Tông Môn Sau Cơn Lũ — Phần 1: Ngọn Đèn Trên Núi VỡCh.30 / 40
Chapter 30

Thu Hẹp Để Đứng Vững

Tiếng búa đập chan chát vào xà bần vang lên dồn dập giữa màn sương mù đặc quánh; toàn bộ ba mươi hai con người Vọng Đăng đội nón mê, chuyền tay nhau từng viên ngói cũ từ mái dãy phòng phía đông sắp sụp.

Gió từ thung lũng sông Vân Hà thổi thốc lên sườn núi, mang theo mùi tanh nồng của bùn non và hơi ẩm buốt lạnh cắt da. Sau phán quyết kiểm định của Đinh Tuệ và sự tháo lui cay cú của Tạ Duy cùng Thương hội Tam Giang, không một ai trong đạo quán có lấy một khắc ngơi nghỉ. Trấn Linh Ty cho họ thời hạn hai mươi tư canh giờ để giải tỏa áp lực cơ học lên sườn núi trượt, nhưng nhìn những vết nứt hàm ếch đang sủi bọt khí xám tro dưới mép vực, Bùi Hạ biết họ không có nhiều thời gian đến thế. Mẹ đất không bao giờ chờ đợi chữ ký trên các công văn hành chính. Đất ngậm no nước sẽ tự tìm đường giải phóng tải trọng, và khi một thớ đất sét đã no dồn dịch thể, nó sẽ trượt đi với tốc độ của một nhát chém vô tình.

— Chuyền ngói chậm lại, cẩn thận viên mép máng! Đừng để rách tay! — Tiếng thợ cả Lâm Tự vang lên vang rền át cả tiếng gió rít qua khe vách.

Anh đứng vắt vẻo trên cây đà chính của gian phòng thứ ba, một chân tỳ vào trụ đá hoa cương còn sót lại, hai tay thoăn thoắt dùng bẩy sắt nạy từng hàng ngói âm dương rêu phong. Nước mưa đọng trong kẽ ngói bắn tung tóe lên gương mặt góc cạnh sạm đen vì nắng gió. Lớp vữa vôi tôi trộn mật mía từ ba mươi năm trước nay đã mủn ra như cám ướt, bốc lên thứ mùi nồng nồng của vôi chết và rêu mục. Mỗi viên ngói tháo ra được anh cạo sơ lớp vữa mục bằng mũi bẩy rồi mới đưa xuống cho người bên dưới. Động tác của Lâm Tự dứt khoát, chuẩn xác đến từng phân tấc; một người thợ mộc lành nghề luôn biết rõ thanh gỗ dưới chân mình còn chịu được bao nhiêu cân trước khi thớ sợi bắt đầu xé toạc.

Ở lưng chừng giàn giáo dựng tạm bằng luồng và dây mây, bốn người thợ chèo đò gồm Trần Đại, Lê Trọng, Ngô Bính và Hà Tam dàn thành một dây chuyền sống. Những bắp tay cuồn cuộn quen chèo chống sóng dữ nay căng lên dưới sức nặng của từng chồng ngói đất nung. Áo tơi lá cọ khoác trên vai họ ướt sũng, rũ rượi quất vào thân giáo mỗi khi gió quẩn từ lòng vực thốc ngược lên.

— Đỡ lấy, Lê Trọng! — Trần Đại gầm nhẹ, chuyển hai viên ngói lành lặn sang tay bạn đò — Giữ chặt mép dưới, ngói này ngậm nước nặng gấp đôi bình thường đấy!

— Nhận được rồi! Chuyển tiếp cho bọn trẻ! Cẩn thận bàn chân, dầm trơn lắm!

Mồ hôi hòa lẫn nước mưa chảy ròng ròng qua những gò má hốc hác. Đôi bàn chân trần của cánh thợ đò bấm chặt vào thân cây luồng trơn nhẫy như mỡ, các ngón chân quắp chặt lấy từng mấu giằng mây. Họ không có pháp lực hộ thân, chẳng có bùa chú khinh thân của đám tu sĩ trên mây, nhưng sự bền bỉ của những kẻ cả đời đánh vật với thác ghềnh đã biến họ thành những chiếc cọc neo sống động nhất giữa cơn bão táp.

Phía dưới đất, Vũ Liên cùng nhóm phụ nữ và người già chia nhau đón ngói, xếp thành từng chồng vuông vức mười viên một ngay ngắn trên lối đi lát đá xanh của sân giữa. Đôi bàn tay của Vũ Liên bám đầy bụi vôi và mạt ngói đỏ quạch, những kẽ móng tay tướm máu vì va quẹt vào cạnh sắc của gạch vỡ, nhưng ánh mắt nàng chăm chú lạ thường. Cứ mỗi lần đón một viên ngói, nàng lại liếc nhìn về phía cọc tiêu bằng gỗ mộc cắm ở mép nứt hàm ếch. Trên cọc tiêu, sợi chỉ đỏ căng ngang qua vạch khắc trên đá vẫn đang rung bần bật dưới sức giật của ngọn gió đầu mùa lũ. Từng giọt bùn xám từ kẽ đá trào ra như máu rỉ từ vết thương hở của sườn núi, nhắc nhở nàng rằng thời gian đang trôi đi tính bằng từng hơi thở.

— Liên! — Đỗ Nghi từ gian chái bước ra, tay bưng rổ giẻ rách tẩm giấm và vôi bột, ống tay áo chẽn bó chặt lấy đôi cánh tay mảnh khảnh nhưng rắn rỏi — Lau sạch các đầu mộng xà gồ khi hạ xuống. Chỗ gỗ nào dính nước rỉ vàng từ kẽ nứt phải cách ly riêng, quét nước vôi khử uế ngay, tuyệt đối không để lẫn vào đống ván lát sàn! Nước ấy mang theo khí lưu huỳnh và mạt linh sa phân rã từ túi bùn, hít phải thì thối phổi, mà để ngấm vào gỗ sẽ làm mục ruỗng thớ lõi chỉ sau ba ngày bão ẩm!

— Vâng, Đỗ tỷ! Muội nhớ rồi! — Vũ Liên đáp, quệt vệt bùn trên trán bằng mu bàn tay thô ráp, rồi lại cúi xuống đón lấy hai viên ngói nặng trịch từ tay Ngô Bính.

Bùi Hạ đứng tựa lưng vào một gốc cột hiên của chính điện, cách mép công trường chừng hai trượng. Cánh tay phải của nàng vẫn bị nẹp chặt trong nẹp gỗ táu, các đầu ngón tay hơi sưng tím được Đỗ Nghi bọc kín bằng vải gai tẩm thuốc cao tiêu viêm nồng nặc mùi ngải diệp và hoàng bá. Nàng không thể tham gia bốc dỡ những vật nặng, kinh Phế bị phong tỏa khiến mỗi nhịp thở sâu đều nhói buốt nơi ngực phải như có mũi kim nung cắm vào. Nhưng nàng dùng con mắt tinh tường của một thợ sửa trận để bao quát toàn bộ tiến trình. Từng vết nứt trên vách vôi, từng độ võng của các vì kèo, từng âm thanh rên xiết của kết cấu gỗ dưới sức đè của ngói ướt đều được nàng thu trọn vào tâm trí.

— Lâm Tự! — Bùi Hạ cất giọng, tiếng nàng thanh và chắc, vang rền qua khoảng sân đầy gió ẩm — Dãy xà gồ gian số hai có đòn tay ăn sâu vào vách vôi giáp mé núi, đừng dùng bẩy bẩy ngược! Bên dưới là mạch rỗng của túi bùn, anh giật mạnh sẽ tạo lực chấn cơ học làm trôi luôn tảng đá đỡ mắt Ngọc Hành cũ đấy!

Lâm Tự khựng lại giữa nhịp búa. Anh buông chiếc bẩy sắt, cúi rạp người xuống thân đà, ghé sát mắt nhìn kỹ khe nứt nơi đầu gỗ chôn vào vách đá. Đúng như lời nàng nói, một vệt rạn chân chim li ti như mạng nhện vừa mới xé toạc lớp vữa trát, rỉ ra những giọt nước đùng đục mang mùi bùn hôi thối nồng nặc. Lực bẩy ngược nếu tác động vào lúc này sẽ đóng vai trò như một chiếc nêm nổ, bẻ gãy lớp đá phiến mỏng manh đang ngăn cách giữa nền nhà và lòng vực thẳm.

— Hiểu rồi! — Lâm Tự hô lớn, mồ hôi chảy vào khóe mắt cay xè — Đưa cho ta cái cưa tay răng lớn! Cắt ngang mộng, bỏ hai tấc đầu gỗ ngậm tường, giữ lấy thân xà!

Hà Tam từ dưới giàn giáo thoăn thoắt chuyền chiếc cưa sắt lưỡi cong lên. Tiếng cưa gỗ kèn kẹt rền vang nhịp nhàng giữa khoảng không ẩm ướt. Mạt gỗ xoan khô bay lả tả, bám vào mái tóc ướt sũng của Lâm Tự. Từng thanh xà gồ bằng gỗ xoan khô, gỗ táu và những đòn tay lim già hàng chục năm tuổi được tháo dỡ nguyên vẹn, nhẹ nhàng hạ xuống bằng dây thừng đay. Cứ mỗi thanh gỗ được đưa ra khỏi khung nhà, sức nặng đè lên thềm trượt đất sét mé đông lại giảm đi một phần. Đất dưới chân dường như thở phào một nhịp nhẹ, nhưng sự căng thẳng trong mắt Bùi Hạ không hề giảm bớt.

Mưa bắt đầu nặng hạt hơn khi trời chuyển về chiều. Từng giọt nước đập vào lớp nẹp gỗ trên cánh tay Bùi Hạ lạnh buốt, nhưng nàng không lùi vào mái hiên một bước. Đôi mắt nàng vẫn gắn chặt vào cọc tiêu chỉ đỏ. Sợi chỉ đã chùng xuống nửa phân, báo hiệu khối đất bên dưới đã dịch chuyển về phía vực thẳm thêm một khoảng cách chết chóc.

Đến đầu giờ Thân, khi viên ngói cuối cùng được xếp ngay ngắn vào sân trong và khung xà gồ trơ trọi cuối cùng được tháo xuống, một tiếng *rắc* khô khốc, rợn người bất ngờ vang lên từ lòng đất. Tiếng động không lớn nhưng mang theo một độ rung chấn kỳ dị, làm rung chuyển cả những phiến đá xanh dưới chân mọi người.

— Rút hết ra sân! Toàn bộ lùi lại! — Bùi Hạ hét lớn, bước chồm tới trước một bước bất chấp cơn đau nhói từ bả vai truyền thẳng vào cuống họng.

Lâm Tự phản xạ cực nhanh. Anh quăng chiếc búa sang một bên, đu người qua thanh giằng tạm thời bằng một động tác dứt khoát rồi nhảy tót xuống mặt đất đá hoa cương an toàn của sân chính. Cùng lúc đó, Trần Đại và Lê Trọng túm lấy vạt áo tơi của Vũ Liên cùng hai người phụ nữ khác, dùng toàn bộ sức mạnh cơ bắp của dân sông nước giật mạnh họ lùi sâu vào khoảng sân trong của chính điện.

Chỉ trong cái chớp mắt, khối đất sét pha sỏi dài hơn ba trượng ở góc đông nam của dãy phòng – nơi vừa mới được bóc sạch mái và rui mè – rùng mình trượt thẳng xuống vực sâu. Một mảng tường gạch ba banh không còn điểm tựa đổ sụp theo, vỡ vụn thành hàng ngàn mảnh vụn, kéo theo tiếng đất đá va đập ầm ầm vào vách núi sâu hun hút bên dưới. Âm thanh đất lở gầm vang như tiếng sấm ngầm nghẹn ứ dưới đáy sông. Khói bụi mù mịt kèm theo mùi bùn tanh bốc lên khét lẹt giữa màn mưa giăng, che khuất cả một góc trời xám xịt.

Mọi người đứng chết trân, lồng ngực phập phồng kịch liệt trong sự bàng hoàng tột độ. Gió thốc ngược từ vực sâu lên hất tung những lọn tóc bết bùn của đám đông đang run rẩy. Nơi mép đất vừa sụp xuống cách vị trí móng đá hoa cương của chính điện chưa đầy năm thước. Khoảng trống hoác hoác trơ ra một mặt cắt nham nhở, rỉ ra những dòng nước ngầm màu vàng đục như mủ. Nhưng kỳ diệu thay, do đã được dỡ bỏ hàng tấn ngói và gỗ nặng trĩu đè bên trên từ trước, mảng đá móng nguyên sinh bên dưới chính điện không hề xuất hiện thêm một vết rạn mới nào. Khối đá hoa cương cổ xưa vẫn đứng sừng sững như một người khổng lồ cắm rễ sâu vào lòng rặng Đoạn Phong.

Nguyễn Mộc đứng bên cạnh Bùi Hạ, hai tay chống chặt lên chiếc gậy tre bọc đồng, lồng ngực phập phồng sau cơn kinh hãi, thở hắt ra một hơi dài qua kẽ răng thưa:

— Con mắt của thợ kiểm định và thợ sửa trận quả không sai một ly. Nếu chúng ta chần chừ tiếc của không dỡ mái từ sáng, cú trượt vừa rồi ắt đã kéo sập cả gian chái kho đông và giật vỡ mạch dẫn linh Thạch Nhãn rồi. Khi ấy thì chẳng còn đạo quán nào nữa, mà chỉ còn một bãi tha ma dưới đáy vực thôi.

Bùi Hạ đưa tay trái áo quẹt nhẹ giọt nước mưa đọng trên chóp mũi, nhìn mảng vực sâu thăm thẳm đang cuồn cuộn hơi sương, rồi nhìn sang ba mươi hai con người mặt mày lấm lem bùn đất nhưng ánh mắt vẫn kiên định nhìn nàng chờ đợi mệnh lệnh tiếp theo. Nàng khẽ gật đầu, giọng nói bình thản trở lại:

— Đất lở đã lấy đi những gì nó muốn lấy. Phần còn lại là của chúng ta. Lâm Tự, thu gom toàn bộ số gỗ tháo dỡ về gian kho và chính điện. Chúng ta phải làm xong chỗ trú trước khi trời tối hẳn. Đêm nay, bão lũ sẽ đánh vào chân núi thật sự.

***

Công việc lập tức chuyển sang giai đoạn thứ hai mà không có lấy một phút ngưng trệ. Mất đi dãy phòng đông đồng nghĩa với việc toàn bộ ba mươi hai con người – gồm cả nhóm thợ chèo đò khỏe mạnh lẫn người già, trẻ nhỏ và những phu bệnh vừa được cứu về từ Đê Hồi Long – phải dồn hết vào hai không gian duy nhất còn an toàn: chính điện và gian nhà kho khô ráo phía tây. Mỗi tấc đất dưới mái che lúc này đều quý như vàng ngọc.

Lâm Tự không để lãng phí một mẩu gỗ nào. Sân trước đạo quán nhanh chóng biến thành một xưởng mộc dã chiến khổng lồ dưới tấm bạt rách căng tạm từ mái hiên chính điện ra ba thân cây gạo già. Mùi gỗ mục ẩm ướt nhanh chóng bị lấn át bởi mùi nhựa gỗ tươi nồng hắc khi những thanh xà gồ táu và đòn tay xoan được xẻ dọc, đẽo gọt lại vuông vức. Tiếng rựa chặt cành, tiếng cưa xẻ rền rĩ, tiếng đục gõ chan chát tạo nên một bản hòa âm hối hả của sự sinh tồn.

— Đỗ Tín, cậu vừa mới hạ sốt, ngồi yên trên bục đá giữ cữ thước cho ta thôi! — Lâm Tự vừa thoăn thoắt vung chiếc rìu đẽo phẳng một súc gỗ đòn tay, vừa nghiêm giọng nhắc nhở chàng thanh niên đang lom khom toan vác một khúc gỗ lớn.

Đỗ Tín gãi đầu, cười trừ, gương mặt vẫn còn nhợt nhạt sau những ngày bị đày ải ở khoang số bốn Đê Hồi Long, trên cổ chân vẫn còn quấn một dải băng vải nhuốm dịch thuốc vàng ệch:

— Lâm đại ca, em tuy chưa vác nặng được nhưng hai tay vẫn cầm cưa, gõ nêm được mà. Ngồi nhìn mọi người làm việc, chân tay em ngứa ngáy không chịu nổi. Cả đời em làm thợ phụ ở bến sông, có bao giờ ngồi không nhìn người ta đổ mồ hôi đâu.

— Ngứa ngáy cũng phải ngồi! — Đỗ Nghi từ trong gian bếp bưng ra một ấm nước rễ tranh sắc đặc, đặt mạnh xuống cạnh Đỗ Tín — Kinh mạch ở cổ chân đệ còn đang rỉ dịch mạt linh sa, muốn què hẳn để ta phải hầu hạ cả đời à? Ngồi đấy nạo sạch các đinh gỉ trên các tấm ván kia đi! Nạo cho sạch gỉ sét, rồi dùng giẻ tẩm giấm lau qua, tí nữa ghép sàn mới không bị mục mối!

Dưới sự chỉ huy chuẩn xác của Lâm Tự, những thanh gỗ dài nhất, chắc chắn nhất tháo từ dãy phòng đông được chia làm hai phần rõ rệt theo đặc tính chịu lực. Phần gỗ táu già và lim chịu lực được dùng để dựng hệ giằng cơ học chữ X kép áp chặt vào vách tường phía đông của chính điện. Vách tường này nay đã trở thành bức bình phong chắn gió ngoài cùng sau khi dãy phòng đông sụp đổ, phải hứng chịu toàn bộ sức giật của những cơn cuồng phong từ lòng sông thốc lên.

Lâm Tự đích thân đo đạc từng góc xiên. Anh dùng đục khoét mộng mang cá sâu ba phân vào thân cột hiên, liên kết các thanh chống xiên vào chân cột gỗ lim ngàn năm của điện thờ, tạo thành một khung giằng phân tán tải trọng vô cùng vững chãi. Hệ giằng này sẽ truyền toàn bộ rung chấn do gió xoáy từ sườn núi vào mảng đá gốc hoa cương dưới nền, biến toàn bộ chính điện thành một khối thống nhất kiên cố như bàn thạch.

Từng tiếng búa nện chốt nêm *chanh chách* vang lên đều đặn, đanh gọn giữa trời chiều. Cứ mỗi chiếc nêm gỗ ngâm dầu trẩu được đóng ngập vào khe mộng, vách tường đá chính điện lại như được khóa chặt thêm một tầng giáp kiên cố. Mộng gỗ ngậm khít vào nhau, không dùng một chiếc đinh sắt nào nhưng độ bền cơ học vượt xa mọi loại ốc vít kim loại vốn dễ bị gỉ sét trong môi trường ẩm mặn của sương mù sông nước.

Phần việc phức tạp hơn diễn ra bên trong gian nhà kho phía tây. Căn nhà kho này vốn tọa lạc trên nền đá cao nhất của đạo quán, trước đó đã được Bùi Hạ và Nguyễn Mộc phát hiện và xử lý triệt để tổ mối đất ăn ngầm. Toàn bộ nền đá kho đã được cạo sạch mùn đất, quét nước vôi đặc và rải một lớp tro bếp dày trộn vôi sống để chống ẩm và xua đuổi côn trùng độc hại. Nhưng gian kho vốn chỉ dùng để chứa ngũ cốc và ngư cụ cũ của các đạo sĩ thời trước, diện tích mặt sàn chưa đầy ba mươi trượng vuông, làm sao có thể chứa đủ chỗ ngủ cho phụ nữ, trẻ nhỏ và những người ốm yếu cần được giữ ấm?

Giải pháp của Lâm Tự là dựng phản ngủ nhiều tầng. Một cấu trúc không gian ba chiều mà anh từng thấy trên các thuyền buôn đường dài của phiên trấn phương Bắc.

Tận dụng những tấm ván sàn dày hai phân và số rui mè còn lành lặn được hạ xuống từ dãy phòng đông, Lâm Tự cùng thợ chèo đò Trần Đại dựng nên ba dãy sạp ngủ hai tầng áp sát vào vách đá kiên cố phía trong nhà kho.

— Tầng dưới cách mặt đất một thước năm tấc để hơi ẩm từ đá không ngấm vào lưng — Lâm Tự vừa dùng dây dọi căn thẳng hàng cọc tiêu vừa giảng giải cho Vũ Liên đang phụ giữ cột — Tầng trên cách tầng dưới hai thước rưỡi, đủ cho người lớn ngồi thẳng lưng mà không cộc đầu. Các góc nối bắt buộc phải dùng mộng thắt đuôi én, tuyệt đối không đóng đinh thẳng vào thớ gỗ, vì khi nhiều người cùng nằm, lực rung lắc sẽ làm đinh sắt nhổ bung ra ngay. Một cái đinh lỏng có thể làm sập cả một dãy sạp trong đêm tối.

Vũ Liên chăm chú lắng nghe, hai tay thoăn thoắt tra nêm gỗ theo hướng dẫn của thợ cả. Nàng dùng chiếc vồ gỗ gõ từng nhát dứt khoát vào đầu chốt, cảm nhận từng thớ gỗ khít chặt vào nhau dưới bàn tay mình. Nàng đã hiểu ra rằng cơ học và mộng gỗ của người phàm không hề thấp kém hơn những trận pháp phù triệt hư ảo; trong nghịch cảnh giông bão, một mối nối vững chãi chính là ranh giới giữa sự sống và cái chết. Trận pháp có thể sụp đổ khi linh mạch cạn kiệt, nhưng một cấu trúc mộng gỗ chuẩn xác sẽ đứng vững chừng nào thớ gỗ còn chưa nát vụn.

Ở một góc kho, cô bé Lâm An mười một tuổi cặm cụi quét sạch dăm bào rơi vãi trên sàn, gom vào những sọt tre nhỏ để dùng làm bùi nhùi nhóm lửa. Thấy cha dừng tay uống nước, em lật đật chạy lại, đưa cho cha chiếc giẻ khô lau mồ hôi, đôi mắt đen láy ngước nhìn những khung gỗ cao ngất:

— Cha ơi, sạp tầng trên cùng con với các bạn nhỏ trèo lên ngủ có bị sập không cha? Con nghe tiếng gió ngoài kia thổi mạnh quá, rung cả mái ngói.

Lâm Tự đỡ lấy chiếc giẻ từ tay con gái, nở nụ cười hiếm hoi làm giãn những nếp nhăn sâu hoắm trên vầng trán phong trần. Anh xoa đầu con, bàn tay thô ráp áp vào má cô bé:

— Cha dùng gỗ táu đẽo mộng đấy, ba con trâu mộng trèo lên dẫm cũng chẳng gãy nổi. Đêm nay con với lũ trẻ con Trịnh thị cứ yên tâm ngủ tít trên ấy, gió bão ngoài kia chẳng với tới được đâu. Cha đã chêm nêm chặt lắm rồi, có bão cấp mười cũng chỉ rung nhẹ như đưa võng thôi.

Lâm An cười tít mắt, ôm chặt lấy khúc gỗ vụn cha vừa đẽo thừa, dạ một tiếng thật giòn rồi lại chạy lăng xăng phụ giúp dọn dẹp các thanh gỗ vụn cho gọn gàng.

Đến khi ánh hoàng hôn đỏ quạch như máu le lói sau những tầng mây đen kịt cũng là lúc gian nhà kho hoàn toàn biến đổi. Ba dãy phản ngủ hai tầng vững chãi, thơm nồng mùi gỗ mới tỏa sáng dưới ánh đèn dầu le lói. Những tấm chiếu cói cũ được phơi khô trên bếp lửa ban trưa được trải ngay ngắn trên mặt dát gỗ phẳng phiu. Chỗ nằm của người già và bệnh nhân được bố trí ở tầng dưới gần cửa thông gió để Đỗ Nghi tiện bề thăm khám, châm cứu và sắc thuốc; còn phụ nữ và trẻ nhỏ được đưa lên tầng trên ấm áp, khô ráo, tránh xa hơi lạnh bốc lên từ lòng đất.

Chính điện rộng lớn cũng được quét dọn phong quang, chia thành hai khu vực rõ rệt bằng một bức vách ngăn dựng từ các tấm liếp đan bằng nứa: gian trước là nơi hội họp, quan sát và trực chiến của cánh đàn ông khỏe mạnh, gian sau kê các dãy phản gỗ đơn làm chỗ nghỉ luân phiên cho các đội canh gác đêm.

Một không gian sinh tồn thu nhỏ, chật chội nhưng an toàn tuyệt đối, đã được dựng lên ngay trên miệng vực thẳm chỉ bằng bàn tay và khối óc của những con người không chịu đầu hàng số phận. Khi cánh cửa kho được khép bớt lại để ngăn gió lạnh, mùi nhựa gỗ táu, mùi tro bếp và hơi ấm của hơi thở con người đã xua tan đi cái ớn lạnh của cái chết vừa sạt lở cách đó vài bước chân.

***

Đầu giờ Tuất, cánh cửa kho lương phía tây khép chặt lại sau lưng ba con người. Mùi ngũ cốc khô, mùi vôi sống và mùi sáp ong nồng đậm bao trùm khắp căn phòng nhỏ hẹp chỉ rộng chừng năm trượng vuông.

Ánh sáng từ ngọn đèn dầu lạc phản chiếu trên những gương mặt căng thẳng. Đây là cuộc họp kiểm kê định kỳ và khẩn cấp nhất của Ban kiểm kho ba bên kể từ ngày họ đặt chân lên đỉnh Đoạn Phong. Một bên là nhóm thợ mộc và dân tị nạn do Phạm Sương đại diện, một bên là y đạo và phụ nữ do Đỗ Nghi phụ trách, và bên còn lại là cánh thợ đá, thợ đò do lão Nguyễn Mộc đứng tên giám sát. Không ai được phép tự tiện mở cửa kho lương nếu không có đủ mặt của cả ba người cùng ba chiếc chìa khóa riêng biệt.

Phạm Sương ngồi xếp bằng trên chiếc bục gỗ nghiến kê cao cách mặt đất hai thước để tránh ẩm. Trước mặt bà là cuốn sổ bọc da cá nhám đã ố vàng vì hơi nước, cây bút lông chấm mực đen đã sẵn sàng trên nghiên đá mài nhẵn. Bên cạnh bà, Đỗ Nghi mặc áo chẽn xắn tay áo, tay cầm chiếc cân con bằng đồng thau cùng một chiếc kim bạc dài dùng để kiểm tra độc tính và khí ẩm; còn lão thợ đá Nguyễn Mộc ngồi đối diện, tay lần giở cuốn sổ đối chiếu độc lập thứ hai được ghi chép bằng thứ chữ chân phương mộc mạc của người lao động.

— Bắt đầu kiểm đếm — Tiếng Phạm Sương sắc gọn, trầm tĩnh vang lên trong không gian kín mít nồng đượm mùi hạt ngũ cốc — Đỗ Nghi kiểm phẩm chất trước, ta cân trọng lượng, Nguyễn thúc ghi sổ. Bất kỳ hạt nào ẩm mốc hay nghi ngờ nhiễm nước lũ đều phải loại bỏ ngay, không để lây lan sang các bao nguyên vẹn.

Đỗ Nghi gật đầu, tiến lại dãy bao tải kê ngay ngắn trên các thanh đà gỗ nghiến cách mặt đất một khoảng thông thoáng. Nàng rút chiếc trâm bạc chọc sâu vào bao tải gai đầu tiên, xoay nhẹ nửa vòng rồi rút ra một vốc hạt. Bột ngũ cốc khô ráo rơi lả tả qua kẽ tay nàng, để lại những hạt gạo tròn trịa, trắng đục.

— Bao thứ nhất: Gạo trắng đổi công từ chuyến hàng của Thương hội Tam Giang với cô nương Tống Mai. Không có dấu hiệu ẩm mốc, trâm bạc không đổi màu, không có mùi chua. Đạt chuẩn loại một.

Phạm Sương nhấc bao gạo đặt lên bàn cân đòn bằng gỗ nghiến có quả cân đồng:

— Đúng năm mươi tám cân ba lạng. Đã trừ hao hụt do va quẹt trên đường thồ từ chân núi lên.

Nguyễn Mộc chấm bút, nắn nót ghi vào trang sổ của mình: *Gạo trắng Tam Giang: 58 cân 3 lạng.*

— Tiếp tục — Đỗ Nghi bước sang góc trong cùng, nơi xếp năm bao tải màu xám tro kỳ lạ, bên ngoài bọc hai lớp da dầu tráng sáp ong dày cộp, buộc chặt bằng dây thừng gai đỏ có đóng dấu xi niêm phong hình ngọn sóng của huyện nha — Đây là số lương thực bồi dưỡng ngoài sổ sách mà Huyện thừa Hoàng Cẩn cấp ngầm sau khi nghiệm thu rãnh xả ngầm khoang số bốn Đê Hồi Long.

Ánh mắt cả ba người đều dừng lại ở năm bao tải này. Không gian dường như ngưng đọng lại trong một thoáng. Đây chính là chiếc phao cứu sinh lớn nhất mà công sức máu thịt của Lâm Tự, Bùi Hạ và nhóm thợ Vọng Đăng đã đổi về được từ công trường bùn lầy ngập ngụa cái chết.

Đỗ Nghi cẩn thận dùng dao rạch một đường nhỏ trên lớp da sáp của bao tải thứ nhất. Mùi thơm ngậy, ngai ngái của bột ngũ cốc sao chín trộn mỡ cừu và muối hầm lập tức lan tỏa khắp gian kho. Nàng dùng đầu ngón tay vê một mẩu lương khô hình khối vuông vức, nếm thử một chút nơi đầu lưỡi rồi nhắm mắt cảm nhận dược tính và độ ẩm, đoạn gật đầu dứt khoát:

— Bánh lương khô quân dụng dự phòng của huyện phủ. Thành phần gồm bột kê, đậu tương rang, mè đen và mỡ động vật ép bánh bằng máy nén thủy lực, sấy khô tuyệt đối. Không có nấm mốc, năng lượng cực cao, không ngậm nước. Mỗi người chỉ cần ăn nửa bánh ngâm nước sôi là đủ năng lượng lao động nặng một ngày mà không bị cồn ruột. Phẩm chất thượng hạng, được bảo quản bằng sáp nguyên chất.

— Cân bao thứ nhất: Ba mươi cân chẵn — Phạm Sương đọc to sau khi dịch chuyển quả cân — Cả năm bao nguyên niêm phong sáp đỏ: đúng một trăm năm mươi cân bánh lương khô quân dụng.

Nguyễn Mộc ghi chép thoăn thoắt, bàn tay già nua chai sần khẽ run lên vì xúc động:

— Một trăm năm mươi cân lương khô... Thật là trời cứu người lương thiện. Có số lương khô này, lũ thợ đò và đám thợ mộc của Lâm Tự mới có sức mà chống chọi với mưa gió ngoài kia.

— Còn số ngũ cốc cũ và củ mài khô hái lượm thì sao? — Phạm Sương tiếp tục rà soát, ánh mắt nghiêm cẩn không bỏ sót một chi tiết nào.

— Củ mài thái lát sấy tro bếp: còn lại chín mươi hai cân, hoàn toàn khô ráo, không bị mọt — Đỗ Nghi kiểm tra góc kho đối diện — Muối hạt Diêm Trì nhận từ Tam Giang: bốn mươi hai cân, đã bọc ba lớp lá chuối khô chống chảy nước, kê trên bệ đá cao. Bột kê vụn còn nửa bao, tương đương mười sáu cân. Hai bao thóc giống để góc trong cùng tạm thời không đụng tới để dành gieo vụ sau lũ, đã bọc vôi bột xung quanh để trừ chuột bọ.

Phạm Sương nhắm nghiền mắt lại trong vài giây. Các ngón tay gầy guộc của bà thoăn thoắt gảy những hạt tính vô hình trong đầu với sự chính xác tuyệt đối của một chưởng quỹ từng kinh qua bao sóng gió thương trường xứ Đoài:

— Ba mươi hai miệng ăn. Trong đó có bốn người ốm nặng cần bồi dưỡng thêm một phần tư khẩu phần thuốc thang và cháo loãng, mười hai phu tráng làm việc nặng trực bão lũ cần năng lượng cao gấp đôi người thường, còn lại mười sáu người già, phụ nữ và trẻ nhỏ tiêu hao ở mức căn bản.

Bà mở mắt ra, ánh mắt sắc như dao nhìn thẳng vào Đỗ Nghi và Nguyễn Mộc:

— Quy chế phân phối mới trong thời gian bão lũ đỉnh điểm như sau: Tuyệt đối không nấu cơm hạt để tránh khói lửa thu hút sự chú ý và tránh ẩm mốc bốc lên trong gian kho kín. Toàn bộ chuyển sang hình thức cháo ngũ cốc đặc nấu chung giữa bột kê, củ mài giã nhỏ và một phần gạo trắng. Mỗi ngày chỉ đỏ lửa một lần vào đầu giờ Thìn tại gian bếp kín gió của chính điện, nấu một nồi lớn rồi chia vào ba thùng gỗ ủ nóng trong trấu để ăn hai bữa sáng và chiều. Phần bánh lương khô quân dụng tuyệt đối không chia tùy tiện cho từng cá nhân; mỗi ngày chỉ trích đúng sáu cân chia làm các mẩu nhỏ bồi dưỡng độc lập cho những người trực ca đêm trên gác đèn và toán ứng trực sạt lở mé đông.

Nguyễn Mộc gật gù tán thành, gõ nhẹ chiếc tẩu rỗng vào cán gậy:

— Cách này rất chặt chẽ. Ăn cháo đặc vừa đỡ tốn củi, vừa giữ được nước trong cơ thể, lại không sinh nhiệt độc. Vậy tính tổng cộng các nguồn, chúng ta cầm cự được bao lâu nếu đường núi bị cô lập hoàn toàn?

Phạm Sương hít một hơi sâu, ngón tay điểm mạnh lên mặt bàn gỗ nghiến:

— Nếu ăn dè sẻn theo đúng định mức này, không phung phí một giọt cháo, kho lương của chúng ta bảo đảm đủ ăn no ở mức an toàn sinh mạng cho toàn bộ ba mươi hai con người trong đúng mười hai ngày tới!

Mười hai ngày!

Một con số không quá dài đối với một đời người, nhưng đối với những kẻ từng đứng trước nguy cơ chết đói chỉ sau ba ngày cách đây chưa lâu, mười hai ngày giữa tâm bão lũ chính là một kỳ tích vô song. Đợt đỉnh lũ lớn nhất trong năm dù có kéo dài đến đâu thì theo quy luật thủy văn sông Vân Hà cũng chỉ hoành hành dữ dội nhất trong bảy đến mười ngày trước khi nước bắt đầu rút cạn về hạ lưu. Họ đã nắm chắc chiếc chìa khóa sinh tồn trong tay, không còn phải quỳ gối xin xỏ từng bát cám thối của Thương hội Tam Giang hay trông chờ vào sự bố thí của Trấn Linh Ty nữa.

— Khóa kho! — Phạm Sương dứt khoát đứng dậy.

Ba ổ khóa đồng chắc chắn được bấm *tách* liên tiếp, âm thanh giòn giã vang lên trong sự chứng kiến của cả ba bên. Ba chiếc chìa khóa bằng đồng thau lần lượt được Phạm Sương, Đỗ Nghi và Nguyễn Mộc cất giữ riêng biệt vào túi da đeo sát trước ngực. Nguyễn Mộc cầm tờ biên bản kiểm kê vừa ráo mực, bước ra gian ngoài chính điện, dùng hồ dán dán công khai lên bức tường đá ngay cạnh cửa ra vào để bất kỳ người phu đò hay người mẹ nào cũng có thể tự mắt mình đọc, hiểu và cùng nhau giám sát sự công bằng đến từng lạng gạo.

***

Khi Phạm Sương hoàn tất việc niêm yết sổ kho thì Bùi Hạ đã bước lên những bậc thang gỗ hẹp dẫn lên gác đèn Đạo quán Vọng Đăng.

Mỗi bậc thang gỗ lim rên rỉ dưới sức nặng của nàng. Cơn đau từ bả vai phải vẫn nhói buốt theo từng nhịp tim đập, nhưng nàng cắn răng chịu đựng, tay trái vịn chặt vào lan can phủ đầy rêu phong. Gió trên đỉnh gác chuông rít gào như tiếng đàn sói đói bị dồn vào chân tường. Không khí trên cao loãng hơn, lạnh buốt và sặc sụa mùi hơi nước bốc lên từ lòng sông cuộn sóng.

Những nan chớp gỗ lim nghiêng ba mươi độ mà Lâm Tự gia cố trước đó phát huy tác dụng phi thường: chúng xé nhỏ luồng gió quẩn hung bạo thành những luồng khí tản mạn, ngăn không cho áp lực gió bẻ gãy hệ thống mái che nhọn hoắt của đài quan sát. Gió luồn qua các khe chớp tạo thành những tiếng rít u u như tiếng sáo trầm, nhưng cấu trúc khung gỗ bên trong vẫn đứng im lìm, vững như bàn thạch.

Tiếng bước chân nặng nề, vững chãi vang lên sau lưng nàng. Lâm Tự bước lên sàn gỗ, trên vai vác theo một bó dây mây ngâm dầu trẩu và một hộp đồ nghề bằng đồng hun đã tróc sơn.

— Sao nàng không ở dưới nghỉ ngơi? Tay còn đau thế kia, leo lên đây hứng gió lạnh làm gì? — Lâm Tự càu nhàu, nhưng giọng điệu đầy vẻ quan tâm kín đáo. Anh bước tới chắn ngay ở mạn đón gió, thân hình vạm vỡ như một bức tường thành che bớt luồng khí lạnh buốt đang thốc thẳng vào vạt áo đơn bạc của nàng.

Bùi Hạ khẽ lắc đầu, khóe môi thoáng hiện một nụ cười nhạt nhưng kiên định:

— Đêm nay nước về. Ở dưới đất ta không yên lòng được. Trận pháp của đạo quán có vững hay không, đêm nay chính là bài thi khảo nghiệm cuối cùng.

Trước mặt họ, ngọn Đăng Dẫn Lộ – pháp khí cổ xưa duy nhất còn sót lại của đạo quán từ thời khai sơn phá thạch – đang tỏa ra một quầng sáng màu hổ phách mờ ảo bên trong chụp lồng bằng thạch anh mờ đã phủ đầy bụi thời gian.

Ngọn đèn này không chỉ là một ngọn đuốc thắp bằng dầu lạc thông thường. Bên dưới đáy đèn là một trận bàn điều tiết tinh vi bằng đá thanh hoa kết hợp với các vòng khuyên bằng đồng đỏ khắc đầy phù văn tụ linh thời cổ. Suốt mười mấy ngày qua, ngọn đèn chỉ được nuôi dưỡng cầm chừng bằng dầu thô cặn và tim đay mục nát, ánh sáng chỉ leo lét chiếu không quá vài chục trượng trong sương mù, như một đốm đom đóm thoi thóp giữa đêm trường.

Nhưng lúc này, Bùi Hạ dùng bàn tay trái lành lặn thò vào túi áo trong, chậm rãi rút ra một vật bọc trong lụa điều.

Khi lớp lụa mở ra, một khối linh thạch trung phẩm màu xanh lam nhạt lộ diện. Viên đá to bằng quả trứng chim le le, bề mặt lấp lánh những đường vân mây tự nhiên uốn lượn như dòng nước chảy, tỏa ra một luồng linh khí dịu mát làm dịu đi cả cái lạnh buốt của gió bão. Đây là viên linh thạch dự trữ tối ưu cuối cùng mà nàng đã gìn giữ cẩn thận như tính mạng mình từ ngày rời khỏi Thanh Huyền Môn, chưa từng dám đem ra sử dụng ngay cả trong những đêm lạnh giá nhất nơi hoang dã.

— Đinh Tuệ đã nghiệm thu trận pháp thu nhỏ, nhưng nàng ấy không biết rằng để một ngọn đèn xuyên thấu qua màn sương mù dày đặc của đỉnh lũ trăm năm, chỉ dựa vào linh lực tự nhiên rỉ ra từ Thạch Nhãn là không đủ — Bùi Hạ nhẹ nhàng nói, mắt nhìn chăm chú vào khối đá trong tay — Áp lực của mây lũ sẽ bóp nghẹt ánh sáng tự nhiên. Chúng ta cần một điểm kích nổ linh lực có kiểm soát.

Lâm Tự ngồi xổm xuống cạnh bệ đèn, mở nắp hộp đồ nghề, rút ra chiếc kìm đồng nhỏ và một thanh nạo gỉ:

— Nàng định đấu nối nó vào đâu? Cấu trúc đồng này mỏng manh lắm, không cẩn thận là cháy đứt mạch dẫn ngay.

— Nhìn đây — Bùi Hạ nghiêng người, ngón tay trái mảnh mai chỉ vào ba đường rãnh ngầm bằng ống đồng mảnh như cọng rơm dẫn từ chân cột gác chuông lên — Ba phần mười lưu lượng linh tuyền Thạch Nhãn dẫn lên đây vốn chia làm hai nhánh: một nhánh nuôi ngọn đèn, một nhánh xả áp vào không khí để chống sét đánh trúng gác chuông. Giờ ta cắt nhánh xả áp, dùng khối linh thạch này làm vật đệm trung hòa ở điểm giao nhau. Năng lượng xả áp sẽ bị hút ngược vào linh thạch, nén lại rồi phóng thích toàn bộ vào tim đèn thạch anh.

Nàng đưa khối linh thạch cho Lâm Tự. Lâm Tự hiểu ý ngay tắp lự. Bằng đôi bàn tay khéo léo của người thợ mộc am hiểu cấu trúc vật liệu và các ngàm chịu lực, anh đặt viên đá vào đúng ngàm giữ bằng đồng ở tâm trận bàn. Anh không dùng búa mà dùng ngón tay cái ấn mạnh, khéo léo chêm các chốt nêm gỗ táu nhỏ xíu vào bốn góc sao cho bề mặt linh thạch tiếp xúc hoàn hảo với ba đầu dây dẫn linh mạ bạc, không để hở một ly nào.

— Xong rồi. Khóa nêm đã khít. Ba điểm tiếp xúc đều vững — Lâm Tự khẽ nói, ngẩng đầu nhìn nàng.

Bùi Hạ hít sâu một hơi. Nàng không dùng tay phải đang bị nẹp thương tật, mà chậm rãi giơ ngón trỏ của bàn tay trái lên. Dù kinh Phế bị Đỗ Nghi phong tỏa phần lớn để tránh độc khí phát tác, nhưng một dòng linh lực mộc tính thuần khiết, thanh mảnh như sợi tơ nhện vẫn từ đan điền nàng nhẹ nhàng tuôn ra theo đầu ngón tay, rót thẳng vào điểm kích hoạt ở cuống tim đèn.

*Ong...*

Một tiếng ngân nga thanh tao, trầm bổng vang lên từ đáy lồng đèn thạch anh, lan tỏa khắp sàn gỗ gác chuông như tiếng chuông đồng vọng lại từ cõi xa xăm.

Khối linh thạch trung phẩm bừng sáng rực rỡ. Dòng linh khí nén chặt bên trong hòa quyện với linh lưu thanh khiết ba phần mười dẫn lên từ giếng Thạch Nhãn, tạo thành một vòng tuần hoàn khép kín, tối ưu hóa đến từng phân lượng. Ngọn lửa vàng vọt yếu ớt bên trong chụp đèn thình lình biến đổi, vươn cao lên ba tấc, chuyển sang một màu trắng xanh rực rỡ, tinh khiết và vững chãi như một cột ngọc lưu ly được mài giũa cẩn thận.

Chụp đèn thạch anh mờ rung lên bần bật rồi khuếch đại luồng sáng ấy lên gấp trăm lần.

Luồng ánh sáng ấy xuyên thủng màn đêm đen đặc quánh, phóng thẳng ra không trung, quét một vệt dài hàng dặm qua thung lũng sông Vân Hà mịt mùng phía dưới. Sương mù dày đặc gặp phải ánh sáng trắng xanh lập tức tản ra như băng tuyết gặp lửa than, để lộ ra những khoảng không gian rực rỡ giữa nền trời u ám.

Lâm Tự đứng thẳng người dậy bên cạnh Bùi Hạ. Gió bão quất phần phật vào vạt áo hai người, tà áo thô của họ bay l phần phật trong gió, nhưng quầng sáng rực rỡ quanh ngọn đèn tạo ra một vùng ấm áp kỳ lạ, xua tan cái lạnh thấu xương của núi rừng.

— Sáng thật... — Lâm Tự lẩm bẩm, ánh mắt anh nhìn theo luồng sáng rực rỡ đang rọi xuống dòng sông cuộn sóng phía xa xăm — Đứng từ bến sông nhìn lên, ngọn đèn này giống như một vì sao không bao giờ rụng. Người đi đò giữa đêm tối chỉ cần nhìn thấy nó là biết đường về bến, không sợ đâm vào đá ngầm nữa.

Bùi Hạ nhìn luồng sáng ấy, nhưng nơi đáy mắt nàng lại dâng lên một nỗi âu lo trĩu nặng, ánh mắt nàng thăm thẳm như đáy vực không cùng:

— Sáng, nhưng cái giá phải trả không hề nhỏ. Mỗi canh giờ thắp sáng ở mức công suất này sẽ tiêu hao một phần mười lượng linh lực dự trữ của viên đá. Chúng ta chỉ có thể duy trì nó trong những thời khắc hiểm nghèo nhất. Khi linh thạch cạn kiệt, ngọn đèn sẽ lại trở về với sự yếu ớt vốn có của nó.

Lâm Tự quay sang nhìn gương mặt nghiêng thanh tú nhưng hằn sâu những nét mệt mỏi của người con gái bên cạnh. Những sợi tóc mai ướt nước dính vào gò má nàng, làn da nàng trắng bệch vì kiệt sức và nội thương chưa lành. Anh trầm ngâm một lát rồi cất giọng trầm ấm, phá tan tiếng gió hú:

— Hạ, Tạ Duy trước khi đi đã nói một câu... Hắn bảo ngọn đèn của chúng ta liệu có cứu nổi người dưới bến đêm nay không. Hắn muốn thấy chúng ta thất bại, muốn thấy ngọn đèn này tắt lịm để chứng minh rằng chỉ có bạc vàng của Thương hội hắn mới cứu được mạng người. Nàng... vẫn sợ phải lựa chọn giữa việc cứu người dưới núi và giữ nguồn sống cho những người trên này sao?

Bùi Hạ im lặng. Gió đêm lùa qua mái tóc nàng, làm bay những sợi tóc rối vương trên trán. Câu hỏi của Lâm Tự chạm đúng vào góc sâu kín và đau đớn nhất trong tâm khảm nàng suốt từ ngày thảm họa bắt đầu. Nàng từng là đại đệ tử của Ty Trận Vụ Thanh Huyền Môn, từng bị trục xuất vì kiên quyết không chịu ký vào bản vẽ ăn bớt kết cấu đê điều, không thỏa hiệp với sự dối trá của phường tham quan ô lại. Nhưng ở đây, trên ngọn núi cô độc này, đạo lý không còn đơn giản là đúng hay sai nữa. Việc nàng chọn thắp sáng ngọn đèn hết công suất để cứu những người tha hương lạc lối dưới chân núi có thể sẽ đồng nghĩa với việc rút cạn giọt linh tuyền cuối cùng của Thạch Nhãn, làm sụp đổ hệ thống móng đá hoa cương và đẩy ba mươi hai con người đang nương tựa vào nàng vào chỗ chết.

— Ta sợ — Nàng khẽ nói, giọng nàng chìm trong tiếng gió rít nhưng từng từ đều rõ mồn một — Người thợ sửa trận giỏi nhất là người biết rõ giới hạn chịu tải của từng thanh gỗ, từng phiến đá, từng mạch linh khí. Một thanh đà chịu được ngàn cân thì không thể đặt lên nó một ngàn lẻ một cân. Nhưng mạng người... không có thước nào đo được giới hạn chịu tải cả. Làm sao ta biết được khi nào cần buông tay một mạng người để giữ lấy ba mươi mốt mạng còn lại?

Lâm Tự không nói gì thêm. Anh không phải là tu sĩ, không hiểu hết những triết lý cao siêu về nhân quả hay thiên đạo mà đám đệ tử Thanh Huyền Môn thường rao giảng. Nhưng anh là một người thợ mộc sinh ra từ bùn đất, lớn lên bên rìu đục và sóng gió. Anh chỉ lặng lẽ bước lên nửa bước, vươn bàn tay thô ráp, chai sần vì cưa đục, khẽ đặt lên bờ vai trái lành lặn của nàng.

Bàn tay ấm áp và vững chãi lạ lùng, truyền qua lớp vải gai ướt lạnh một luồng nhiệt lượng kiên định, tựa như những mối mộng đuôi én bằng gỗ lim mà anh vừa đóng chặt vào lòng vách núi đá hoa cương.

— Đừng gánh một mình. Mái nhà này là của ba mươi hai con người, không phải của riêng nàng. Nếu phải chọn, chúng ta sẽ cùng chọn. Dù sống hay chết, dân Vọng Đăng này chưa từng bỏ rơi người cùng thuyền. Nàng đã dựng lại mái nhà cho họ, thì họ cũng sẽ là cột chống cho nàng khi bão tới.

Bùi Hạ khẽ run lên. Bờ vai nàng như nhẹ đi một nửa dưới bàn tay thô ráp của người thợ cả. Nàng ngước nhìn luồng sáng trắng xanh đang kiêu hãnh rạch đôi màn sương mù, cảm thấy sự cô độc dằng dặc bấy lâu nay dường như đã tan biến vào hư không.

***

Sự tĩnh lặng hiếm hoi giữa hai người bị xé toạc một cách tàn nhẫn.

*U... U... U...*

Từ phương xa dưới chân thung lũng, một chuỗi âm thanh ghê rợn, thê thiết bất thần trỗi dậy. Tiếng động ban đầu trầm đục như tiếng sấm dưới đáy vực, rồi nhanh chóng vút cao lên thành một tiếng rít xé lòng người. Đó không phải tiếng gầm của gió xoáy, cũng không phải tiếng sấm sét rền vang của thiên lôi.

Đó là tiếng tù và bằng vỏ ốc biển và tiếng còi đồng báo động lũ cực đại phát ra từ điếm canh trung tâm của Bến Bạch Sa!

Ba hồi chín tiếng còi dồn dập, đứt quãng rồi lại nối dài thành một dải âm thanh tang tóc, xé toạc màn sương mù dày đặc, mang theo nỗi kinh hoàng tột cùng dội ngược lên các vách đá dựng đứng của núi Đoạn Phong. Mỗi tiếng còi rúc lên là một nhát dao cứa vào màn đêm, báo hiệu rằng mức nước sông đã vượt qua cọc báo động đỏ cuối cùng của huyện phủ.

Dưới ánh sáng rực rỡ của ngọn Đăng Dẫn Lộ vừa được kích hoạt, Bùi Hạ và Lâm Tự bàng hoàng nhìn xuống hạ lưu sông Vân Hà.

Cảnh tượng bên dưới khiến máu trong huyết quản họ như đông cứng lại.

Mặt sông Vân Hà – vốn đã dâng cao ngập quá các rặng cây ven bờ từ trưa nay – nay biến thành một biển nước khổng lồ hung tợn, đen ngòm và cuồn cuộn sóng dữ. Nước từ thượng nguồn đổ về với tốc độ kinh hoàng, cuốn theo những thân cây cổ thụ gãy đổ, những mái nhà tranh trôi dạt và xác súc vật nổi lềnh bềnh. Hàng trăm con thuyền nan, bè mảng và những cụm bè tre chở đầy người tị nạn từ các làng mạc hạ lưu đang bị dồn ứ lại quanh khúc quanh hiểm trở của Bến Bạch Sa.

Họ chạy trốn khỏi những vùng đồng bằng ngập lụt, cố gắng tìm đường cập vào bến đá Đoạn Phong để tìm đường lên núi, nhưng dòng nước xoáy tử thần ở khúc quanh đang nuốt chửng từng chiếc một. Những ngọn đuốc dầu leo lét cắm trên mũi thuyền chao đảo dữ dội giữa sóng nước đục ngầu, chốc chốc lại bị một con sóng lừng dập tắt ngấm.

Tiếng chiêng đồng gõ cầu cứu dồn dập *chát chát chát*, tiếng gào khóc thảm thiết của đàn bà mất con, tiếng đàn ông la hét tuyệt vọng trong đêm tối dội lên vách núi nghe như tiếng than khóc từ chốn địa ngục trần gian.

Bến sông sắp vỡ trận hoàn toàn. Những chiếc thuyền tị nạn không thể cập bờ vì bùn lầy đã lấp kín các bậc đá, và dòng nước xoáy tử thần đang cuốn phăng từng mảng cọc tiêu mà Thương hội Tam Giang cắm hồi sáng. Những con thuyền va đập vào nhau vỡ vụn, người rơi xuống sông chới với trong dòng nước xiết cuộn đỏ quạch bọt phù sa.

Và rồi, điều tồi tệ nhất, nỗi kinh hoàng mà Bùi Hạ lo sợ nhất trong suốt những ngày qua, đã thực sự xảy ra.

Từ phía thượng nguồn xa xăm – nơi tọa lạc tuyến đê chính kiên cố do chính Ty Trận Vụ Thanh Huyền Môn đảm trách thiết kế và gia cố bằng hàng vạn khối linh sa – một ánh chớp đỏ rực bùng lên xé toạc chân trời mây đen. Đó là ánh sáng của một trận pháp phòng ngự cấp cao bị vỡ nát, linh lực phản phệ tạo thành một cột lửa đỏ ngầu bốc cao lên tận chín tầng mây.

Một tiếng nổ ầm vang rền từ đê thượng nguồn vọng lại giữa đêm đen, kéo theo dòng nước cuồn cuộn đỏ ngầu tràn thẳng về phía chân núi Đoạn Phong.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories