Bao Gạo Ẩm
Mùi chua nồng của tinh bột lên men bốc lên ngột ngạt khi Phạm Sương rạch bao tải gai đặt ở góc dưới cùng gian kho tây, làm lộ ra lớp gạo đã kết bánh mốc đen từ trước khi nhóm kịp lên núi.
Lớp vải bố thô ráp kêu soạt một tiếng giòn lạnh dưới mũi dao bài sắc lẹm. Phạm Sương ngồi thụp xuống bậu cửa lát đá xanh trơn nhẫy rêu ướt, hai ngón tay cái gầy guộc ấn sâu vào kẽ bao tải vừa toạc miệng. Một luồng hơi ẩm ấm nóng, sực nức mùi rượu thiu ủng và rơm rác thối rữa lập tức xộc thẳng vào hốc mũi, đặc quánh đến mức khiến nàng phải nghiêng mặt sang bên, ho sặc sụa từng cơn khô khốc. Cổ họng nàng rát bỏng như phải bỏng nước vôi.
Đỗ Nghi vội đưa chiếc đèn dầu hạt đỗ lại gần. Vỏ sò xỉn màu đựng thứ dầu thô đen ngòm chao nghiêng trên mấy đầu ngón tay khẳng khiu, ngọn bấc bện bằng sợi đay già nổ lách tách một tiếng nhỏ, hắt thứ ánh sáng vàng vọt, leo lét và chập chờn lên đáy bao gai ướt rượt.
Dưới ánh sáng tù mù nhuốm khói muội, cảnh tượng hiện ra trước mắt khiến cả hai người đàn bà cùng nín bặt hơi thở.
Toàn bộ phần đáy bao đã biến thành một khối xơ xác, nhũn nhão và mục rữa. Nước lũ đục ngầu phù sa đỏ quạch hòa lẫn mạt linh sa độc hại từ bến Bạch Sa khi trước đã ngấm sâu qua từng thớ vải gai thô, ủ kín trong nhiều ngày mưa dầm dề không dứt, biến những hạt gạo trắng ngà mẩy tròn thành một tảng bánh dẻo quánh, nhớp nhúa, loang lổ những vệt sợi nấm màu lam sẫm và xám tro. Tệ hơn nữa, nấm mốc không chỉ nằm bó hẹp ở bề mặt tiếp xúc trực tiếp với nền đá mà đã ăn luồn theo từng kẽ sợi đan, bò ngược lên tận nửa thân bao, đùn lên những cụm hoa mốc lấm tấm như tro bếp rải trên xác súc vật chết trôi.
"Đừng chạm tay trần vào," Đỗ Nghi trầm giọng nhắc, cánh tay áo chàm đã sờn rách giơ lên cản lại. Nàng rút từ thắt lưng ra một thanh nứa vót nhọn, cẩn thận gạt nhẹ một mảng mốc sẫm màu đang rỉ nước vàng đục. "Đây là 'thanh hủ độc' sinh ra từ nước lũ ngâm linh sa của vùng quặng thượng nguồn. Thứ mạt khoáng ấy ngấm vào ngũ cốc ẩm, gặp hơi người và khí ẩm kín gió liền biến chất. Đám nấm mốc này nếu ăn phải, dù chỉ một vốc nhỏ nấu chín kỹ, độc tính cũng sẽ cào loét niêm mạc ruột non. Nhẹ thì thổ tả tháo dạ ra máu bầm, kiệt nước mà chết; nặng thì nhiệt độc chạy thẳng vào kinh lạc, sốt mê man co giật, người cứng đờ như khúc gỗ. Thuốc giải độc của ta mang theo từ trạm xá dưới bến không còn lấy một thang hoàn chỉnh, mấy vị thuốc thanh nhiệt giải độc đều đã tan thành bùn trong lúc chạy lũ. Tuyệt đối không được cho người bệnh hay trẻ con đụng tới số này."
Phạm Sương không đáp lời, bàn tay siết chặt lấy chuôi dao bằng gỗ lim đến mức khớp ngón tay trắng bệch ra. Nàng quỳ hẳn hai gối xuống nền đất lạnh buốt, mặc kệ vũng nước rỉ từ vách đá đang từ từ ngấm qua gấu quần vải thô, dán chặt thứ vải sũng nước vào da thịt buốt giá. Nàng cắn môi, đưa mũi dao rạch tiếp bao thứ hai, rồi bao thứ ba, thứ tư nằm sát vách đá nứt.
Mười bốn bao ngũ cốc chuyển lên núi hôm đầu tiên vốn là điểm tựa duy nhất, là sợi dây sinh mệnh mỏng manh giữ cho ba mươi hai con người này khỏi cảnh làm mồi cho lũ thú đói trên ngọn Đoạn Phong hay lăn ra chết rấp bên mép vực. Nhưng sự thật nghiệt ngã hơn nhiều so với những con số ngay ngắn mà nàng từng cẩn thận ghi chép trên cuốn sổ bổi mỏng dính kẹp trong vạt áo.
Sáu bao thóc thì có hai bao bị ướt sũng nửa dưới, mộng mầm đã bắt đầu đội vỏ trấu nhọn hoắt trồi lên những chấm xanh non yếu ớt, chua loét và bốc mùi ngai ngái; năm bao ngô hạt thì hạt đã thâm sì, mềm nhũn ra như bùn loãng do hơi ẩm từ lòng đất bốc lên suốt bốn ngày đêm; hai bao kê may mắn còn khô ráo vì được gác trên chiếc giàn gỗ cao đóng sát góc tường; còn bao muối độc nhất mang theo từ bến thì nước mưa rỉ qua lỗ dột trên mái kho đã hòa tan mất gần một phần ba, chỉ để lại một lớp cặn xám chát đắng bám cứng ngắc vào thớ bao gai mục nát.
"Một bao gạo lớn coi như mất trắng hoàn toàn..." Phạm Sương lẩm bẩm, giọng nàng khàn đặc đi vì đè nén cơn run rẩy và nỗi tuyệt vọng đang dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng. Nàng dùng mu bàn tay quệt ngang giọt mồ hôi lạnh túa ra bên thái dương, vô tình để lại một vệt bột gạo mốc lem nhem trên gò má hốc hác. "Số ngô và thóc này nếu đem nhặt, sàng sảy kỹ lưỡng, bỏ từng hạt hỏng rồi phơi khô... nhưng trời đất mù mịt thế này thì lấy đâu ra nắng mà phơi? Không có củi khô, không có lửa lớn để sấy mẻ lớn, chỉ cần ủ kín trong gian kho ẩm thấp này thêm hai ngày nữa, chỗ còn lại cũng sẽ thối rữa từ trong ruột ra ngoài."
Nàng ngước mắt nhìn Đỗ Nghi. Đôi mắt của người đàn bà từng làm chủ một quán cơm náo nhiệt nơi ngã ba bến tàu, từng tính toán đâu ra đấy từng bát gạo củ hành cho hàng trăm lượt phu khuân vác mỗi ngày, giờ đây khô khốc, trũng sâu và đỏ ngầu những tia máu:
"Trước khi dắt díu nhau lên ngọn núi này, ta ngồi trên thuyền mảng nhẩm tính mười bốn bao có thể cầm cự dè sẻn được mười ngày trọn vẹn. Mười ngày đó là đã tính cả việc chia cho đám người ốm bát cháo hoa đặc hơn một chút, cho đám trẻ con mỗi đứa nửa củ khoai khô lót dạ. Nhưng với tình trạng đáy bao thối rữa thành bùn thế này... Nghi à, trừ đi phần hư hao và phần nhiễm độc phải vứt bỏ, tổng lượng ngũ cốc ăn được thực tế đã sụt giảm quá nửa. Chúng ta không có mười ngày. Ngay cả khi mỗi ngày chỉ húp nước cháo loãng nhìn thấy đáy bát, mỗi miệng ăn chỉ được chia lưng chén nước gạo trong veo, kho này cũng cạn sạch trong chưa đầy bảy ngày nữa."
Nàng vô thức đưa bàn tay run rẩy sờ vào chiếc vòng bạc mảnh dẻ nơi cổ tay trái—vật duy nhất còn sót lại sau khi cả quán cơm ba gian và mấy chum gạo tích trữ bị dòng nước lũ đỏ ngầu cuốn phăng ra sông lớn. Một hơi thở dài nặng trĩu, lạnh ngắt thoát ra từ lồng ngực gầy guộc.
Phạm Sương nhớ đến những tờ giấy nợ có dấu triện vuông màu đỏ gạch của các đại lý lúa gạo Tam Giang dưới bến cũ. Lãi suất cắt cổ tính theo từng con trăng, từng gánh thóc đong thiếu lúc giáp hạt, những ánh mắt sắc lẹm của đám tay sai đòi nợ thuê lượn lờ trước cửa quán. Ở dưới chân bến hay trên ngọn núi hoang phế cô lập này, cái đói và sự siết nợ dường như chưa bao giờ chịu buông tha cho những kẻ cùng đường mạt lộ. Mỗi hạt gạo rơi rụng, mốc hỏng lúc này không chỉ là một chút sinh lực hao mòn của bản thân nàng, mà là sợi dây thừng vô hình đang siết chặt thêm một nấc quanh cổ ba mươi hai sinh mạng đang run rẩy ngoài kia.
Đỗ Nghi đứng thẳng dậy, cẩn thận cài lại nút áo chàm sũng nước mưa, ánh mắt nhìn sâu vào góc tối của gian kho:
"Phải nói cho Bùi Hạ biết. Và phải nói cho tất cả mọi người ngoài chính điện."
"Không thể nói toẹt ra như thế được!" Phạm Sương hoảng hốt níu chặt lấy vạt áo người thầy thuốc, móng tay bấu sâu vào lớp vải thô, giọng run lên nhưng dồn dập đến nghẹt thở. "Nghi, muội chỉ biết xem mạch bốc thuốc, muội không hiểu lòng dạ con người dưới bến lúc đói kém cùng cực đâu. Khi người ta biết chắc rằng ngày mai sẽ không có cái gì bỏ vào miệng, sự sợ hãi sẽ tước đoạt phần người, biến họ thành dã thú xâu xé lẫn nhau. Ba mươi mốt con người ngoài kia... họ vừa mới thoát chết khỏi dòng nước xiết, thần hồn còn chưa kịp định vị, trong lòng ai cũng nơm nớp lo sợ. Nếu bây giờ mở miệng bảo kho chỉ còn đủ ăn sáu bảy ngày, họ sẽ phát điên lên. Họ sẽ xông vào cướp kho ngay đêm nay! Ai cũng sẽ nghĩ đến việc giấu một vốc gạo, một nắm kê cho riêng mình hoặc cho con cái mình trước khi người khác vơ vét hết!"
"Giấu giếm thì giải quyết được gì?"
Một giọng nói trầm ổn, lạnh lùng và dứt khoát vang lên từ phía bóng tối ngoài cửa kho, cắt ngang lời phân bua hoảng loạn của Phạm Sương.
Bùi Hạ bước qua ngưỡng cửa gỗ đã mục nát một nửa. Tấm áo tơi đan bằng lá cọ rách tơi tả của nàng nhỏ nước ròng ròng xuống bậu đá, tạo thành những giọt gõ đều đặn vào nền đất ẩm. Nàng vừa từ khu vực vách đá sườn đông trở về, hai ống tay áo vải thô xắn cao lên tận khuỷu để lộ đôi cẳng tay gầy gò đầy những vết trầy xước rớm máu do đá dăm cào rách trong lúc thăm dò vết nứt. Cổ tay phải của nàng vẫn quấn chặt một lớp vải xô đã ngả màu ố vàng, nơi đường kinh mạch bị tổn thương sâu sắc đang âm ỉ phát ra những cơn co giật giật nhói theo từng nhịp đập của trái tim.
Bùi Hạ không nhìn đống bao tải mốc meo ngổn ngang trên sàn, cũng không nhìn ngọn đèn hạt đỗ chập chờn. Nàng chỉ nhìn thẳng vào đôi mắt đang hoang mang tột độ của Phạm Sương.
"Giấu giếm chỉ khiến sự sụp đổ đến nhanh hơn và tàn khốc hơn gấp mười lần," Bùi Hạ bước tới, ngồi xổm xuống bên cạnh bao gạo đã biến chất, bàn tay trái không bị thương vốc một nắm trấu ẩm từ bao thóc bên cạnh lên. Nàng xoa nhẹ những hạt thóc nảy mầm giữa hai ngón tay thô ráp rồi buông tay để chúng rơi lả tả xuống nền gạch ẩm. "Hôm nay giấu họ, ngày mai nàng lẳng lặng bớt đi nửa bát cháo mà không đưa ra một lý do minh bạch, người ta sẽ bắt đầu nghi kỵ. Họ sẽ nghi ngờ chưởng quỹ giấu riêng cho người nhà, nghi ngờ thợ sửa trận lén lút ăn vụng, nghi ngờ kẻ gác cửa bớt xén khẩu phần. Một khi sự ngờ vực đã đâm chồi thì không cần đợi tới nha môn huyện An Lưu kéo quân lên bắt phu, cũng chẳng cần thú dữ từ đỉnh Đoạn Phong tràn xuống, chính ba mươi hai con người này sẽ tự cắn xé, tự nghi kỵ rồi giết chết lẫn nhau trong cái đạo quán rách nát này."
Nàng ngẩng đầu lên, ánh mắt sắc bén như lưỡi đục của thợ đá, soi thẳng vào gương mặt tái nhợt của Phạm Sương:
"Phạm tỷ, lấy mõ gỗ ra. Đánh ba hồi chín tiếng, triệu tập tất cả mọi người ra chính điện."
***
Tiếng mõ gỗ *cốc... cốc... cốc...* vang lên từng hồi dồn dập, khô khốc xuyên qua màn mưa dầm dề và tiếng gió núi rít gào qua các khe ngói vỡ. Âm thanh ấy không mang theo sự thanh tịnh, thoát tục của chốn tu hành gõ kinh tụng niệm mỗi sớm hôm, mà nặng nề, dứt khoát và đanh gọn như tiếng lệnh triệu tập trước giờ lâm trận, thúc giục những bước chân mệt mỏi phải rời khỏi chỗ trú.
Chưa đầy nửa tuần hương sau, ba mươi hai con người đã lục tục kéo ra gian chính điện của Đạo quán Vọng Đăng.
Không gian rộng lớn, tối tăm và ẩm thấp chỉ được soi sáng bởi hai ngọn đuốc tẩm nhựa thông rừng cắm tạm trên hai cây cột cái bằng gỗ táu—những cây cột vừa được Lâm Tự chêm nêm, gia cố vội vã vào chiều hôm qua để chống đỡ phần mái hiên sụt lún. Khói thông đen kịt cuộn tròn thành từng dải đặc quánh dưới xà nhà mục nát, cay sè mắt mũi, quyện chặt lấy mùi ẩm mốc của tường vôi rạn nứt và mùi quần áo sũng nước bùn chưa kịp hong khô.
Đám đông chen chúc nhau đứng co ro trên nền đá hoa xám lạnh buốt, vai sát vai để tìm kiếm chút hơi ấm mong manh. Hơi thở từ lồng ngực ba mươi hai sinh mạng hòa vào nhau, phả ra thành từng luồng khói trắng mỏng manh rồi nhanh chóng tan biến vào không khí giá lạnh. Có những người già lưng còng rạp xuống vì cơn rét thấu xương, những người phụ nữ run rẩy ôm chặt đứa con nhỏ đang thiếp đi vì kiệt sức, và cả những thanh niên đinh tráng với gương mặt hốc hác, đôi bàn tay cáu bẩn bùn đất và ánh mắt đờ đẫn sau nhiều ngày lao dịch không ngơi nghỉ.
Phạm Sương bước ra từ gian kho tây. Hai tay nàng ôm một chiếc thùng gỗ đóng bằng ván thông thô kệch, đặt mạnh xuống khoảng đất trống ngay trước bệ thờ đá hoang phế—nơi pho tượng thần linh từ lâu đã vỡ vụn chỉ còn trơ lại chân đế rêu phong. Nàng đặt cuốn sổ kho bìa giấy bổi đã sờn mép lên trên nắp thùng, bên cạnh là một chiếc cân con bằng đồng đã xỉn màu gỉ xanh và một chiếc thau sành mẻ góc chứa đầy thứ gạo mốc xám đen, bốc mùi chua nồng nặc đến nghẹt thở.
Cả gian chính điện bỗng chốc im bặt. Tiếng thở dốc, tiếng ho hắng của đám người dường như cũng nghẹn lại trong cổ họng. Mọi ánh mắt đổ dồn vào thau sành chứa thứ gạo đã biến thành chất độc, rồi nhìn sang cuốn sổ kho bọc giấy bổi ẩm ướt. Một linh cảm chẳng lành lan nhanh như vệt dầu loang trên mặt nước lũ, đè nặng lên từng lồng ngực.
"Các bà con, các huynh đệ," Phạm Sương hít một hơi thật sâu, giọng nàng cất lên đanh gọn nhưng không giấu nổi sự run rẩy nghẹn ngào nơi cuối câu. Nàng chỉ ngón tay gầy guộc vào thau sành: "Đây là phần đáy của một trong những bao gạo lớn nhất mà chúng ta đã liều mạng khiêng từ bến Bạch Sa lên ngọn núi này. Toàn bộ phần đáy bao đã ngâm nước lũ từ trước khi chúng ta chạy trốn. Nước phù sa mang theo mạt linh sa độc hại ngấm vào thớ vải, gặp khí ẩm kín gió đã làm thối rữa toàn bộ phần ruột bên trong. Hai bao thóc khác cũng đã nảy mầm chua loét, không thể giữ được lâu."
Nàng lật mở cuốn sổ kho, ngón tay điểm từng dòng mực đen còn chưa khô hẳn dưới ánh đuốc chập chờn:
"Theo số liệu kiểm kê thực tế từng bao vừa xong: toàn bộ số ngũ cốc còn dùng được trong kho hiện chỉ còn chưa đầy bảy phần mười so với dự tính ban đầu khi chúng ta đặt chân lên đây. Nếu chúng ta tiếp tục chia khẩu phần mỗi ngày hai bữa cháo loãng như hôm qua... kho lương của Đạo quán Vọng Đăng sẽ hoàn toàn rỗng tuếch sau chưa đầy bảy ngày nữa."
Một tiếng xì xào kinh hoàng bùng nổ trong chớp mắt như bầy ong vỡ tổ.
"Bảy ngày? Làm sao chỉ còn có bảy ngày?" Một người đàn ông luống tuổi thất thanh kêu lên, hai bàn tay cáu bẩn ôm chặt lấy mái đầu bạc phơ rũ rượi. "Chẳng phải lúc ở bến nói là đủ cho mười ngày sao? Mười ngày để chờ nước rút, chờ người của huyện nha mang thuyền cứu tế lên cơ mà!"
"Nước rút cái nỗi gì! Đê Hồi Long vỡ toác cả ba đoạn rồi, quan huyện chỉ lo bắt phu đi lấp lỗ châu mai giữ thành, ai hơi đâu mà chèo thuyền ngược lũ cứu đám dân đen như chúng ta!"
"Bảy ngày nữa rồi ăn cái gì? Ăn rêu đá trên vách hay cạo vỏ cây thông mà nuốt?"
Sự hoảng loạn nhanh chóng chuyển hóa thành sự bức bối, ấm ức và phẫn nộ tột cùng. Nỗi sợ chết đói cận kề tước đi lớp vỏ bọc nhẫn nhịn mong manh của những kẻ bần cùng trôi dạt. Giữa đám đông đang nhốn nháo, Trần Thốc—một gã phu bốc vác vạm vỡ có tiếng ở bến tàu cũ, kẻ sở hữu đôi bắp tay cuồn cuộn đầy những vết sẹo do dây thừng kéo thuyền cứa rách—bước xộc lên phía trước. Gã dộng mạnh bàn chân to bè xuống nền đá, chỉ thẳng ngón tay thô ráp vào mặt Phạm Sương, lồng ngực phập phồng sau từng hơi thở hồng hộc:
"Nói thế mà nghe được à chưởng quỹ? Bảy ngày là tính cào bằng cho tất cả ba mươi hai cái miệng ăn ở đây đúng không? Từ hôm qua đến giờ, đám đinh tráng chúng ta phải dầm mưa vác từng tảng đá hộc nặng cả tạ từ chân dốc lên gia cố nền móng, phải leo lên tận nóc điện đập ngói vỡ, vào rừng sâu chặt cây làm cột chống! Bọn ta bỏ cả đống mồ hôi nước mắt ra để cái đạo quán mục nát này không sập đè chết tất cả mọi người, thế mà bữa ăn cũng chỉ được chia một bát nước cháo loãng lõng bõng bằng với một đứa con nít hay một ông già nằm bẹp một chỗ chờ chết à?"
Lời của Trần Thốc như một mồi lửa đỏ rực ném thẳng vào đống rơm khô nỏ. Ba bốn thanh niên lực lưỡng khác đứng cạnh gã lập tức ùa theo, tiếng gầm gừ la ó bắt đầu dội ầm ầm vào vách đá ẩm mốc:
"Đúng đấy! Người làm việc nặng phải được ăn no!"
"Không có sức thì lấy ai khuân đá hộc lấp móng? Ai đốn củi sấy kho? Ai lội bùn gánh nước từ Thạch Nhãn về lọc lấy nước uống?"
"Phải chia lại khẩu phần cho công bằng! Đinh tráng lao động nặng phải được ít nhất một bát cháo đặc và nửa phần lương khô mỗi bữa! Phần của người già với trẻ con thì bớt đi một nửa, cùng lắm cho húp nước luộc rau rừng là được rồi, dù sao họ cũng chỉ ngồi co ro trong góc điện tránh mưa, tiêu hao bao nhiêu sức lực mà đòi ăn bằng người đổ máu làm việc!"
"Các người nói cái thói vô lương tâm gì thế hả?" Một người phụ nữ gầy gò ôm chặt đứa con nhỏ trong lòng, nước mắt trào ra giàn giụa trên đôi gò má xám xịt, nghẹn ngào hét lên giữa đám đông. "Con bé mới có năm tuổi, mấy ngày nay chạy lũ chỉ được húp vài thìa nước cháo loãng, người nó đã nóng hầm hập như hòn than đỏ rồi! Bớt phần của nó thì khác gì bảo mẹ con ta đâm đầu xuống vực sâu chết đi cho rảnh nợ các người?"
"Chết thì cũng là do số trời đã định!" Một gã phu bốc vác khác đứng cạnh Trần Thốc gằn giọng, ánh mắt đỏ quạnh vẻ hung hãn của kẻ bị cái đói dồn vào chân tường. "Nhưng bọn ta mà kiệt sức ngã ra đấy, mái điện này sập xuống thì cả lũ cùng chết chùm dưới đống gạch vụn! Bớt phần người yếu để cứu lấy người khỏe mạnh gánh vác, thế mới là đạo lý để cùng sống sót!"
Không khí trong chính điện căng thẳng tột độ như một sợi dây cung kéo căng sắp đứt. Đám đinh tráng bắt đầu lấn tới, tiến sát lại chiếc thùng gỗ đựng sổ kho của Phạm Sương. Đôi vai họ so lên, những nắm đấm gân guốc siết chặt lại. Vài người già yếu co rúm lại, sợ hãi nép sau lưng Nguyễn Mộc. Ông lão thợ đá run rẩy giơ cây gậy gỗ lên chắn trước ngực nhưng không thể thốt ra lời nào trước những ánh mắt vằn vện tia máu vì đói khát và sợ hãi.
Lâm Tự nãy giờ vẫn đứng tựa lưng vào cây cột cái bằng gỗ táu, chiếc rìu đốn cây gỉ sét giắt hờ bên hông. Nhìn thấy đám thanh niên bắt đầu manh động, anh khẽ dịch chuyển bước chân. Thân hình to lớn, vững chãi như một tấm khiên gỗ sồi của người thợ mộc bước lên một bước, chắn ngang giữa đám đinh tráng hung hãn và khu vực phụ nữ, người già cùng trẻ nhỏ. Tay anh chưa chạm vào chuôi rìu, nhưng ánh mắt Lâm Tự đã lạnh ngắt đi, hàm răng cắn chặt lại tạo thành một đường gờ cứng đờ, góc cạnh nơi quai hàm. Anh không lên tiếng tranh cãi hay quát tháo, nhưng thế đứng sừng sững, vững như bàn thạch của anh ngầm phát đi một lời cảnh cáo đanh thép: bất kỳ kẻ nào dám bước thêm một bước cướp lấy thùng lương thực sẽ phải bước qua thân xác anh trước.
"Đủ rồi."
Một giọng nói không quá lớn, nhưng được gia trì bởi một luồng linh lực Luyện Khí tầng ba sắc bén, lạnh buốt như băng tuyết đầu mùa, đột ngột nổ tung giữa gian điện.
Luồng áp lực vô hình ấy quét ngang qua không gian ẩm thấp, khiến ngọn lửa trên hai cây đuốc thông chao đảo dữ dội, tạt một luồng khói xám nồng nặc vào mặt đám đông. Mấy gã thanh niên đang hùng hổ xông lên bất giác khựng khựng lại, da gà gai ốc nổi rần rần trên khắp cánh tay như vừa chạm phải nước đá mùa đông.
Bùi Hạ bước lên bục đá hoang phế, đứng sừng sững bên cạnh chiếc thùng gỗ của Phạm Sương. Nàng không mang theo bất kỳ thứ binh khí nào, vạt áo tơi rách rưới vẫn còn bết dính bùn đen nhầy nhụa từ sườn núi, nhưng ánh mắt nàng nhìn thẳng vào Trần Thốc không hề chớp lấy một lần. Đó là ánh mắt của một kẻ đã từng đứng nhìn bức tường đá của tông môn đóng sập lại trước mắt mình, một kẻ hiểu rõ tận cùng giá trị của sự ruồng bỏ.
"Trần Thốc, ngươi nói bớt phần người yếu để cứu người khỏe là đạo lý sống sót?" Bùi Hạ cất tiếng, từng chữ rõ ràng, lạnh lùng vang vọng khắp bốn góc tường ẩm mốc của gian điện. "Vậy ngươi nói cho ta nghe xem, ba ngày trước khi chiến thuyền cứu nạn của tiên môn lướt qua bến Bạch Sa, bọn họ chọn ai lên thuyền? Bọn họ chọn những kẻ có linh căn thượng thừa, chọn những gia tộc giàu có có bạc vạn vàng mười cung phụng, chọn những kẻ có giá trị thực dụng cho sơn môn của họ! Bọn họ bỏ lại ngươi, bỏ lại ta, bỏ lại ba mươi con người này dưới bùn lầy rác rưởi vì trong mắt họ, chúng ta đều là những kẻ 'yếu', là thứ gánh nặng vô tích sự đáng bị vứt bỏ cho dòng nước xiết nuốt chửng!"
Nàng tiến thêm một bước xuống bục đá, ép Trần Thốc phải lùi lại nửa bước trước khí thế sắc bén và ánh mắt như thiêu như đốt của mình:
"Các ngươi vừa mới bò được lên ngọn núi này, chân còn chưa rửa sạch lớp bùn tanh hôi nơi bến lội, mà đã vội vàng học đòi theo cái thói tàn nhẫn, vô nhân đạo của những kẻ vừa ruồng rẫy mình hay sao? Ngươi muốn chia khẩu phần theo sức lực cơ bắp? Hôm nay ngươi khỏe mạnh, ngươi đòi ăn nhiều hơn kẻ khác một phần. Ngày mai ngươi vác đá hộc trượt chân ngã xuống rãnh núi gãy một cánh tay, ngươi biến thành kẻ tàn phế không thể lao động nặng nhọc, lúc đó ta có quyền cắt nửa bát cháo của ngươi, ném ngươi ra ngoài bìa rừng cho bầy sói đói ăn thịt hay không?"
Gương mặt Trần Thốc thoạt tiên tái mét đi vì chấn động, rồi chuyển dần sang đỏ bừng vì nghẹn lời. Gã há miệng định cãi lại, nhưng nhìn vào đôi mắt sâu thẳm, lạnh lẽo như dao khắc của Bùi Hạ, những lời lẽ hung hăng ban nãy bỗng tắc nghẹn lại nơi cuống họng.
"Nghe cho rõ đây," Bùi Hạ quét mắt nhìn toàn bộ ba mươi hai con người đang nín thở trong gian điện tối tăm. "Đạo quán Vọng Đăng này không phải là sơn môn của Thanh Huyền Môn, cũng không phải công trường khổ sai của quan phủ An Lưu. Định mức sống căn bản—tức là bát cháo giữ mạng mỗi ngày—sẽ được chia đều bình đẳng tuyệt đối cho từng miệng ăn có mặt ở đây! Từ cụ già bảy mươi tuổi đến đứa trẻ năm tuổi, từ người khỏe mạnh vác đá đắp đê đến người ốm sốt nằm liệt chiếu, mỗi người một phần bằng nhau, không ai được hơn một hạt, không ai bị bớt một hạt!"
Nàng giơ cánh tay trái chỉ thẳng ra phía sườn núi phía nam, nơi con đường mòn duy nhất đang bị sạt lở nham nhở:
"Ai làm việc nặng nhọc, ai thức trắng đêm gác kho giữ cửa, ai trèo đèo lội suối tìm rau rừng củ dại, ban đêm sẽ được thưởng thêm một bát nước tro lọc than củi ấm và một vốc cám rang độn củ rừng nướng nếu kiếm được. Đó là phần bù đắp công bằng cho công sức bỏ ra, nhưng tuyệt đối không được phép lấy bớt từ bát cháo nuôi mạng của người khác! Nếu ai ở đây cảm thấy quy củ này không công bằng, cảm thấy sức vóc của mình xứng đáng với những nơi no đủ hơn—cánh cửa đạo quán không khóa, con đường trơn trượt xuống núi vẫn còn đó, các ngươi cứ việc bước chân xuống bến, tự đi mà tìm quan nha hay thuyền buôn xin cháo cứu tế!"
Cả gian chính điện lặng ngắt như tờ. Tiếng gào thét ban nãy hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại tiếng nước mưa dột từ mái ngói thủng rơi tong tòng vào chiếc chậu sành đặt nơi góc tường vỡ.
Không ai bước ra cửa. Không một ai dám nhúc nhích nửa bước. Dưới chân núi lúc này là biển nước đỏ ngầu, là bùn lầy ngập ngụa, là dịch bệnh bắt đầu bốc lên từ xác súc vật, và là roi mây tàn nhẫn của đám nha sai huyện phủ đang lùng sục bắt phu đi chết thay nơi đê vỡ. Ở lại trên ngọn núi này, dù đói khát và rét mướt, nhưng chí ít họ vẫn được đối xử như một con người, vẫn còn một mái ngói che đầu và một quy củ công bằng giữ cho họ không bị giẫm đạp.
Bùi Hạ cúi người xuống, cầm lấy cuốn sổ kho bìa bổi trên nắp thùng gỗ, đưa trả lại vào bàn tay đang run rẩy của Phạm Sương:
"Từ ngày mai, việc phát lương sẽ diễn ra công khai trước sân chính điện vào lúc mặt trời mọc và lúc chạng vạng tối. Cuốn sổ kho này sẽ được treo trên vách tường chính điện, xuất nhập bao nhiêu cân, hao hụt bao nhiêu, ai nhận phần nào đều phải có người làm chứng điểm chỉ rõ ràng. Ba chiếc chìa khóa của kho lương vẫn giữ nguyên như cũ: ta giữ một chiếc, Phạm tỷ giữ một chiếc, Lâm Tự giữ một chiếc. Thiếu một người, không một ai được phép tự ý chạm tay vào cánh cửa kho. Giờ thì ai có phận nấy, quay về chỗ nghỉ ngơi giữ sức."
Đám đông bắt đầu lặng lẽ tản ra từng cụm nhỏ. Trần Thốc hậm hực xoay người, lê bước về góc điện phía tây, nhưng bước chân nặng nề của gã đã không còn vẻ hung hăng, ngang ngược như lúc mới bước ra. Sự bình đẳng nghiệt ngã mà Bùi Hạ vừa thiết lập không mang lại sự no ấm đủ đầy, nhưng nó mang lại một thứ quý giá hơn nhiều giữa cơn hoạn nạn: sự an tâm rằng bản thân mình sẽ không bao giờ bị đồng loại phản bội hay vứt bỏ khi ngã xuống vì kiệt sức.
***
Đêm càng về khuya, không khí trong đạo quán càng trở nên lạnh buốt thấu xương. Gió núi rít từng hồi qua những chấn song cửa sổ gãy nát, thổi bạt những đốm lửa tàn tro le lói trong lòng bếp lò dã chiến đắp bằng đất sét.
Ở gian nhà đông thấp lè tè và ẩm thấp, nơi được ưu tiên dành cho các gia đình có người già và trẻ nhỏ ngả lưng, mùi rơm ướt quyện với mùi mồ hôi chua nồng bốc lên ngột ngạt. Tiếng ngáy mệt nhọc của những người đàn ông sau một ngày dài dầm mưa vác đá hòa lẫn với tiếng thở dốc ngắt quãng, khò khè của những người già đang bị cơn cảm lạnh hành hạ.
Lâm Tự ngồi bệt trên một khúc gỗ thông xù xì kê sát vách đất nứt nẻ, hai đầu gối co lên làm điểm tựa. Bàn tay to bè, chai sần của anh cầm chiếc giũa sắt cùi cặm cụi mài lại mép lưỡi bào bị mẻ một góc do va phải đinh gỉ chiều nay. Động tác của người thợ mộc cực kỳ cẩn trọng và khẽ khàng, tiếng kim loại cọ xát vào nhau chỉ rít lên từng tiếng *sột soạt* rất nhỏ, hầu như không phát ra tiếng động nào đáng kể để tránh làm kinh động đến giấc ngủ chập chờn của những người xung quanh.
Thế nhưng, đôi mắt trũng sâu vì thiếu ngủ của anh thỉnh thoảng lại liếc về phía góc tường tối tăm phía sau cây cột gỗ mục.
Ở nơi đó, Lâm An đang nằm nghiêng trên một tấm chiếu rách trải tạm bợ trên sàn gỗ táu. Đứa con gái mười một tuổi co ro người lại như một con tôm nhỏ bị bỏng nước sôi, tấm chăn chắp vá từ ba mảnh bao tải gai rách rưới được em kéo trùm kín tận mang tai để trốn tránh từng luồng gió lùa qua khe tường.
Nhưng con bé chưa hề ngủ.
Dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đuốc tàn ngoài hành lang hắt vào qua khe liếp, Lâm Tự nhìn thấy rõ mồn một bàn tay nhỏ thó, gầy guộc chỉ còn da bọc xương của con gái đang run rẩy thò ra khỏi mép chăn gai thô ráp. Ngón tay em cẩn thận nắm chặt lấy một vật gì đó nhỏ xíu, được bọc kỹ ghê gớm trong một chiếc lá chuối khô đã rách tả tơi mép ngoài.
Đó là nửa mẩu bánh lương khô cứng như đá—phần ăn trưa nay Lâm Tự đã lén nhịn miệng, giấu vào tay áo rồi dúi vào tay con bé, nghiêm giọng dặn nó phải nhai thật kỹ nuốt hết vào bụng để lấy sức chống chọi với cơn sốt rét.
Lâm An đã không ăn.
Em cắn chặt bờ môi nứt nẻ rớm máu, đôi mắt mở to nhìn quanh quất trong bóng tối nhập nhoạng như một chú chuột con sợ hãi ánh sáng và tiếng động. Thấy tiếng ngáy của mọi người xung quanh đã đều đặn, thấy bóng cha mình vẫn cặm cụi bên khúc gỗ, em khẽ nhổm nửa người dậy. Bàn tay nhỏ bé run rẩy dùng móng tay cạy mép một tấm ván sàn bị mục góc ngay sát chân tường—nơi lớp gỗ đã mủn ra vì ẩm ướt.
Khe ván sàn đen ngòm mở ra, bên dưới là khoảng không gian ẩm ướt, lạnh lẽo đầy bụi bặm và mạng nhện của nền móng đạo quán. Đứa trẻ mười một tuổi cẩn thận nhét nửa mẩu bánh lương khô bọc lá chuối vào một hốc gỗ khô ráo ẩn sâu bên trong khe nứt, nơi nước mưa không thể rỉ tới. Xong xuôi, em lấy một mẩu giẻ rách nhặt được ở góc sân nhét chặt lấy miệng khe nứt, rồi dùng lòng bàn tay xoa đi xoa lại nhiều lần trên mặt ván gỗ cho phẳng phiu, cốt để không ai nhận ra dấu vết xáo trộn.
Làm xong tất cả những việc đó, Lâm An mới khẽ thở phào một hơi run rẩy. Em rụt vội cánh tay khẳng khiu vào trong chăn, kéo tấm bao tải gai trùm kín đỉnh đầu, thân hình nhỏ bé khẽ run lên từng chặp dưới lớp vải thô ráp.
Lâm Tự ngồi chết lặng bên khúc gỗ thông. Chiếc giũa sắt trên tay anh trượt đi một đường chệch choạc trên mép thép của lưỡi bào, phát ra một tiếng rít sắc lạnh khiến lòng anh nhói buốt.
Trái tim của người thợ mộc như bị một bàn tay sắt vô hình bóp nghẹt lại, đau đớn và cay đắng đến mức nghẹn thở. Con gái anh mới chỉ mười một tuổi đầu. Trước khi cơn lũ quái ác từ thượng nguồn ập xuống bến Bạch Sa, nó vẫn là một đứa trẻ vô tư lự, hay cười ríu rít, thích chạy nhảy lăng xăng quanh xưởng mộc của cha để nhặt những mẩu gỗ vụn thừa thãi, vòi cha đẽo cho những con cào cào, con ngựa gỗ nhỏ xíu có bánh xe lăn.
Vậy mà giờ đây, chỉ sau vài ngày trôi dạt giữa lằn ranh mong manh của sự sống và cái chết, sau khi chứng kiến cảnh những người lớn gầm ghè, tranh giành từng bát cháo loãng ngoài chính điện ban nãy, đứa trẻ ấy đã sớm hiểu được nỗi kinh hoàng cùng cực của sự thiếu đói. Nó giấu mẩu bánh mục nát ấy không phải vì tham lam, mà vì nó sợ. Nỗi sợ hãi bản năng mách bảo nó rằng sáng mai thức dậy, hoặc vài ngày nữa thôi, cánh cửa kho chung kia sẽ mở toang ra và bên trong sẽ hoàn toàn trống rỗng. Nó đang tự chuẩn bị cho cái ngày tồi tệ nhất, cái ngày mà cha nó không còn đủ sức kiếm nổi cho nó dù chỉ một ngụm nước cháo loãng để cầm hơi qua bữa.
Lâm Tự cúi gầm mặt xuống, hai bàn tay thô ráp, chai sần chằng chịt những vết sẹo đục đẽo và vết dằm gỗ đâm áp chặt vào mặt. Anh không để rơi một giọt nước mắt nào, nhưng bờ vai vạm vỡ, từng trải của người đàn ông từng một mình dùng vai chống giữ cây cột cái suýt sập chiều nay đang khẽ run lên bần bật trong bóng tối.
Anh hận sự bất lực nghiệt ngã của chính bản thân mình. Anh là một người thợ mộc, một kẻ phàm trần mắt thịt không có linh căn, không biết pháp thuật tiên gia. Anh không thể hô mưa gọi gió, không thể dùng linh lực biến ra lương thực hay chữa lành vết thương cho con, thậm chí ngay trong lớp áo lót trước ngực lúc này vẫn còn giấu kín tờ trát bắt phu của huyện nha An Lưu—thứ giấy mực chết chóc có thể xé nát hai cha con anh bất cứ lúc nào nếu tung tích bại lộ. Anh chỉ có đôi bàn tay chai sạn này, và đôi bàn tay này đang bất lực đứng nhìn con gái ruột của mình phải lén lút giấu từng mẩu bánh khô mốc dưới kẽ ván mục để chờ chết đói qua ngày.
"Cha sẽ đóng cho con một cái hòm gỗ..." Lâm Tự thầm thì trong kẽ răng, giọng nói nghẹn ngào, đặc quánh lại nơi cuống họng. "Một cái hòm bằng gỗ thông thật chắc, có khóa đồng hẳn hoi, để con cất đồ... không bao giờ phải giấu dưới khe sàn cho chuột bọ gặm nhấm nữa..."
***
Ở đầu hồi phía bắc của đạo quán hoang phế, Bùi Hạ đang từng bước chậm rãi leo lên những bậc thang gỗ ọp ẹp dẫn lên gác cao—nơi đặt gác chuông cũ và đài quan sát phong thủy của Vọng Đăng Am từ cả trăm năm trước.
Gió trên cao thổi lồng lộng, thốc thẳng vào mặt nàng từng luồng khí ẩm lạnh buốt mang theo hơi tanh nồng của bùn đất và nước sông cuộn sóng. Mưa phùn giăng kín bốn bề như một tấm màn tang trắng xóa, nuốt chửng toàn bộ cảnh vật quen thuộc của ngọn Đoạn Phong và những làng mạc, cánh đồng chìm sâu dưới chân núi. Đứng ở độ cao này nhìn xuống, thế gian bên dưới chỉ còn là một vực thẳm đen ngòm, câm lặng và chết chóc, không một ánh đèn, không một dấu hiệu của sự sống.
Bùi Hạ dừng bước trước một bệ đá cổ kê chiếc đèn bằng đồng thau đặt ở góc lan can hướng thẳng về phía nam—hướng dẫn lối từ bến sông lên sườn dốc hiểm trở.
Đó chính là ngọn 'Đăng Dẫn Lộ'—pháp khí định hướng cổ xưa của đạo quán, từng được các đạo sĩ tiền triều dùng để dẫn đường cho những đoàn người hành hương vượt qua sương mù hoặc thuyền bè cứu nạn tìm lối cập bờ giữa những đêm giông bão. Thân đèn đúc bằng đồng đỏ dày dặn nay đã phủ kín một lớp gỉ xanh dày cộp như vảy rồng. Những đường vân phù triệt tinh xảo chạm khắc dọc theo trụ đèn đã bị nước mưa và sương muối xói mòn gần hết, chỉ còn trơ lại những rãnh nông mờ nhạt. Đĩa đựng dầu trên đỉnh đèn trơ khấc cặn bẩn, tim đèn bện bằng sợi vỏ cây dâu tằm cổ thụ đã mủn nát thành tro vụn từ nhiều năm tháng hoang phế.
"Bùi tỷ..."
Một tiếng gọi rụt rè, mảnh mai vang lên từ phía sau lưng.
Bùi Hạ quay người lại, thấy bóng dáng nhỏ nhắn của Lâm An đang đứng lấp ló ở đầu cầu thang gỗ, hai tay ôm khư khư một chiếc lọ sành nhỏ và một mảnh giẻ sạch chắp vá. Đứa bé dường như không thể chợp mắt sau khi giấu mẩu bánh lương khô, thấy bóng nàng cầm đuốc lầm lũi leo lên gác chuông liền lén lút lần theo từng bậc thang.
"Sao muội chưa ngủ?" Bùi Hạ khẽ hỏi, giọng nàng bất giác dịu lại, xua bớt đi vẻ sắc lạnh, uy nghiêm như lưỡi dao lúc đứng trước đám đông ngoài chính điện. "Gió trên này độc lắm, lại lạnh buốt nữa."
"Muội thấy tỷ cầm đuốc lên đây một mình... muội mang thêm cặn dầu mè của thím Sương đưa cho tỷ," Lâm An lí nhí trong miệng, cẩn thận bước từng bước lại gần bệ đèn đồng.
Thế nhưng, khi vừa bước qua bậu cửa gỗ của gác chuông, bước chân đứa trẻ bỗng khựng lại. Em cúi đầu nhìn xuống sàn gỗ táu dưới chân mình, đôi mắt to tròn xoe lộ rõ vẻ tò mò lẫn sợ sệt:
"Bùi tỷ ơi... chỗ này có vết nứt dài quá nè."
Bùi Hạ giật mình, vội cầm ngọn đuốc cúi thấp người nhìn theo hướng ngón tay gầy guộc của Lâm An đang chỉ.
Dưới ánh lửa bập bùng, một đường nứt mới toanh, rộng chừng nửa ngón tay trỏ, đang xé toạc lớp ván sàn bằng gỗ táu dày dặn. Vết nứt chạy dài từ chân bệ đèn bằng đồng, xuyên thẳng qua ngưỡng cửa rồi đâm ra mép lan can đá ngoài trời. Điều khiến sống lưng Bùi Hạ lạnh toát không phải là vết nứt trên mặt gỗ, mà là qua khe hở sâu hoắm đó, nàng nhìn thấy rõ khối đá tảng làm móng cho toàn bộ góc gác chuông bên dưới cũng đã xuất hiện một đường rạn nứt hình chân chim. Từ kẽ đá ấy, những giọt bùn lỏng màu vàng xám đang rỉ ra chầm chậm, tí tách rơi xuống khoảng không tối om bên dưới.
Vết nứt hàm ếch khổng lồ ở vách đá sườn đông đang tiếp tục ăn sâu vào lòng núi, gặm nhấm nền móng của đạo quán từng khắc từng giờ. Nước ngầm tích tụ sau trận đại hồng thủy đang âm thầm xói mòn cấu trúc địa tầng từ bên trong, như một con mối khổng lồ đang đục rỗng thân cây cổ thụ.
Bùi Hạ hít một hơi thật sâu, nén chặt nỗi âu lo kinh hoàng đang dâng lên xuống tận đáy lòng. Nàng khẽ đưa bàn tay xoa nhẹ lên mái tóc xơ xác của Lâm An, giọng nàng trầm ấm và bình thản:
"Không có gì đâu, chỉ là ván gỗ lâu năm bị ngấm nước mưa nên co ngót lại thôi. Đưa lọ dầu cho ta, rồi muội mau xuống dưới với cha đi. Dưới đó ấm hơn, trên này sương đêm ngấm vào người là lại phát sốt đấy."
Đợi cho đứa bé ngoan ngoãn ôm mảnh giẻ quay người bước xuống từng bậc thang gỗ, bóng dáng nhỏ bé khuất hẳn sau khúc quanh, Bùi Hạ mới quay trở lại đối diện với bệ đèn đồng hoang phế.
Nàng mở chiếc nút bần của lọ sành. Thứ dầu bên trong đặc quánh, đen ngòm và bốc lên mùi khét lẹt—đó chỉ là thứ dầu thô phế thải lẫn đầy cặn bã được Phạm Sương gạn vét lại từ đáy những hũ dầu thắp hoen gỉ bỏ xó trong kho. Thứ dầu này cháy không đượm, khói đen muội than nhiều và rất nhanh tàn, hoàn toàn khác xa với loại linh dầu tinh khiết chuyên dùng để thắp sáng pháp khí của các tông môn tiên gia.
Đạo quán lúc này không còn lấy một viên linh thạch dự trữ. Bàn trận Bắc Đẩu trên gác mái chỉ còn duy trì được vỏn vẹn bốn mắt trận cốt lõi nhất để che chắn cho gian chính điện khỏi nguy cơ sụp đổ hoàn toàn trước những cơn gió lốc, không thể san sẻ dù chỉ một tia linh lực nhỏ nhoi cho ngọn hải đăng này. Ngọn đèn dẫn đường hiện thời chỉ có thể vận hành bằng dầu thường và bấc đay thô sơ, phạm vi chiếu sáng của nó sẽ vô cùng hạn hẹp, ánh sáng vàng đục và hoàn toàn không đủ sức để kích hoạt trận pháp dẫn phù tầm xa như thời đạo quán còn hưng thịnh trăm năm về trước.
Nhưng ngọn đèn này vẫn bắt buộc phải sáng.
Bùi Hạ cắn răng, giơ tay tháo dải băng vải ố vàng bọc quanh cổ tay phải của mình ra.
Dưới lớp vải xô cáu bẩn, cánh tay nàng gầy guộc đến xót xa. Trên làn da tái nhợt vì lạnh và thiếu chất, lộ rõ những đường kinh mạch màu lam sẫm đang sưng tấy, co rút từng hồi như những con giun đất bị đè nén dưới lớp đất cằn. Đó là vết tích tàn khốc, nghiệt ngã của lần thử tải linh thạch quá hạn tại Linh Thạch Ty thuộc Thanh Huyền Môn năm xưa—tai nạn kinh hoàng đã phá hủy vĩnh viễn tiền đồ tu tiên của nàng, biến nàng thành một phế nhân bị trục xuất không thương tiếc. Mỗi lần vận chuyển linh lực qua cánh tay này, cơn đau buốt buốt tận tủy xương lại dội ngược lên đỉnh đầu như có hàng ngàn mũi kim châm cùng lúc cắm sâu vào kinh lạc.
Nàng nghiến chặt hàm răng chịu đựng cơn đau nhức nhối, nhấc tim đèn mới bện bằng sợi đay khô đặt cẩn thận vào đĩa dầu cặn đen ngòm.
Bàn tay phải run rẩy đưa lên giữa không trung, hai ngón trỏ và ngón giữa khép chặt lại thành kiếm quyết, điểm thẳng vào tim đèn đay thô ráp. Bùi Hạ nhắm nghiền hai mắt, tập trung toàn bộ tinh thần điều động một sợi linh lực Luyện Khí tầng ba yếu ớt từ sâu trong đan điền. Sợi linh khí mỏng manh như tơ nhện cẩn trọng luồn lách qua những đoạn kinh mạch vặn vẹo, tổn thương ở cổ tay, nắn vuốt lại cấu trúc dẫn khí thô sơ của sợi đay mục.
*Xoẹt!*
Một đốm lửa nhỏ màu xanh lam nhạt bùng lên từ đầu ngón tay nàng, bén thẳng vào lớp dầu cặn đen nhánh trong lòng đĩa đồng.
Ngọn lửa lập tức bùng cháy, tỏa ra một mùi khói dầu ngai ngái, khét lẹt đặc trưng. Không có ánh hào quang rực rỡ nghìn trượng của pháp khí tiên gia uy nghiêm, cũng không có những đạo phù văn thần bí bay lượn lấp lánh trên bầu trời đêm. Đó chỉ là một ngọn lửa vàng vọt, le lói, đượm khói muội và vô cùng khiêm nhường, chao đảo dữ dội trước từng cơn gió núi lạnh buốt quất qua khe lan can đá nứt nẻ.
Thế nhưng, giữa màn đêm đen đặc quánh như mực và sương mù dày đặc bao phủ toàn bộ dãy Đoạn Phong hoang vu, ngọn lửa vàng ấy vẫn kiên cường, bền bỉ rực sáng. Từng tia sáng ấm áp xuyên thấu qua màn mưa phùn mịt mùng, rọi sáng một khoảng vách đá cheo leo trơn tuột và con đường dốc hiểm trở duy nhất dẫn lên cổng đạo quán.
Từ dưới chân núi nhìn lên, nơi bùn lầy đang nuốt chửng những ngôi nhà trôi dạt và tiếng gào khóc ai oán của những kẻ lạc mất người thân, ngọn lửa le lói ấy tựa như một đốm sao nhỏ nhoi rớt xuống cõi trần gian tăm tối—một điểm tựa tinh thần, một dấu hiệu sinh tồn duy nhất báo cho những kẻ cùng đường biết rằng trên ngọn núi vỡ này, vẫn còn có một mái nhà chưa sụp đổ, vẫn còn có những con người đang thức trắng đêm để giữ lấy sự sống cho nhau.
Bùi Hạ đứng tựa người vào bệ đá lạnh buốt, cánh tay phải buông thõng xuống bên hông run rẩy dữ dội vì kiệt sức sau khi vận chuyển linh lực qua kinh mạch tổn thương. Ánh mắt nàng trầm lặng dõi theo tia sáng vàng hắt dài xuống những bậc đá dốc đứng của con đường mòn phía nam.
Đột nhiên, ngay khi ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn vừa chạm tới chân bậc đá đầu tiên của cổng quán phía dưới dốc, một chuỗi âm thanh hỗn loạn phá tan màn mưa đêm tĩnh mịch.
*Rầm! Rầm! Rầm!*
Tiếng đập cửa gỗ dồn dập, điên cuồng và tuyệt vọng vang lên từ phía cánh cổng tam quan đóng chặt dưới chân dốc, kèm theo đó là tiếng thở dốc nghẹn ngào, khản đặc và tiếng thét thất thanh của một người chèo thuyền xé toạc màn đêm u ám:
"Cứu mạng! Mở cửa với... Bùi cô nương, mau mở cửa cứu người!"