Con đường đến Kifaru
Tiếng quạt thông gió bên trong Khoang Trú ẩn Hạt Nhân rên rỉ ngắt quãng theo từng xung điều hòa tiết kiệm điện, một âm thanh cơ khí khô khốc và mệt mỏi vọng qua các vách ngăn hợp kim nhôm-lithium dày cộm. Cứ sau mỗi chu kỳ ba mươi giây vận hành cầm chừng, cánh quạt lại chao đảo hãm tua, để lại một khoảng lặng buốt giá đến mức có thể nghe rõ tiếng những hạt tinh thể băng li ti va vào lưới lọc gió. Nhiệt độ bề mặt vách ngăn của khoang trú ẩn đã tụt xuống mốc 10 độ C và vẫn tiếp tục trượt dần theo chiều thẳng đứng. Hơi thở của năm con người thoát ra khỏi lồng ngực lập tức hóa thành những cuộn sương trắng đục, quánh đặc và lơ lửng rất lâu trong không gian vi trọng lực 0,134 g của Europa trước khi khuếch tán vào các góc tối. Không khí mang theo vị kim loại lạnh ngắt, khô khốc đến rát buốt, cào xước từng phế nang sau mỗi nhịp hít vào.
Trên trần vòm bọc các tấm giáp hấp thụ bức xạ boron-chì, dải đèn LED huỳnh quang chỉ còn duy trì một thứ ánh sáng màu hổ phách le lói. Đó là mức độ chiếu sáng tối thiểu được hệ thống tính toán sau khi quy trình vận hành khẩn cấp Bravo-Bốn được kích hoạt nhằm cắt bỏ chín mươi phần trăm tải tiêu thụ phụ. Dưới thứ ánh sáng vàng vọt ảm đạm ấy, bóng của những giá đỡ thiết bị, của khung giàn chịu lực và của con người đổ dài lên mặt sàn kim loại, méo mó và bất động như những bức phù điêu khắc sâu vào lòng mặt trăng Jovian.
Ở trung tâm khoang trú ẩn, bảng đồng hồ tổng của AI Mây nhấp nháy một biểu tượng cảnh báo màu đỏ sẫm viền bát giác. Con số điện năng khả dụng trích xuất từ tổ hợp ắc quy lithium-lưu huỳnh tại Tầng kỹ thuật B hiển thị một sự sụt giảm tàn nhẫn không thể đảo ngược: 398,4 kWh. Sau hàng loạt hao phí nhiệt động lực học không thể tránh khỏi qua lớp vỏ trạm bị rách toạc, cùng với những xung dòng khởi động cao áp cấp cho các phiến gia nhiệt giữ ấm các cụm máy tính điều khiển cơ bản, trạm ngầm Borealis đã chính thức bước vào mốc hai mươi tư giờ cuối cùng của nguồn năng lượng sinh tồn.
Toàn bộ sinh mệnh của trạm lúc này phụ thuộc vào trạng thái của lò phản ứng hạt nhân Kifaru. Lò phản ứng làm mát bằng kim loại lỏng hợp kim natri-kali (NaK) — một kỳ quan kỹ thuật được thiết kế để cung cấp năng lượng liên tục cho công cuộc thám hiểm đáy biển ngầm — nay đã bị cô lập hoàn toàn sau biến cố trượt gãy vỏ băng. Nếu chu trình tuần hoàn NaK không được tái lập và kích hoạt trở lại trước khi con số 398,4 kWh kia chạm đáy, hợp kim NaK trong các đường ống phân nhánh thứ cấp sẽ chạm điểm đông kết eutectic âm 12,6 độ C.
Đó không chỉ đơn thuần là sự ngừng trệ của một cỗ máy. Khi kim loại lỏng NaK hóa rắn, thể tích của nó sẽ trải qua một quá trình co ngót dị thường kết hợp với sự kết tinh giòn, tạo ra các ứng suất nội tại xé nát toàn bộ các mối hàn hợp kim titan-vanadi, bẻ gãy các van phân phối và khóa chặt ruột gan của lò phản ứng trong một khối kim loại đông cứng vĩnh cửu. Nếu thảm kịch đó xảy ra, trạm ngầm Borealis sẽ không bao giờ có thể ấm lại được nữa. Nó sẽ biến thành một cỗ quan tài băng giá vĩnh cửu, bị chôn vùi dưới tầng quyển băng dày hơn hai mươi lăm cây số của Europa, lạnh lẽo và im lìm giữa lòng bóng tối vĩnh hằng.
Tại góc phía tây của chiếc bàn tròn kim loại gắn sàn, Luísa Carvalho đang dán chặt mắt vào màn hình máy trạm địa chấn cơ động — thiết bị đo đạc duy nhất được cô vội vã tháo dỡ và di tản thành công từ Phân ban Địa vật lý Guará trước khi hành lang nối bị nén sập. Mái tóc xoăn sẫm màu của cô được búi vội sau gáy bằng một chiếc kẹp nhựa công nghiệp màu xanh xỉn, để lộ vầng trán lấm tấm những giọt mồ hôi dù nhiệt độ xung quanh đang tiếp tục giảm sâu. Những ngón tay thon dài của Luísa lướt thoăn thoắt trên bàn phím cơ khí nảy lên những tiếng lách cách đanh gọn, phá vỡ sự ngột ngạt của căn phòng.
Trên màn hình của Luísa, biểu đồ phân tích ứng suất vỏ băng Europa không ngừng biến thiên theo chuỗi sóng dạng sin phức tạp, xếp lớp chồng chéo lên nhau như những đường vân của một vết nứt khổng lồ. Đó là kết quả tổng hợp từ mạng lưới đầu đo radar xuyên băng (GPR) tần số biến thiên 50 MHz kết hợp với mô hình chuyển động thiên văn của Sao Mộc cùng ba vệ tinh đồng hành Io, Europa và Ganymede.
"Mọi người nhìn vào đây," Luísa cất tiếng. Giọng cô khàn đặc vì lạnh và vì thiếu nước, nhưng ngữ điệu vẫn giữ nguyên sự sắc sảo, khúc chiết của một chuyên gia địa chấn học dạn dày kinh nghiệm. Cô dùng đầu ngón tay khẽ xoay nhẹ màn hình về phía Amara Njoroge và An Khuê. "Lực thủy triều từ Sao Mộc không bao giờ tác động lên lớp vỏ băng này theo một phương thức tuyến tính hay tĩnh tại. Sự cộng hưởng quỹ đạo Laplace bốn-hai-một giữa Io, Europa và Ganymede tạo ra các chu kỳ nén ép và kéo dãn liên tục trên tầng quyển băng dày hai mươi lăm kilomet này. Trong ba ngày qua, đới đứt gãy Cổ Thạch trượt gãy dữ dội là do đỉnh triều uốn cong đạt cực đại, tích tụ toàn bộ năng lượng biến dạng đàn hồi vào cấu trúc vòm của khoang Kifaru. Nhưng hiện tại, cấu trúc lực đó đang chuẩn bị đảo chiều."
Luísa dùng đầu bút cảm ứng vạch một đường thẳng đứng cắt ngang qua một thung lũng dốc đứng trên đồ thị sóng cơ học, nơi đường cong biểu diễn ứng suất cắt sụt giảm đột ngột từ 1,8 megapascal xuống gần như bằng không.
"Ganymede đang tiến tới điểm viễn nhật của quỹ đạo riêng quanh Sao Mộc, trong khi Io nằm ở góc vuông so với trục liên kết giữa trạm chúng ta và tâm khối Sao Mộc," Luísa giải thích, lồng ngực cô phập phồng theo từng câu chữ, hơi thở phả ra thành từng đợt khói trắng mỏng manh. "Sự bất đối xứng trọng trường này tạo ra một hiện tượng trễ pha đàn nhớt bên trong mạng tinh thể băng đá của Europa. Băng ở nhiệt độ này không hành xử như thủy tinh thuần túy; nó chảy dẻo chậm và phản ứng trễ với sự thay đổi của trường hấp dẫn. Trong vòng bốn mươi lăm phút nữa, toàn bộ đới nứt nẻ xung quanh phân khu Kifaru sẽ rơi vào một cửa sổ suy giảm ứng suất kiến tạo. Các khối băng trượt sẽ tạm thời dừng ép vào nhau. Hiện tượng biến dạng cục bộ trên vách và trần khoang lò sẽ chạm đáy tuyệt đối."
Amara Njoroge, với vóc dáng cao ráo và khuôn mặt cương nghị nhưng hai hốc mắt trũng sâu vì những cơn đau đầu vận mạch kéo dài hành hạ, tiến lại gần bàn làm việc thêm một bước. Cô vịn một bàn tay trần lên mép bàn kim loại lạnh ngắt; các khớp ngón tay trắng bệch ra vì lực tì đè. Ánh mắt cô găm chặt vào điểm cực tiểu trên đồ thị của Luísa:
"Cửa sổ này kéo dài chính xác bao lâu, Luísa?"
"Tối đa hai giờ mười lăm phút," Luísa đáp không một giây do dự, mắt không hề rời khỏi các thông số dao động đang nhảy múa trên màn hình. "Sau mốc thời gian đó, khi Io hoàn thành một phần tư chu kỳ quỹ đạo tiếp theo, lực nén biến dạng sẽ dâng cao trở lại với tốc độ gia tăng rất nhanh. Nếu chúng ta muốn can thiệp vật lý vào trần khoang Kifaru — nắn chỉnh cụm ống làm mát và giải phóng các điểm kẹt cơ học mà không sợ bị một khối nêm băng khác bất ngờ đổ sập nghiền nát — thì hai giờ mười lăm phút này là cơ hội duy nhất. Bỏ lỡ nó, chúng ta sẽ phải đợi thêm năm mươi tư giờ nữa để chu kỳ Laplace lặp lại pha suy giảm tiếp theo. Mà lượng điện ắc quy của chúng ta thì tuyệt đối không thể đợi được đến lúc đó."
An Khuê đứng bên cạnh Amara, chăm chú quan sát đường gợn sóng phụ nằm ở dải tần số thấp trên màn hình địa chấn. Với đôi mắt và trực giác của một kỹ sư sinh học vốn quen làm việc với những tín hiệu điện sinh lý tinh vi và các dao động tuần hoàn của tế bào, cô nhận thấy một chuỗi xung nhịp răng cưa có tính lặp lại bất thường ở đuôi biểu đồ.
"Luísa, những xung nhịp răng cưa tần số cao này là gì?" An Khuê chỉ tay vào màn hình, ngón tay dừng lại ở dải tần số 1,2 Hz mờ nhạt vừa trượt qua góc dưới giao diện. "Chúng xuất hiện đều đặn ngay trước điểm sụt ứng suất cắt."
Luísa thoáng khựng lại, nheo mắt nhìn sát vào chuỗi sóng nhỏ li ti mà An Khuê vừa chỉ ra. Cô đưa tay xoa nhẹ sống mũi, khẽ lắc đầu:
"Có lẽ là hiện tượng co ngót nhiệt thông thường thôi. Khi chúng ta kích hoạt quy trình Bravo-Bốn và cắt điện sưởi ở các khoang phụ cận, nhiệt lượng truyền dẫn từ vách trạm ra khối băng xung quanh giảm đột ngột hơn năm độ C. Lớp băng tiếp giáp trực tiếp bị sốc lạnh cục bộ, co rút vi mô và phát ra những tiếng nứt tế vi dạng vỡ vụn giòn. Không có bất kỳ dấu hiệu nào của một sự dịch chuyển khối lớn cả. Mô hình biến dạng đàn nhớt của tôi vẫn nằm trọn vẹn trong giới hạn sai số cho phép."
An Khuê khẽ gật đầu, nhưng cảm giác gợn gợn trong trực giác khoa học của cô vẫn chưa hoàn toàn tan biến. Nơi đáy biển sâu thẳm cách họ hơn một trăm kilomet dưới lớp vỏ băng này, những xung sáng màu ngọc lam mà tàu thăm dò tự hành Nereid từng ghi nhận trước khi cơn địa chấn kinh hoàng nổ ra cũng từng có những nhịp điệu toán học kỳ lạ, lặp đi lặp lại với sự chuẩn xác lạnh lùng như thế. Nhưng vào lúc này, giữa khoang trú ẩn lạnh ngắt và chiếc đồng hồ đếm ngược sinh tử đang tích tắc từng giây, không ai trong số họ có quyền để tâm trí phân tán vào những điều chưa thể chứng minh.
***
Trong lúc Luísa và Amara chốt lại các mốc thời gian kiến tạo, cánh cửa ngăn cách bằng composite dẫn sang Xưởng Robot Tanuki khẽ trượt mở với một tiếng rít khô khốc của gioăng cao su thiếu chất bôi trơn. Ren Ishikawa bước vào, mang theo luồng không khí nồng nặc mùi mỡ bôi trơn tổng hợp silicon, kim loại cháy xém và bụi cưa titan. Bộ đồ bảo hộ lao động màu cam của anh dính đầy những vệt dầu xám ngoét. Trên tay Ren là một khung robot trinh sát mini nhiều chân — phiên bản nâng cấp dã chiến được cải tiến từ dòng robot trinh sát đường ống REC-08 mang biệt danh "Mực Ống".
Thế nhưng, điều khiến Ingrid Solberg — người nãy giờ vẫn ngồi im lìm ở góc khoang để theo dõi các chỉ số sinh tồn của đội — lập tức nhổm dậy khỏi ghế là một khối hộp kim loại màu đen xám được hàn chặt bằng giá đỡ titan tự chế ngay trên sống lưng của con robot.
"Ren! Đó là đầu dò bán dẫn cadmium-zinc-telluride từ máy xạ trị proton của y xá đúng không?" Giọng vị bác sĩ người Na Uy vang lên sắc lạnh như một lưỡi dao mổ, chất chứa sự cảnh giác chuyên môn cao độ. "Anh tự tiện tháo dỡ thiết bị y tế khẩn cấp tối quan trọng đấy à?"
Ren vội vàng giơ một bàn tay bọc găng dính đầy dầu mỡ lên làm động tác xoa dịu, khóe miệng cố nặn ra một nụ cười gượng gạo để làm dịu đi bầu không khí căng thẳng đang bốc hỏa:
"Bình tĩnh nào, Ingrid, người bảo hộ sự sống vĩ đại của chúng ta. Tôi chỉ mượn tạm nó thôi, thề có Mây làm chứng là tôi không làm đứt một sợi cáp quang nào. Nhưng xin cô hãy nhớ lại Quy định an toàn số bảy của Hội đồng Nhiệm vụ. Quy định ghi rõ bằng chữ in hoa: 'Nghiêm cấm con người xâm nhập khoang phản ứng sau sự cố địa chấn nếu không có tối thiểu hai phép đo độc lập xác nhận không có sự phát tán bụi nhiên liệu và rò rỉ hạt nhân'. Cảm biến quang phổ trên cổng thông gió V-12 của Mây đã bị hạ cấp độ tin cậy xuống mức không có giá trị pháp lý sau vụ đứt bu-lông SG-K-04 lúc nãy. Nếu chúng ta không có một hệ thống đo đạc độc lập thứ hai có độ nhạy cấp độ y tế, Amara sẽ không bao giờ ký lệnh cho phép mở cánh cửa K-01. Mà nếu không mở cửa K-01, chúng ta sẽ ngồi đây đợi chất làm mát NaK đông cứng và chết cóng cùng nhau!"
Amara quay phắt lại nhìn Ren. Ánh mắt người chỉ huy Kenya nghiêm nghị, soi xét từng chi tiết trên khối kim loại đen xám gắn trên lưng con robot, nhưng trong thâm tâm cô ngầm thừa nhận tính logic sắt đá trong hành động liều lĩnh của người kỹ sư:
"Cảm biến xạ trị CZT đó có khả năng định lượng chính xác các hạt đồng vị sơ cấp trong môi trường hỗn hợp không, Ren?"
"Chính xác đến từng mức electron-volt, thưa Chỉ huy," Ren lập tức thu lại nụ cười, trở nên nghiêm túc tuyệt đối. Anh gõ nhẹ ngón tay bọc găng vào lớp vỏ bọc chì bảo vệ của đầu dò. "Nó hoạt động dựa trên nguyên lý bán dẫn nhiệt độ phòng, có khả năng phân biệt dải năng lượng bức xạ gamma đặc trưng của Xenon-135, Cesium-137 và hơi Iodine-131 trong vòng ba giây tiếp xúc. Tôi đã gia cố lại bốn chân bám nano từ tính của con REC-08 này, đồng thời tích hợp thêm một ống hút vi thể nối thẳng vào buồng phân tích quang phổ khí độc lập. Chúng ta sẽ không đưa nó vào trong lòng buồng máy chính qua lối van V-12 bị kẹt nữa. Thay vào đó, nó sẽ bò dọc theo khe co giãn ngoài vỏ khoang lò — nơi lớp giáp cách nhiệt bằng aerogel vừa bị xé rách do chấn động."
"Khe co giãn đó có kích thước bao nhiêu?" An Khuê hỏi dồn, trong đầu cô lập tức tái hiện lại bản vẽ kỹ thuật ba chiều chi tiết của phân khu Kifaru mà cô từng phải học thuộc lòng trong khóa huấn luyện tiền nhiệm vụ tại Darmstadt.
"Rộng chưa đầy bốn centimet, và ở một số đoạn nó đã bị nén dẹp lại do dầm titan trần sụt xuống," Ren đáp, vừa đặt robot lên mặt bàn kim loại, vừa bấm nút kích hoạt nguồn nuôi độc lập từ khối pin nhiên liệu hydro thu nhỏ. "REC-08 có thể nén dẹp các khớp nối đa trục của nó xuống còn ba mươi hai milimet. Nó sẽ bò sát vào lớp vỏ thép áp lực của lò phản ứng, thu thập dữ liệu rò rỉ khí làm mát, nồng độ hydro tự do và quan trọng nhất: đo đạc trực tiếp trường bức xạ tại vị trí cụm van cô lập số ba."
"Triển khai ngay đi," Amara ra lệnh dứt khoát. "Mây, thiết lập kênh truyền dữ liệu cáp quang trực tiếp từ robot về máy trạm trung tâm. Tuyệt đối không thông qua bất kỳ bộ lọc làm mịn thuật toán nào của lõi chính."
"Rõ, thưa Chỉ huy Njoroge," giọng nói trầm ấm, đều đặn quen thuộc của AI Mây vang lên từ dải loa trần, không hề mang theo chút phản kháng hay tự ái nào trước sự nghi ngờ của con người đối với hệ thống cảm biến của mình. "Kênh thu nhận tín hiệu quang học thô đã được cô lập hoàn toàn. Chuỗi xung đo bức xạ từ cảm biến bán dẫn CZT của kỹ sư Ishikawa đang truyền về với độ trễ một phẩy hai phần nghìn giây."
Cả năm thành viên nín thở, dồn lại quanh màn hình phụ của Ren. Trên khung hình đen trắng góc nhìn rộng truyền về từ camera trước của robot, những vách ngăn kim loại trầy xước của hành lang kỹ thuật trôi qua chầm chậm. Con robot REC-08 khéo léo lách thân mình qua khe hẹp gồ ghề giữa tấm đệm chống chấn và lớp vỏ ngoài của lò phản ứng Kifaru. Những mảnh vụn aerogel trắng xốp lơ lửng xung quanh ống kính như những bông tuyết rơi chậm trong môi trường vi trọng lực kín mít.
Bầu không khí trong khoang trú ẩn im ắng đến mức tiếng lách cách của máy đếm hạt bức xạ tích hợp trên đầu dò phát ra qua loa kiểm âm nghe rõ mồn một.
Tách... tách... tách.
Nhịp điệu thưa thớt, đều đặn và chậm rãi.
"Cường độ bức xạ gamma phông nền: không phẩy mười bảy micro-Sievert trên giờ," Ren đọc to chỉ số đo đạc thời gian thực, đôi mắt anh sáng bừng lên sau cặp kính bảo hộ dính bụi. "Không xuất hiện bất kỳ đỉnh phổ năng lượng đặc trưng nào của Cesium hay Iodine. Hoàn toàn sạch bụi thanh nhiên liệu. Vỏ bọc các thanh gốm dioxide urani bên trong vùng hoạt vẫn nguyên vẹn một trăm phần trăm! Phép đo độc lập thứ hai hoàn toàn trùng khớp với dữ liệu sơ bộ của Mây."
Một tiếng thở phào tập thể đồng loạt vang lên trong khoang trú ẩn, làm xao động những cuộn hơi sương lạnh giá. Nỗi sợ hãi kinh hoàng nhất — một kịch bản nóng chảy lõi cục bộ hoặc nứt vỡ thanh nhiên liệu giải phóng các sản phẩm phân hạch chết người vào bầu khí quyển tuần hoàn của trạm — đã chính thức được loại trừ bằng hai phương pháp đo lường độc lập.
Thế nhưng, niềm thanh thản ngắn ngủi ấy lập tức tan biến. Khi robot REC-08 lách qua một nếp gấp kim loại bị vặn xoắn để tiếp cận mặt ngoài của đế van phân nhánh số ba (branch valve 03 manifold), hình ảnh truyền về từ camera độ phân giải cao khiến nụ cười vừa hé nở trên môi Ren tắt ngấm.
"Chết tiệt..." Ren buột miệng rủa thầm bằng tiếng Nhật rồi vội vã chuyển sang tiếng Anh. "Nhìn vào đây mà xem."
Trần khoang Kifaru bị khối nêm băng đè sụt xuống đã truyền một mô-men xoắn khổng lồ thông qua dầm chịu lực số hai, cắm thẳng góc vào cụm van phân phối chất làm mát thứ cấp. Đế van bằng hợp kim titan dày năm mươi milimet không bị gãy rời, nhưng nó đã bị vặn nghiêng một góc gần mười hai độ so với mặt bích chuẩn của đường ống. Lực vặn tàn bạo đó đã xé rách toạc lớp đệm làm mát thứ cấp bằng cao su fluoroelastomer gia cường sợi carbon.
Một luồng khí làm lạnh áp suất cao bị bóp nghẹt đang xì ra từ vết rách hình lưỡi liềm dài khoảng tám centimet, phun thành một dải sương mù đóng băng li ti bám trắng xóa xung quanh thành ống dẫn và các bu-lông lân cận.
"Đó chính là nguồn gốc của tiếng rít áp lực mà hệ thống cảm biến âm thanh ghi nhận được trước đó," Luísa nói, các ngón tay cô vô thức bấu chặt vào gấu áo bảo hộ. "Vòng đệm thứ cấp bị xé toạc hoàn toàn. Đế van bị lệch trục nghiêm trọng. Áp lực bên trong nhánh làm mát số hai đang tích tụ và tự xả qua vết rách này. Nếu chúng ta cố tình kích hoạt bơm tuần hoàn kim loại lỏng NaK sơ cấp trong khi hệ thống làm mát thứ cấp bị mất áp suất và rò rỉ thế này, chênh lệch áp suất tức thời sẽ thổi bay toàn bộ cụm van. Hợp kim NaK sẽ thoát hết ra ngoài trong vòng chưa đầy sáu mươi giây."
"Chúng ta không thể thay thế hay hiệu chỉnh cụm van đó từ xa bằng robot được," Ren chua chát nói, lắc đầu nhìn khung cảnh cơ khí biến dạng tàn khốc trên màn hình. "Động cơ servo điều khiển van đã bị cháy rụi do kẹt dòng. Khớp nối trục bị kẹt cứng cơ học dưới tải trọng ép của dầm titan. Muốn cô lập được nhánh hỏng số hai để cứu vãn các nhánh làm mát còn lại, bắt buộc phải có người chui trực tiếp vào trong đó, dùng kích thủy lực nắn thẳng lại đế van về vị trí đồng trục, rồi siết chặt các bu-lông hãm thủ công."
"Nhưng còn lớp đệm làm mát thứ cấp bị rách thì giải quyết thế nào?" Ingrid lạnh lùng chất vấn, ngón tay cô chỉ thẳng vào dải sương mù đóng băng đang phụt ra trên màn hình. "Kể cả khi anh nắn thẳng được đế van titan, vết rách tám centimet đó vẫn nằm trơ trơ ra đấy. Khi áp suất chu trình thứ cấp phục hồi lên mức sáu mươi megapascal, không một lực siết bu-lông nào có thể bịt kín được một khe hở kim loại méo mó mà không có gioăng làm kín đàn hồi. Chúng ta đào đâu ra một cái gioăng thay thế khớp chuẩn xác với một cái đế van đã bị biến dạng lệch góc mười hai độ? Máy in ba chiều kim loại ở Tầng Kỹ thuật thì đã bị cắt hoàn toàn nguồn điện theo kế hoạch Bravo-Bốn rồi!"
Căn phòng trú ẩn lại rơi vào một khoảng im lặng chết chóc. Hơi lạnh dường như càng lúc càng bóp nghẹt lồng ngực họ. Bài toán cơ học và nhiệt động lực học dường như đã dẫn thẳng vào một ngõ cụt tuyệt đối: họ không thể chế tạo một chiếc gioăng kim loại mới trong điều kiện thiếu hụt năng lượng nghiêm trọng, nhưng họ cũng không thể vận hành lại lò phản ứng nếu không bịt kín được vết rách áp lực cao đó.
"Chúng ta không cần gioăng kim loại," một giọng nói cất lên, bình tĩnh, rành rọt và dứt khoát.
Cả bốn người đồng loạt quay lại. Ánh mắt họ đổ dồn về phía An Khuê.
***
Nữ kỹ sư sinh học người Việt hít một hơi thật sâu. Luồng khí lạnh buốt tràn vào khí quản khiến lồng ngực cô nhói lên, nhưng nó cũng giúp tâm trí cô trở nên sáng suốt và sắc lạnh lạ kỳ. Cô bước nhanh tới trước bảng sơ đồ vật tư dự trữ của trạm, dùng bút cảm ứng mở một tệp dữ liệu lưu trữ từ Phân ban Sinh học Lam — những tài liệu kỹ thuật chuyên sâu mà cô đã kịp sao lưu vào ổ cứng thể rắn cá nhân trước khi phân khu này bị băng nghiền nát.
"Trong phòng thí nghiệm của tôi, ở ngăn kéo bảo quản polyme sinh học chịu cực hạn số ba, có ba cuộn màng cellulose vi khuẩn biến tính cấu trúc nano," An Khuê nói, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào Amara rồi chuyển sang Ren. "Đó là vật liệu mà nhóm nghiên cứu của tôi dùng để chế tạo màng lọc thẩm thấu ngược chịu áp lực siêu cao cho hệ thống tuần hoàn nước đóng kín của trạm."
Ren nhíu mày, vẻ hoài nghi và bối rối hiện rõ trên khuôn mặt lấm lem dầu mỡ:
"An Khuê, đây là đường ống trao đổi nhiệt của một lò phản ứng hạt nhân. Môi trường làm việc đó chứa đầy hơi nước quá nhiệt, dầu tải nhiệt thứ cấp và chịu các rung động cơ học cực lớn. Polyme sinh học thông thường sẽ bị giòn hóa tức thì ở nhiệt độ âm của Europa, và sau đó sẽ tan chảy thành bùn hữu cơ vô dụng khi đường ống nóng lên."
"Không phải loại cellulose vi khuẩn này, Ren," An Khuê lập tức phản bác bằng những luận cứ hóa sinh chuẩn xác và đanh thép. "Đây là mạng lưới nanocellulose được chúng tôi tổng hợp từ chủng vi khuẩn *Komagataeibacter* đột biến, sau đó được biến tính bề mặt bằng cách liên kết chéo với các hạt nano silica và axit citric đa chức năng. Ở trạng thái nghỉ và nhiệt độ phòng, nó tồn tại dưới dạng một tấm hydrogel dẻo dai, có khả năng uốn nắn và biến dạng theo bất kỳ hình dạng bất đối xứng phức tạp nào — kể cả biên dạng xoắn vặn mười hai độ của đế van số ba. Nhưng điều cốt lõi nằm ở cơ chế tự đông kết của nó: khi chịu lực ép cơ học nén trên bốn mươi megapascal và tiếp xúc với nhiệt độ kích hoạt từ một trăm hai mươi đến một trăm tám mươi độ C, các liên kết hydro và cầu nối siloxane bên trong mạng polymer sẽ tái cấu trúc tức thì. Nó sẽ trải qua quá trình polymer hóa nhiệt rắn, biến đổi từ một chất gel mềm thành một khối composite polymer-gốm sinh học có độ bền kéo và độ chịu nén tương đương với hợp kim nhôm hàng không."
Ren sững sờ, đôi mắt mở to sau cặp kính bảo hộ:
"Tự đông kết dưới áp suất nén và nhiệt độ dư... Cô đang nói là chúng ta có thể tạo ra một vòng đệm áp suất tùy biến hình học ngay tại hiện trường sao?"
"Chính xác là như vậy," An Khuê gật đầu, ngón tay cô vẽ nhanh một sơ đồ mặt cắt cơ học trên màn hình cảm ứng. "Tôi sẽ dùng dung dịch xúc tác chứa các ion kẽm và canxi đậm đặc để ngâm tẩm các phiến nanocellulose này. Chúng ta sẽ cắt thủ công một tấm đệm chèn có hình dạng phỏng theo đúng biên dạng vết rách bất đối xứng mà robot REC-08 vừa chụp lại. Khi Ren dùng kích thủy lực nắn thẳng đế van và ép tấm polymer này vào giữa hai mặt bích kim loại, lực nén cơ học cực lớn sẽ ép dung dịch xúc tác thẩm thấu sâu vào từng vi kẽ nứt tế vi. Sau đó, lượng nhiệt lượng dư còn tích tụ trong đường ống thứ cấp sẽ hoàn tất quá trình polymer hóa trong vòng bảy phút. Nó sẽ trám kín hoàn toàn vết rách tám centimet, chịu được nhiệt độ lên tới một trăm tám mươi độ C và chịu được áp suất vận hành vượt mức một trăm megapascal. Quá đủ để chúng ta tái lập áp suất nền cho chu trình làm mát thứ cấp."
Luísa nhìn chăm chú vào sơ đồ của An Khuê, ánh mắt lóe lên sự thán phục không hề che giấu:
"Một giải pháp công nghệ sinh học trám lỗ hổng cơ khí hạt nhân... Nó không tiêu tốn một kilowatt điện nào của hệ thống để chế tạo."
"Và điều quan trọng nhất: tủ lưu trữ vật liệu mềm đó nằm ngay ở hốc kỹ thuật chưa bị phá hủy ở góc hành lang tiếp giáp Khoang Lam," An Khuê bổ sung, giọng nói đầy tính thuyết phục. "Tôi có thể tiếp cận nó và chuẩn bị xong tấm đệm polymer tẩm xúc tác này trong vòng hai mươi lăm phút."
Amara Njoroge không ngắt lời người kỹ sư sinh học. Cô đứng bất động, chăm chú phân tích từng biến số nhiệt động và áp suất mà An Khuê vừa trình bày, đối chiếu chúng với giới hạn an toàn nghiêm ngặt của chu trình làm mát Kifaru. Trên vầng trán người chỉ huy, một vệt gân xanh khẽ giật giật — dấu hiệu không thể nhầm lẫn của cơn đau đầu vận mạch đang tăng tiến dữ dội, nhưng ánh mắt cô vẫn hoàn toàn tỉnh táo, sắc sảo và kiên định.
"Về mặt lý thuyết cơ học và vật liệu, phương án này hoàn toàn khả thi và là con đường sống duy nhất của chúng ta," Amara lên tiếng, giọng cô đanh lại, mang trọn vẹn uy quyền của người nắm giữ quyết định tối hậu. "Nhưng để đưa tấm đệm sinh học đó vào vị trí và vận hành kích thủy lực nắn lại đế van titan năm mươi milimet, con người bắt buộc phải trực tiếp bước vào Khoang Năng lượng Kifaru. Đã đến lúc chúng ta phải đối mặt với yếu tố con người."
Ánh mắt người phụ nữ Kenya dời khỏi sơ đồ kỹ thuật, chuyển thẳng sang Ingrid Solberg:
"Bác sĩ Solberg, báo cáo tình trạng thể lực và các giới hạn y sinh học của đội."
***
Ingrid không trả lời ngay. Cô bước chầm chậm tới góc khoang trú ẩn, kéo chiếc máy quét sinh trắc học cầm tay gắn trên vách và mở bảng theo dõi thể lực thời gian thực của cả năm người lên màn hình trung tâm. Khuôn mặt cô nghiêm nghị, các đường nét đanh lại đến mức lạnh lùng.
"Tôi đã cảnh báo điều này từ ba ngày trước, và bây giờ tôi sẽ lặp lại một lần nữa bằng ngôn ngữ y khoa chính xác nhất," Ingrid cất tiếng, ngón tay cô lướt qua các biểu đồ nhịp tim, độ bão hòa oxy mô và biến thiên điện tâm đồ đang nhấp nháy. "Nhiệt độ môi trường trong khoang Kifaru hiện tại là âm chín độ C. Do lớp vỏ cách nhiệt bị nứt toạc và khối nêm băng xâm lấn trực tiếp, luồng khí lạnh cực đoan kết hợp với gió lùa từ hệ thống quạt thông gió hỏng tạo ra hiệu ứng làm lạnh tương đương âm hai mươi mốt độ C. Trong môi trường trọng lực 0,134 g, huyết áp ngoại vi của cơ thể con người vốn đã bị rối loạn phân bố nghiêm trọng: dịch thể và máu dồn ngược về khoang ngực và vùng đầu, gây phù nề niêm mạc và tăng áp lực nội sọ; trong khi đó các mao mạch ở bàn tay và bàn chân bị co thắt tự nhiên để bảo toàn thân nhiệt trung tâm."
Ingrid dừng lại ngay trước mặt Amara và Ren, ánh mắt cô xoáy sâu vào hai người với tất cả sự nghiêm khắc của một bác sĩ trưởng:
"Khi các bạn bước vào môi trường lạnh buốt đó và phải sử dụng sức mạnh cơ bắp cường độ cao để thao tác cơ khí chính xác — siết bu-lông, căn chỉnh kích thủy lực nặng hàng chục kilogam — các thụ thể cảm giác ở đầu ngón tay sẽ mất hoàn toàn cảm giác xúc giác sau mười lăm phút đầu tiên. Sau hai mươi lăm phút, tốc độ dẫn truyền thần kinh vận động sẽ suy giảm ba mươi phần trăm. Phản xạ cầm nắm sẽ chậm lại rõ rệt, và nguy cơ làm rơi dụng cụ, làm trượt cờ-lê hoặc đập mạnh vào các đường ống chịu áp lực xung quanh là cực kỳ cao."
"Chúng tôi có hệ thống găng tay sưởi điện trở tích hợp trong bộ đồ áp suất mà, Ingrid," Ren lên tiếng phân trần, cố gắng tìm kiếm một điểm tựa an toàn.
"Và bộ găng sưởi đó lấy điện từ khối ắc quy cá nhân chỉ duy trì được công suất tối đa ba mươi lăm phút trong môi trường âm hai mươi độ!" Ingrid ngắt lời anh một cách dứt khoát, không cho phép bất kỳ sự thỏa hiệp nào. "Tôi đặt ra một lằn ranh đỏ y tế tuyệt đối không thể thương lượng: giới hạn thời gian làm việc trực tiếp trong môi trường khoang Kifaru là tối đa bốn mươi phút cho mỗi lượt can thiệp. Không được phép vượt quá dù chỉ một giây. Bất kỳ ai ở lại trong đó quá bốn mươi phút sẽ đối mặt với tình trạng hạ thân nhiệt cấp độ một, run cơ mất kiểm soát và suy giảm khả năng phán đoán nhận thức dưới vi trọng lực. Nếu sau bốn mươi phút mà công việc chưa hoàn thành, các bạn bắt buộc phải rút lui về chốt áp suất, làm ấm lại cơ thể và để ca tiếp theo tiếp quản."
Ingrid bước tới trước mặt Amara, giơ thẳng chiếc máy đo áp lực mạch máu cầm tay lên ngang tầm mắt người chỉ huy:
"Và điều này áp dụng cho tất cả mọi người, đặc biệt là cô, Amara. Huyết áp tâm thu của cô hiện đang ở mức một trăm năm mươi lăm milimet thủy ngân. Đồng tử mắt phải của cô phản xạ chậm hơn mắt trái không phẩy một giây — một dấu hiệu điển hình của thiếu máu cục bộ thoáng qua do co thắt mạch não. Cơn đau đầu vận mạch của cô chưa hề thuyên giảm. Nếu nhịp tim của cô vượt quá một trăm hai mươi nhịp một phút trong lúc thao tác nặng, tôi sẽ dùng quyền hạn y tế khẩn cấp tối cao của mình để đình chỉ quyền chỉ huy của cô ngay lập tức."
Amara nhìn thẳng vào mắt vị bác sĩ người Na Uy. Không gian giữa hai người phụ nữ như đặc quánh lại trong một cuộc đối đầu thầm lặng giữa kỷ luật nhiệm vụ sắt đá và ranh giới sinh học mong manh. Sau vài giây im lặng nghẹt thở, Amara khẽ gật đầu, ánh mắt biểu lộ sự tôn trọng tuyệt đối:
"Tôi chấp nhận lằn ranh đỏ bốn mươi phút của cô, Ingrid. Điều đó hoàn toàn khoa học và hợp lý."
Amara quay lưng lại, đối diện với toàn bộ đội ngũ. Phong thái điềm tĩnh, đanh thép và bản lĩnh của người chỉ huy lập tức bao trùm lấy toàn bộ căn phòng:
"Chúng ta sẽ can thiệp vào khoang Kifaru theo đội hình ba người. Tôi sẽ là người dẫn đầu và trực tiếp chỉ huy thao tác tại hiện trường. Ren Ishikawa chịu trách nhiệm lắp đặt kích thủy lực, căn chỉnh góc nghiêng của đế van và định vị tấm đệm sinh học. Luísa Carvalho sẽ đi cùng chúng tôi."
Luísa khẽ giật mình, nhưng ngay lập tức cô ưỡn thẳng ngực, hai vai siết chặt: "Tôi đã sẵn sàng, thưa Chỉ huy."
"Luísa, nhiệm vụ của cô có tính sống còn không kém gì Ren," Amara nhấn mạnh từng từ, giọng nói vang vọng trong vòm trần kim loại. "Cô sẽ mang theo máy đo ứng suất laser cầm tay. Trong suốt bốn mươi phút Ren thao tác dưới vòm trần bị nêm băng đè sụt, cô phải liên tục quét chùm tia laser vào các vết nứt của dầm titan và chân khối nêm băng. Nếu cửa sổ suy giảm ứng suất của cô có bất kỳ biến động bất thường nào — nếu khối băng dịch chuyển dù chỉ một phần mười milimet — cô có toàn quyền ra lệnh hủy bỏ nhiệm vụ và kéo cả đội rút lui ngay lập tức. Cô chính là đôi mắt địa chất của chúng tôi trong hang hùm."
"Rõ, thưa Chỉ huy," Luísa đáp, đôi bàn tay cô nắm chặt lại đầy quyết tâm.
"Còn An Khuê và Ingrid," Amara quay sang nhìn hai thành viên còn lại, ánh mắt tràn đầy sự tin cậy. "Hai cô sẽ trực tiếp giữ trạm chỉ huy tại Khoang Trú ẩn Hạt Nhân này. An Khuê, cô sẽ nắm quyền điều phối các thông số kỹ thuật sinh học: giám sát áp suất hơi thoát ra từ vết rách qua cảm biến của robot REC-08, hướng dẫn Ren căn chỉnh tấm polymer nanocellulose qua kênh vô tuyến nội bộ và kiểm soát mức tiêu hao năng lượng nền của trạm. Ingrid, cô nắm quyền sinh sát về mặt y tế: giám sát liên tục dữ liệu sinh hiệu telemetry truyền về từ bộ đồ của ba chúng tôi. Đúng ba mươi lăm phút, cô phải phát tín hiệu cảnh báo đếm ngược. Đúng bốn mươi phút, nếu chúng tôi chưa bước qua ngưỡng cửa áp suất, cô có quyền ngắt khóa khí để cưỡng chế chúng tôi quay về."
An Khuê nhìn Amara, cảm nhận rõ rệt sức nặng nghìn cân của trách nhiệm sinh tử vừa được đặt lên vai mình. Cô không trực tiếp bước vào khoang lò nguy hiểm, nhưng toàn bộ sự thành bại của lần can thiệp này, mạng sống của ba đồng đội và tương lai của trạm Borealis phụ thuộc hoàn toàn vào tấm polymer sinh học mà cô sắp tạo ra cùng khả năng điều phối áp suất của cô từ bàn chỉ huy.
"Tôi sẽ chuẩn bị tấm polymer ngay bây giờ," An Khuê nói, giọng chắc nịch và điềm tĩnh. "Và tôi sẽ canh chừng từng thông số áp suất cho mọi người."
***
Hai mươi phút tiếp theo trôi qua trong một nhịp độ làm việc khẩn trương đến nghẹt thở nhưng tuyệt đối chuẩn xác.
Tại góc bàn dã chiến được chiếu sáng bằng một ngọn đèn pin gắn trần, An Khuê cẩn trọng đeo đôi găng tay cao su vô trùng. Bằng đôi bàn tay khéo léo của một nhà phẫu thuật vi mô, cô dùng dao mổ bằng thép vonfram cắt tấm màng nanocellulose biến tính thành một vòng đệm hình bầu dục có biên dạng bất đối xứng. Biên dạng này khớp chính xác đến từng milimet với vết rách của đế van số ba dựa trên dữ liệu quét đám mây điểm ba chiều do REC-08 vừa gửi về.
Sau khi hoàn tất đường cắt sắc gọn, An Khuê gắp tấm đệm đặt vào một khay kim loại chứa dung dịch xúc tác ion canxi clorua và kẽm axetat đậm đặc. Mùi chua nhẹ, hắc hắc đặc trưng của axit hữu cơ bốc lên trong không khí lạnh buốt. Dưới tác động kích hoạt của các cation kim loại hóa trị hai, mạng lưới sợi cellulose siêu vi lập tức trương nở nhẹ, chuyển dần từ màu trắng đục sang một màu xám mờ đồng nhất, dẻo dai và đàn hồi hệt như một lớp da thuộc sinh học nhân tạo.
Cô cẩn thận nhấc vòng đệm polymer ra, đặt nó vào trong một hộp giữ nhiệt chân không bằng sợi carbon, vặn chặt các chốt khóa an toàn rồi trao tận tay cho Ren Ishikawa.
"Nhớ kỹ lời tôi, Ren," An Khuê dặn dò tỉ mỉ, ánh mắt cô nhìn thẳng vào đôi mắt mệt mỏi của chàng kỹ sư Nhật Bản. "Tấm đệm này chỉ bắt đầu quá trình tự khâu mạch khi chịu áp lực ép nén từ kích thủy lực. Anh phải siết các bu-lông đều tay theo đường chéo đối xứng để dung dịch xúc tác tràn đều vào các rãnh vi nứt trên mặt bích titan. Nếu anh siết lệch lực, polymer sẽ đông kết không đồng nhất và tạo ra các bọt khí chịu lực kém. Khi đó, áp suất sáu mươi megapascal sẽ xé toạc nó ngay lập tức."
Ren đón lấy chiếc hộp kim loại nhẹ, khẽ gật đầu và nở một nụ cười ấm áp quen thuộc dù vầng trán anh đang lấm tấm mồ hôi vì căng thẳng:
"Yên tâm đi, An Khuê. Tay nghề vặn ốc và căn chỉnh cơ khí của tôi được rèn luyện từ hồi còn lắp ráp các vi mạch robot nano ở Tokyo đấy. Sẽ không lệch một micron nào đâu."
Ở phía bên kia khoang trú ẩn, Ingrid đang tỉ mỉ giúp Luísa và Amara kiểm tra lần cuối các gioăng cao su làm kín trên cổ áo và khớp vai của bộ đồ bảo hộ áp suất EVA loại nặng. Những bình dưỡng khí nén áp lực ba trăm bar được gắn chặt vào khung lưng áo, phát ra những tiếng xì xẹp khô khốc khi các van điều áp tự động cân bằng dòng khí thở giàu oxy.
Chiếc kích thủy lực nén tay bằng hợp kim nhẹ — công cụ then chốt mang tính quyết định để nắn thẳng lại đế van titan dày năm mươi milimet — được Ren đeo chéo qua vai bằng một sợi dây đai gia cường sợi Kevlar. Bên hông Luísa, thiết bị đo độ biến dạng laser quét đa điểm đã được bật nguồn, ống kính phản quang màu xanh lục lấp lánh dưới ánh đèn vàng mờ ảo của khoang trú ẩn.
Cả năm thành viên đứng quây quần trước cánh Cửa ngăn cách K-01 — cánh cửa thép hợp kim dày mười centimet, lạnh ngắt và sừng sững, ngăn cách giữa sự an toàn mong manh của Khoang Trú ẩn Hạt Nhân với sự hoang tàn, buốt giá và chết chóc của Khoang Năng lượng Kifaru.
Trên vách kim loại ngay bên cạnh chốt khóa cửa, chiếc đồng hồ đếm ngược của cửa sổ suy giảm ứng suất kiến tạo bắt đầu nhảy số với những nét gạch điện tử màu xanh lục:
[02:00:00]... [01:59:59]... [01:59:58]...
"Đồng hồ kiến tạo đã chạy," Luísa thông báo qua kênh liên lạc nội bộ tích hợp trong mũ bảo hộ. "Ứng suất cắt tại đới Cổ Thạch đã chính thức sụt giảm xuống mức không phẩy mười hai megapascal. Cửa sổ an toàn hai giờ mười lăm phút chính thức mở ra."
Ingrid giơ thiết bị giám sát y tế cầm tay lên ngang ngực, giọng cô vang lên đanh thép và dứt khoát trong tai nghe của cả ba người:
"Bộ đếm thời gian sinh học của tôi cũng đã được kích hoạt đồng bộ. Bốn mươi phút làm việc của các bạn bắt đầu tính từ thời điểm bước chân qua ngưỡng cửa áp suất. Chúc may mắn, và xin các bạn, đừng biến mình thành những anh hùng đông lạnh."
Amara Njoroge đứng ở vị trí tiên phong. Khuôn mặt cô ẩn sau lớp kính che mặt màu vàng đồng phản quang của bộ đồ bảo hộ, đôi mắt kiên định, lạnh lùng và sắc bén như thép tôi. Cô đưa bàn tay bọc găng áp suất dày dặn, nắm chặt lấy cần gạt cơ khí khẩn cấp của Khóa áp suất K-01.
"An Khuê, Ingrid, giữ vững trung tâm chỉ huy," Amara ra lệnh ngắn gọn qua kênh sóng nội bộ. "Đội can thiệp... tiến vào."
Người chỉ huy dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể trong môi trường vi trọng lực, giật mạnh cần gạt cơ khí xuống nấc mở khóa cuối cùng.
Khóa áp suất rít lên một tiếng chói tai khi cánh cửa ngăn cách nặng nề mở ra, phả thẳng vào mặt họ luồng không khí lạnh buốt mang theo mùi ozon nồng nặc và kim loại ion hóa.