ở đây tuyệt nhiên không có giường ngủ êm ái, không có không gian làm việc rộng rãi hay những ô kính quan sát ngắm nhìn lòng băng; toàn bộ khoang chỉ có những hàng ghế gập bọc đệm cao su giảm chấn xếp dọc theo vách kim loại uốn cong, những hộp khẩu phần khẩn cấp dán nhãn dạ quang màu xanh lá cây, các bình tích khí nén oxy dã chiến, và một bảng điều khiển analog thô sơ với các công tắc cơ học kết nối trực tiếp với các hệ thống sống còn thông qua các đường dây cáp độc lập.

Không lãng phí một giây nào, Ingrid Solberg lập tức tháo phăng đôi găng tay dã chiến dày cộm ném xuống sàn, rồi đặt mạnh chiếc hộp sơ cứu màu cam lên mặt chiếc bàn gập bằng kim loại ở giữa phòng. Chiếc khóa hộp bật mở tanh tách. Bản năng nghề nghiệp của một bác sĩ từng có mười năm phục vụ tại các tiền đồn khai thác mỏ cô lập nhất ở quần đảo Svalbard trỗi dậy mạnh mẽ, lấn át hoàn toàn nỗi sợ hãi ban nãy.

"Ngồi xuống hết! Tất cả cởi khóa mũ bảo hộ ra ngay lập tức!" Ingrid ra lệnh, giọng cô lạnh băng, sắc bén và dứt khoát như một nhát dao mổ rạch qua bầu không khí ngột ngạt. "Không một ai được phép chạm tay vào bảng điều khiển hay bất kỳ thiết bị nào cho đến khi tôi kiểm tra xong độ bão hòa oxy mô và các tổn thương va đập cơ học!"

Không chờ đợi phản hồi, Ingrid túm lấy cánh tay An Khuê, kéo cô ngồi xuống chiếc ghế gập gần nhất. Vị bác sĩ thuần thục bật một chiếc đèn soi đồng tử cầm tay nhỏ bằng cây bút kim loại, rọi thẳng luồng ánh sáng trắng sắc lạnh vào từng bên mắt cô kỹ sư sinh học.

"Phản xạ đồng tử bình thường, đáy mắt không có dấu hiệu xuất huyết vi mạch," Ingrid vừa nói nhanh vừa dùng mu bàn tay nâng cằm An Khuê lên, quan sát niêm mạc miệng và cánh mũi. "Hơi thở có mùi khét của nhựa cháy không? Có cảm thấy vị kim loại lạ trong miệng hay nhìn thấy những đốm đen trôi nổi trong tầm nhìn không?"

"Không, tôi không thấy đốm đen," An Khuê khẽ đáp, giọng vẫn còn khô khốc.

Vừa nghe câu trả lời, Ingrid đã buông đèn soi xuống, luồn hai ngón tay cái và ngón trỏ vào khớp vai và xương đòn của An Khuê, ấn mạnh vào các điểm chịu lực quan trọng dọc theo vùng ngực trên và bả vai.

"Á..." An Khuê khẽ nhăn mặt, cơ thể hơi co rúm lại khi đầu ngón tay của vị bác sĩ chạm đúng vào vết bầm tím đang lan rộng ở bả vai trái — dấu vết của cú va đập cơ học cực mạnh khi cô bám giằng trên thanh tay vịn xoắn vặn ngoài hành lang lúc nãy.

"Đau ở đây đúng không?" Ingrid hỏi dồn dập, ngón tay tiếp tục miết dọc theo xương sườn số ba và số bốn.

"Chỉ là va đập phần mềm thôi, Ingrid," An Khuê cố nén tiếng thở hắt ra, gượng cười trấn an. "Tôi tự kiểm tra cử động rồi. Khớp vai không trật, xương sườn không gãy, biên độ vận động của tay vẫn bình thường. Hãy kiểm tra cho Amara trước đi. Cô ấy vừa chốt đuôi suốt đoạn đường."

Ingrid dừng tay ngay lập tức. Đôi mắt màu xanh xám sắc sảo của vị bác sĩ quay phắt sang phía người phụ nữ đang đứng ở góc đối diện.

Amara vừa tháo chiếc mũ bảo hộ nặng nề ra khỏi cổ áo, để lộ mái tóc cắt ngắn sát da đầu ướt đẫm mồ hôi. Làn da màu nâu sẫm của cô căng cứng lại như một dải da thuộc phơi nắng, cơ mặt đanh lại trong một vẻ tập trung cao độ. Vị chỉ huy đang đứng thẳng tắp cạnh bảng giao diện dự phòng của Mây, lưng dựa hờ vào vách kim loại để giữ thăng bằng. Nhưng trong một khoảnh khắc ngắn ngủi — khi ánh đèn vàng cam của máy phát RTG nhấp nháy liên hồi do hệ thống chuyển mạch tự động đang chuyển đổi các nhánh cấp điện — An Khuê nhìn thấy rất rõ ngón tay cái bên phải của Amara khẽ đưa lên, ấn sâu vào hõm thái dương bên phải của cô.

Cơ hàm của Amara siết chặt lại đến mức hai khối cơ cắn nổi cộm lên dưới làn da gầy gò. Khóe mắt bên phải của cô giật giật từng cơn trong một thoáng biểu cảm đau đớn tột cùng, một sự co thắt tàn bạo dường như đang xé rách màng não của người chỉ huy, như thể có một mũi kim thép nung đỏ vừa đâm xuyên qua hộp sọ từ bên trong.

Đó không phải là sự mệt mỏi thể xác thông thường sau một cuộc tháo chạy sinh tử. Đó là triệu chứng điển hình của một cơn đau đầu vận mạch dữ dội — hậu quả của phản ứng co thắt mạch máu não cục bộ do stress cấp tính cực hạn kết hợp với sự thay đổi áp suất đột ngột trong khoang khi khớp nối mềm bị vỡ.

Ingrid tiến lại gần Amara chỉ trong tích tắc, bước chân dứt khoát không để lại một tiếng động thừa trên sàn thép. Đôi mắt vị bác sĩ nheo lại, bắt trọn từng cử chỉ vi mô nhỏ nhất trên khuôn mặt người chỉ huy: từ nhịp giật của khóe mắt, bờ môi mím chặt cho đến sự căng cứng bất thường của các tĩnh mạch nổi rõ ở vùng cổ.

Không cần hỏi han một lời thừa thãi nào, Ingrid giơ chiếc máy quét sinh trắc học cầm tay lên, quét một đường hồng ngoại dứt khoát ngang qua trán và thái dương của Amara. Thiết bị phát ra tiếng *bíp* trầm đục, các dải thông số sinh tồn lập tức nhảy múa trên màn hình tinh thể lỏng nhỏ xíu.

"Huyết áp một trăm sáu mươi trên một trăm. Mạch một trăm mười lăm. Nhịp thở nhanh nông," Ingrid thì thầm, giọng hạ thấp xuống mức chỉ đủ hai người nghe, nhưng An Khuê đứng ngay cạnh đó vẫn nghe rõ

từng từ. "Cô đang bị đau đầu vận mạch, Amara. Đồng tử mắt phải của cô đang giãn nhẹ hơn mắt trái không phẩy hai milimet. Ngồi xuống. Tôi sẽ tiêm một liều an thần liều thấp và giãn mạch."

"Không thuốc men gì hết, Ingrid," Amara gạt phắt tay vị bác sĩ ra, giọng cô khàn đặc nhưng kiên quyết đến mức tàn nhẫn. Cô hạ bàn tay đang áp chặt nơi thái dương xuống, để lộ vùng da trán tái ngắt vì thiếu máu cục bộ, nhưng nét mặt đã lập tức phẳng lặng trở lại như một mặt hồ đóng băng, như thể cơn co giật tàn bạo ban nãy chỉ là một ảo ảnh quang học thoáng qua dưới ánh đèn chập chờn. "Tôi cần một cái đầu hoàn toàn tỉnh táo trong mười hai giờ tới. Đưa cho tôi hai viên giảm đau paracetamol thông thường và một túi nước điện giải. Đó là mệnh lệnh."

Ingrid nhìn trừng trừng vào Amara trong ba giây dài nghẹt thở. Không khí bên trong khoang trú ẩn lạnh dần từng khắc, sực mùi bụi bọc gốm cách nhiệt bị xé rách và mùi kim loại nóng ran bốc ra từ khối nguồn phụ. Sự căng thẳng giữa quyền hạn y khoa tuyệt đối của bác sĩ trưởng và quyền chỉ huy tối cao của người lãnh đạo trạm bùng lên như một tia lửa vô hình giữa hai người phụ nữ. Ingrid siết chặt ngón tay quanh thân chiếc máy quét sinh trắc, ngón trỏ khẽ run lên trước những chỉ số nhịp tim đang nhấp nháy đỏ rực trên màn hình OLED. Cuối cùng, nhận thức được sự bướng bỉnh sắt đá không thể lay chuyển của người đối diện, Ingrid thở hắt ra một hơi qua kẽ răng, quay phắt người lại chiếc hộp cấp cứu dã chiến gắn trên vách thép:

"Hai viên năm trăm miligram. Nhưng nếu nhịp tim của cô vượt qua một trăm ba mươi, tôi sẽ dùng thẩm quyền y tế để tước quyền vận hành của cô ngay lập tức, Amara. Đừng biến mình thành một vị tử vì đạo ngu ngốc ở cái xó âm độ này."

Vị bác sĩ xé toạc lớp giấy bạc của vỉ thuốc bằng một động tác dứt khoát, ném hai viên nén màu trắng cùng một túi dung dịch điện giải đẳng trương có van hút vào lòng bàn tay Amara.

Amara không đáp lấy nửa lời. Cô tống trọn hai viên thuốc vào sâu cuống họng, ngậm lấy ống hút của túi dung dịch rồi nuốt chửng thứ chất lỏng lạnh ngắt, hơi lợ mùi muối khoáng và kali. Cổ họng cô giật mạnh khi dòng nước chảy xuống lồng ngực đang căng rát. Bằng một cử chỉ quả quyết, cô quẳng túi rỗng vào khay rác tái chế, rồi quay hẳn người về phía màn hình hiển thị trung tâm của khoang trú ẩn — một tấm nền kính cường lực phủ graphene rộng hai mét, hiện thời vẫn chỉ phản chiếu những vệt sáng vàng cam leo lét của máy phát đồng vị phóng xạ RTG.

"Mây, kích hoạt giao diện chỉ huy khẩn cấp," Amara cất giọng đanh gọn, âm vực trầm vang lấn át tiếng rít gió đều đặn từ van xả khí áp lực cao. "Hoàn tất việc tự kiểm tra phần cứng toàn trạm và báo cáo hiện trạng. Cho chúng tôi biết bức tranh toàn cảnh. Đừng làm mịn số liệu, tôi muốn sự thật trần trụi."

Không gian tĩnh lặng lại bao trùm trong hai giây dài đặc quánh. Sâu bên dưới lớp sàn lưới kim loại của khoang trú ẩn, nơi các khối gốm chống bức xạ bảo vệ cụm vi xử lý quang học dự phòng của Mây, những chùm photon bắt đầu chạy qua hàng triệu cổng logic lượng tử. Hệ thống thần kinh nhân tạo của Trạm Ánh Sáng Europa đang chật vật tái lập liên kết với những cụm cảm biến phân tán còn sót lại sau cơn chấn động tàn khốc.

Bức tường kim loại trước mặt họ đột ngột sáng bừng lên. Giao diện phẳng của Mây bung tỏa ra, nhưng thay vì sơ đồ phân tầng màu xanh lục dịu mắt như những ngày vận hành tiêu chuẩn, toàn bộ đồ họa cấu trúc của trạm nghiên cứu nay bị xé nát thành từng mảng màu hổ phách, vàng cam và đỏ thẫm. Hàng trăm thông số kỹ thuật chạy dọc màn hình với tốc độ chóng mặt, kèm theo một biểu đồ không gian ba chiều mô phỏng cấu trúc ngầm của trạm dưới lớp băng, nơi các vết nứt đứt gãy địa chất hiển thị như những vệt cắt sâu hoắm vào thân thể kim loại của công trình.

"Báo cáo chẩn đoán phần cứng và an toàn kết cấu hoàn tất," giọng nói của Mây vang lên từ cụm loa vách, đều đặn, chính xác, không một chút biểu cảm nhưng mang sức nặng của một bản án tử hình treo:

"Hạng mục một: Hệ thống Năng lượng Sơ cấp. Lò phản ứng phân hạch mô-đun Kifaru đã kích hoạt quy trình SCRAM tự ngắt khẩn cấp vào thời điểm T cộng bốn mươi lăm giây sau đợt sóng địa chấn chính. Nguyên nhân: Cảm biến áp lực phát hiện biến dạng cơ học vượt ngưỡng cho phép tại đường ống dẫn chất làm mát số hai thuộc vòng sơ cấp. Các thanh điều khiển bằng hợp kim boron đã rơi tự do vào tâm lò hoàn toàn dưới tác dụng của lò xo nén khẩn cấp. Lò phản ứng hiện ở trạng thái tắt nguội an toàn, không có rò rỉ phóng xạ hạt nhân ra môi trường xung quanh."

Ren Ishikawa thở phào một tiếng rất khẽ, hai vai anh chùng xuống sau lớp áo giữ nhiệt dày cộp: "Tạ ơn trời... ít nhất chúng ta không bị luộc chín bởi hơi nước nhiễm xạ."

"Tuy nhiên," Mây tiếp tục ngay lập tức, giọng kim khí lạnh buốt cắt đứt tia nhẹ nhõm vừa lóe lên của Ren, "do đường làm mát số hai bị bẹp dúm và van an toàn bị kẹt ở trạng thái mở một phần, chúng ta không thể tái kích hoạt lò Kifaru từ xa thông qua phần mềm điều khiển trung tâm. Nhiệt độ tâm lò đang giảm nhanh. Nếu không có dòng nhiệt duy trì, khối chất làm mát kim loại lỏng trong nhánh phụ sẽ bắt đầu đông kết trong vòng ba mươi sáu giờ, gây tắc nghẽn vĩnh viễn hệ thống trao đổi nhiệt."

"Nghĩa là chúng ta đang mất nguồn điện chính," Luísa lẩm bẩm, hai bàn tay cô bấu chặt vào ống quần bảo hộ dính đầy bụi băng. Đôi môi cô tái nhợt đi khi nhìn vào dòng biểu đồ công suất đang tụt dốc không phanh. "Chúng ta đang chạy bằng cái gì? Máy phát RTG này à?"

"Máy phát nhiệt điện đồng vị chỉ cung cấp công suất định mức ba phẩy hai kilowatt," Mây giải thích, một biểu đồ phân bổ tải điện hiện lên góc trái màn hình, với những thanh màu xám xịt đại diện cho các phân khu đã hoàn toàn tê liệt. "Mức năng lượng này chỉ đủ để duy trì dải đèn khẩn cấp, hệ thống tuần hoàn khí tối thiểu trong khoang trú ẩn và các bộ vi xử lý cốt lõi của tôi. Tất cả các hệ thống sưởi ấm cục bộ, thiết bị thủy canh, máy ly tâm y tế và phân xưởng cơ khí đều đã bị ngắt điện tự động."

"Còn các cụm pin tích năng hóa học của trạm thì sao?" An Khuê sốt ruột cất tiếng hỏi. Là một kỹ sư sinh học, cô biết rất rõ rằng hệ sinh thái trong Khoang Sinh học Lam và hệ thống lọc nước tuần hoàn không thể tồn tại chỉ với vài kilowatt điện cỏn con từ RTG. Nếu không có dòng điện sưởi, các bể nuôi cấy vi sinh sẽ đông cứng thành đá tảng chỉ trong vòng vài chục giờ, giết chết toàn bộ những mầm sống cực đoan mà họ đã kỳ công thu thập suốt ba năm qua từ vùng biển thẳm.

"Đang chuyển sang Hạng mục hai: Tình trạng Tích trữ Năng lượng," Mây đáp. Đồ thị chuyển sang một thanh đo màu vàng sẫm. "Tổ hợp ắc quy lithium-lưu huỳnh dự phòng tại Tầng kỹ thuật B hiện còn chín mươi mốt phần trăm dung lượng khả dụng. Tuy nhiên, do ba trong số sáu phân vùng ắc quy bị cô lập bởi rơ-le nhiệt sau chấn động, tổng năng lượng hữu dụng hiện tại là bốn trăm hai mươi kilowatt-giờ."

"Bốn trăm hai mươi..." Ren tính nhẩm rất nhanh trong đầu, mặt anh thoáng chốc tái mét đi dưới ánh sáng vàng đục. Đôi môi anh mấp máy những phép chia cơ bản nhưng tàn khốc: "Nếu chỉ chạy tải sinh tồn thiết yếu — nghĩa là máy tái tạo oxy, máy hấp thụ CO2 và máy bơm nhiệt giữ ấm tối thiểu cho khoang trú ẩn này ở mức mười độ C..."

"Thời gian duy trì tối đa là bảy mươi hai giờ," Mây xác nhận con số nghiệt ngã. "Chính xác là bảy mươi mốt giờ bốn mươi lăm phút trước khi điện áp tụt xuống dưới ngưỡng duy trì sự sống cơ bản của con người."

Một khoảng lặng nghẹt thở đè nặng lên năm con người trong khoang kín. Tiếng máy nén khí phụ trút hơi thở nặng nhọc qua ống dẫn trần nhà như đếm từng nhịp gõ của thần chết.

Bảy mươi hai giờ. Ba ngày ngắn ngủi ngăn cách giữa họ và sự đóng băng vĩnh cửu trong lòng Europa. Mọi kế hoạch dài hạn, mọi giấc mơ về mười bốn tháng kiên cường chờ đợi con tàu tiếp tế Umoja từ Trái Đất bỗng chốc trở nên xa vời và mong manh như một làn khói bốc lên giữa khoảng không vô tận. Tàu Umoja hiện thời vẫn còn đang lênh đênh ở một tọa độ nào đó giữa quỹ đạo Sao Hỏa và Vành đai Tiểu hành tinh, cách xa họ hàng trăm triệu cây số không gian trống rỗng, không thể nào vươn tới được một góc nhỏ đang chìm dần vào băng giá này.

"Vẫn còn Hạng mục ba và bốn, thưa Chỉ huy," Mây đều đặn tiếp tục, không cho phép họ chìm vào sự bàng hoàng hay có lấy một giây để tiếc thương cho chính mình. "Hạng mục ba: Giếng khoan ngầm Borealis. Trục giếng khoan thẳng đứng nối từ sàn trạm xuống đại dương ngầm đã chịu ứng suất cắt ngang tại độ sâu một phẩy một kilomet và hai phẩy bốn kilomet. Cấu trúc ống lót nhiệt bị vặn lệch tâm khoảng mười tám centimet. Tàu lặn Nereid vẫn đang neo đậu tại Cánh đồng Gương Sống ở độ sâu một trăm linh tám kilomet, nhưng đường cáp quang và cáp điện tải lực truyền qua giếng Borealis đang ghi nhận sự gia tăng đột biến của điện trở suy hao. Nguy cơ nước biển tái đông quanh miệng giếng bên dưới là chín mươi hai phần trăm nếu hệ thống gia nhiệt giếng không được cấp điện trở lại trong vòng mười tám giờ."

An Khuê cắn chặt môi dưới cho đến khi nếm thấy vị mằn mặn của máu thấm qua đầu lưỡi. Cánh đồng Gương Sống. Hàng vạn đốm sáng màu ngọc lam bùng cháy đồng pha ngay trước thời điểm địa chấn hiện về rõ mồn một trong tâm trí cô như một vết dao cứa. Tàu Nereid vẫn còn sống sót ở dưới đáy biển sâu thẳm kia, như một con mắt đơn độc của loài người đang mở trừng trừng vào một kỳ quan sinh học ngoài Trái Đất, nhưng sợi dây liên kết mong manh nối nó với họ đang bị lớp băng nghiền nát từng phút một. Nếu nước biển mặn tái đông trong giếng khoan, áp suất nở ra của lớp băng non sẽ đè bẹp ống lót titan, chôn vùi vĩnh viễn con tàu lặn cùng toàn bộ dữ liệu quang học vô giá về một nền sinh quyển chưa từng được khám phá.

"Và Hạng mục cuối cùng," giọng Mây bỗng nhiên hạ xuống một tông, màng loa kim loại phát ra một tiếng rè nhỏ như tiếng thở dài vô thức của một thực thể máy móc đang chạm tới giới hạn tính toán của chính mình. "Hệ thống Liên lạc Không gian Sâu."

Một hình ảnh đồ họa mới hiện lên: mô hình mặt cắt của lớp vỏ băng ba cây số rưỡi, kéo dài từ trạm ngầm Borealis thẳng đứng lên bề mặt gồ ghề của Europa, nơi đặt Đài Bề mặt Kepler — trạm ăng-ten parabol khổng lồ đóng vai trò là chiếc mồm và chiếc tai duy nhất của họ hướng về Trái Đất.

Giữa mô hình ấy, một đường kẻ màu xanh lục biểu thị tuyến cáp quang bọc giáp siêu bền chạy dọc trục nâng kỹ thuật đột ngột đứt đoạn. Tại vị trí cách mặt băng tám trăm mét, một dấu chéo đỏ rực nhấp nháy liên hồi, đi kèm dòng chú giải cảnh báo đứt mạch truyền dẫn quang học cấp một.

"Phân tích phản xạ miền thời gian quang học (OTDR) xác nhận: Tuyến cáp quang chính nối từ trạm lên Đài Kepler trên mặt băng đã bị đứt lìa hoàn toàn tại độ sâu tám trăm mét," Mây công bố. "Khu vực đứt gãy trùng khớp với đới trượt ngang nông của thung lũng rạn nứt Rhadamanthys Linea. Bộ chuyển tiếp vô tuyến dự phòng trên trục nâng cũng không phản hồi tín hiệu. Chúng ta đã mất hoàn toàn đường truyền dữ liệu và lệnh điều khiển với ăng-ten mặt băng."

Căn phòng rơi vào một trạng thái tĩnh lặng tuyệt đối, một thứ tĩnh lặng rợn người hơn cả cơn động băng lúc trước. Không ai dám thở mạnh. Âm thanh duy nhất còn tồn tại là tiếng rít khẽ của van tiết lưu và tiếng tim đập dồn dập trong lồng ngực của từng người.

Luísa Carvalho gục đầu vào hai bàn tay, những lọn tóc đen xoăn xõa xuống che khuất khuôn mặt mệt mỏi và đôi vai đang run lên nhè nhẹ. Ren Ishikawa đứng chết trân, bàn tay anh siết chặt lấy khay linh kiện vi mạch đến mức các khớp ngón tay trắng bệch, những góc nhọn của bảng mạch in ấn sâu vào lòng bàn tay trần nhưng anh dường như không còn cảm giác đau đớn. Ingrid Solberg khẽ thở dài, một hơi thở trĩu nặng sự bất lực được che giấu vụng về, rồi lặng lẽ với lấy cuốn sổ tay y tế dã chiến, bắt đầu ghi chép lại những chỉ số sinh tồn của từng người bằng cây bút bi cơ học — thứ công cụ nguyên thủy hiếm hoi không phụ thuộc vào điện năng hay thuật toán vi mạch. Tiếng ngòi bút cào sột soạt trên mặt giấy tái sinh vang lên đơn độc, nghe như tiếng móng tay cào vào vách đá của một kẻ bị giam cầm dưới hầm sâu.

Họ đã bị chôn sống.

Hiện thực tàn bạo đó giáng xuống tâm trí mỗi người như một khối băng tảng. Không có lò phản ứng Kifaru, họ chỉ có bảy mươi hai giờ dưỡng khí và nhiệt độ trước khi cơ thể chuyển thành những xác ướp đông lạnh trong hốc tối. Không có giếng Borealis, họ mất dấu vết của đại dương ngầm và công trình nghiên cứu cả đời mà họ đã đánh đổi gia đình, tuổi trẻ và sự an toàn trên Trái Đất để theo đuổi. Và không có Đài Kepler, họ hoàn toàn vô hình trước nhân loại. Cách xa Trái Đất hơn sáu trăm triệu cây số, trong một hốc băng tối tăm dưới bầu trời bức xạ chết chóc của Sao Mộc, không ai biết họ còn sống, không ai nghe thấy tiếng kêu cứu, và không có bất kỳ con tàu cứu hộ nào có thể xuất phát nếu không nhận được tọa độ khẩn cấp từ ngọn hải đăng Kepler.

"Mọi người, nhìn tôi."

Tiếng nói của Amara Njoroge vang lên, không lớn nhưng mang một uy quyền thép làm tan biến bầu không khí tuyệt vọng đặc quánh trong khoang trú ẩn.

Vị chỉ huy đứng thẳng người, hai chân dang rộng bằng vai, bám chắc vào sàn kim loại gồ ghề. Ánh đèn vàng cam hắt lên khuôn mặt góc cạnh của cô những mảng sáng tối dữ dội, che giấu hoàn toàn cơn đau đầu đang cào xé sau hốc mắt. Dưới tác dụng của hai viên thuốc giảm đau và ý chí sinh tồn phi thường, cơ mặt cô đã dãn ra, phẳng lặng và lạnh lẽo như đá bazan. Ánh mắt cô quét qua từng gương mặt một: từ vẻ bàng hoàng của Luísa, sự căng thẳng của Ren, nét âu lo trĩu nặng của An Khuê, cho đến sự cảnh giác sắc bén của Ingrid.

"Điểm danh," Amara nói, giọng cô lạnh lùng và dứt khoát như một chiếc đồng hồ bấm giờ quân sự, không chứa đựng một gợn run rẩy nào. "Hồ An Khuê?"

"Có mặt," An Khuê ngẩng đầu lên, hít một hơi sâu qua lồng ngực đau nhức, ánh mắt cô bắt gặp tia nhìn kiên định của người chỉ huy.

"Ren Ishikawa?"

"Có mặt... cùng với một nửa bộ não của Nereid," Ren cố nặn ra một nụ cười méo mó, nâng chiếc khay vi mạch lên ngang ngực như một tấm khiên che chắn bản thân trước nỗi kinh hoàng.

"Luísa Carvalho?"

Luísa giật mình, ngước đôi mắt đỏ hoe lên nhìn chỉ huy, rồi nuốt nước bọt, cố gom lại chút can đảm vụn vặt: "Có mặt."

"Ingrid Solberg?"

"Có mặt, và đang theo dõi huyết áp của tất cả các người," vị bác sĩ đáp gọn ghẽ, gõ nhẹ đuôi bút bi lên trang giấy đã ghi kín các thông số nhịp tim và áp suất động mạch.

"Và tôi, Amara Njoroge," cô tự điểm danh tên mình. "Phi hành đoàn sáu người của Trạm Ánh Sáng Europa — tính cả Mây — hiện có đủ năm cá thể sống sót bằng xương bằng thịt. Không ai thiệt mạng trong cơn chấn động bảy phẩy tám độ Richter. Không ai bị chấn thương sọ não hay gãy xương hở. Đó là chiến thắng đầu tiên của chúng ta trong ngày hôm nay."

Cô bước một bước về phía bảng điều khiển của Mây, đặt bàn tay trần lên mặt kính cảm ứng lạnh ngắt, nơi các đồ thị năng lượng vẫn đang nhấp nháy cảnh báo nguy kịch:

"Chúng ta không có thời gian để hoảng loạn, và chúng ta chắc chắn không có năng lượng để ngồi đây thương hại chính mình. Quy tắc nhiệm vụ không thay đổi: mạng sống của con người là ưu tiên tuyệt đối, bảo toàn năng lực vận hành là ưu tiên thứ hai, và bảo vệ tính nguyên vẹn của dữ liệu khoa học là ưu tiên thứ ba."

Amara quay sang nhìn vào mắt An Khuê:

"Khuê, cô là kỹ sư sinh học kiêm phó chỉ huy kỹ thuật của ca trực này. Tôi cần cô cùng Ren và Luísa lập một ma trận đánh giá rủi ro ngay lập tức. Chúng ta có bảy mươi hai giờ trên lý thuyết, nhưng trên thực tế, chúng ta chỉ có chưa đầy hai mươi tư giờ trước khi nhiệt độ trạm hạ xuống mức đóng băng các van chất lỏng."

"Rõ, thưa Chỉ huy," An Khuê đáp, cảm thấy một luồng adrenaline mới mẻ chạy dọc sống lưng, xua tan cảm giác tê liệt vì sợ hãi. Trách nhiệm chuyên môn lập tức kéo tâm trí cô trở về trạng thái vận hành tối ưu. "Chúng ta cần chia nhỏ lượng điện bốn trăm hai mươi kilowatt-giờ này ra. Phải cắt bỏ toàn bộ những gì không trực tiếp giữ ấm phổi và tim chúng ta."

"Chính xác," Amara gật đầu, rồi cất giọng hướng về màng loa trên trần: "Mây, lập bảng tính phân bổ tải khẩn cấp Cấp Một. Loại bỏ toàn bộ các mạch sưởi không thiết yếu. Tính toán lại cho tôi: nếu chúng ta chấp nhận hạ nhiệt độ khoang trú ẩn xuống bảy độ C — mức tối thiểu để cơ thể con người không rơi vào trạng thái hạ thân nhiệt nguy hiểm — và giảm chu trình lọc khí CO2 xuống mức sáu mươi phần trăm công suất danh định, dung lượng pin bốn trăm hai mươi kilowatt-giờ sẽ kéo dài được chính xác bao nhiêu giờ?"

Trên màn hình phụ, các con số bắt đầu chạy lại một chu trình lặp mới. Các thuật toán tối ưu hóa nguồn lực của Mây nhanh chóng gọt giũa từng watt điện tiêu hao, cắt đứt hoàn toàn dòng điện của các van sưởi thứ cấp, làm mờ đi các cụm đèn phụ trợ và điều chỉnh lại tốc độ quay của quạt hút khí tái sinh. Đường đồ thị tiêu hao năng lượng từ từ hạ thấp độ dốc, kéo dài thanh thời gian ra thêm một đoạn ngắn ngủi nhưng quý giá.

Một con số mới hiện lên bằng màu vàng cam nhấp nháy, phản chiếu vào đáy mắt của từng thành viên:

*89 giờ 14 phút.*

Họ vừa mua thêm được mười bảy tiếng đồng hồ từ sự chịu đựng của chính cơ thể mình. Bảy độ C nghĩa là không khí sẽ buốt giá, từng hơi thở thở ra sẽ đọng thành sương trắng, các khớp ngón tay sẽ cứng đờ và họ sẽ phải quấn mình trong những lớp chăn cách nhiệt bằng sợi mylar. Nhưng đó là cái giá quá nhỏ để đổi lấy thêm mười bảy giờ của sự sống.

An Khuê nhìn chằm chằm vào con số ấy. Tám mươi chín giờ để tìm cách tiếp cận thủ công lò phản ứng Kifaru qua những hành lang đổ nát ngập tràn khí lạnh, tám mươi chín giờ để ngăn giếng Borealis đóng băng vĩnh viễn, và tám mươi chín giờ để tìm cách gửi một tín hiệu — dù chỉ là một tiếng bíp vô tuyến yếu ớt — xuyên qua ba cây số băng dày lên khoảng không vũ trụ bao la.

Phía sau lớp vỏ hợp kim dày ba mươi centimet của khoang trú ẩn, Europa vẫn đang tiếp tục cuộc khiêu vũ địa chất tàn bạo của nó trong bóng tối vĩnh hằng. Khối băng khổng lồ chịu lực kéo thủy triều từ Sao Mộc vẫn đang cựa quậy, rên rỉ và nghiến răng ken két quanh cái kén thép này. Nhưng ở bên trong chiếc kén kim loại nhỏ bé, ngọn lửa của lý trí và kỷ luật khoa học vừa được thắp lại từ đống tro tàn của thảm họa.

"Tốt," Amara nói, giọng cô trầm xuống, vững chãi như một mỏm đá ngầm giữa sóng gió. "Chúng ta có tám mươi chín giờ. Bắt đầu làm việc."

Đúng lúc ấy, từ chiếc loa analog dự phòng ở góc phòng, một tiếng rè kim loại lại vang lên, đều đặn và ngắt quãng, như một lời nhắc nhở lạnh lùng về thực tại bị phong tỏa:

Mây thông báo bằng giọng kim khí phẳng lặng: tuyến cáp chính nối lên bề mặt đã đứt lìa tại độ sâu tám trăm mét, cắt đứt hoàn toàn tiếng nói của Trái Đất.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories