Tông Môn Sau Cơn Lũ — Phần 1: Ngọn Đèn Trên Núi VỡCh.31 / 40
Chapter 31

Lịch Thắp Đèn Giữa Mù Sương

Tiếng nổ vỡ đê phụ thượng nguồn đêm qua vừa dứt thì đợt sóng lũ đầu tiên cuộn phù sa đỏ ngầu đã tràn ngập bãi bồi chân núi; từ gác chuông Đạo quán Vọng Đăng, Bùi Hạ nhìn xuống dòng nước xiết đang liếm dần mép đá dưới ánh chớp rạch ngang trời.

Dưới đáy thung lũng, dòng sông Vân Hà không còn ranh giới bờ bãi quen thuộc. Nó đã phình to thành một con thủy quái hung tợn, ngầu bọt đỏ thẫm như máu trâu, cõng theo những thân cây mục gãy nát, mái rạ trôi giạt và vô số phế tích của các công trình thượng lưu bị vò nát. Mùi bùn non tanh tưởi hòa lẫn mùi hôi khét của quặng linh sa thiêu kết bốc lên nồng nặc trong gió buốt. Từng đợt sóng lừng đập vào chân vách đá dựng đứng của núi Đoạn Phong phát ra tiếng gầm trầm đục như tiếng cối đá khổng lồ nghiền nát đá tảng dưới đáy sâu. Từng mảng đất bồi ven sông nứt toác, đổ ụp xuống lòng nước sủi tăm, để lại những hàm ếch lở loét đen ngòm. Mưa như trút từ các tầng mây thấp trĩu hạt, gió thung lũng quất thẳng vào vách núi, cuốn theo bọt nước táp rát bỏng mặt người đứng trên độ cao mười lăm trượng.

Giữa màn nước xiết điên cuồng ấy, một chấm đen nhỏ nhoi đang ngoan cường trồi sụt.

Đó là một chiếc thuyền nan lòng nông của Hội Đồng Châu. Thân thuyền chao đảo dữ dội, chốc chốc lại bị những xoáy nước ngầm kéo chìm mạn thuyền xuống sát mặt phù sa cuồn cuộn. Lòng thuyền chỉ dài hơn hai trượng, ghép bằng những nan tre cật đan khít trét ba lớp sơn ta trộn mùn cưa, vốn chỉ dùng để luồn lách qua các bãi cạn ngày thường, nay đang oằn mình chống chọi với sức nặng của con nước dữ. Đứng ở đuôi thuyền, một bóng người mảnh khảnh nhưng rắn rỏi đang gò lưng ghìm chặt mái chèo bản rộng bằng gỗ sến. Cánh tay áo tơi tơi tả phần phật trong gió bão, từng nhịp chèo dằn xuống mặt nước không chỉ bằng sức cơ bắp mà bằng cả sự thấu hiểu luồng lạch đến từng ngọn sóng xoáy. Mỗi lần mũi thuyền chúc xuống hố nước sâu, người ấy lại dậm gót chân xuống sàn gỗ, mượn đà bật ngược sống lưng để bẩy mái chèo, xé toạc lớp bọt đỏ ngầu để giữ cho lòng thuyền không bị lật úp.

— Là thuyền của Hà Thu! — Tiếng Vũ Liên vang lên từ phía sau lưng Bùi Hạ, xen lẫn tiếng gió rít qua ô cửa thông gió của gác chuông.

Cô gái trẻ chồm người qua thành lan can gỗ, hai bàn tay siết chặt lấy thanh giằng gỗ táu đến mức các khớp ngón trắng bệch. Những giọt nước mưa đọng trên chỏm tóc mai của nàng bị gió giật tung, bắn thành hạt li ti vào vạt áo bào xám. Nàng dán mắt vào khoảng nước sôi réo dưới bến đá, ngực phập phồng theo từng nhịp chao của con thuyền:

— Thuyền sắp bị hút vào bọng nước ngầm chỗ bãi cọc rào rồi! Mũi thuyền đang trôi ngang!

Bùi Hạ không đáp, ánh mắt nàng đăm đăm nhìn xuống. Cánh tay phải của nàng vẫn bị nẹp chặt bằng hai thanh nẹp gỗ táu, lớp băng vải gai bên trong tẩm cao tiêu viêm dán chặt các huyệt Liệt Khuyết và Thái Uyên, tê rần rần theo từng đợt hơi lạnh thấu xương. Đợt chấn thương từ lần gãy đổ xà ngang ba hôm trước vẫn còn âm ỉ rỉ máu ngầm dưới da, mỗi nhịp tim đập đều dội lên một cơn nhức buốt dọc theo kinh lạc cánh tay. Nàng chỉ còn tay trái có thể cử động tự do. Bàn tay gầy guộc nhưng nổi rõ những đường gân xanh bấu chặt lấy chuôi cọc tiêu bằng đồng cắm ở bệ đá, ngực thắt lại. Ở độ cao này, nàng có thể thấy rõ dòng xoáy ngầm do vụ nổ đê phụ đêm qua tạo ra đang khoét một hàm ếch khổng lồ ngay mép bến đá. Nước đục xoáy tròn thành một cái phễu sâu hoắm, hút sạch rác rưởi và cành cây mục vào miệng vực ngầm dưới đáy. Chỉ cần chệch tay chèo một gang tấc, con thuyền nan sẽ bị vặn gãy đôi như một que củi khô.

Nhưng Hà Thu không chệch. Bằng một cú bẻ lái ngoạn mục, nàng mượn chính lực đẩy của con sóng lừng vừa ập tới để hất mũi thuyền vọt qua bãi đá ngầm. Mái chèo gỗ sến cong vút lên như một cánh cung chịu tải cực hạn, phát ra tiếng cọt kẹt rợn người trước khi lưỡi chèo cắn sâu vào luồng nước xuôi, đẩy con thuyền lao thẳng vào bờ cát bồi ven gờ đá của Bến Bạch Sa. Chiếc thuyền trượt dài trên lớp bùn nhão nhoét, lườn thuyền cày một vệt sâu hoắm trước khi mũi cắm phập vào gò đất cao còn sót lại.

Hà Thu lập tức nhảy phắt xuống nước, bùn ngập đến tận đầu gối. Nàng chẳng buồn buộc dây neo, cứ thế cắm đầu bươn bả vượt qua con dốc trơn như đổ mỡ dẫn lên chân núi. Gương mặt nàng nhợt nhạt, tóc mai bết chặt vào trán vì nước mưa và mồ hôi, bộ áo vải bạt sũng nước kéo lê trên bùn đỏ. Bàn chân trần của nàng bấm chặt vào từng gờ đá dăm lởm chởm, móng chân tóe máu hòa vào dòng nước chảy tràn trên mặt đường dốc.

Vừa bước chân tới bến đá đón khách của đạo quán — nơi Lâm Tự và mấy người thợ chèo đò đang túc trực bên hàng rào cọc gỗ — Hà Thu đã thở dốc, hai đầu gối run rẩy sụp xuống bậc thềm đá hoa cương. Giọng nàng khàn đặc vì hét ngược chiều gió suốt chặng vượt sông:

— Bùi nương tử đâu? Phạm chưởng quỹ có ở đây không? Đê phụ vỡ toang rồi! Thượng nguồn không giữ nổi nữa! Đợt triều chính từ đê lớn Thanh Huyền Môn đang đổ dồn xuống, chỉ chậm nhất hai canh giờ nữa là nước dâng ngập quá đầu ngọn tre ở toàn bộ rẻo đất trũng Bến Bạch Sa!

Bùi Hạ cùng Vũ Liên vội vã lần theo bậc đá đi xuống sân trước chính điện. Cơn gió quẩn nơi chân núi táp một luồng mưa lạnh ngắt vào mặt họ. Lâm Tự bước tới, cánh tay thô ráp của người thợ mộc đỡ lấy bờ vai Hà Thu đang lảo đảo chực ngã, tay kia đưa chiếc bát sành đựng nước gừng nóng còn bốc khói mỏng.

Hà Thu nuốt vội ngụm nước cay nồng, lồng ngực co thắt lại vì bỏng rát, rồi chộp lấy vạt áo Bùi Hạ, đôi mắt đỏ hoe vì thiếu ngủ và kinh hoàng. Đôi bàn tay nàng run rẩy bấu chặt vào lớp vải thô, run rẩy truyền qua từng thớ vải:

— Bùi Hạ, dưới bến còn hơn bốn mươi hộ dân của vạn chài và các xóm thợ ven sông bị kẹt lại trên các gò đất thấp! Nước lên quá nhanh, chỉ trong nửa canh giờ đã ngập quá thắt lưng người lớn. Thuyền của Hội Đồng Châu chỉ có ba chiếc nhẹ tải, không thể nào chuyển hết họ xuôi dòng về huyện An Lưu được; luồng nước mạn hạ lưu đã bị rác rưởi và rào cọc phong tỏa hoàn toàn. Phải mở cổng Vọng Đăng thôi! Xin am tiếp nhận khẩn cấp các gia đình mắc kẹt lên đỉnh núi, nếu không con nước lớn tới nơi là trôi sạch cả người lẫn của! Họ đang bế con nhỏ đứng trên nóc chòi, nước liếm tới sàn rồi!

Sân đá chính điện bỗng chốc im phăng phắc. Tiếng mưa rơi lộp bộp trên những phiến đá xám và tiếng gió rít qua hàng hiên vừa được gia cố giằng gỗ càng làm tăng thêm vẻ ngột ngạt. Mấy người tị nạn lớn tuổi đang phụ nhóm củi ở chái bếp thò đầu ra qua khe cửa hé, ánh mắt chất chứa nỗi kinh hãi lẫn e dè. Mấy đứa trẻ nép sau lưng mẹ, ngơ ngác nhìn những người thợ đang ướt sũng dưới mưa.

Chưa đợi Bùi Hạ lên tiếng, một bóng dáng đẫm nước mưa khác đã từ gian kho bước ra. Phạm Sương cầm trên tay cuốn sổ kho bọc da dầu, chiếc bút lông kẹp bên vành tai, tà áo thô túm gọn bên hông để lộ đôi ủng da bết bùn. Nàng bước từng bước dứt khoát đến trước mặt Hà Thu, ánh mắt sắc như dao cau lướt qua vẻ hoảng loạn của người chèo thuyền. Từng nếp nhăn nơi khóe miệng người giữ kho hằn sâu lại, lạnh băng và tỉnh táo đến mức tàn nhẫn.

— Tiếp nhận khẩn cấp? — Phạm Sương mở đầu, giọng lạnh lùng và khô khốc như tiếng hai thanh gỗ đập vào nhau giữa ngày đông — Tiếp nhận bằng cách nào? Đưa bốn mươi hộ dân, tính rẻ cũng gần hai trăm miệng ăn, lên cái mỏm đá Đoạn Phong này bằng cách nào?

Hà Thu sững sờ, dường như không tin nổi vào sự cự tuyệt quá đỗi bình thản ấy. Nàng buông vạt áo Bùi Hạ ra, lùi lại nửa bước, chỉ tay ra màn mưa mù mịt phía chân trời:

— Sương tỷ! Người ta đang ngâm chân trong nước lũ, trẻ con tím tái cả người! Vọng Đăng am là chốn cứu nạn, tấm bia đá sa thạch ngoài kia ghi rõ ràng là nơi tị thủy của cả cái tổng này từ đời tiền triều để lại...

— Bia đá ghi nơi tị thủy, nhưng bia đá không sinh ra gạo, cũng không cơi nới thêm được một thước đất nào trên nền đá hoa cương này! — Phạm Sương ngắt lời, tay đập mạnh cuốn sổ kho xuống bàn gỗ con kê cạnh hiên. Tiếng bìa da dầu nện vào mặt gỗ vang lên chát chúa — Nhìn cho rõ đây! Dãy phòng ngủ phía đông vừa phải tháo dỡ toàn bộ xà gồ, dỡ ngói triệt để từ hôm qua để giảm tải cơ học, tránh cho cả sườn núi kéo sập móng chính điện. Các vết nứt chân tường đã há miệng rộng bằng nửa ngón tay cái rồi! Toàn bộ ba mươi hai con người của am hiện nay đang phải chia nhau từng tấc sàn trên các sạp ngủ hai tầng trong kho thóc tây và gian sau điện thờ. Chỗ để trở mình còn không có, đưa hai trăm người lên đây thì nhét vào đâu? Nhét ra mép vực đông cho đất lở kéo tuột xuống sông à?

Hà Thu nghẹn lời, lồng ngực phập phồng dữ dội dưới lớp áo ướt sũng. Nàng nhìn sang Lâm Tự như muốn tìm một tiếng nói bênh vực, nhưng người thợ mộc chỉ cúi đầu, hai bàn tay thô kệch siết chặt chiếc búa đẽo dắt bên hông. Lâm Tự là người hiểu rõ nhất kết cấu của nền móng am; những thanh giằng gỗ táu mà ông vừa đóng vào chân cột hôm qua đã bắt đầu rên rỉ dưới sức nặng của đất ngậm nước.

— Nhưng... chẳng lẽ đứng nhìn họ chết đuối? — Giọng Hà Thu run lên, nghẹn ngào trong sự phẫn uất — Họ là những người đã từng chở đá cắm cọc làm móng cho cái bến đò này! Con em họ từng phụ vác gỗ dựng gác chuông!

— Ai bảo đứng nhìn? — Phạm Sương lật xoẹt một trang sổ kho, ngón tay dính mực chỉ thẳng vào từng cột số liệu chi li được kẻ mực ngay ngắn — Kho lương của chúng ta vừa qua đợt sàng lọc chỉ còn lại năm mươi tám cân ba lạng gạo trắng, một trăm năm mươi cân bánh lương khô quân dụng do huyện cấp ngầm từ đợt phát chẩn trước, chín mươi hai cân củ mài khô và mười sáu cân bột kê. Ba mươi hai miệng ăn hiện tại đang phải ăn cháo đặc cầm cự mỗi ngày một bữa, cộng thêm tiêu chuẩn cho ca trực sạt lở gồm mấy người thợ tuần tra đêm, mới đủ duy trì trong mười hai ngày. Đó là tính toán cho trường hợp nước rút đúng hạn! Nếu nuốt trọn bốn mươi hộ dân kia lên đây, số lương thực này sẽ bốc hơi trong vòng một ngày rưỡi! Rồi sau đó thì sao? Sau đó cả am này ba mươi hai mạng cũ cùng hai trăm mạng mới ôm nhau chết đói trên núi vỡ à? Hay là lúc đó chúng ta giết nhau để giành từng mẩu bánh khô?

Những lời của Phạm Sương tàn nhẫn nhưng rành mạch đến mức không ai có thể bẻ gãy. Từng con số phát ra từ miệng nàng mang theo sức nặng của sự sống còn, đập tan mọi ảo tưởng về lòng từ bi mù quáng. Bùi Hạ đứng bên cạnh, nàng nhìn thấy rất rõ những đường gân xanh đang giật giật trên thái dương của người giữ kho. Sương không phải kẻ máu lạnh. Nàng từng liều mình gánh món nợ sáu mươi tư lượng bạc trắng với Thương hội Tam Giang để vay lương cứu xóm vạn đò mùa lũ ba năm trước, đến nay vẫn chưa trả hết một nửa số lãi mẹ đẻ lãi con. Nhưng chính vì đã nếm trải cái giá đắt đỏ của sự chia phần mù quáng, Sương hiểu rõ hơn ai hết: một lời hứa vượt quá khả năng chịu tải cơ học và hậu cần không phải là sự cứu rỗi, mà là một bản án tử hình tập thể được ký bằng lòng tốt nông nổi.

Gió bão lại thốc qua sân đá, cuốn theo một tấm liếp tre chắn hiên bay phần phật rồi đập rầm vào vách đá. Tiếng trẻ con khóc thét lên từ chái bếp phía tây.

Bùi Hạ bước lên một bước, bàn tay trái lành lặn đặt nhẹ lên mu bàn tay đang run rẩy vì lạnh và phẫn uất của Hà Thu. Bàn tay nàng ấm áp, mang theo mùi ngải cứu và cao thuốc nồng đượm, truyền một luồng trấn tĩnh kỳ lạ vào người đối diện:

— Tỷ Sương nói đúng, Hà Thu. Đạo quán không thể là nơi dồn ứ người mất kiểm soát. Mặt bằng của chúng ta không cho phép, kết cấu địa tầng của núi Đoạn Phong lúc này lại càng không cho phép. Đưa hai trăm người lên đây trong tình trạng hỗn loạn, chỉ cần một đợt trượt lở cục bộ ở sườn đông là cả cái am này sẽ trượt thẳng xuống vực. Nhưng chúng ta không bỏ mặc họ.

Hà Thu ngẩng lên, đôi mắt hoang mang tìm kiếm một điểm tựa giữa tuyệt vọng:

— Vậy phải làm thế nào? Nước đang lên từng gang tay một... Chỉ cần nửa canh giờ nữa thôi, những gò đất ngoài bãi sẽ chìm nghỉm.

Bùi Hạ quay sang Lâm Tự và Phạm Sương, ánh mắt nàng quét qua khoảng sân đá rồi hướng thẳng xuống vùng trũng chân núi:

— Chúng ta lập một điểm trú vệ tinh dã chiến dưới chân núi. Trên gò Đất Sét, ngay phía trên Bến Bạch Sa ba mươi trượng, có một khoảnh đất phẳng tựa lưng vào gờ đá gốc. Nơi đó lũ đỉnh đợt mười năm trước không chạm tới được mép cỏ. Nền đất ở đó là đất thịt pha đá cuội kết tụ, không sợ trượt lở sườn dốc như ở đây, lại nằm ngay sát mép nước sâu, tiện cho việc điều phối xuồng bè di tản nếu tình huống xấu nhất xảy ra.

Ánh mắt Phạm Sương khẽ lay động, ngón tay nàng đang bấm trên mép cuốn sổ kho chợt dừng lại. Bộ óc tính toán của người chưởng quỹ lập tức vận hành theo hướng mới:

— Gò Đất Sét... Khoảng cách từ đó lên am theo đường dốc nam mất nửa khắc đi bộ. Nếu Hội Đồng Châu hỗ trợ cọc tre, bạt chống nước và thuyền chuyển tải, chúng ta có thể dựng lán dã chiến đón các gia đình mắc kẹt lên đó. Vọng Đăng am sẽ không nhận người lên núi, tránh phá vỡ tải trọng tĩnh của nền móng, nhưng am sẽ cấp viện trợ kỹ thuật và trích khẩu phần khẩn cấp: mỗi ngày chi viện hai nồi cháo kê nóng và nước sạch khử trùng đun sôi từ linh tuyền Thạch Nhãn. Hội Đồng Châu chịu trách nhiệm kỷ luật phân phát, giữ trật tự bến đò và canh gác con nước. Ai ốm nặng hoặc trẻ nhỏ kiệt sức, Đỗ Nghi sẽ xuống tận lán khám và phát thuốc, tuyệt đối không đưa người ồ ạt lên đạo quán phá vỡ cách ly.

Hà Thu nghe vậy, bờ vai đang căng cứng bỗng chùng xuống, nàng thở hắt ra một hơi dài run rẩy, nỗi tuyệt vọng dần nhường chỗ cho sự quyết đoán của một người quen sông nước:

— Được! Gò Đất Sét nền đất thịt pha cuội, rất chặt, phía sau lại có vách đá che chắn hướng gió đông bắc. Thuyền của Hội Đồng Châu còn sáu tấm bạt dầu lớn loại bọc hàng của thương thuyền và năm mươi cây tre đực dự phòng ở kho bến cũ chưa bị ngập. Ta sẽ cho người kéo lên dựng khung ngay lập tức. Nhưng... việc nấu cháo và nước nóng, am có cáng đáng nổi không? Các ngươi cũng đang thiếu củi khô trầm trọng.

— Có — Bùi Hạ khẳng định dứt khoát — Lâm Tự sẽ cử bốn thợ mộc khỏe mạnh cùng mang búa, chốt gỗ và dây thừng xuống trợ giúp các ngươi dựng lán theo kết cấu kiềng ba chân chống gió lật. Các mảnh gỗ xà dỡ từ phòng đông hôm qua đều khô ráo, có thể dùng làm cọc chịu lực và chẻ củi nhóm lửa. Còn lương thực, Sương tỷ sẽ xuất theo định mức kiểm kê nghiêm ngặt. Mỗi cân kê, mỗi lạng muối xuất kho đều phải có biên bản đối chiếu chữ ký của cả hai bên. Chúng ta không làm từ thiện bừa bãi, nhưng một miếng ăn để giữ mạng người thì Vọng Đăng am không bao giờ tiếc.

Hai người phụ nữ, một người quản lý kho lương trên đỉnh núi vỡ, một người lèo lái mạng lưới cứu nạn dưới chân sông, nhìn nhau giữa làn mưa lạnh buốt. Trong khoảnh khắc ấy, không còn những lời van xin hay trách móc, chỉ còn lại sự thỏa hiệp chuẩn xác của những kẻ đang cùng níu giữ sự sống bên bờ vực thảm họa bằng những tính toán tỉnh táo nhất.

Lâm Tự không đợi giục, ông lập tức quay ra vỗ vai hai người thợ mộc trẻ tuổi đứng gần đó:

— Đi! Lấy rựa, búa đóng chốt và ba cuộn dây gai lớn ở chái thợ. Xuống gò Đất Sét đóng cọc trước khi trời tối hẳn!

Đoàn người nhanh chóng tản ra, tiếng bước chân huỳnh huỵch trên đá dăm át đi tiếng rào rào của mưa lũ.

***

Trong khi điểm trú vệ tinh dã chiến dưới gò Đất Sét đang rục rịch khởi động thì từ phía triền dốc nam núi Đoạn Phong, những tiếng la hét khản đặc cùng tiếng vó guốc gõ dồn dập trên nền đá dăm bỗng vang lên, xé toạc màn mưa xối xả.

— Dắt đầu dây lại! Tránh mép vực ra! Con xám đi trước, thúc con đầu đàn đi mau!

Tiếng quát tháo mang theo vẻ căng thẳng tột độ. Một đoàn lừa thồ gồm năm con, lưng chất đầy những bao tải gai bọc da dầu bóng loáng, đang hối hả vượt qua những khúc cua hiểm trở của dốc nam. Nước lũ từ các rãnh xả ven sườn núi chảy tràn qua mặt đường, cuộn theo bùn đỏ liếm sát gót vó của những con la đi sau cùng. Đất đá vụn rào rào rơi xuống vực sâu phía sau lưng chúng theo từng nhịp trượt chân. Mỗi con vật đều phải gồng mình, bốn móng guốc sắt bấu chặt vào đá, hơi thở phì phò phả ra thành những luồng khói trắng đục giữa không khí lạnh buốt.

Dẫn đầu đoàn thồ là Tống Mai.

Cô tiểu thư của chi nhánh Thương hội Tam Giang hôm nay không còn vẻ nhàn nhã của một con buôn ngồi tính sổ bên bàn tính gỗ mun. Nàng mặc bộ đồ dạ hành bằng vải chàm ngắn gọn gàng, đầu đội nón tơi đan dày bằng lá cọ rừng, vạt áo vén cao giắt ngang lưng để lộ thắt lưng da bò đóng đinh đồng, tay vung cây roi da bện bách thảo liên tục quất xuống không khí để đốc thúc đàn la. Bùn đất bắn đỏ lòm từ ống chân lên tận gò má trắng trẻo của nàng, một vệt xước rỉ máu ngang trán do cành cây quẹt phải vẫn chưa kịp khô.

— Cố lên! Qua cua đá này là tới sân quán rồi! Đừng để trượt chân xuống rãnh! — Tống Mai gắt lên với hai người phu thồ hàng đang run rẩy bám đuôi lừa, hai hàm răng nàng nghiến chặt lại vì rét.

Ngay phía sau khúc quanh dốc nam, chỉ cách đoàn la chưa đầy hai mươi trượng, một nhóm người mặc áo tơi da dê sẫm màu đang đứng trên mỏm đá nhô ra. Dẫn đầu toán người đó là một quản sự trung niên mặt vuông vức, hàm râu cá trê ướt rượt, tay cầm chiếc ô dầu cán sắt nặng trịch, cất giọng sang sảng vọng lên giữa gió bão:

— Mai tiểu thư! Ngươi điên rồi sao? Dừng lại ngay! Chủ sự đã ra lệnh phong tỏa toàn bộ hàng hóa lên núi Đoạn Phong từ sáng nay! Ngươi dám tự ý xuất kho muối hạt và ngũ cốc dự phòng của thương hội, chuyển cho đám người cùng khổ trên am mà không có Lệnh Xuất Kho của Tống Khải lão gia, chuyến này trở về ngươi ăn nói thế nào với hội đồng tộc trưởng? Ngươi muốn bị tước quyền quản lý phân hiệu à?

Tống Mai khựng lại bên gờ đá một nhịp, nhưng nàng thậm chí không thèm quay đầu nhìn lại. Bàn tay nàng giật mạnh dây cương con la đầu đàn, kéo giật nó vượt qua vũng bùn lầy thụt sâu tới khớp gối, rồi hét ngược gió bằng chất giọng đanh thép, tiếng thét đanh giòn át cả tiếng nước gầm réo dưới chân đèo:

— Lưu quản sự! Đem mấy lời dọa dẫm đó về mà bẩm báo với chú ta! Đây là ngũ cốc và muối hạt nằm trong hạn ngạch giao dịch tự do của phân hiệu Nam Khê do chính tay ta quản lý từ ba năm trước! Tiền vốn là của hồi môn mẹ ta để lại, sổ giao dịch ghi rành rành tên Tống Mai độc lập, không dính một đồng nào vào quỹ tín dụng bẩn thỉu của Thương hội Tam Giang các người!

Lưu quản sự tức tối dậm chân trên mỏm đá, nước bắn tung tóe:

— Ngươi dám cãi lệnh chú ruột? Chủ sự đang nắm toàn bộ giấy nợ của Bến Bạch Sa, chỉ cần lũ rút là cả ngọn Đoạn Phong này sẽ đổi chủ! Đám người trên am kia sắp thành lũ vô gia cư đến nơi rồi! Ngươi đem đồ tiếp tế cho chúng chính là tự chặt đường lui của mình, tự biến mình thành kẻ phản đồ của gia tộc!

— Đổi chủ hay không là chuyện sau khi lũ rút! — Tống Mai quát trả, ánh mắt rực lửa — Còn hôm nay, ai trả đủ công thợ thì người đó nhận hàng! Ta là thương nhân, ta chỉ biết giữ chữ tín theo khế ước đã ký! Cút về bảo với Tống Khải: Đừng hòng dùng mấy trò bẩn thỉu để can thiệp vào sổ sách của ta! Muốn đoạt quyền phân hiệu Nam Khê thì đem gia pháp ra mà nói chuyện trước mặt tộc trưởng! Đi!

Nói đoạn, Tống Mai quất mạnh một roi vào mông con la đầu đàn. Tiếng roi da nổ giòn giã trong không khí ẩm ướt. Đàn súc vật hoảng hốt chồm lên, guốc sắt bấu chặt vào lớp đá dăm dày hai tấc mà nhóm thợ của Lâm Tự đã đầm chặt từ mấy hôm trước, nối đuôi nhau vượt qua mép nước lũ đang sôi sục liếm láp dưới chân dốc, xông thẳng vào khoảng sân trước tam quan Đạo quán Vọng Đăng.

Lâm Tự và nhóm thợ chèo đò lập tức ùa ra đón đầu. Họ nhanh chóng tóm lấy dây cương từng con một, dùng vai tỳ vào hông la để phối hợp ghìm đàn thú đang thở phì phò, bọt mép sùi trắng xóa vì kiệt sức.

Tống Mai loạng choạng bước tới hiên chính điện, tháo phắt chiếc nón tơi sũng nước ném xuống nền đá, đưa ống tay áo quẹt mồ hôi lẫn nước mưa trên mặt. Nàng thở không ra hơi, nhưng lưng vẫn đứng thẳng tắp. Nhìn thấy Bùi Hạ và Phạm Sương đang đứng chờ sẵn bên bàn kiểm kê, nàng khẽ nhếch mép cười một cách ngạo nghễ dù đôi môi đã tái nhợt vì lạnh:

— May mà đường dốc nam các người rải đá dăm và khoét rãnh thoát nước nghiêng hai phân chuẩn xác theo bản vẽ, nếu không thì năm bao ngũ cốc và hai sọt muối này đã trôi xuống bụng cá sông Vân Hà rồi. Con đường cũ phía bắc đã sạt mất ba đoạn, bùn ngập tới bụng ngựa.

Phạm Sương bước tới, tay cầm sẵn cán cân đồng và cuộn thước dây đo thể tích. Ánh mắt hai người phụ nữ buôn bán chạm nhau giữa hàng hiên lộng gió, không có sự vồn vã thừa thãi, chỉ có sự tôn trọng sâu sắc giữa những người biết quý trọng từng hạt gạo, từng hạt muối giữa thời loạn lạc.

— Giao nhận thế nào? — Phạm Sương hỏi cộc lốc, ngón tay đã đặt sẵn lên quả cân.

Tống Mai thò tay vào trong lớp áo dạ hành ướt sũng, rút từ trong ngực áo ra một cuốn sổ nhỏ bọc lụa dầu chống nước tuyệt đối, lật nhanh ra trang giấy đã viết sẵn mực son còn thơm mùi dầu tràm:

— Đúng theo khế ước đổi công gia cố đoạn đường dốc nam mười trượng và ba bộ la bàn dẫn khí hiệu chỉnh lần trước: Hai bao gạo trắng tiêu chuẩn sáu mươi cân mỗi bao, một sọt muối hạt Diêm Trì khô ráo năm mươi cân. Đủ định mức, không thiếu một lạng. Ngoài ra... — Tống Mai dừng lại một nhịp, ngón tay thon dài gõ nhẹ lên báng roi da, hướng ánh mắt về phía con la thứ tư và thứ năm đang đứng thở dốc — ...ta mang thêm hai bao ngô hạt dự phòng và một sọt muối hạt loại hai. Đây là phần giao dịch độc lập bổ sung. Ta đổi lấy quyền ưu tiên gửi hai con la giống tốt nhất của ta trên chuồng đá phía tây của các người qua đợt lũ lớn này, cộng thêm cam kết của Bùi Hạ về việc sửa chữa năm bộ la bàn bị nhiễm linh sa sau khi nước rút. Các người nhận không?

Phạm Sương không trả lời ngay. Nàng bước tới bên bao tải ngô, rút chiếc dùi đồng nhỏ dắt ở thắt lưng, đâm xiên một lỗ nhỏ qua lớp bao tải bọc dầu, rút ra một nắm hạt ngô vàng óng. Nàng đưa lên mũi ngửi, rồi bỏ một hạt vào miệng cắn thử. Hạt ngô khô cong, giòn tan, không hề có mùi ẩm mốc. Nàng lại chuyển sang sọt muối, lật lớp bọc ba tầng lá chuối khô bên ngoài, kiểm tra độ kết tinh của muối hạt.

— Hàng tốt — Phạm Sương ngẩng đầu lên, gật đầu dứt khoát — Nhận. Nhưng chuồng đá phía tây chỉ cấp chỗ trú khô ráo và nước lọc Thạch Nhãn đun sôi, thức ăn cho la ngươi phải tự xuất từ hai bao ngô hạt của mình, am không chịu phần cỏ khô dự trữ. Cỏ khô trong kho hiện nay phải để dành lót sàn cho người ốm và gia cố bao tải chống thấm.

— Được! Rất sòng phẳng! — Tống Mai bật cười, nụ cười sắc sảo làm bừng sáng gương mặt lem luốc bùn đất. Nàng quay sang cầm bút lông, ký xoẹt một nét chữ sắc sảo vào cuốn sổ giao dịch độc lập, xé đôi tờ giấy giao cho Phạm Sương một nửa, đoạn quay sang nhìn Bùi Hạ với ánh mắt đầy ẩn ý — Nhớ lấy lời ta, Bùi Hạ. Lần này ta cự tuyệt Lưu quản sự ngay trước mặt bọn tay sai, tức là đã xé toạc mặt mũi của chú ta rồi. Lão Tống Khải không chịu bỏ qua món nợ sáu mươi tư lượng bạc của Phạm Sương đâu. Lão ta đang cấu kết với nha môn, chỉ chờ nước lũ rút là sẽ đem toàn bộ chứng từ bảo đảm ra ép huyện nha phong tỏa ngọn Đoạn Phong này đến cùng để siết nợ đất. Liệu mà giữ lấy cái am này cho chắc. Đừng để ta mất trắng chỗ gửi la.

Bùi Hạ nhìn thẳng vào mắt thiếu nữ họ Tống, giọng nàng trầm tĩnh nhưng kiên định như đá tảng:

— Vọng Đăng am chưa từng trốn nợ, nhưng cũng không ai cướp không được của chúng ta một tấc đất nào. Cảm ơn chuyến hàng của ngươi, Tống Mai. Ngươi đã cứu mạng rất nhiều người dưới bến hôm nay.

Tống Mai khẽ xua tay, quay lưng đi về phía chuồng đá:

— Ta là thương nhân, ta chỉ cứu khế ước của chính mình thôi.

***

Khi các bao ngũ cốc và muối hạt được chuyển an toàn vào kho tây dưới sự giám sát ba bên của Phạm Sương, Đỗ Nghi và Nguyễn Mộc, trời đã ngả về chiều muộn. Từng bao tải được kê cao trên các giàn gỗ cách mặt đất nửa thước, xung quanh rắc vôi bột để chống ẩm và ngăn chuột bọ. Mưa phùn chuyển thành mưa mù mỗi lúc một dày đặc, hơi nước bốc lên từ lòng sông hòa vào sương núi biến cả vùng thung lũng sông Vân Hà thành một vạc dầu xám xịt, mịt mùng không thấy đáy. Ánh sáng ban ngày lịm dần sau những rặng núi đen thẫm như mực tàu.

Trên gác chuông Đạo quán Vọng Đăng, gió lùa qua các ô cửa mắt cáo bằng gỗ táu rít lên từng hồi ghê rợn, kéo theo tiếng va đập của những thanh giằng mái hiên vừa được gia cố.

Bùi Hạ đứng bên đài đá hoa cương trung tâm, nơi đặt ngọn Đăng Dẫn Lộ. Cạnh nàng, Vũ Liên đang cẩn thận dùng một chiếc kẹp đồng mảnh gắp từng mảnh muội than đay rụng quanh tim đèn, ánh mắt chăm chú như đang thực hiện một nghi lễ thiêng liêng. Những ngón tay thon thả của cô gái trẻ khẽ run lên mỗi khi gió lùa mạnh qua khe cửa, nhưng động tác của nàng vẫn giữ được độ chính xác tuyệt đối.

Viên linh thạch trung phẩm màu xanh lam dự trữ cuối cùng — thứ tài sản quý giá nhất mà Vọng Đăng am còn giữ lại từ thời thịnh vượng — đã được Bùi Hạ đấu nối cố định vào tâm trận bàn bằng ba lẫy đồng mạ kẽm từ đêm qua. Lúc này, viên đá đang tỏa ra một luồng sáng dịu nhẹ, tiếp dẫn luồng linh lực yếu ớt chảy qua ba rãnh đồng nối từ đài thu nhận của linh tuyền Thạch Nhãn nằm sâu trong lòng động đá phía sau chính điện.

— Sư phụ, nước suối Thạch Nhãn ở nhánh dẫn trận lại sụt thêm nửa tấc nữa rồi — Vũ Liên khẽ nói, ngón tay nàng chỉ vào vạch đo khắc sâu trên phiến đá hứng nước cạnh chân bệ — Bể lọc than củi ba tầng của Đỗ y sĩ đang phải hoạt động hết công suất để cấp nước sôi khử trùng cho điểm trú dã chiến dưới gò Đất Sét. Dưới đó hiện có hơn sáu mươi đứa trẻ và người già, nếu không có nước sạch Thạch Nhãn để uống thì chỉ nội ngày mai là dịch tả sẽ bùng phát từ bùn lũ. Nhưng nếu ngọn đèn này cứ thắp sáng liên tục hết công suất như đêm qua, sức hút linh lực sẽ cưỡng ép mạch ngầm, kéo theo cặn báng linh sa độc từ vết nứt sườn đông tràn vào bể uống.

Bùi Hạ cúi xuống nhìn vào rãnh nước dẫn linh. Đúng như Vũ Liên nhận định, dòng nước rỉ ra từ Thạch Nhãn lúc này đã bắt đầu lợn cợn những hạt bụi xám tro li ti, mặt nước không còn độ trong suốt tự nhiên mà ánh lên một màng váng mỏng màu cầu vồng.

Linh tuyền này vốn là mạch sống của cả ngọn núi, nhưng nó chỉ rỉ ra được tối đa hai mươi tư gánh nước mỗi ngày đêm. Trong điều kiện bình thường, chia bảy phần cho sinh hoạt ăn uống, ba phần cho duy trì linh trận ngọn đèn, đó là lằn ranh mỏng manh giữa sự sống còn và cái chết. Đêm qua, vì tiếng còi báo động khẩn cấp và đợt vỡ đê phụ bất ngờ, Bùi Hạ đã buộc phải mở van xả cực đại để phóng luồng quang mang cực mạnh dẫn đường cho thuyền bè tị nạn vượt sóng. Nhưng cái giá phải trả quá đắt: mạch đá Thạch Nhãn đang bị quá tải cơ học, áp lực hút linh khí cưỡng bức đang tạo ra một vùng chân không nhỏ dưới tầng đá mẹ, có nguy cơ hút cạn lớp nước ngầm tầng nông và kéo bùn độc từ vết nứt sạt lở vào nguồn nước sinh hoạt.

— Không thể thắp liên tục được nữa — Bùi Hạ nói, giọng nàng trầm xuống nhưng dứt khoát — Chúng ta phải lập biểu thời gian thắp ngọn đèn theo nhịp ngắt quãng.

Vũ Liên ngẩng lên, vội vã lấy ra một thẻ tre cùng cây bút lông vót nhọn từ chiếc hộp gỗ con mang bên hông:

— Nhịp ngắt quãng thế nào ạ? Nếu tắt đèn lâu quá, thuyền bè từ hạ lưu lên sẽ mất phương hướng trong đêm tối.

— Một canh giờ có bốn khắc. Chúng ta sẽ chỉ bật ngọn đèn đúng ba khắc mỗi canh giờ. Khắc cuối cùng, dập chốt hãm linh lực, tắt hoàn toàn quang mang để hồi áp — Bùi Hạ dùng ngón tay vạch lên mặt bàn đá những đường kẻ định lượng — Trong ba khắc sáng, tim đèn cũng không chạy hết tải, chỉ duy trì luồng linh quang trắng xanh ở mức độ hội tụ vừa đủ để soi thủng sương mù xuống trục đường mòn dốc nam và bãi Bến Bạch Sa. Khắc tắt đèn sẽ là lúc viên linh thạch trung phẩm hạ nhiệt, tránh nứt vỡ do sốc nhiệt, đồng thời trả lại toàn bộ lưu lượng nước ngầm về cho ba tầng bể than củi của Đỗ Nghi.

Vũ Liên thoăn thoắt ghi chép lại các mốc thời gian lên thẻ tre, nét chữ nhỏ nhắn nhưng sắc nét:

— Nghĩa là: Giờ Tuất, từ đầu khắc một đến hết khắc ba thắp sáng; khắc bốn nghỉ. Giờ Hợi, lặp lại nhịp cũ. Cứ thế luân phiên suốt đêm. Nhưng sư phụ... người đi đêm trên sông và dưới gò Đất Sét, nếu thấy đèn phụt tắt bất thình lình, họ có hoảng loạn không? Người ta trong hoạn nạn rất dễ phát điên vì bóng tối.

— Người đi sông quen nhìn hải đăng — Bùi Hạ giải thích, ánh mắt nàng ánh lên sự trầm tĩnh của một người thợ hiểu rõ tâm lý con người trước thiên nhiên — Một ngọn đèn sáng liên tục rồi đột ngột tắt ngấm vì cạn kiệt linh lực mới là thảm họa gieo rắc tuyệt vọng. Còn một ngọn đèn tắt mở theo chu kỳ chuẩn xác, đều đặn như nhịp thở của một người khổng lồ, sẽ trở thành chiếc đồng hồ định hướng cho họ. Ta đã dặn Hà Thu báo trước quy luật này cho người dưới gò Dã Chiến từ chiều. Ba khắc sáng là lúc thuyền bè tìm hướng neo đậu, kiểm tra dây buộc cọc; một khắc tắt là lúc họ cố định vị trí nghỉ ngơi, giữ trật tự trong lán.

Vũ Liên gật đầu thật mạnh, trong mắt lấp lánh sự khâm phục. Nàng bắt đầu dùng chiếc muỗng sừng trâu nhỏ, thuần thục căn chỉnh từng nấc gạt bằng đồng trên bệ đá, đưa van điều tiết linh lưu về đúng khẩu độ ba phần mười. Những thao tác cơ học chuẩn xác, không thừa một động tác, cho thấy cô gái tạp căn từng bị coi là phế vật ngày nào nay đã thực sự nắm bắt được cốt lõi của nghề sửa trận: không dựa vào hư danh tu vi, chỉ dựa vào sự chính xác của từng mối nối, độ khít của từng lẫy ngàm và sự tỉnh táo trước giới hạn chịu tải của vật liệu.

Đúng giờ Tuất khắc một, tiếng cồng báo giờ từ chính điện vọng lên.

Vũ Liên hít một hơi sâu, gạt nhẹ chiếc chốt dẫn linh bằng đồng thau.

*Tách!*

Một tiếng động khô giòn vang lên trong lòng bệ đá. Viên linh thạch trung phẩm màu lam lập tức bừng sáng. Luồng linh quang trắng xanh tinh khiết phóng vọt lên đỉnh chụp gương đồng, phản xạ qua hệ thấu kính thạch anh ba lớp rồi bắn thẳng ra ngoài không gian qua ô cửa gác chuông. Luồng sáng xé toang màn mưa mù đặc quánh, rọi một vệt sáng thẳng tắp, vững chãi như một cột trụ ánh sáng cắm sâu xuống triền dốc nam, soi rõ từng phiến đá dăm và hàng rào cọc tiêu dẫn đường.

Bên dưới gò Đất Sét, tiếng reo hò mừng rỡ của những người dân tị nạn vừa dựng xong khung lán dã chiến vọng ngược lên vách núi, hòa vào tiếng sóng gầm của dòng sông Vân Hà. Dưới ánh sáng ấy, bóng những mái lán bằng bạt dầu kiềng ba chân hiện lên vững chãi giữa màn đêm; những đống lửa nhóm bằng củi tạ bắt đầu bốc lên từng làn khói ấm áp. Ngọn đèn Vọng Đăng lại tỏa sáng, kiêu hãnh và bền bỉ, chở che cho những sinh mạng nhỏ nhoi đang oằn mình chống chọi với cuồng nộ của thiên tai.

Vũ Liên mỉm cười, dựa lưng vào cột gỗ thở phào nhẹ nhõm. Bùi Hạ đứng bên cạnh nàng, im lặng quan sát vệt sáng kéo dài xuống tận mép nước, nhưng trong lòng nàng, một linh cảm bất an mơ hồ vẫn không ngừng cuộn lên như sóng ngầm dưới đáy sông.

***

Sự bình yên mong manh ấy kéo dài được đúng hai canh giờ.

Đến canh ba, khi đêm đã chìm vào khoảng không sâu thẳm nhất và đợt triều chính từ thượng nguồn thực sự tràn về, một hiện tượng kỳ dị và quái gở bắt đầu xuất hiện trong không gian thung lũng.

Nước lũ từ đê lớn Thanh Huyền Môn bị vỡ không chỉ là nước mưa thông thường. Nó mang theo hàng vạn khối bùn quặng linh sa nhân tạo thiêu kết từ các lò luyện đan và xưởng đúc khí giới thượng lưu bị nổ nát. Đập chắn vỡ toang đã giải phóng toàn bộ chất thải tích tụ hàng chục năm qua của các phường thợ lớn. Dưới sức ép khủng khiếp của dòng nước xoáy cuộn xiết và gió bão cấp mười cuộn ngược từ hẻm vực hẹp, lớp bùn đỏ chứa đầy mạt quặng kim loại biến chất không chỉ trôi dưới lòng sông mà bắt đầu bốc hơi, hòa lẫn vào các luồng khí áp thấp thành những đám bụi linh sa mịn như bột phấn.

Những hạt bụi linh sa xám đục, mang theo từ tính hỗn loạn và linh khí biến chất cực kỳ đậm đặc, bị gió bão cuốn bốc lên cao hàng chục trượng, lơ lửng dày đặc trong tầng mưa mù quánh đặc bao quanh sườn núi Đoạn Phong. Không khí trở nên nặng trịch, rát buốt nơi sống mũi và mang theo mùi lưu huỳnh nồng nặc đến nghẹt thở. Cổ họng người hít phải có cảm giác khô khốc, tanh nồng như ngậm gỉ sắt.

Đứng trên gác chuông theo dõi nhịp đèn thứ hai của giờ Tý, Bùi Hạ bỗng nhận thấy điều bất thường. Gió không chỉ mang theo nước mưa, mà mang theo những hạt bụi li ti lấp lánh ánh kim loại bám đầy lên bề mặt thấu kính thạch anh.

Cột sáng trắng xanh phát ra từ Đăng Dẫn Lộ khi đâm xuyên qua màn mưa bụi bỗng không còn giữ được hình thái một cột sáng thẳng tắp, sắc nét như trước nữa.

Tại điểm giao thoa giữa không khí lạnh trên cao và luồng bụi linh sa bốc lên từ lòng lũ, ánh sáng bắt đầu bị tán xạ dữ dội. Những hạt mạt quặng li ti phản chiếu và khúc xạ luồng quang mang theo những góc độ dị thường, tạo thành một quầng sáng mờ đục hình rẻ quạt bao trùm cả sườn núi. Luồng sáng bị xé nhỏ ra thành hàng ngàn sợi tơ sáng lung linh nhưng ma quái, chập chờn như ma trơi giữa đêm giông bão.

Kinh hoàng hơn cả, do mật độ bụi linh sa tích tụ không đồng đều dọc theo hẻm vực sạt lở phía đông — nơi từ trường của các vỉa quặng ngầm đang bị nước lũ kích hoạt — chiết suất của không gian bị bẻ cong lệch lạc một cách khủng khiếp.

Luồng sáng dẫn phù — vốn được thiết kế cơ học chuẩn xác để rọi thẳng tắp dọc theo sống lưng con đường mòn dốc nam an toàn — nay bắt đầu trượt dần khỏi quỹ đạo ban đầu. Từng tấc, từng thước, vệt sáng trắng xanh bị lực khúc xạ vô hình kéo lệch sang một bên, trượt dài trên những tán cây rừng xơ xác, rồi hướng thẳng về phía bờ vực hoang phế đã sụp đổ tan hoang mé đông của núi Đoạn Phong!

Đó là một cái bẫy chết người hoàn hảo do thiên tai và tàn tích nhân tạo tạo ra.

Nếu có bất kỳ đoàn thuyền hay nhóm người lánh nạn nào đi đêm nhìn vào luồng sáng đó để tìm đường lên núi, họ sẽ không đi về phía con đường mòn rải đá dăm an toàn của dốc nam, mà sẽ bị dẫn dụ thẳng vào miệng vực thẳm sâu hàng trăm trượng đầy bùn độc và đá nhọn lở loét ở mé đông.

Tia sáng đèn vừa chớp tắt nhịp thứ ba thì màn sương mù đặc quánh linh sa bỗng chuyển màu xám đục, bẻ ngoặt luồng quang mang về phía mép vực sạt lở hoang phế phía đông.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories